1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHÍNH QUYỀN đô THỊ THÔNG MINH cấp TỈNH tại VIỆT NAM GIAI đoạn HIỆN NAY

237 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Quyền Đô Thị Thông Minh Cấp Tỉnh Tại Việt Nam Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Phạm Tiến Luật
Người hướng dẫn PGS.TS Võ Kim Sơn, PGS.TS Bế Trung Anh
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Quản lý công
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 237
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này, trong những năm trở lại đây vấn đề xây dựng đô thị thông minh đang trở nên cấp bách, không chỉ xuất phát từ vai trò trọng yếu của các đô thị đối

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHẠM TIẾN LUẬT

CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ THÔNG MINH

CẤP TỈNH TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI, 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA QUỐC GIA

PHẠM TIẾN LUẬT

CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ THÔNG MINH

CẤP TỈNH TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 9 34 04 03

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS Võ Kim Sơn

2 PGS.TS Bế Trung Anh

Hà Nội, 2022

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Võ Kim Sơn và PGS.TS Bế Trung Anh Các số liệu nêu trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng

và được trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định

Tác giả

Phạm Tiến Luật

Trang 4

Lời cảm ơn

Luận án được hoàn thành theo chương trình đào tạo Tiến sĩ Quản lý công

do Học viện Hành chính Quốc gia tổ chức tại Hà Nội Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám đốc, Học viện Hành chính Quốc gia và các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho Tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả cũng xin chân thành cám ơn các cá nhân, tổ chức đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành Luận án

Đặc biệt tác giả xin chân thành cảm ơn Thầy giáo PGS.TS Võ Kim Sơn, Thầy giáo PGS.TS Bế Trung Anh đã trực tiếp hướng dẫn và hết lòng hỗ trợ trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận án này

Dù đã cố gắng nhưng Luận án còn nhiều thiếu sót, tác giả rất mong nhận được ý kiến chỉ dẫn của các thầy cô và ý kiến đóng góp chân tình của các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Phạm Tiến Luật

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các thuật ngữ

Danh mục các bảng, biểu đồ, hình vẽ 0

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Câu hỏi nghiên cứu và Giả thuyết khoa học 7

6 Đóng góp của đề tài trong lĩnh vực nghiên cứu 8

7 Cấu trúc của Luận án 9

Chương 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ THÔNG MINH 10

1.1 Các công trình nghiên cứu về xây dựng đô thị thông minh 10

1.1.1 Công trình nghiên cứu nước ngoài 11

1.1.2 Công trình nghiên cứu trong nước 16

1.2 Các đề tài nghiên cứu về Chính quyền đô thị thông minh 21

1.2.1 Đề tài nghiên cứu nước ngoài 21

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 25

1.3 Đánh giá khái quát các công trình liên quan và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong Luận án 31

1.3.1 Những vấn đề mà các công trình liên quan đến đề tài Luận án đã đạt được 31

1.3.2 Những vấn đề đặt ra cho Luận án cần tập trung nghiên cứu 32

Tiểu kết Chương 1 35

Chương 2:CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ THÔNG MINH CẤP TỈNH 36

2.1 Các khái niệm cơ bản 36

2.1.1 Công nghệ thông tin, vai trò của Công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước 36

2.1.2 Khái niệm đô thị, đô thị cấp tỉnh và đô thị thông minh 37

2.1.3 Khái niệm Chính quyền, Chính quyền địa phương, Chính quyền đô thị 39

2.2 Một số vấn đề lý luận về Chính quyền thông minh và xây dựng Chính quyền thông minh 45

2.2.1 Khái niệm Chính quyền điện tử, Chính quyền thông minh 45

2.2.2 Vai trò và lợi ích của Chính quyền thông minh 49

Trang 6

2.2.3 Các mô hình giao dịch trong Chính quyền thông minh 50

2.2.4 Sự khác nhau giữa Chính quyền truyền thống và Chính quyền thông minh 51

2.2.5 Các điều kiện cơ bản trong xây dựng Chính quyền thông minh 53

2.3 Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng Chính quyền điện tử hướng đến Chính quyền thông minh tại một số quốc gia trên thế giới và giá trị tham khảo cho Việt Nam 61

2.3.1 Mô hình, cách thức xây dựng Chính quyền điện tử tại Hoa Kỳ 62

2.3.2 Chính quyền điện tử tại Vương quốc Anh 68

2.3.3 Chính phủ điện tử tại Australia 71

2.3.4 Chính phủ điện tử tại Singapore 78

2.3.5 Bài học kinh nghiệm trong xây dựng Chính quyền thông minh rút ra từ các quốc gia trên 84

Tiểu kết Chương 2 86

Chương 3:THỰC TRẠNG XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN THÔNG MINH TẠI CÁC ĐÔ THỊ CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM 88

3.1 Khái quát Tổ chức bộ máy nhà nước tại các đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay 88

3.2 Thực trạng các điều kiện xây dựng Chính quyền thông minh tại các đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam 100

3.2.1 Điều kiện về thể chế pháp lý trong xây dựng và phát triển Chính quyền thông minh 100

3.2.2 Bộ máy quản lý Nhà nước tại các đô thị cấp tỉnh hiện nay 104

3.2.3 Điều kiện về nguồn nhân lực 106

3.2.4 Hạ tầng Cơ sở kỹ thuật Công nghệ thông tin và Truyền thông 113

3.2.5 Điều kiện về kinh tế-xã hội tại các đô thị cấp tỉnh 124

3.3 Những kết quả đạt được trong xây dựng Chính quyền thông minh tại các đô thị cấp tỉnh 129

3.3.1 Ứng dụng Công nghệ thông tin trong nội bộ của cơ quan nhà nước 129

3.3.2 Ứng dụng Công nghệ thông tin phục vụ công dân và doanh nghiệp 141

3.3.3 Đánh giá những kết quả đạt được trong xây dựng Chính quyền thông minh tại đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam 147

Tiểu kết Chương 3 153

Chương 4:ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN THÔNG MINH TẠI CÁC ĐÔ THỊ CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM 155

4.1 Định hướng xây dựng Chính quyền thông minh tại các đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam 155

Trang 7

4.1.1 Xu hướng chuyển đổi từ Chính quyền điện tử sang Chính quyền thông minh tại

Việt Nam 155

4.1.2 Định hướng xây dựng Chính quyền đô thị thông minh giai đoạn 2020-2030 157

4.2 Giải pháp cho việc xây dựng Chính quyền đô thị thông minh tại các đô thị cấp tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 158

4.2.1 Giải pháp về thể chế, pháp lý 158

4.2.2 Giải pháp về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước 161

4.2.3 Giải pháp về nguồn nhân lực 165

4.2.4 Giải pháp về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, Công nghệ thông tin và Truyền thông 171

4.2.5 Giải pháp tài chính, thu hút vốn đầu tư 182

Tiểu kết Chương 4 185

KẾT LUẬN 186

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 193

TÀI LIỆU THAM KHẢO 194

A TIẾNG VIỆT 194

B TIẾNG ANH 208

C CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 211

PHỤ LỤC I 213

PHỤ LỤC II 217

Trang 8

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

2 CNTT-TT Công nghệ thông tin và truyền thông

10 CQĐP Chính quyền địa phương

11 CNVT Công nghệ viễn thông

13 CBCCVC Cán bộ, công chức, viên chức

24 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

25 TTTT Thông tin và Truyền thông

Trang 9

Danh mục các thuật ngữ

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

HDD Hard Disk Drive Ổ đĩa cứng

ICT Information Communication

Technology

Công nghệ Thông tin Truyền thông

IDS Intrusion Detection Systems Hệ thống phát hiện truy nhập trái phép LAN Local Area Network Mạng cục bộ

Mbps Megabits per second Mê ga bit mỗi giây

WAN Wide Area Network Mạng diện rộng

VCS Video Conference System Hệ thống hội nghị truyền hình SAN Storage Area Network Mạng lưu trữ

Trang 10

Danh mục các bảng, biểu đồ, hình vẽ

1 Hình 1.1: Cơ cấu đối tượng tham gia trả lời phiếu trưng cầu ý kiến

2 Hình 3.1: Sơ đồ Tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay 88

3 Hình 3.2: Sơ đồ Tổ chức chính quyền tại các tỉnh theo Hiến pháp

4 Hình 3.3: Sơ đồ Tổ chức chính quyền tại các thành phố trực thuộc

Trung ương theo Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức CQĐP 2015 89

5 Hình 3.4: Khung kiến trúc CQĐT cấp tỉnh phiên bản 1.0 94

6 Hình 3.5: Khung kiến trúc CQĐT (CPĐT) Việt Nam phiên bản 2.0 99

7 Biểu đồ 3.1: Kết quả đạt được trong xây dựng CQTM tại các địa

8 Biểu đồ 3.2: Đánh giá mức độ tác động của những yếu tố đến việc

9 Bảng 3.1: Chỉ số ứng dụng CNTT trong hoạt động nội bộ của các

10 Bảng 3.2: Xếp hạng theo số lượng DVCTT mức độ 3, mức độ 4

được cung cấp tại các thành phố trực thuộc Trung ương năm 2016 149

11

Bảng 3.3: Xếp hạng theo số lượng hồ sơ được giải quyết trực tuyến

(hồ sơ trực tuyến) mức độ 3, mức độ 4 tại các thành phố trực thuộc

Trung ương năm 2016

150

12 Bảng 3.4: Chỉ số Nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT của các

13 Hình 4.1: Giải pháp tổ chức bộ máy Chính quyền tại đô thị cấp tỉnh 162

14 Hình 4.2: Mô hình hạ tầng CNTT-TT liên thông bốn (04) cấp từ

15 Hình 4.3: Mô hình hạ tầng CNTT-TT của TPTM (nội bộ) 181

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước sang thế kỷ 21, với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ

