Nội dung bài viết trình bày tư duy chiến lược về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời trình bày quá trình chuyển biến, thay đổi, bổ sung tư duy mang tầm chiến lược về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ Chính Cương của Đảng Lao động Việt Nam (1951) đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (1991).
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2Đề tài giữa kỳ: Tư duy chiến lược về con đường tiến lên Chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam từ Đại hội II đến Đại hội VII
Trang 3TÓM TẮT
Trang 4Nội dung bài viết trình bày tư duy chiến lược về con đường quá độlên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam Đồng thời trình bàyquá trình chuyển biến, thay đổi, bổ sung tư duy mang tầm chiến lược vềcon đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ Chính Cương của Đảng Laođộng Việt Nam (1951) đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (1991).
Trang 51 Đặt vấn đề
Trang 6Liên Xô là nước đầu tiên bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội, dưới sự lãnh đạo của Lê-nin, hình thức quá độ gián tiếp bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa (1925-1936) đã được thực hiện nhằm xây dựngnhững cơ sở vật chất của nước Nga để đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.Đối với các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Trung Quốc, Triều Tiên,Việt Nam, … từ thập niên 60 đến 80 thế kỷ XX chủ yếu là hình thức quá
độ nửa trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa
có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
Trang 7Ở Việt Nam, việc nhận thức con đường đi lên chủ nghĩa xã hội lại cómột chút khác biệt so với các nước còn lại, ngay lúc ban đầu, đường lốiquá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là đường lối quá độ gián tiếp.Hình thức này mặc dù không được nhắc đến rõ ràng, xong những đặctrưng của nó cũng đã nêu rõ trong các văn kiện của Đảng, bắt đầu từ Đạihội II Xem chặng đường thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta làmột con đường lâu dài, phức tạp, tự lực bản thân mình là chính Tuynhiên, do một số điều kiện, bối cảnh lịch sử của cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước, cho nên tư duy chiến lược về quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta theo con đường lâu dài đó đã phải thay đổi theo con đường ngắn,nhanh của quá độ nửa trực tiếp bắt đầu từ Đại hội III của Đảng Lao độngViệt Nam
Trang 8Sau khi tình hình kinh tế -xã hội nước ta rơi vào khủng hoảng cuốinhững năm 70, đầu 80 thế kỷ XX, đã cho thấy tư duy mang tầm chiếnlược về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta theo hình thứcnửa trực tiếp đã bọc lộ nhiều khuyết điểm, sai lầm, chủ quan duy ý chí.Tại Đại hội VI, mặc dầu chưa khẳng định song đã từng bước tháo gỡ tưduy sai lầm đó và cho đến Đại hội VII với sự ra đời của Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã thay đổi triệt
để, quay trở lại với những quan điểm và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh
về con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Trang 92 Quá trình chuyển biến, thay đổi, bổ sung tư duy mang tầm chiến lược
về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ Chính Cương của Đảng Lao động Việt Nam (1951) đến ương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991)
Lần đầu tiên Đảng ta nói đến con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xãhội là trong Luận cương chính trị tháng 10 của Tổng bí thư Trần Phú TạiHội nghị lần thứ nhất BCH TW tháng 10 năm 1930, lần đầu tiên đề cậpđến lý luận thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Tổng bí thư Trần Phú
viết trong Luận cương chính trị tháng 10 có viết: “xứ Đông Dương sẽ nhờ
vô sản giai cấp chuyên chánh các nước giúp sức cho mà phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”1
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng Lao động ViệtNam (2/1951) thì lý luận thời kỳ quá độ đã không được Đảng ta đề cậpđến trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam Tất yếu, bởi lẽ bốicảnh ra đời của Chính Cương là đang trong thời kỳ kháng chiến chốngPháp, nhiệm vụ giải phóng dân tộc chưa được giải quyết xong, thì vấn đề
đi lên chủ nghĩa xã hội chưa thể bàn sâu được Do đó, Chính Cương đi
đến kết luận “phải tùy theo điều kiện cụ thể của tình hình trong và ngoài
nước khi đó mà quyết định”2
Tuy nhiên, việc chưa đề cập rõ không có nghĩa là không nói đến Ởmột mức độ nào đó, việc gián tiếp xác nhận tư duy mang tầm chiến lược
về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được xác định thông qua
việc chia con đường cách mạng ở nước ta làm 3 giai đoạn: “giai đoạn thứ
nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ các di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn
1 Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.2, 2002, tr.98.
