BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ----- NGUYỄN VĂN THU THỰC TRẠNG CHĂM SÓC DẪN LƯU SỌ NÃO SAU PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ 6 THÁNG ĐẦU N
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
-
NGUYỄN VĂN THU
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC DẪN LƯU SỌ NÃO SAU PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ
6 THÁNG ĐẦU NĂM 2021
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH – 2021
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
-
NGUYỄN VĂN THU
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC DẪN LƯU SỌ NÃO SAU PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ
6 THÁNG ĐẦU NĂM 2021
Chuyên ngành: Điều dưỡng ngoại người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN TS: VŨ VĂN ĐẨU
NAM ĐỊNH - 2021
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và
hỗ trợ chân thành, hiệu quả của các thầy giáo, cô giáo, cùng các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình tôi
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học và Bộ môn Điều dưỡng Ngoại Người lớn Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định tạo mọi điều kiện và giúp đỡ hỗ trợ tôi hoàn thành chuyên
đề này
Để tỏ lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành gửi đến: TS: Vũ Văn Đẩu, những người Thầy, cô đã tận tình hướng dẫn khóa học, truyền dạy cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu của các Thầy cô giúp tôi có thể hoàn thành cuốn chuyên đề này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Đảng ủy, Ban giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện cho tôi thực tế tại cơ sở Tôi cũng xin cảm ơn các đồng nghiệp của tôi đã tham gia giúp đỡ đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình thực tập tại cơ sở và viết bài báo cáo chuyên đề này
Sau cùng, tôi luôn ghi nhớ sự chia sẻ, động viên, hết lòng của Bố mẹ,
Vợ, con và bạn bè đã giúp đỡ, cho tôi thêm nghị lực để học tập và hoàn thành chuyên đề này
Nam Định, ngày tháng 8 năm 2021 Học viên
Nguyễn Văn Thu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là chuyên đề của riêng cá nhân tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS: Vũ Văn Đẩu Tất cả các nội dung trong báo cáo này là trung thực chưa được báo cáo trong bất kỳ hình thức nào trước đây Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước hội đồng về nội dung chuyên đề của mình
Nam Định, ngày tháng 8 năm
2021
Học viên
Nguyễn Văn Thu
Trang 5MỤC LỤC
Trang
1.2.1 Đặc điểm lâm sàng của các thương tổn do CTSN gây ra 8 1.2.2 Đánh giá tri giác người bệnh bằng thang điểm Glasgow 12
2.1 Tình hình nghiên cứu chấn thương sọ não: 13
2.3 Thực trạng chăm sóc DLSN người bệnh sau phẫu thuật sọ não tại
Khoa Phẫu Thuật Thần Kinh Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
20
2.4 Nhận xét quy trình chăm sóc bệnh nhân sau phẫu thuật CTSN có
DLSN tại khoa Phẫu Thuật Thần Kinh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú
Thọ 6 tháng đầu năm 2021
28
2.6 Nguyên nhân của những việc đã làm và chưa làm được 33
Trang 6LLMN Lưu lượng máu não
MTTN Máu tụ trong não
Trang 7iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1.2: Vị trí đặt catheter trong não thất đo ALNS 6
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ người dân sử dụng các phương tiện giao thông cá nhân cao nhất thế giới, tuy nhiên luật giao thông chưa được người dân chấp hành một cách tự giác nên tỷ lệ tai nạn giao thông đang là một vấn đề được các cấp chính quyền và toàn xã hội quan tâm, chấn thương sọ não là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp và chấn thương sọ não nặng chiếm khoảng 35% và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề, là gánh nặng cho gia đình và toàn xã hội hiện nay [1]