đã làm thay đổi mọi khía cạnh của đời sống, kinh tế-xã hội Công nghệ ngày càng phát triển và sự thay đổi xã hội đã tạo ra những đột phá về tổ chức đi lại,

sử dụng năng lượng, hệ thống phân phối logistics, công nghiệp phụ trợ, quản

lý cơ sở hạ tầng, quản lý công và cung cấp DVC Trên cơ sở những thay đổi

về công nghệ đã làm cho thế giới thay đổi về nhận thức, thể chế và cách chúng ta tạo ra giá trị trong thời đại mới

Thành phố “thông minh” hay “thông minh hơn” ra đời là một tất yếu khi công nghệ đạt được những thành tựu to lớn, đáp ứng những nhu cầu của xã hội Trên thế giới hiện nay có rất nhiều quốc gia đã triển khai các chương trình để hiện thực hóa mục tiêu trở thành TPTM Mỗi quốc gia hoặc thành phố lựa chọn cách riêng để đạt được mục tiêu của mình phụ thuộc vào bối cảnh phát triển Một số nước trên thế giới đã triển khai xây dựng thành công TPTM như Barcelona (Tây Ban Nha), Copenhagen (Đan Mạch), Helsinki, Vancouver (Phần Lan), Vienna (Áo), London (Anh), San Francisco (Hoa Kỳ),… Singapore công bố kế hoạch xây dựng quốc gia thông minh, hay Ấn

Độ triển khai đề án xây dựng 100 TPTM

TPTM hay Đô thị thông minh đã và đang trở thành xu thế phát triển mạnh mẽ của thời đại, là một cuộc cách mạng về quản lý đô thị Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này, trong những năm trở lại đây vấn đề xây dựng đô thị thông minh đang trở nên cấp bách, không chỉ xuất phát từ vai trò trọng yếu của các đô thị đối với phát triển kinh tế-xã hội cả nước mà còn vì những vấn đề lớn đang nảy sinh tại các đô thị như dân số tăng, kéo theo áp lực về môi trường, giao thông, y tế, nhà ở; Hạ tầng lạc hậu, quá tải; Cạnh tranh kinh tế giữa các đô thị, các vùng tăng; Đòi hỏi của người dân về chất

Trang 12

lượng cuộc sống tăng Mặt khác, Chính phủ cũng đang đẩy mạnh yêu cầu về CCHC và hệ thống quản lý, hạ tầng và mức độ ứng dụng, phát triển CNTT-

TT tại Việt Nam đang có những bước tiến rõ rệt Hiện cả nước đã có một số thành phố bắt đầu triển khai xây dựng Đề án TPTM như: Huế (năm 2015); Hà Nội (2015); Đà Nẵng (7/2016); thành phố Hồ Chí Minh (8/2016); Cần Thơ (9/2016),…

Trong một đô thị thông minh, hoạt động QLNN của bộ máy chính quyền (hay “Chính quyền điện tử”, “Chính quyền thông minh”) đóng vai trò chủ đạo Những năm qua, xây dựng CPĐT, CQĐT các cấp luôn được Đảng, Nhà nước xác định là nhiệm vụ quan trọng và luôn quan tâm, coi trọng phát triển ứng dụng CNTT, đặc biệt là ứng dụng CNTT trong các CQNN Nhiều Văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý cho việc thúc đẩy ứng dụng CNTT, CNTT được coi là một công cụ hữu hiệu tạo lập phương thức phát triển mới và bảo vệ Tổ quốc; là động lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, xã hội thông tin, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế; góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH hoà nhập với quốc thế trong thời đại cuộc “Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư” hay “Cách mạng Công nghiệp 4.0” (CMCN 4.0) bảo đảm phát triển nhanh và bền vững đất nước Việt Nam

Tuy nhiên, vấn đề xây dựng CQTM tại các đô thị cũng gặp phải rất nhiều rào cản như: hạ tầng kỹ thuật CNTT-TT chưa hoàn thiện, đồng bộ, các phân mềm, ứng dụng CNTT triển khai trong hoạt động QLNN và CSDL chuyển ngành chưa được đồng bộ kết nối liên thông 4 cấp, từ Trung ương đến cấp xã Bên cạnh đó, nhận thức về ứng dụng và phát triển CNTT của các cấp lãnh đạo tại các đơn vị vẫn còn hạn chế Vì vậy, việc triển khai ứng dụng chưa đồng đều, tiến độ triển khai còn chậm, thiếu sự tích cực Sự phối hợp giữa các sở, ngành của thành phố nhiều lúc chưa tốt, nên việc kết nối và tích hợp thông tin, dữ liệu còn nhiều bất cập Không chỉ cán bộ, công chức, mà

Trang 13

nhiều người dân cũng chưa có sự quan tâm đúng mức tới vấn đề này, nên chưa thúc đẩy được mạnh mẽ nhu cầu ứng dụng CNTT-TT trong các CQNN,

Trên cơ sở đó, Luận án hướng đến nghiên cứu các khía cạnh của việc xây dựng CQTM tại các đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Hoạt động ứng dụng CNTT-TT trong công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành của Chính quyền Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng việc xây dựng Chính quyền đô thị thông minh cấp tỉnh của Việt Nam để từ đó thấy được những thách thức đang gặp phải đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng CQTM, hiện đại tại các đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam hướng đến xây dựng thành công Đô thị thông minh tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Xác lập căn cứ khoa học từ đó đề xuất những giải pháp, định hướng xây dựng CQTM tại các đô thị cấp tỉnh của Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận trong xây dựng CQTM tại đô thị cấp tỉnh;

- Nghiên cứu thực tiễn xây dựng CQTM tại các đô thị cấp tỉnh hiện nay dựa trên việc tìm hiểu các điều kiện trong xây dựng CQTM như: điều kiện về thể chế, pháp lý; Bộ máy quản lý nhà nước; Điều kiện về nguồn nhân lực; Cơ sở hạ tầng CNTT-TT; Điều kiện về Kinh tế- xã hội tại các đô thị Trên cơ sở đó, đánh giá những kết quả đạt được trong xây dựng CQTM tại các đô thị cấp tỉnh

- Phân tích những hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế trong việc xây dựng CQTM tại các đô thị cấp tỉnh hiện nay;

- Đề xuất những giải pháp trong việc xây dựng CQTM tại các đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam

Trang 14

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính quyền thông minh tại các đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam (05 thành phố trực thuộc Trung ương)

3.2 Khách thể nghiên cứu

- CBCCVC, công dân tại các đô thị cấp tỉnh của Việt Nam;

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các điều kiện trong xây

dựng CQTM Đánh giá những kết quả đạt được và chưa đạt được trong xây dựng CQTM tại các đô thị cấp tỉnh Trên cơ sở đó để xuất các giải pháp phù hợp với yêu cầu thực tiễn xây dựng CQTM

Phạm vi về và thời gian: Dữ liệu nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2021

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án sử dụng các phương pháp luận chủ yếu trong nghiên cứu khoa học quản lý công như phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cùng với các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về xây dựng CQTM tại các đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và viết Luận án,tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau - trong đó, liên quan đến đối tượng và chuyên ngành nghiên cứu thì các phương pháp chủ yếu được sử dụng bao gồm:

4.2.1 Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu thứ cấp

Tác giả tiến hành Việc nghiên cứu luận án dựa trên kết quả phân tích tài liệu thứ cấp là các công trình nghiên cứu có liên quan đến ứng dụng CNTT trong QLNN, xây dựng CQĐT, CQTM

Trang 15

4.2.2 Phương pháp hội thảo

Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án tác giả đã tham dự và đưa ra các ý kiến tại các buổi tọa đàm, hội thảo về xây dựng CQĐT, xây dựng Mô hình TPTM tại Việt Nam Tác giả đã tiếp thu các ý kiến trao đổi, thảo luận của các nhà khoa học, các nhà quản lý trên cơ sở các thông tin thu thập được,

từ đó phân tích, đánh giá, xem xét trên góc độ lý luận và thực tiễn Qua đó, tổng hợp lại để có những kết luận, những đề xuất mang tính khoa học, phù hợp với lý luận và thực tiễn về cơ chế QLNN đối mới mô hình TPTM

4.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Thực hiện phỏng vấn sâu lãnh đạo một số cơ quan trong hệ thống chính quyền; cán bộ, công chức đang làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước

và công dân trên địa bàn thành phố Hà Nội

4.2.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi

Để có được những đánh giá khách quan, luận án đã sử dụng phương pháp điều tra trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi Bảng hỏi tập trung phân tích những quan điểm đánh giá của cá nhân về thực trạng CQĐT tại các đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam (Phụ lục I) Tác giả sử dụng phương pháp trưng cầu ý kiến đối với đối tượng là cán bộ, công chức trong CQNN, công dân đến làm việc tại các CQNN trên địa bàn Hà Nội Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện Đây là cách chọn mẫu phù hợp với dạng nghiên cứu trường hợp, thuận tiện cho người nghiên cứu về mặt thời gian, chi phí và công tác phát bảng hỏi cũng được diễn ra dễ dàng hơn Tác giả đã phát phiếu trưng cầu với 500 trường hợp tuy nhiên số phiếu trưng cầu ý kiến thu về 370 phiếu đầy đủ thông tin và tiến hành xử lý thông tin của các phiếu này

Cách thức tiến hành thu thập thông tin: Tác giả tiến hành phát phiếu trưng cầu tại 05 địa điểm tại Hà Nội gồm: UBND thành phố Hà Nội; UBND quận Hoàn Kiếm; UBND phường Định Công (quận Hoàng Mai); UBND

Trang 16

phường Ngã Tư Sở (quận Đống Đa); UBND phường Dịch Vọng Hậu (quận Cầu Giấy) trong thời gian từ ngày 01/9/2017 đến ngày 15/9/2017

Bảng hỏi thu về được làm sạch và xử lý thông tin thu được:

Tỷ lệ giới tính

Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ nghề nghiệp

Tỷ lệ (%)

Trang 17

Tỷ lệ độ tuổi

Tỷ lệ (%)

Hình 1.1: Cơ cấu đối tượng tham gia trả lời phiếu trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi

5 Câu hỏi nghiên cứu và Giả thuyết khoa học

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu 1: Chính quyền đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay

như thế nào?