2 Văn kiện Đại hội Đảng, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam, ngày 19-4-2018
Trang 10chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”3 Quá độ nửa trực tiếp tức là nói đến cách mạng liên tục khôngngừng, còn quá độ gián tiếp tức là quá độ từng bước, từng giai đoạn khácnhau, có thể thấy quan điểm tương ứng với tư duy chiến lược về conđường xây dựng chủ nghĩa theo lối gián tiếp ở nước ta.
Đi kèm với tư duy chiến lược đó là các biện pháp chính sách để cụthể nó cũng được xác định trong Chính cương của Đảng Lao động ViệtNam còn xác định những nhân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ, toàn thểnông dân (bao gồm cả phú nông và trung nông) là động lực của cáchmạng Xem nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn thứ hai là giải quyết triệt đểngười cày có ruộng nhưng không đề cập đến việc thủ tiêu giai cấp địachủ, còn công tác cải cách ruộng đất trước hết nhắm đến các hình thứcgiảm tô giảm tức nhằm khuyến khích cải thiện đời sống nhân dân và giatăng sản xuất và tịch thu ruộng đất của thực dân và tay sai bán nước màthôi Nếu như theo tư duy chiến lược quá độ nửa trực tiếp như Trần Phútrong Luận cương chính trị tháng 10 thì sẽ phải tiến hành một cách triệt
để nhiệm vụ cải cách ruộng đất, hoàn thành nhiệm vụ phản phong, tức làcuộc cách mạng liên tục Nhưng ngược lại, trong Chính Cương của ĐảngLao động Việt Nam lại xác định rằng con đường này là con đường lâudài, nhiều chặng đường, và trong mỗi chặng đường sẽ căn cứ trên nhiệm
vụ mà quyết định sao cho phù hợp, không mang tính cực đoan trong việcthúc đẩy hoàn thành đấu tranh giai cấp
3 Văn kiện Đại hội Đảng, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam, ngày 19-4-2018
Trang 11Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Hồ Chủ tịch đã căn cứtrên những đặc điểm của nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp, lạc hậu,
bị chiến tranh tàn phá muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể tiến lênmột cách mau lẹ, nhanh chóng, mà phải từng bước, trãi qua nhiều nấcthang để phát triển Do đó, mô hình kinh tế NEP do Lê-nin khởi xướng vàđược áp dụng ở Liên Xô từ năm 1921 cho đến năm 1937 là kiểu mẫu đểthực hiện Và chế độ kinh tế dân chủ nhân dân thực chất là nền kinh tếcủa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được Đảng ta thông qua tạiĐại hội II của Đảng
Trang 12Đồng chí Trường Chinh khẳng định: “Kinh tế dân chủ nhân dân là kinh tế của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trang 13Kinh tế dân chủ nhân dân Việt Nam gồm có những bộ phận như sau: Kinh tế Nhà nước gồm những xí nghiệp do Nhà nước kinh doanh; bộ phận hợp tác xã gồm những tổ chức inh tế do hợp tác xã kinh doanh; bộ phận kinh tế nhỏ tức kinh tế của nông dân, tiểu thương tiểu chủ; bộ phận kinh tế tư bản tư nhân gồm những xí nghiệp của tư sản dân tộc Ngoài ra, còn bộ phận tư bản Nhà nước gồm những xí nghiệp do tư bản tư nhân cùng chung vốn với Nhà nước kinh doanh, hoặc các xí nghiệp và tài nguyên của Nhà nước nhượng cho tư nhân kinh doanh có điều kiện.
Trang 14Kinh tế Nhà nước và kinh tế hợp tác xã hợp thành bộ phận xã hội hóa và đóng vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc gia”4.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr.106
Trang 15Báo cáo còn nhấn mạnh: “Vì trình độ phát triển kinh tế nước ta còn thấp, nên thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể ngắn Kinh tế tư nhân nước ta còn tồn tại và phát triển trong một thời gian lâu dài”5.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr.108
Trang 16Chính sách chủ trương kinh tế dân chủ nhân dân thực chất là nềnkinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước Chính sách kinh tếdân chủ nhân dân đã tỏ ra những phát huy hiệu quả trong những năm cuốicủa cuộc kháng chiến chống Pháp, tăng gia sản xuất, giúp việc động viênsức người sức của cho mặt trận ngày càng tốt hơn.