Theo báo cáo của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia năm 2018 ba tháng đầu từ 16/12/2017 đến 15/3/2018, cả nước xảy ra 4.674 vụ tai nạn giao thông, làm chết 2.149 người, làm bị thương 3.627 người Số trường hợp chấn thương sọ não ngày càng tăng, hay gặp ở người trẻ đang trong độ tuổi lao động, tỷ lệ tử vong cao,
di chứng nặng nề và chi phí điều trị khá tốn kém Theo thống kê, tỷ lệ tử vong do CTSN tại Bệnh viện Việt Đức là 15,4% Ở những nước phát triển CTSN là nguyên nhân thứ ba gây tử vong sau các bệnh lý như ung thư và bệnh lý về tim mạch Tỷ lệ
tử vong ở Mỹ (40%), Anh (51%), Pháp (50-65%) [8], [9]
Thương tổn hay gặp trong chấn thương sọ não gồm các biến chứng thường gặp là các loại máu tụ trong sọ, giập não, phù não hậu quả làm tăng áp lực trong sọ gây tử vong cho người bệnh
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp chấn thương sọ não nặng, điều trị nội khoa đơn thuần không thể khống chế được tình trạng tăng áp lực trong sọ Vì vậy dẫn lưu não thất ra ngoài là phương pháp phẫu thuật đặt ống dẫn lưu vào hệ thống não thất để dẫn lưu nước não tủy ra ngoài với một hệ thống kín chuyên dụng, hoặc
hệ thống kín tự tạo Phẫu thuật này được chỉ định trong bệnh giãn não thất cấp do nhiều nguyên nhân khác nhau như u não chèn ép cống não gây ứ nước, chấn thương
sọ não, tai biến mạch máu não, viêm màng não, bẩm sinh và trong bệnh chảy máu não thất do chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não
Dẫn lưu sọ não ra ngoài sẽ làm giảm áp lực nội sọ và cứu sống được người bệnh, dẫn lưu thường được cố định trong một thời gian và chúng ta có thể gặp một
số biến chứng như: Nhiễm trùng, chảy máu não thất, chảy máu nhu mô não, máu tụ dưới màng cứng, động kinh Vì vậy, nếu không được chăm sóc, theo dõi và phát
Trang 9và theo dõi người bệnh có dẫn lưu não thất ra ngoài, mặt khác các tài liệu tham khảo cho điều dưỡng về vấn đề này còn khá hạn chế Nhận thấy vai trò của người điều dưỡng ngoại khoa với bệnh nhân sau phẫu thuật sọ não và tầm quan trọng của việc chăm sóc và theo dõi toàn diện, đặc biệt là công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh chấn thương sọ não có dẫn lưu Trước thực trạng đó tôi tiến hành viết chuyên đề về “Thực trạng chăm sóc dẫn lưu sọ não sau phẫu thuật chấn thương sọ não tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 6 tháng đầu năm 2021” Với mục tiêu sau:
1 Mô tả Thực trạng chăm sóc dẫn lưu sọ não sau phẫu thuật chấn thương
sọ não tại khoa Phẫu Thuật Thần Kinh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 6 tháng đầu năm 2021
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc dẫn lưu sọ não sau phẫu thuật chấn thương sọ não tại khoa Phẫu Thuật Thần Kinh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
Trang 10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Đặc điểm giải phẫu sọ não: [6], [7], [8]
Não nằm trong hộp sọ và được hộp sọ bảo vệ, có cân cơ và da bao phủ bên ngoài 1.1.1.1 Da đầu và tổ chức dưới da
Da đầu là phần có tóc mọc nó tạo ra dáng vẻ bên ngoài khác nhau ở mỗi người,
tổ chức dưới da là mô liên kết, cân Galéa có vai trò quan trọng đối với các phẫu thuật được chia viên thần kinh
b Màng nhện
- Có hai lá dính chặt vào nhau bao bọc não và tủy sống, giữa màng cứng và màng nhện là khoang dưới cứng là khoang ảo Các vách của màng cứng ngăn cách khoang dưới màng cứng bán cầu đại não bên phải với bên trái và với khoang dưới
Trang 114
màng cứng hố sau, vì vậy không có sự lan tràn máu tụ dưới màng cứng giữa các khoang dưới màng cứng