Câu hỏi nghiên cứu 2: Các đô thị ở Việt Nam đáp ứng được ở mức độ

nào về các điều kiện để xây dựng CQTM? Tại sao còn nhiều hạn chế trong xây dựng CQTM tại đô thị cấp tỉnh hiện nay?

Câu hỏi nghiên cứu 3: Làm thế nào để xây dựng được CQTM tại các đô

thị cấp tỉnh ở Việt Nam?

5.2 Giả thuyết khoa học

Tại các đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam đã và đang đầu tư lớn cho các điều kiện xây dựng CQTM bao gồm: Xây dựng hạ tầng CNTT-TT; ứng dụng CNTT-TT trong công tác quản lý; đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ CBCCVC, thiết lập lại bộ máy tổ chức nhà nước, hướng tới xây dựng thành công mô hình CQTM

Trang 18

Chính quyền hiện nay ở các đô thị cấp tỉnh mới chỉ đáp ứng được những điều kiện căn bản của CQĐT Công dân đã có thể thực hiện được một số giao dịch hoàn chỉnh mà không phải đến các cơ quan hành chính để thực hiện, DVCTT cũng được mở rộng ở mức độ 3 hoặc mức độ 4 Tính phức tạp, quy

mô công nghệ cũng được nâng cao, tăng mức độ tương tác giữa công dân và Chính phủ Tuy vậy, vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong quá trình xây dựng CQTM, có thể kể đến như: Hạ tầng CNTT-TT chưa được xây dựng đồng bộ theo hướng hiện đại, nguồn nhân lực hạn chế, một số TTHC vẫn áp dụng các phương thức giao dịch truyền thống, chưa tận dụng hết được những thành quả khoa học mà CNTT-TT mang lại

Để xây dựng thành công Chính quyền đô thị thông minh cần áp dụng nhiều giải pháp khác nhau, trong đó đặc biệt là các giải pháp về hoàn thiện thể chế pháp lý, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hiện đại hoá hạ tầng kỹ thuật, CNTT-TT, đảm bảo vấn đề an toàn thông tin và cải cách TTHC

6 Đóng góp của đề tài trong lĩnh vực nghiên cứu

6.1 Về lý luận

Một là, làm rõ lý luận về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của việc xây

dựng CQTM tại đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam

Hai là, luận giải được các điều kiện cơ bản trong xây dựng và hoàn thiện

Chính quyền đô thị thông minh

Ba là, nâng cao nhận thức của việc ứng dụng CNTT-TT trong hoạt động

điều hành và QLNN tại các đô thị cấp tỉnh của Việt Nam

6.2 Về thực tiễn

Một là, cung cấp những kiến thức nền tảng, làm rõ thực tiễn việc chuyển

đổi CQĐT thành CQTM tại đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu sau

Trang 19

Hai là, Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch

định chính sách xây dựng Chính quyền đô thị thông minh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế của Việt Nam

7 Cấu trúc của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của luận án được kết cấu thành bốn (04) Chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về Chính quyền đô thị

thông minh

Chương 2: Cơ sở khoa học về xây dựng Chính quyền đô thị thông minh

cấp tỉnh

Chương 3: Thực trạng xây dựng Chính quyền đô thị thông minh tại các

đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam

Chương 4: Định hướng và giải pháp để xây dựng Chính quyền đô thị

thông minh tại các đô thị cấp tỉnh ở Việt Nam

Trang 20

Chương 1:

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH

QUYỀN ĐÔ THỊ THÔNG MINH

Xây dựng Đô thị thông minh, Chính quyền đô thị thông minh dù mới xuất hiện trong những năm gần đây, tuy nhiên đã thu hút sự quan tâm của Chính phủ, các nhà hoạch định, xây dựng chính sách cũng như các nhà nghiên cứu về vấn đề này bởi tính cấp thiết của nó Trên thế giới, cũng như tại Việt Nam đã có rất nhiều đề tài, dự án, nghiên cứu xoay xung quanh mảng đề tài vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn này, có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau

1.1 Các công trình nghiên cứu về xây dựng đô thị thông minh

Với tốc độ gia tăng nhanh chóng của quá trình đô thị hóa trên thế giới, dân cư đô thị cũng vì thế mà không ngừng gia tăng Dựa trên thống kê, cuộc sống của phần lớn nhân loại sẽ diễn ra trong khu vực đô thị Trên 50% dân số trái đất hiện nay đang sinh sống ở khu vực thành phố, đến năm 2050 dự đoán tối thiểu sẽ là 70% Khu vực thành phố cũng là nơi tiêu thụ phần lớn năng lượng toàn cầu và thải ra nhiều khí nhà kính nhất Do đó, việc phát triển thành phố trong tương lai có ảnh hưởng lớn tới môi trường Khoa học, chính trị và công nghiệp đã nhận ra điều đó, tại các quốc gia đã và đang định ra giải pháp cho các vấn đề liên quan đến quá trình đô thị hoá Một giải pháp hiện nay đều được các quốc gia hướng đến mang tên TPTM Thuật ngữ “Thành phố thông minh” đã trở nên phổ biến khi nhiều thành phố lớn trên thế giới tìm cách áp dụng công nghệ để nâng cao chất lượng sống của cư dân, trước áp lực đô thị phát triển quá nhanh trong những năm gần đây Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xây dựng TPTM ở các quốc gia trên thế giới, trước hết

là những công trình nghiên cứu nước ngoài

Trang 21

1.1.1 Công trình nghiên cứu nước ngoài

Tác giả Robert Goodspeed, Smart cities: moving beyond urban

cybernetics to tackle wicked problems [150, tr.79-92] đã nêu lên những quan

điểm xung quanh vấn đề khái niệm TPTM và những vấn đề trong việc xây

dựng một TPTM trong thực tiễn Thứ nhất, về định nghĩa một TPTM, mặc dù

đã có nhiều định nghĩa về TPTM được đề xuất, tuy nhiên theo tác giả, một TPTM là thành phố sử dụng CNTT để đặt hệ thống hiệu quả thông qua giám

sát và kiểm soát thời gian thực Thứ hai, tác giả dựa trên một cuộc thảo luận

của Trung tâm điều hành Rio de Janeiro (Brazil), tác giả lập luận rằng vấn đề

đô thị là vấn đề chuyên xâu cho phép các giải pháp cơ bản hơn so với điều khiển học đô thị, nhưng đòi hỏi sự sáng tạo của địa phương và sự tham gia của các bên liên quan Do đó, yếu tố then chốt để xây dựng TPTM đó là kế hoạch kết hợp giữa đổi mới đô thị và ứng dụng CNTT

Cũng có chung mối quan tâm về vấn đề làm sao để xây dựng được

“Thành phố thông minh”, cũng như những khó khăn từ thực tiễn xây dựng TPTM tại Ấn Độ, tác giả Ayona Datta, đã nêu lên một số quan điểm về việc

xây dựng TPTM trong nghiên cứu “New urban utopias of postcolonial

India: Entrepreneurial urbanization in Dholera smart city, Gujarat” xuất bản trong Tạp chí Đối thoại trong Địa lý nhân học năm 2015, Tập 5 [135, tr

3-22] Trong nghiên cứu này, tác giả đã có những phân tích về mặt lý thuyết

lẫn thực tiễn trong xây dựng TPTM Dholera, Gujarat ở Ấn Độ cũng như tầm nhìn xây dựng 100 TPTM ở Ấn Độ Theo tác giả, TPTM hiện đang được hiểu nơi mà CNTT được kết hợp với cơ sở hạ tầng, kiến trúc, các hoạt động sống và các cơ quan riêng biệt của chúng ta trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội và môi trường (Townsend, 2013: 15) Tại Ấn Độ, các câu chuyện TPTM đã được đồng nghĩa với “thành phố xanh”, xét theo khía cạnh này thì việc xây dựng thành phố Dholera trở thành một TPTM được xem là một điều không tưởng Thực tế cho thấy, những chính sách của Chính phủ

Trang 22

Ấn Độ đưa ra nhằm phát triển một TPTM - Dholera được ưu tiên cho đô thị hóa như một mô hình kinh doanh chứ không phải là một mô hình của công bằng xã hội Đô thị thông minh Dholera đã đạt được những thay đổi đáng kể

về mặt cơ sở hạ tầng, sự tăng trưởng kinh tế đáng ngạc nhiên, những cải cách về mặt chính sách nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư của Chính phủ, tuy nhiên vẫn còn đó những vấn đề xã hội về môi trường, các nhóm xã hội bị thiệt thòi và điều này làm chậm lại đồng thời sẽ là thách thức trong giai đoạn mới của Ấn Độ trong việc xây dựng đô thị hóa kinh doanh Như vậy, trong nghiên cứu này, tác giả đã nêu rõ quan điểm, xây dựng TPTM không chỉ dừng lại ở việc tăng trưởng kinh tế, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng mà hơn hết cần chú trọng đến vấn đề môi trường, đem lại môi trường sống trong lành,

sự công bằng cho tất cả mọi người

Nhìn ở một khía cạnh khác về TPTM, Robert G Hollandstrong nghiên

cứu Critical interventions into the corporate smart city [151, tr.61-77] đã nêu

lên những ý kiến về sự đóng góp của các doanh nghiệp đối với TPTM Trong bài viết của mình, trước hết tác giả đã nêu lên các quan điểm về TPTM: “Bị thúc đẩy bởi các luồng dân cư, các trung tâm tăng trưởng kinh tế và vấn đề môi trường, TPTM hiện đang được xây dựng như giải pháp cho nhiều vấn đề