Mặc dù chưa hoàn chỉnh trong việc xây dựng tư duy mang tầmchiến lược về đường lối chung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Song, tư duy chiến lược của Đảng ta trong Chính cương của Đảng Laođộng Việt Nam – Cương lĩnh thấm đẫm tư duy của Hồ Chí Minh – là mộtcương lĩnh sáng tạo, phù hợp và đầy tính cách mạng đối với thực tiễncách mạng Việt Nam
Trang 17Kể từ khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, tư duy mang tầmchiến lược về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội II tiếptục được bổ sung hoàn thiện Nghị quyết của Bộ Chính trị họp từ ngày 5đến ngày 7 tháng 9 năm 1954 đã xác định lại một cách rõ rệt tính chất củagiai đoạn thứ hai – giai đoạn xây dựng chế độ dân chủ nhân dân – đãđược nêu trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam Nghị quyết
của Bộ Chính trị có viết: “Chế độ xã hội của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa chúng ta thuộc hàng các nước dân chủ nhân dân Chính quyền của nước ta là chính quyền do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy công nông liên minh làm nền tảng, có Mặt trận dân tộc thống nhất bao gồm cả giai cấp tư sản và nhân sĩ dân chủ, thân sĩ (địa chủ-TG) yêu nước Nhưng vì Nam Bắc tạm thời chia làm hai vùng, vì phải chiếu cố tới miền Nam, vì cần tranh thủ rộng rãi các tầng lớp nhân dân, vì quy định của Hiệp định đình chiến, vì trình độ phát triển của công nghiệp, vì quan hệ
cụ thể của các lực lượng giai cấp trong nước, nên về thành phần giai cấp, trình độ hòa hoãn của chính sách, tốc độ phát triển của chính sách, chính quyền dân chủ nhân dân Việt Nam không những khác với chính quyền các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu, mà còn khác với chính quyền nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Nói chung chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa so với chính sách của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mới hồi kiến quốc năm 1949 thì ôn hòa hơn một chút, thành phần tham gia chính quyền rộng rãi hơn một chút, tốc độ phát triển của chính sách tiến chậm hơn một chút Chế độ chính trị của nước ta, về nội dung là dân chủ nhân dân, nhưng về hình thức thì về mặt nào đó còn cần áp dụng chủ nghĩa dân chủ cũ”6 Chính quyền dân chủnhân dân ở nước ta là chính quyền chuyên chính dân chủ nhân dân, tiếptục làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc Đồng thời, tại Hội nghị lần thứ 8Ban chấp hành Trung ương khóa II năm 1955, Đảng ta cũng xác định rõ
6 Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.15, 2002, tr288-289.
Trang 18ràng về mặt trận dân tộc trong sự nghiệp hiệp thương chính trị thống nhất
Tổ quốc
Trang 19Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Đảng tiếp tục vận dụng kinh tế dânchủ nhân dân để hàn gắn những vết thương chiến tranh do sự tàn phánặng nề của chiến tranh và của bọn xâm lược Pháp Trong khoảng 3 năm(1955-1957), nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã chứng tỏ những
ưu điểm của nó, sức sản xuất đạt và cao hơn năm 1939, đỉnh cao của thờithuộc địa (về mặt kinh tế) Khôi phục 29 xí nghiệp và xây dựng 55 xínghiệp mới Hệ thống giao thông được phục hồi và phát triển Kinh tếquốc doanh nắm phần lớn các ngành sản xuất và then chốt
Trang 20Tuy nhiên, sớm nhận thức được cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc
là lâu dài, sẽ còn phải chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược trong tươnglai Cho nên từ tháng 1 năm 1956, Bộ Chính trị đã chuẩn bị văn kiện Mấyvấn đề về đường lối cách mạng Việt Nam Trong đó, đối với miền Bắc đãđịnh hình về đường lối thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong đónhấn mạnh nhiệm vụ phải hoàn thành cải cách ruộng đất, tiến hành xâydựng kinh tế quốc doanh và tập thể, cải tạo kinh tế theo hướng chủ nghĩa
xã hội Đồng thời bên cạnh đó, tình hình quốc tế, tình hình phong tràocông nhân vô cùng phức tạp Nhất là khi phe xã hội chủ nghĩa có dấuhiệu rạn nứt, bất đồng Đặc biệt Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản vàcông nhân họp tháng 11/1957 tại Mát-xcơ-va, giới cầm quyền Liên Xôđứng đầu là Khơ-ru-sốp đã áp đặt 9 quy luật về cách mạng xã hội chủnghĩa, trong đó nhấn mạnh đến việc có thể rút gọn tiến trình đi lên chủnghĩa xã hội ở các nước chậm phát triển
Trang 21Tháng 12 năm 1957, Hội nghị TW thứ 13 của Đảng ta đã khẳng định
“sau khi cơ bản hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân ở miền Bắc, phải lập tức tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa”7