- Giữa màng nhện và màng nuôi là khoang dưới nhện chứa dịch não tủy
- Phần màng nhện của não đi lướt qua các khe, rãnh não chứ không đi vào khe rãnh não như màng nuôi
c Màng nuôi: Bao bọc bề mặt não và tủy sống, là màng mạch vì chứa nhiều mạch máu và đám rối mạch máu nhỏ Nó đi sâu vào các khe, rãnh của bán cầu đại não và tiểu não, cùng với mạch màng não tạo nên các đám rối mạch mạc não thất bên, đám rối mạch mạc não thất III và đám rối mạch mạc não thất IV
Hình 1.1: Sự lưu thông dịch não tủy 1.1.1.4 Não
Não gồm hai bán cầu Đại não, Tiểu não và Thân não
1.1.1.4.1 Bán cầu đại não
Bán cầu đại não gồm có 3 mặt (trên ngoài, dưới và trong) và 3 cực (trán ở trước, chẩm ở sau, thái dương ở bên) được các khe, rãnh Sylvius và Rolando chia thành nhiều phần nhỏ gọi là các thuỳ và các hồi, trong các rãnh có mạch máu não đi kèm
đám rối mạch mạc não thất bên
Bể thể trai Màng não cứng
Màng nhện
Xoang tĩnh mạch dọc trên Khoang dưới nhện Các hạt màng cứng
Bể hãnh tiểu não
Lỗ bên (Luschka) đám rối mạch mạc não thất bốn Lỗ giữa ( lỗ Magendie) Màng cứng
Màng nhện Khoang dưới nhện
Ống trung tâm
Trang 12- Vỏ não là lớp chất xám bao quanh hai bán cầu đại não, là trung tâm của nhiều chức năng vận động, cảm giác, chức năng thực vật…
Thân não gồm hành não, cầu não và não giữa:
- Cấu trúc vận động: Hành não là phần thần kinh nằm trên tuỷ sống và ở trong hộp sọ, cầu não nằm ngay trên hành não Hành - cầu não là nơi xuất phát của các dây thần kinh sọ: V, VI, VII, IX, X, XI, XII
- Chức năng chi phối vận động của nhãn cầu, các cơ đầu – mặt – cổ, các cơ
và tuyến tiêu hoá Hành - cầu não là trung tâm của các phản xạ điều hoà hô hấp và tim mạch, trung tâm điều hoà thân nhiệt, phản xạ tiêu hoá
1.1.2 Các phương pháp theo dõi ALNS (ICP) [1], [11]
1.1.2.1 Theo dõi áp lực dịch não thất (não thất bên)
Lỗ khoan sọ được thực hiện ở vùng trán Cách gốc mũi 12 - 13 cm, 2,5 cm cách đường giữa (ở người lớn) Trorca đi lệch góc với mặt phẳng trán đỉnh trên đường tới lỗ tai ngoài và mặt phẳng dọc hướng tới khoé trong của mắt đối diện, tới não thất bên Rút nòng kiểm tra sự có mặt của dịch não tủy Nếu áp lực thấp có thể hút nhẹ sẽ thấy dịch não tủy chảy ra
Trang 13Hình 1.2: Vị trí đặt catheter trong não thất đo ALNS
* Ưu điểm:
- Là phương pháp cho kết quả chính xác nhất
- Có thể rút bớt dịch não tủy để làm giảm ALNS ngay tức thì hoặc khi các biện pháp điều trị khác đều thất bại
- Cho phép đánh giá chức năng của não
- Cho phép lấy dịch não tủy đánh giá gián tiếp các rối loạn chuyển hóa
* Nhược điểm:
Là phương pháp "gây chảy máu” có thể gây:
- Chảy máu, tạo thành cục máu trong não ở thùy trán
- Nhiễm trùng: Viêm màng não, viêm não thất
- Tổn thương các nhân xám nếu sai hướng hoặc chọc quá mạnh
- Dễ thất bại khi não phù nhiều, não thất bị đẩy xẹp
Nếu cần theo dõi lâu hơn có thể thay catheter sang phía đối diện Mặc dù có những nguy cơ trên, độ chính xác và sự ổn định của kết quả theo dõi ALNS đã làm cho phương pháp này trở nên thông dụng nhất trong lâm sàng, đặc biệt đối với bệnh nhân CTSN 1.1.2.2 Theo dõi áp lực dưới màng cứng hoặc dưới màng nhện
Có thể thực hiện bằng
- Đặt catheter: Khoan xương sọ như trong đặt catheter não thất Luồn catheter có 3-
4 lỗ bên dưới màng cứng, tránh tất cả các tĩnh mạch cầu nối và làm đầy catheter bằng dung dịch muối sinh lý
Trang 14* Ưu điểm:
- Phương pháp đơn giản hơn, có thể thực hiện ngay tại giường ở phòng hồi sức, phòng điều trị hay trong phòng mổ
- Không làm thương tổn vỏ não, ít nguy cơ chảy máu và nhiễm trùng
- Vẫn cho phép đánh giá chức năng của não
- Cho kết quả đáng tin cậy vì vậy ưa dùng hơn khi xét thấy đặt catheter vào não thất là không cần thiết