đô thị, trong đó có tội phạm, tình trạng tắc nghẽn giao thông, dịch vụ kém hiệu quả và kinh tế trì trệ, hứa hẹn sự thịnh vượng và lối sống lành mạnh cho tất cả mọi người Trong thời gian ngắn, các TPTM sẽ là nơi hội tụ những

công nghệ hàng đầu cho một đô thị không tưởng” Tác giả khẳng định: Thứ

nhất, các ý tưởng về một TPTM tiếp tục là một khái niệm ẩn chứa nhiều vấn

đề, và sẽ còn có nhiều quan điểm được nêu ra, trong đó tác giả đều khẳng định CNTT có thể làm cho thành phố thịnh vượng hơn về kinh tế, đảm bảo

công bằng, điều chỉnh hiệu quả hơn và ít gây lãng phí môi trường Thứ hai,

cách thức mà các đô thị giải quyết vấn đề của họ nằm ở sự chuyển giao kỹ thuật một cách hiệu quả thông qua tầm nhìn của các doanh nghiệp, kết hợp

Trang 23

với một hình thức kinh doanh của quản lý đô thị Tác giả đồng thời nêu lên những bất cập mà các TPTM đang gặp phải “Các vấn đề đô thị lớn của chúng

ta không phải là công nghệ mà là xã hội nghèo đói và bất bình đẳng đã trở nên trầm trọng, không được giải quyết bởi tư nhân hóa doanh nghiệp và chiến lược xây dựng thương hiệu thành phố” Ngoài ra, trong nhiều cuộc thảo luận của các TPTM có rất ít chỗ cho những tranh luận dân chủ và quyền công dân

Ở đây, tác giả cũng nêu lên câu hỏi quan trọng là liệu TPTM có thực sự có lợi cho tất cả chúng ta, hay cuối cùng chỉ là khẳng định những nỗ lực của các doanh nghiệp công nghệ và cách mà họ gặt hái những lợi ích Đời sống đô thị, như xã hội học đô thị trong thế kỷ qua đã cho chúng ta thấy có rất nhiều vấn

đề phức tạp như các vấn đề nghèo đô thị, phân biệt đối xử, bất bình đẳng và phân cực xã hội; các vấn đề khu phố như gia tăng tội phạm; và thậm chí cả vấn đề môi trường như ùn tắc giao thông, thay đổi cấu trúc xã hội, các vấn đề chính trị, văn hóa quan trọng sẽ không được cải thiện nếu chỉ bằng các giải pháp công nghệ đơn giản hay thậm chí qua các cuộc thu thập các dữ liệu phức tạp Đây là nghịch lý phải đối mặt với bất kỳ sáng kiến doanh nghiệp thông minh hay TPTM

Một nghiên cứu khác của Ayona Datta về mảng đề tài “thành phố thông

minh” trong bài viết India's Ecocity? Environment, Urbanisation, and

Mobility in the Making of Lavasa [134], đã nêu nên quan điểm trong một bối

cảnh đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, tiềm năng của những thành phố sinh thái cho sự phát triển bền vững được tranh luận sôi nổi trong giới học thuật và chính sách Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến Lavasa

“thành phố đồi” lớn nhất trong kế hoạch của Ấn Độ, bằng một phần năm diện tích của Mumbai Được đề cập trong báo cáo của McKinsey, Lavasa có ảnh hưởng như một thành phố toàn cầu đang nổi lên, thành phố phát triển bền vững đầu tiên trong khu vực Mumbai-Pune, cố gắng để đối phó với đô thị hóa, môi trường, và di cư theo những cách khác biệt Tuy nhiên, nó đã gặp

Trang 24

phải rất nhiều tranh cãi kể từ khi ra đời, và việc xây dựng đã bị gián đoạn bởi những cáo buộc do vi phạm luật môi trường Sử dụng Lavasa là một ví dụ, tác giả đã xem xét sự gia tăng của các thành phố sinh thái ở Ấn Độ trong bối cảnh pháp luật và chính sách của họ Tác giả lập luận rằng các thành phố sinh thái trong tương lai ở Ấn Độ sẽ gặp phải nhiều trở ngại do việc ưu tiên phát triển kinh tế trên phát triển bền vững môi trường trong bối cảnh không có sự thực thi pháp lý mạnh mẽ và giám sát các hoạt động môi trường Từ đó tác giả cho rằng khung chính sách môi trường mạnh mẽ là rất quan trọng trong bối cảnh xây dựng những thành phố sinh thái, giải quyết những thách thức của đô thị hóa nhanh và phát triển bền vững

Paolo Neirotti và các công sự trong Current trends in Smart City

initiatives: Some stylised facts [148, tr.25-36] đã phát triển một định nghĩa

tổng hợp về khái niệm TPTM Khái niệm về TPTM như một phương tiện để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân đã đạt được tầm quan trọng ngày càng tăng trong các chương trình nghị sự của các nhà hoạch định chính sách Tuy nhiên, một định nghĩa chung của Smart city là không có sẵn và rất khó để xác định xu hướng chung toàn cầu Đồng thời phân loại các lĩnh vực ứng dụng TPTM Tác giả đã cung cấp sự hiểu biết toàn diện về các khái niệm của Smart city thông qua việc phân loại các lĩnh vực ứng dụng của TPTM, cụ thể là: tài nguyên thiên nhiên và năng lượng; giao thông và di động; các toà nhà, hoạt động của đời sống; nền kinh tế và người dân; hoạt động của CQNN Bài viết cũng đề cập đến những ảnh hưởng của các sáng kiến thông minh thông qua một nghiên cứu thực nghiệm nhằm điều tra tỷ lệ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc xây dựng TPTM Trong đó các biến số kinh tế, đô thị, dân số

và địa lý có thể có tác động đến các phương pháp lập kế hoạch để tạo ra một TPTM hơn Kết quả cho thấy các mô hình xây dựng một TPTM phụ thuộc nhiều vào các yếu tố thuộc về bối cảnh địa phương Đặc biệt, phát triển kinh

tế và cấu trúc thành thị có khả năng ảnh hưởng đến xây dựng các con đường

Trang 25

kỹ thuật số của một thành phố, vị trí địa lý ảnh hưởng đến chiến lược xây dựng TPTM, và mật độ dân số có liên quan đến vấn đề ùn tắc giao thông Công trình này cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, quản lý thành phố các hướng dẫn hữu ích để xác định và điều chỉnh chiến lược TPTM, hành động lập kế hoạch đối với các lĩnh vực thích hợp nhất

Trong nghiên cứu A Theory of Smart Cities của Colin Harrison và Ian

Abbott Donnelly [137] đã đưa ra quan điểm khái niệm về TPTM không còn là một khái niệm mới, nó có thể có nguồn gốc trong tăng trưởng thông minh chuyển động của những năm cuối thập niên 1990, trong đó chủ trương chính sách mới đối với quy hoạch đô thị Các cụm từ “Thành phố thông minh” đã được áp dụng từ năm 2005 bởi một số doanh nghiệp, tập đoàn công nghệ [Cisco, 2005], [IBM, 2009], [Siemens, 2004] cho việc áp dụng các hệ thống thông tin phức tạp lồng ghép các hoạt động của cơ sở hạ tầng, dịch vụ đô thị như: các toà nhà, giao thông vận tải, phân phối điện nước và an toàn công cộng Nó đã tiến hóa để có các hình thức đổi mới dựa trên công nghệ trong quy hoạch, phát triển và hoạt động của các thành phố Ví dụ: việc triển khai các dịch vụ cho xe điện [Portland, 2011] Đồng thời, tác giả cũng khẳng định, việc áp dụng CNTT trong TPTM có thể mang lại lợi ích khác nhau: Giảm tiêu thụ tài nguyên, đặc biệt là năng lượng và nước, do đó góp phần giảm lượng khí thải CO2 [NYC, 2007]; Cải thiện việc sử dụng năng lực cơ sở hạ tầng hiện

có, do đó nâng cao chất lượng của cuộc sống và giảm nhu cầu đối với các dự

án xây dựng truyền thống [Stockholm, 2006]; Tạo ra các dịch vụ mới dành cho các công dân và người lao động, chẳng hạn như hướng dẫn cụ thể về cách tốt nhất để khai thác các phương thức vận tải Cải thiện các doanh nghiệp thương mại thông qua việc công bố các dữ liệu thời gian thực trên hoạt động của dịch vụ thành phố [Singapore, 2011]; Dự báo những yêu cầu về năng lượng, nước và giao thông ở quy mô thành phố để các nhà quản lý thành phố

có thể cộng tác để điều tiết thành phố hiệu quả [Peterborough, 2011]

Trang 26

1.1.2 Công trình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, vấn đề xây dựng Đô thị thông minh đang trở nên cấp bách, không chỉ xuất phát từ vai trò trọng yếu của các đô thị đối với phát triển kinh tế-xã hội cả nước mà còn vì những vấn đề lớn đang nảy sinh tại các đô thị như dân số tăng, kéo theo áp lực về môi trường, giao thông, y tế, nhà ở; Hạ tầng lạc hậu, quá tải; Cạnh tranh kinh tế giữa các đô thị, các vùng tăng; Đòi hỏi của người dân về chất lượng cuộc sống tăng Mặt khác, Chính phủ cũng đang đẩy mạnh yêu cầu về CCHC, hệ thống quản lý, hạ tầng và mức độ ứng dụng, phát triển CNTT-TT tại Việt Nam đang có những bước tiến rõ rệt Hiện

cả nước đã có một số thành phố bắt đầu triển khai xây dựng Đề án TPTM như Huế (năm 2015); Hà Nội (năm 2015); Đà Nẵng (7/2016); thành phố Hồ Chí Minh (8/2016); Cần Thơ (9/2016),… Trên cơ sở đó, tại buổi làm việc với Bộ TTTT ngày 14/9/2016, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân đề xuất chiến lược “hai cánh” với 10 nhiệm vụ ưu tiên trong giai đoạn 2016-2020 để phát triển Đô thị thông minh tại Việt Nam Trong đó, “Cánh 1 tập trung vào Quy hoạch thông minh, thành phố phát triển bền vững, với 2 nhiệm vụ chính là xây dựng CSDL dùng chung và Quy hoạch thông minh, giám sát các tiêu chí phát triển bền vững Cánh 2 tập trung vào quản lý ngành thông minh - Công dân thông minh - Doanh nghiệp thông minh, bao gồm những nhiệm vụ cụ thể như: Quản lý xây dựng thông minh; Giao thông thông minh; Môi trường thông minh; CQTM-Doanh nghiệp thông minh; CQTM-Công dân thông minh; CQTM-Dịch vụ thông minh; Nông nghiệp thông minh

và Quản lý trật tự - trị an thông minh”