7 Bước đầu thời kỳ vẻ vang của Đảng, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1987, tr.24.
Trang 22Tại Hội nghị lần thứ 15 BCH TW khóa II năm 1959 và tại Đại hộiđại biểu toàn quốc của Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III vào năm
1960, Đảng ta đã từng bước kiện toàn tư duy chiến lược mới về conđường đi quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Về mặt phươnghướng, Đảng ta xác định phương hướng căn bản là hình thức quá độ nửa
trực tiếp, có thể “vượt qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội”8 Tại Đại hội III, lần đầu tiên Đảng ta tái xácđịnh phương hướng của thời kỳ quá độ được nêu trong Luận cương chínhtrị của Trần Phú Trước mắt, Đảng ta đặt ra nhiệm vụ cải tạo xã hội bằnghình thức quá độ trực tiếp đối với những cơ sở vật chất kỹ thuật đang sẵn
có, sử chính quyền dân chủ nhân dân đã được kiện toàn như là công cụcủa nền chuyên chính vô sản nhằm cải tạo xã hội chủ nghĩa Nhưng đồngthời tận dụng sự giúp đỡ về vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa mà rútngắn lại thời gian xây dựng cơ sở vật chất – xã hội cho thời kỳ quá độ ởnước ta
Đường lối này trong thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ những vấn đề bấtcập của nó Đặc điểm này xuất phát từ việc:
+ thứ nhất, Đảng ta có phần vội vã trong việc đưa miền Bắc bước
vào con đường quá độ trực tiếp với lý do là muốn mau chóng đưa miềnBắc tiến lên Chủ nghĩa xã hội để trở thành hậu phương lớn cho miềnNam Lẽ ra, thời kỳ quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội phải được xem
là lâu dài, từng bước, phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần để pháttriển lực lượng sản xuất, đặc biệt đối với nước có trình độ phát triển thấpnhư Việt Nam, nền kinh tế còn lạc hậu, chưa trãi qua sự phát triển của chủnghĩa tư bản;
+ thứ hai, chính nhờ mối quan hệ ngày càng gắn chặt hơn giữa các
nước xã hội chủ nghĩa và các nước dân chủ nhân dân đối với Việt Nam,
8 Văn kiện Đại hội đảng, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 20-4-2018
Trang 23cho nên Đảng ta cũng từng bước nhận thức những thuận lợi của conđường quá độ nửa trực tiếp, có thể thông qua sự giúp đỡ của các nước xãhội chủ nghĩa mà thu hẹp được thời gian xây dựng những cơ sở vật chất –
xã hội, có thể đẩy nhanh quá trình miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiếnvững chắc trên con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí có thểcho rằng sẽ khắc phục được những thiếu sót, khó khăn của tình hình kinh
tế xã hội nước ta Tuy nhiên, nhược điểm của hình thức quá độ nửa trựctiếp này là xu hướng tả tăng nhanh trong Đảng, hình thức tổ chức và quản
lý của Nhà nước nhanh chóng được cải tiến theo hình thức tăng dần quan
hệ sản xuất – vượt trước cả lực lượng sản xuất, phụ thuộc rất lớn vào khối
xã hội chủ nghĩa Nếu như khối xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảngkinh tế hoặc không đủ điều kiện hỗ trợ Việt Nam quá độ nửa trực tiếp, thì
vô hình chung sẽ phá nát toàn bộ cơ cấu kinh tế xã hội của nước ta
Trang 24Sau khi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam đã hoàntoàn thắng lợi, non sông đất nước đã được thống nhất Hội nghị lần thứ
24 của BCHTW Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ của cách mạngViệt Nam trong giai đoạn mới đã thông qua Nghị quyết số 247-NQ/TW,ngày 29/9/1975 Nghị quyết đã xác định phương hướng của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội trong toàn quốc tiếp tục là hình thức nửa trực