Nêu lên những quan điểm về TPTM, Tác giả Trần Hoàng Giang đã có bài viết “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng Đô thị thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học

Đà Nẵng số 8 (129), 2018 Thông qua bài viết tác giả đã nêu lên quan điểm về việc xây dựng kế hoạch, quản lý và điều hành, đảm bảo cho các đô thị phát

Trang 27

triển bền vững về kinh tế-xã hội và môi trường sẽ là những thách thức mà hầu như tất cả các quốc gia sẽ phải đối mặt trong thế kỷ XXI này Quản lý và cải thiện chất lượng tại các đô thị đòi hỏi phải biết những gì xảy ra bên trong đô thị đó, điều này chỉ có thể nắm bắt được thông qua việc thay đổi phương thức điều hành của chính quyền, tham dự của người dân, cũng như sự tham gia của các bên liên quan đều có trách nhiệm và được chính quyền quản lý chúng Vì vậy, chuyển đổi “Đô thị truyền thống” thành “Đô thị thông minh” là một nhu cầu tất yếu Nghiên cứu này sẽ chỉ ra được các nhân tố có khả năng tác động

và mức tác động của từng nhân tố đến việc xây dựng Đô thị thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh Thông qua việc thực hiện nghiên cứu, tác giả đã thu được kết quả sau:

- Thứ nhất, đã thiết lập được mô hình nghiên cứu về các nhân tố tác động

việc xây dựng Đô thị thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh gồm có 06 nhân

tố độc lập tác động đến biến phụ thuộc là xây dựng đô thị thông minh, đó là: Cuộc sống thông minh; Cư dân thông minh; Đi lại thông minh; Môi trường thông minh; Kinh tế thông minh và Quản lý thông minh;

- Thứ hai, thông qua phân tích định lượng đã xác định được các nhân tố

và mức độ tác động đến xây dựng đô thị thông minh tại thành phố Hồ Chí Minh gồm ba nhân tố là: Quản lý thông minh với mức độ tác động mạnh nhất, tiếp theo là Cư dân thông minh và cuối cùng là Kinh tế thông minh có tác động yếu nhất

Đô thị thông minh về cơ bản đó là mô hình thành phố ứng dụng CNTT, trí tuệ nhân tạo để quản lý, nâng cao tiêu chuẩn cuộc sống đô thị, cải thiện chất lượng phục vụ của chính quyền thành phố và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng, tài nguyên thiên nhiên Đó là quan điểm của tác giả Minh Vân trong bài “Xây dựng Đô thị thông minh: không chỉ dựa vào công nghệ”, Tạp

chí Tài chính (ngày 16/7/2018) Nói một cách ngắn gọn, đô thị thông minh là

mô hình thành phố áp dụng công nghệ mới nhất để nâng cao chất lượng thành

Trang 28

phố về mọi mặt Tuy vậy, công nghệ không phải giải pháp toàn diện cho các vấn đề đô thị các thành phố cần phải có các chuyển đổi tương ứng về quy hoạch quản trị và khung pháp lý Đồng thời bên trong đó yếu tố con người mới là yếu tố then chốt, vì điều cốt yếu là mọi người phải nâng cao kỹ năng đáp ứng cho các công việc yêu cầu công nghệ cao hơn trong tương lai

Tác giả Trần Nguyên Hậu trong bài viết “Xây dựng CQTM” đăng trên Báo Đà Nẵng cuối tuần số ra ngày 31/3/2018 đã nêu lên những quan điểm về xây dựng CQTM Theo đó, tác giả cho rằng, một CQTM là Chính quyền luôn

ý thức sâu sắc về sứ mệnh phục vụ nhân dân, người dân đến cơ quan công quyền, tiếp xúc với công chức, viên chức nhà nước là để được phục vụ chứ không phải để được gia ân Hay nói cách khác đó là một Chính quyền phục

vụ, coi nhân dân là khách hàng, là trung tâm của các TTHC

“Một CQTM còn phải ý thức sâu sắc rằng TPTM chỉ mới là khát vọng hướng tới/vươn lên chứ chưa thành hiện thực nhãn tiền, chỉ mới là đề bài chứ chưa là đáp số” Điều quan trọng nhất là một CQTM phải thường xuyên chiêm nghiệm, đánh giá về những giải pháp đã thực hiện, từ đó rút ra những giải pháp quản lý đúng đắn từng góp phần mang lại thành công trong quá trình đáp ứng nhu cầu của công dân nói riêng và trong phát triển nói chung Một trong những kinh nghiệm quản trị tiên tiến cho thấy nguồn lực tài chính không phải là yếu tố then chốt quyết định thành công trong xây dựng CQTM mà hơn hết đó chính là nguồn lực con người.Nguồn lực con người ở đây còn là nguồn nhân lực về CNTT - những người trực tiếp sáng tạo và điều hành các ứng dụng CNTT, trí tuệ nhân tạo trong CQTM Thiếu một nguồn nhân lực đủ sức làm chủ được CNTT, không thể có những giải pháp thông minh vượt trội

Tác giả Đình An trong bài viết “Bình Dương lọt vào danh sách 21 TPTM

tiêu biểu của thế giới năm 2019” đăng trên báo (https://vietnambiz.vn) số ra

ngày 26/10/2018 Bình Dương là thành phố đầu tiêu của Việt Nam chính thức

Trang 29

lọt vào danh sách 21 TPTM tiêu biểu do diễn đàn Cộng đồng thông minh Thế giới (ICF) công bố Tác giả đã đề cập tới các tiêu chí để trở thành TPTM và tham gia vào cộng đồng TPTM thế giới bao gồm: Băng thông rộng, lực lượng lao động trí thức, Đổi mới, Bình đẳng tiếp cận công nghệ số, tính bền vững,

sự ủng hộ, khích lệ từ phía người dân đối với lãnh đạo

Cùng viết về mảng đề tài tiêu chí xây dựng ĐTTM, tác giả Duy Vũ đã có bài viết “Xây dựng TPTM không thể chờ đợi tiêu chí” đăng trên

(https://ictnews.vn) ngày 07/9/2017 Trong bài viết tác giả đã tập hợp ý kiến

của các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực truyền thông, CNTT Theo đó tác giả cho rằng TPTM có thể hiểu là việc sử dụng CNTT ở mức độ cao để phục

vụ cuộc sống người dân được tốt hơn Hiện trên thế giới có đưa ra chuẩn về TPTM, trong đó chia mô hình ra gồm 16 chỉ số trên 6 lĩnh vực cụ thể là: người dân thông minh, kinh tế thông minh, môi trường thông minh, CQTM, đời sống thông minh và giao liên thông minh (mobility) Hiện nay, vẫn chưa

có một tiêu chí cụ thể nào về một TPTM, do mỗi một thành phố có một đặc trưng, một nguồn lực phát triển riêng Tuy vậy, chúng ta không thể nào đợi bộ tiêu chí xây dựng TPTM hoàn thiện mới bắt tay vào xây dựng TPTM, mà cần thực hiện ngay từ bây giờ Bài viết cũng đã nêu lên quan điểm của ông Nguyễn Ái Việt, nguyên Viện trưởng Viện CNTT, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, cần phải có tiêu chuẩn cho việc xây dựng TPTM Nghĩa là đưa ra các mô hình tiêu chuẩn để thống nhất với nhau và xây dựng trên các chuẩn cơ bản này

Trong bài viết, Hiện thực hóa các TPTM tại Việt Nam, đăng tải trên Báo

Pháp luật Việt Nam online [127], tác giả Quỳnh Anh đã khái quát quá trình xây dựng TPTM tại Việt Nam, trong đó nhấn mạnh sự tham gia của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) vào quá trình này Tác giả khẳng định quy hoạch thông minh, thành phố phát triển bền vững và Quản lý ngành thông minh-Công dân thông minh-Doanh nghiệp thông minh, xác định triển

Trang 30

khai TPTM hoàn chỉnh cho các tỉnh thành trên cả nước là một giải pháp tổng thể, bao gồm rất nhiều giải pháp ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực riêng rẽ như: giao thông, tài nguyên, giáo dục, y tế,… Chính vì vậy, bên cạnh những giải pháp sẵn có, VNPT đang không ngừng tìm kiếm các đối tác uy tín trên thế giới để hợp tác, nâng cao chất lượng các giải pháp, mở rộng danh mục giải pháp Tác giả cũng khẳng định thêm để đẩy mạnh tốc độ triển khai xây dựng TPTM tại Việt Nam, rất cần sự tham gia của các tập đoàn viễn thông hàng đầu, trong đó có VNPT

Trong bài viết Xây dựng Đô thị thông minh: Hãy bắt đầu từ dân đăng

trên trang tin Online của Báo Tuổi trẻ [131] Bài báo nêu lên quan điểm của nhà quy hoạch Nguyễn Đỗ Dũng Theo đó, nhà quy hoạch cho rằng

“Trong xây dựng đô thị thông minh, người dân đóng vai trò trung tâm, vừa là người thụ hưởng nhưng cũng là người đóng góp xây dựng, phát triển dịch vụ, thông qua việc sử dụng, phản hồi thông tin cho dịch vụ đó Đây chính là sự hợp tác công tư, là chỉ dấu về một xã hội tiến bộ” Đồng

thời, tác giả cũng vạch ra lộ trình xây dựng TPTM cho thành phố Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính là: xây dựng CQĐT để giảm tham nhũng, tăng hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp; ứng dụng cung cấp các thông tin ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của người dân như: giao thông, ngập lụt, thực phẩm bẩn, ô nhiễm môi trường; và cuối cùng là xây dựng các hạ tầng CNTT dùng chung để cho phép các doanh nghiệp công nghệ tham gia cùng Thành phố trong việc phục vụ người dân, khuyến khích phong trào khởi nghiệp

Đây chính là ba khía cạnh để phát triển toàn diện của một Thành phố: chính quyền trong sạch và hiệu quả hơn; cuộc sống của người dân an toàn và thuận lợi hơn; các doanh nghiệp có sức sáng tạo tốt hơn và dễ dàng tiếp cận thông tin, tiếp cận thị trường hơn

Trang 31

1.2 Các đề tài nghiên cứu về Chính quyền đô thị thông minh

Để quản lý được đô thị thông minh thì việc “điện tử hóa”, “thông minh hóa” nền chính quyền là hết sức cần thiết Theo Tổ chức LHQ định nghĩa:

“CPĐT là khái niệm về các cơ quan Chính phủ sử dụng CNTT như mạng diện rộng, Internet, các phương tiện di động để quan hệ với người dân, với doanh nghiệp và bản thân các cơ quan Chính phủ”

World Bank cũng định nghĩa: “CQĐT (tiếng Anh: e-Government) là việc các cơ quan của Chính phủ sử dụng một cách có hệ thống CNTT-TT để thực hiện quan hệ với người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, nhờ đó giao dịch của các cơ quan Chính phủ với người dân, các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng Lợi ích thu được sẽ là giảm thiểu tham nhũng, tăng cường tính công khai, sự tiện lợi, góp phần vảo sự tăng trưởng và giảm chi phí”

Như vậy, việc xây dựng Đô thị thông minh nói chung và xây dựng Chính quyền đô thị thông minh nói riêng đang trở thành mối quan tâm của các quốc gia, các tổ chức trên thế giới Tại Việt Nam và một số nước trên thế giới đã có rất nhiều đề tài, dự án, bài nghiên cứu xung quanh vấn đề này, trước hết là những đề tài nghiên cứu nước ngoài về CQĐT

1.2.1 Đề tài nghiên cứu nước ngoài

Một trong những tác phẩm nghiên cứu về CPĐT nổi tiếng phải kể đến đó

là cuốn sách “E-Governance for Smart Cities” của tác giả T M Vinod Kumar

[142] Ông đã nhấn mạnh việc quản trị điện tử trong một TPTM qua các nghiên cứu trường hợp của các thành phố nằm ở nhiều nước “Chính phủ điện tử” đề cập đến việc sử dụng của các cơ quan Chính phủ của CNTT (như Mạng diện rộng - WAN, LAN, Internet và điện thoại thông minh) có khả năng biến đổi các mối quan hệ với công dân, doanh nghiệp, và cánh tay khác của Chính phủ Những công nghệ này có thể phục vụ nhiều mục đích khác nhau: giao dịch giữa công dân và Chính phủ được tốt hơn, các DVC được cung cấp cho người dân hiệu quả, đơn giản cho người dân, cải thiện tương tác

Trang 32

với các doanh nghiệp, trao quyền công dân thông qua tiếp cận thông tin, hoặc QLNN hiệu quả hơn qua đó chính quyền sẽ ít tham nhũng, tăng tính minh bạch, giảm chi phí vận hành

Theo Owen E Hughes trong cuốn Quản lý Công [153], những tác động có

thể có của kỷ nguyên kỹ thuật số là những tác động tới phương thức tổ chức

quản lý Sự ra đời của Internet và CPĐT, nhu cầu của bộ máy đối với các vị trí

quản lý cấp trung sẽ giảm đi nhiều Điều này được tác giả lý giải bởi hai nguyên do: nguyên do đầu tiên là chức năng của quản lý cấp trung có những thay đổi với sự ra đời của CPĐT làm thay đổi phương thức tương tác giữa người dân và doanh nghiệp với nhà cung cấp DVC (chủ trì là Chính phủ) Trước đây, vai trò của quản lý cấp trung là tiếp nhận, sắp xếp thông tin sau đó chuyển tiếp thông tin lên quản lý cấp cao hơn Tuy nhiên, do ứng dụng website cho phép người dân, doanh nghiệp tương tác trực tiếp với cấp quản lý cao hơn nên vai trò của quản lý cấp trung không còn như trước nữa; Tiếp đó là sự thay đổi về nhu cầu và tính chất công việc của nhân viên thuộc cấp Trước đây, phần lớn công việc liên quan tới TTHC đều được làm thủ công, ví như khai nhập các biểu mẫu thì hiện nay với sự trợ giúp của các công cụ như máy tính, mạng Internet cùng các công cụ tương tác trực tuyến, phần lớn công việc đó được thực hiện bởi chính khách hàng (là người dân hoặc doanh nghiệp), vì vậy nhu cầu đối với nhân viên hành chính cấp thấp của bộ máy cũng giảm đi rõ rệt Thêm nữa, với sự trợ giúp của máy móc và các quy trình công khai, nhân viên cấp dưới có thể giải quyết được những vấn đề phức tạp hơn nhiều, những việc

mà trước đây cần ý kiến chỉ đạo của quản lý cấp trung Theo Hughes, đây cũng chính là cơ sở cho việc thiết kế lại bảng mô tả công việc cũng như cơ chế phân quyền trong kỷ nguyên CPĐT Nhân viên thuộc cấp được giao nhiều quyền tự chủ hơn trong xử lý công việc và nhờ thế cho phép lãnh đạo không mất nhiều thời gian vào giám sát công việc thường nhật của nhân viên mà thay vào đó lãnh đạo các cơ quan có thể quản lý công việc của nhân viên cũng như tổ chức

Trang 33

mình phụ trách dựa trên đầu vào và kết quả đầu ra Công việc quản lý truyền thống như chấm công, đốc công, giám sát giờ giấc văn phòng được thực hiện tự động bằng các thiết bị điện tử hiện đại kết nối với mạng Internet chuyển dữ liệu

về máy chủ phục vụ công tác quản lý

Dựa trên các thông tin về kinh nghiệm xây dựng CPĐT của các chuyên gia, lãnh đạo các dự án xây dựng CPĐT ở Hoa Kỳ và một số nước Châu Âu, Gregory G Curtin , Michael Sommer và Veronika Vis-Sommer trong cuốn

sách “The World Of E-Government” [139], đã cung cấp những kinh nghiệm

xây dựng, vận hành CPĐT của nhiều quốc gia hàng đầu; đưa ra được những hạn chế trong quá trình thực hiện, những lợi ích mà CPĐT mang lại; tác động của CPĐT từ đó đưa ra được những giải pháp xây dựng CPĐT tốt nhất, tránh lãng phí và các chi phí không cấn thiết khi xây dựng CPĐT Tác giả cung khẳng định một CPĐT hiệu quả cần có công dân điện từ điều đó cho thấy yếu

tố con người là rất quan trọng trong xây dựng CPĐT

Mặc dù, giờ đây chủ đề này được rất nhiều người quan tâm, song CPĐT vẫn thiếu một định nghĩa thống nhất được nhiều người chấp nhận CPĐT thường được người ta nói đến là một cuộc cách mạng trong hoạt động của Chính phủ thông qua sử dụng CNTT đặc biệt là những công nghệ trang website, điều này cải tiến những quá trình bên trong, bên ngoài, tính hiệu quả,

và sự cung cấp dịch vụ Hiệp hội Hành chính Hoa Kỳ (American Society for Public Administration ASPA) và Tiểu ban Kinh tế nhà nước và Hành chính của LHQ (United Nations Division for Public Economics and Public Administration UNDPEPA) đã định nghĩa CPĐT là “sử dụng Internet và Mạng toàn cầu World Wide Web để đem thông tin và dịch vụ của Chính phủ tới người dân”

Theo tác giả Christopher G Reddick trong A two-stage model of

e-government growth: Theories and empirical evidence for U.S cities,

Government Information Quarterly [138, tr.51-64] ông đã xem xét các giai

Trang 34

đoạn phát triển của CPĐT ở các thành phố của Hoa Kỳ Mô hình được áp dụng tại tác thành phố của Hoa Kỳ đó là mô hình phát triển hai giai đoạn

CPĐT Giai đoạn I là hình thành các thư mục của thông tin trực tuyến và Giai

đoạn II là thực hiện các giao dịch trực tuyến Bài viết đã xem xét sự phát triển

của các giai đoạn cùng với các mối quan hệ CPĐT, trong đó có quan hệ Chính phủ-Công dân (G2C), Chính phủ-Doanh nghiệp (G2B), hoặc Chính phủ-Chính phủ (G2G) Mô hình hai giai đoạn được áp dụng cho dữ liệu từ Hiệp hội quản lý quận/thành phố quốc tế năm 2002 (ICMA) khảo sát CPĐT Những phát hiện cho thấy rằng các trang website giữa Chính phủ-Công dân (G2C) được phát triển chủ yếu trong giai đoạn I Tuy nhiên, ở giai đoạn II, các trang website giữa Chính phủ-Công dân chưa được phổ biến Liên quan đến các mối quan hệ Chính phủ-Chính phủ (G2G), thành phố đang trở nên tiên tiến hơn với nhiều giao dịch đã được thực hiện thông qua các trang website nội bộ của thành phố Tuy nhiên, sự tiến bộ vĩ đại nhất đã diễn ra trong mối quan hệ Chính phủ-Doanh nghiệp (G2B), trong đó hơn một nửa thành phố trong đối tượng khảo sát đã thực hiện mua sắm thiết bị và văn phòng nguồn cung cấp đã được thực hiện trên các trang website Những phát hiện này đã cho thấy sự tăng trưởng CPĐT đang ngày càng rõ rệt