tiếp, Đảng ta tiếp tục xác định: “Cả nước đang ở trong quá trình tổ chức
lại nền sản xuất xã hội, từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa vượt qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”9 Tư duy mang tầm chiếnlược về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ III tiếp tục được xác định là cơ sở cho việc cải tạo xã hộichủ nghĩa ở miền Nam
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam(1976) đã tiếp tục khẳng định lại những nội dung căn bản của Hội nghịlần thứ 24 BCHTW khóa III Đảng ta đồng thời cũng xác nhận những đặcđiểm lớn của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là: thứ nhất,phương hướng thời kỳ quá độ là tiếp tục quá độ nửa trực tiếp bỏ qua giaiđoạn tư bản chủ nghĩa; thứ hai, tiếp tục thực hiện đường lối chung củathời kỳ quá độ được nêu từ Đại hội III, cụ thể: miền Bắc tiếp tục xâydựng cơ sở vật chất xã hội chủ nghĩa bởi đường lối quá độ nửa trực tiếp;miền Nam vừa thực hiện đường lối quá độ trực tiếp với tốc độ cao từ việccải tạo xã hội chủ nghĩa những cơ sở xã hội sẵn có vừa quá độ nửa trựctiếp từ nguồn viện trợ vật chất kinh tế bên ngoài để rút ngắn thời kỳ quá
độ lên xã hội chủ nghĩa
9 Văn kiện Hội nghị BCHTW Đảng, Nghị quyết số 247-NQ/TW, ngày 29/9/1975 Hội nghị lần thứ 24 BCHTW Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 16/6/2018.
Trang 25Từ năm 1980 Đảng ta đã bắt đầu kiện toàn Nhà nước Xã hội chủnghĩa trên phạm vi cả nước cùng với sự ra đời của Hiến pháp xã hội chủnghĩa Mặc dù đã xây dựng căn bản cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hộibước đầu và thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Song, nền kinh
tế vẫn còn lạc hậu, cơ sở vật chất kinh tế xã hội còn lạc hậu, kém pháttriển Thời kỳ quá độ nửa trực tiếp càng gặp nhiều khó khăn hơn khi sựtrợ giúp từ các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng ít, nguyên nhân là: thứnhất, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đang lâm vào cơnkhủng hoảng kinh tế ngày càng trầm trọng, nguồn viện trợ từ các nướcnày ngày càng ít đi; thứ hai, sự mâu thuẫn giữa Trung – Xô căng thẳng từcuối thập niên 50 đến thập niên 80 đã phần nào làm giảm một phần sựviện trợ cho Việt Nam, chủ yếu là đến từ Trung Quốc; thứ ba, mâu thuẫnViệt – Trung từ sau 1975 đã dẫn đến việc chấm dứt hoàn toàn viện trợcho Việt Nam Những tác động trên đã ảnh hưởng rất tiêu cực đến đườnglối thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Công tác cải tạo vàxây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước ngày càng trì trệ và lâmvào khủng hoảng, cơ sở vật chất kinh tế và xã hội của Việt Nam chưa đủkhả năng để đáp ứng những quan hệ sản xuất đã được cải tạo, lực lượngsản xuất vẫn còn kém phát triển, nền kinh tế sản xuất hàng hóa tương đốinghèo nàn, đất nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng
Cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội những năm 80 đã đưa đất nướcvào tình trạng kiệt quệ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) đãtrở thành một bước ngoặt đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam Côngcuộc Đổi mới tư duy đối với công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xãhội nước nhà đã mang lại nhiều thành quả tốt đẹp Nói về đường lối thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tại Đại hội VI, Đảng ta không trực tiếp đềcập, tuy nhiên, nội dung của nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội đượcnêu tại đại hội cũng đã cho thấy Đảng ta bắt đầu có sự nhận thức mới về