Đánh giá về tiến trình hình thành và phát triển của CPĐT, tác giả M Jae

Moon, trong The Evolution of E-Government among Municipalities: Rhetoric

or Reality [147, tr.424-433] cho thấy, CNTT đã trở thành một trong những

yếu tố cốt lõi của cải cách quản lý và CPĐT có vai trò nổi bật trong việc quản trị trong tương lai Nghiên cứu này được thiết kế để kiểm tra lý thuyết và thực

tế của CPĐT ở cấp thành phố Sử dụng dữ liệu thu được từ cuộc điều tra năm

2000 về CPĐT được tiến hành bởi Hiệp hội Quản lý thành phố quốc tế và công nghệ công Bài báo đã cho thấy hiện trạng thực hiện CPĐT thành phố và đánh giá hiệu quả của CPĐT Nghiên cứu này, cũng khám phá hai yếu tố thể chế đó là quy mô và loại thể chế có ảnh hưởng lớn đến việc áp dụng CPĐT

Trang 35

trong thành phố Nhìn chung, qua nghiên cứu cho rằng CPĐT đã được chấp nhận bởi chính quyền ở nhiều thành phố, nhưng nó vẫn còn ở giai đoạn đầu

và chưa thu được nhiều kết quả mong đợi đặc biệt trong việc tiết kiệm chi phí, thu hẹp khoảng cách phát triển như mong đợi ban đầu của CPĐT Đồng thời, nghiên cứu cho thấy có một số rào cản như thiếu kỹ thuật, tài chính, nhân lực

và các vấn đề pháp lý (như quyền riêng tư) với sự tiến bộ của thành phố CPĐT Nghiên cứu này, cũng chỉ ra rằng quy mô của thành phố và chính quyền quản lý thành phố có liên quan mật thiết với việc thông qua một trang website, cũng như tuổi thọ của các trang website

Một lần nữa CPĐT lại được Lemuria Carter và France Bélanger khẳng

định vai trò, lợi ích của chúng trong The utilization of e-government services:

citizen trust, innovation and acceptance factors, [143, tr.1-60], CPĐT đã làm

tăng sự tiện lợi, khả năng tiếp cận các dịch vụ của Chính phủ và thông tin cho công dân Một số lợi ích của CPĐT được thừa nhận như - gia tăng trách nhiệm giải trình của Chính phủ cho công dân, công chúng truy cập tìm kiếm thông tin hiệu quả hơn, Chính phủ hiệu quả hơn - sự thành công; chấp nhận các sáng kiến CPĐT, chẳng hạn như bỏ phiếu và cấp giấy phép mới trực tuyến, dựa trên sự sẵn sàng của công dân để thông qua sự đổi mới này Để phát triển các dịch vụ CPĐT “công dân làm trung tâm”, cung cấp các dịch vụ truy cập, thông tin liên quan và chất lượng so với giao dịch truyền thống, đầu tiên các cơ quan Chính phủ phải hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng những đổi mới này đến công dân Nghiên cứu này được tiến hành bằng cách khảo sát các công dân tại một sự kiện cộng đồng Kết quả cho thấy, công dân

sẽ sử dụng dịch vụ CPĐT khi họ nhận thức chúng dễ sử dụng, dễ tiếp cận, khả năng tương thích và độ tin cậy cao

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Trong cuốn sách CPĐT, các tác giả Nguyễn Đăng Hậu, Nguyễn Hoài

Anh, Ao Thu Hoài đã có một cái nhìn tổng quan về CPĐT [44], tác giả đã đề

Trang 36

cập đến các nội dung về Kiến trúc của CPĐT, DVC và các giao dịch CPĐT,

Hệ thống thông tin trong Chính phủ, xây dựng chiến lược phát triển CPĐT; cũng nghiên cứu quá trình phát triển CPĐT ở một số nước trên thế giới từ đó đưa ra được kinh nghiệm xây dựng CPĐT ở Việt Nam

Trong bài viết gửi tới Hội nghị EROPA 2014, TS Trương Hồ Hải - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều thông tin hữu ích và cập nhật về xây dựng CPĐT ở Việt Nam [43] Theo tác giả, hiện nay không có một định nghĩa thống nhất về CPĐT Định nghĩa CPĐT được các quốc gia, các tổ chức, các chuyên gia xây dựng, hoàn thiện dần dần phù hợp với mục tiêu, nội dung sử dụng và thực hiện nhưng về cơ bản, CPĐT có các đặc điểm chung Tác giả Trương Hồ Hải đã đưa ra được những ưu điểm, lợi ích của CPĐT so với Chính phủ truyền thống, mô hình phát triển của CPĐT, nhận định về thực trạng phát triển CPĐT tại Việt Nam từ thực tiễn ứng dụng tin học trong quản lý hành chính nhằm xây dựng CPĐT, tác giả đề xuất một số quan điểm và phương hướng xây dựng CPĐT ở Việt Nam

Trong bài viết “Cần một góc nhìn mới về hiện đại hóa nền hành chính ở

Việt Nam” trên Tạp chí Dân chủ và Pháp Luật, TS Nguyễn Quốc Sửu, Học

viện Hành chính Quốc gia [67] cũng đã bàn luận để tìm ra góc nhìn mới và thiết thực hơn cho quá trình hiện đại hoá nền hành chính Việt Nam trong đó nêu ra được rằng: Một trong những chương trình trọng điểm ở nước ta hiện nay đang được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm là việc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước nhằm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại và cải cách toàn diện nền hành chính quốc gia hướng tới mục tiêu: Xây dựng một nền hành chính hiện đại, trong sạch, vững mạnh, tiết kiệm, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn Tác giả cho rằng việc

nhận thức được rõ chủ thể của động lực và “kết cấu” của động lực sẽ là

những định hướng cơ bản cho việc hoàn thiện chế độ công vụ, tiền lương ở Việt Nam, tạo động lực cho cải cách, hiện đại hóa nền hành chính nhà nước

Trang 37

Tìm ra được những động lực quan trọng nhất và khuyến khích những động lực ấy bằng các chính sách phù hợp sẽ khiến đội ngũ cán bộ, công chức làm việc hăng say, tận tụy Vì khi ấy, lợi ích của xã hội, lợi ích cá nhân cán bộ, công chức sẽ gặp nhau, trong một nền hành chính năng động và trách nhiệm Hướng đi hợp với quy luật vận động khách quan, động lực bên trong và bên ngoài cùng thúc đẩy mạnh mẽ sẽ là những điều kiện cần thiết cho một nền hành chính Việt Nam tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên lộ trình hiện đại hóa đầy những chông gai, nhưng không thể không tiến hành vì một đất nước phồn vinh, thịnh vượng

Để xây dựng Chính quyền đô thị thông minh, trước hết đã đặt ra khá nhiều thách thức khi buộc phải xây dựng thành công Chính quyền và Chính

quyền đô thị Trong bài viết “Một số vấn đề về xây dựng chính quyền đô thị ở

Việt Nam” [76] của tác giả Phan Trung Tuấn, Vụ CQĐP, Bộ Nội vụ đã chỉ ra

những yêu cầu cấp thiết đối với việc xây dựng Chính quyền đô thị Theo tác giả mô hình tổ chức CQĐP ở Việt Nam được tổ chức thành ba (03) cấp chính quyền: cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Chính quyền ở địa bàn đô thị được tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn tương tự như chính quyền ở địa bàn nông thôn cùng cấp, tuy có thêm một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý trên địa bàn đô thị Vì vậy, nhiều vấn đề cấp thiết của đô thị như quy hoạch, kiến trúc, xây dựng hạ tầng đô thị, xử lý ô nhiễm môi trường, chống ùn tắc giao thông, quản lý dân cư, an ninh trật tự an toàn xã hội không được giải quyết kịp thời, chưa phù hợp với nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Ở đô thị, do kết cấu hạ tầng thống nhất, liên thông đòi hỏi phải quản lý theo ngành là chủ yếu, khác với nông thôn quản lý theo lãnh thổ là chủ yếu Trên cơ sở phân biệt đô thị với nông thôn từ các đặc trưng quản lý, tác giả đồng thời đề xuất một số nội dung xây dựng chính quyền đô thị ở nước

ta Theo đó, tiếp tục hoàn thiện tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện nói chung, chính quyền đô thị nói riêng Đối với cơ quan

Trang 38

chuyên môn của UBND khu vực đô thị có thể nghiên cứu tổ chức theo nhóm ngành phù hợp

Cùng có chung mối quan tâm về vấn đề cấp thiết phải xây dựng một chính quyền đô thị, tiến tới một Chính quyền đô thị thông minh, tác giả Đào Thị Thanh Thủy - Học viện Hành chính Quốc gia đã bày tỏ quan điểm của

mình về vấn đề này trong nghiên cứu “Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị tại

một số quốc gia phát triển” Trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra một số

mô hình Tổ chức bộ máy Chính quyền đô thị điển hình như: Mô hình thứ bậc,

mô hình đại diện, mô hình nằm ngang và mô hình hỗn hợp Đồng thời tác giả cũng nêu ra mô hình tổ chức chính quyền đô thị tại một số quốc gia như: Australia, Hoa Kỳ, Anh Từ đó, tác giả rút ra những kinh nghiệm cho tổ chức

bộ máy chính quyền đô thị ở Việt Nam Thứ nhất, quản lý xã hội đô thị phải

dựa trên nền tảng về quy hoạch đô thị bền vững Quy hoạch đô thị là một vấn

đề tổng hợp, cấu trúc lãnh thổ trên cơ sở tối ưu hoá mối quan hệ giữa các yếu

tố về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện phát triển kinh

tế-xã hội, lãnh thổ của đô thị và trong mối quan hệ với các lãnh thổ bên ngoài

như quy hoạch vùng, quốc gia Thứ hai, cần thực hiện hợp tác liên vùng Đây

là xu hướng phát triển đô thị nói chung trên cơ sở kết hợp yếu tố vùng kinh tế

và vùng địa lý Thứ ba, cần thực hiện phân cấp quản lý đô thị Các kiểu và

mức độ tự quản của nhà nước trao cho chính quyền đô thị có sự khác nhau ở từng nước, có sự phân cấp quản lý giữa trung ương, các cấp địa phương và

chính quyền đô thị Thứ tư, chính quyền đô thị phải tự chủ về nguồn tài chính

Tài chính mạnh và minh bạch là yếu tố căn bản cho sự phát triển của đô thị

Sự tập trung về cơ chế quản lý tài chính, chi tiêu khiến các nguồn thu, chi của

đô thị bị lệ thuộc và thiếu tính tự chủ Do đó, nguồn tài chính phải xuất phát

từ chính yếu tố nội tại mới đảm bảo cho phát triển bền vững do không bị lệ thuộc vào hệ thống cấp phát và mối quan tâm chính trị từ bên ngoài

Trang 39

Một yếu tố then chốt trong việc xây dựng CPĐT đó là ứng dụng CNTT, điều đó đã được tác giả Nguyễn Trọng Khánh - Cục Tin học hóa, Bộ TTTT

khẳng định trong bài viết “Ứng dụng CNTT trong CQNN: Thay đổi cách tiếp

cận, tăng khả năng liên thông” [58] Tác giả đã đưa ra một khía cạnh của vấn

đề liên thông nghiệp vụ, chia sẻ dữ liệu giữa hệ thống thông tin của các CQNN Theo tác giả Nguyễn Trọng Khánh Trong quá trình phát triển, ứng dụng CNTT trong CQNN đã thu được những thành tựu rõ rệt, CNTT đã góp phần rất to lớn vào việc hỗ trợ các hoạt động nghiệp vụ quản lý, chỉ đạo điều hành của CQNN và cung cấp các DVCTT cho người dân Tuy nhiên, vấn đề liên thông nghiệp vụ, chia sẻ dữ liệu giữa hệ thống thông tin của các CQNN là vấn đề nổi trội trong tình trạng hiện nay Đây là vấn đề cần ưu tiên xử lý trước mắt Tại sao lại xuất hiện vấn đề này, làm thế nào để xử lý nó và đề cập một trong những biện pháp để tăng khả năng liên thông trong quá trình tiếp cận việc ứng dụng ở mức cao nhất, mức quan điểm

TS Nguyễn Ngọc Hiếu, ThS Đào Thị Bích Vân trong “TPTM và vấn đề

quản trị đô thị” [55] đã khẳng định TPTM phải dựa trên cả ba trụ cột là công

nghệ, quản trị và cư dân Tác giả cũng đưa ra quan điểm TPTM cần được hiểu

là làm cho tổ chức xã hội đô thị đó thông minh hơn Thông minh không phải

là đích mà là phương tiện để phát triển bền vững, cạnh tranh, thịnh vượng và cuộc sống có chất lượng Thông minh hơn là một quá trình diễn tiến không ngừng, không phải mới bắt đầu và không kết thúc với sự sáng tạo rộng rãi của

xã hội là nền tảng Thông minh hơn không chỉ dựa vào công nghệ kết nối và tính toán hay kiểm soát, mà còn cả hệ thống quản trị với sự tương tác của các bên tham gia với mục tiêu cao nhất là phục vụ con người Trách nhiệm của hệ thống quản trị là xây dựng nền tảng cho sự sáng tạo và thông minh hơn

Bài viết Thực tế xây dựng CPĐT ở Việt Nam - Cơ hội và thách thức của

tác giả Curthbert Shepherdson, được biên dịch bởi Thu Nga đăng trên Tạp chí Thế giới Vi tính - PC World Việt Nam [132] Tác giả đã nêu lên thực trạng

Trang 40

xây dựng CPĐT ở một số quốc gia trên thế giới: như Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapore Đồng thời, bài viết cũng nêu lên thực thế xây dựng CPĐT, phân tích những cơ hội và thách thức trong việc xây dựng CPĐT ở Việt Nam Ở Việt Nam, Chính phủ đang có những bước quan trọng để tiến tới CPĐT Đã

có nhiều công việc đang được triển khai về mặt luật pháp nhằm hỗ trợ cho hoạt động của CPĐT và thương mại điện tử (TMĐT) Một trong số đó là Luật giao dịch điện tử, nền tảng cho tất cả các giao dịch điện tử trong khu vực tư nhân và nhà nước Một bộ luật về CNTT cũng đang được Bộ Bưu chính Viễn thông soạn thảo để phục vụ sự phát triển của ngành công nghiệp CNTT và quản lý CNTT-TT dành cho các cơ quan quản lý, trong đó bao gồm cả chức năng của lãnh đạo CNTT (Chief Information Officer - CIO)

Sáng ngày 30/3/2016, dưới sự chủ trì của UBND thành phố Hà Nội, Sở TTTT thành phố Hà Nội phối hợp cùng Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế IDG Việt Nam tổ chức Hội thảo Quốc gia về CPĐT 2016 Hội thảo thảo luận chủ đề

“Phát triển CPĐT: Hạ tầng hiện đại, DVC thông minh, tăng cường minh bạch

và gắn kết công dân”

Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của bộ máy nhà nước là nhiệm vụ cấp thiết cho sự phát triển của CPĐT trong bối cảnh hội nhập quốc tế Tuy nhiên, lộ trình ứng dụng CNTT trong phát triển Chính phủ tại Việt Nam hiện đang gặp phải nhiều khó khăn thách thức như hạ tầng CNTT còn hạn chế khiến việc ứng dụng CNTT còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dùng dẫn đến chỉ số phát triển CNTT-TT năm 2015 của Việt Nam chỉ xếp thứ

102/167, tụt 8 bậc so với năm 2014 (theo khảo sát của Liên hiệp Viễn thông

quốc tế năm 2015)

Nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT phát triển CPĐT, năm 2015, Nghị quyết 36a/NQ-CP của Chính phủ về CPĐT được ban hành đã hướng tới ba mục tiêu chủ yếu để xây dựng CPĐT là: Đẩy mạnh phát triển CPĐT, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các

Ngày đăng: 21/04/2022, 14:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012), Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương về việc Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/01/2012 của Ban Chấp hành Trung ương về việc Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2012
2. Bộ Chính trị (2000), Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2000
3. Bộ Chính trị (2014),Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
4. Bộ TTTT (2012), Công văn số 270/BTTTT-ƯDCNTT ngày 6/2/2012 của Bộ TTTT về việc hướng dẫn mô hình thành phần CQĐT cấp tỉnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 270/BTTTT-ƯDCNTT ngày 6/2/2012 của Bộ TTTT về việc hướng dẫn mô hình thành phần CQĐT cấp tỉnh
Tác giả: Bộ TTTT
Năm: 2012
5. Bộ TTTT (2013), Thông tư số 22/2013/TT-BTTTT ngày 23/12/2013 của Bộ TTTT về Ban hành Danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật về ứng dụng CNTT trong CQNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 22/2013/TT-BTTTT ngày 23/12/2013 của Bộ TTTT về Ban hành Danh mục tiêu chuẩn kỹ thuật về ứng dụng CNTT trong CQNN
Tác giả: Bộ TTTT
Năm: 2013
6. Bộ TTTT (2014), Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ TTTT về Quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ TTTT về Quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng CNTT
Tác giả: Bộ TTTT
Năm: 2014
7. Bộ TTTT (2014), Thông tư số 16/2014/TT-BTTTT ngày 18/11/2014 của Bộ TTTT về Quy định việc xác định hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 16/2014/TT-BTTTT ngày 18/11/2014 của Bộ TTTT về Quy định việc xác định hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm
Tác giả: Bộ TTTT
Năm: 2014
8. Bộ TTTT (2015), Van bản số 1178/BTTTT-THH ngày 21/4/2015 của Bộ TTTT Khung Kiến thức CPĐT Việt Nam Phiên bản 1.0, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Van bản số 1178/BTTTT-THH ngày 21/4/2015 của Bộ TTTT Khung Kiến thức CPĐT Việt Nam Phiên bản 1.0
Tác giả: Bộ TTTT
Năm: 2015
9. Bộ TTTT, 2016, Hiện trạng nhu cầu, thách thức ứng dụng CNTT phát triển CPĐT tại Việt Nam. http://aita.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng nhu cầu, thách thức ứng dụng CNTT phát triển CPĐT tại Việt Nam
10. Bộ TTTT (2016), Công bố kết quả đánh giá mức độ ứng dụng CNTT của các bộ, cơ quan ngang bộ năm 2016, http://aita.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố kết quả đánh giá mức độ ứng dụng CNTT của các bộ, cơ quan ngang bộ năm 2016
Tác giả: Bộ TTTT
Năm: 2016
12. Chính phủ (2007), Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
13. Chính phủ (2013), Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về Thương mại điện tử; Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về Thương mại điện tử; Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
15. Chính phủ (2008), Quyết định số 90/2008/QĐ-TTg ngày 09/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quyết định số 90/2008/QĐ-TTg ngày 09/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải Thủ đô Hà Nội đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
16. Chính phủ (2009), Quyết định số 22/2009/QĐ-TTg ngày 16/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quyết định số 22/2009/QĐ-TTg ngày 16/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
17. Chính phủ (2009), Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
19. Chính phủ (2010), Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT-TT”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT-TT”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
20. Chính phủ (2010), Quyết định số 83/QĐ-TTg ngày 13/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển an toàn thông tin số quốc gia đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quyết định số 83/QĐ-TTg ngày 13/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển an toàn thông tin số quốc gia đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
21. Chính phủ (2011), Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg ngày 24/3/2011 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý hoạt động truyền hình trả tiền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg ngày 24/3/2011 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý hoạt động truyền hình trả tiền
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
114. Ứng dụng CNTT xây dựng chính quyền hiện đại tại thành phố Cần Thơ, http://baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=77&id=191903(13/4/2017) Link
133. Võ Trí Hảo (2013), Dân TP.Hồ Chí Minh đủ sáng suốt tự bầu thị trưởng, 15/8/2013, https://infonet.vn/ts-vo-tri-hao-dan-tphcm-du-sang-suot-tu-bau-thi-truong-post95224.info Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w