* Nhược điểm:
- Dụng cụ đo bị bít tắc khi não phù lên (vì mất khoang dưới nhện) Có thể làm thông bằng dịch, nhưng sẽ tăng nguy cơ nhiễm trùng
- Không cho phép dẫn lưu dịch não tủy khi cần
- Độ chính xác kém hơn Dẫn lưu có thể lõm sâu xuống dưới làm tốn thương não 1.1.2.3 Theo dõi áp lực ngoài màng cứng
- Dụng cụ đo áp lực được đặt giữa ngoài màng cứng và xương sọ
- Là phương pháp ít gây tổn thương nhất, tỷ lệ nhiễm trùng rất thấp vì màng cứng không rách
- Tuy nhiên không thể xác định được chức năng não cũng như dẫn lưu dịch não tủy khi cần Rất dễ thiếu chính xác khi đặt dụng cụ chưa đúng chỗ, khi màng cứng dày hoặc đầu dụng cụ bị vòm sọ che bịt
1.1.2.2.4 Theo dõi áp lực trong nhu mô não
- Cũng có những nguy cơ như trong đặt catheter não thất nhưng ít hơn Ở đây Catheter được đặt vào trong tổ chức não và thường được kết hợp khi mổ sọ não (lấy máu tụ trong não, não dập, )
- Là phương pháp cho kết quả khá chính xác và được ưa dùng nhất trong mổ chấn thương sọ não
- Phương pháp này hay được thực hiện để theo dõi ALNS trên lâm sàng vì những lý do sau:
+ Biện pháp tiến hành đơn giản có thể thực hiện ngay trên buồng bệnh
+ Độ chính xác cao Giá trị của biện pháp này cũng gần tương đương với phương pháp đo áp lực trong não thất
Trang 158
+ Theo dõi liên tục áp lực nội sọ
+ Biến chứng chảy máu nhiễm trùng ít hơn so với phương pháp theo dõi áp lực trong não thất
Hình 1.3: Vị trí đặt catheter
A Trong não thất C Dưới màng não 1 Xương sọ 3 Não thất
B Ngoài màng cứng D Trong não 2 Màng cứng
- Không có DHTKKT; ALNS bình thường
- Hình ảnh CT Scaner sọ não: không có hình ảnh tổn thương
1.2.1.2 Vỡ nền sọ
- Thường các đường nứt sọ ở vòm lan xuống sàng
Trang 16- Nếu vỡ nền sọ ở tầng trước, thường thấy tụ máu quanh hốc mắt (dấu hiệu đeo kính râm), chảy dịch não tuỷ hoặc chảy máu ra mũi
1.2.1.3 Dập não (hay tổn thương nhu mô não)
- Bệnh nhân thường mê ngay sau tỉnh, tiên lượng nặng hay khá dần tuỳ thuộc vào mức
độ chấn thương Là loại thương tổn rất nặng, bao gồm hai hiện tượng:
+ Hoại tử các tế bào não
+ Nhiều thương tồn các mạch máu lớn Nếu dập não lan vào trong sâu, có thể hình thành một khối máu tụ trong mô não (MTTN)
- DHTK thực vật:
+ Nôn, buồn nôn
+ Dấu hiệu sinh tồn: Mạch nhanh, Huyết áp tăng nhẹ; thở nông hơi nhanh
- DHTKKT: Giãn đồng tử cùng bên dập não, liệt nửa người bên đối diện
- Dập não thường khu trú ở đáy hai thuỳ trán và /hoặc thái dương
- Cơ chế bệnh sinh: Do các thành phần trong sọ di chuyển với tốc độ khác nhau khi bị một lực va chạm mạnh tác động vào đầu, vì vậy khi đầu đụng vào vật cản, đáy não “vỗ” trực tiếp vào sàn sọ gồ ghề nhất là cánh bé xương bướm phân chia tầng trước sàn sọ cao hơn với tầng giữa thấp hơn Chính sự chuyển động với vận tốc khác nhau không dừng lại cùng một lúc đã gây ra nhiều thương tổn gọi chung là dập não
1.2.1.4 Chảy máu màng mềm
Màng mềm có cấu tạo bằng mô liên kết lỏng lẻo, chứa nhiều vi mạch để nuôi dưỡng não, là cấu trúc quan trọng của hàng rào máu não Khi bị tổn thương thì thường lan toả và gây co thắt mạch máu não, tiên lượng người bệnh rất nặng
Trang 17- Nguồn chảy máu:
+ Thường từ động mạch màng não giữa (nằm sát với mặt xương thái dương) + Tĩnh mạch ngoài màng cứng
+ Số ít gặp ở trường hợp vỡ xương
- Vị trí điển hình của máu tụ NMC là vùng thái dương (khoảng 70%)
Hình 1.4: Hình ảnh máu tụ ngoài màng cứng 1.2.1.5.2 Máu tụ DMC
- Nguồn chảy máu:
+ Đứt các mạch máu vỏ não tại điểm va chạm hoặc cả 2 bên bán cầu khi dập não
Trang 18+ Đứt các tĩnh mạch cầu đi từ vỏ não đến màng cứng
1.2.1.5.3 Máu tụ trong não
- Là bọc máu tụ nằm trong nhu mô não có đặc điểm là máu cục (máu tụ đơn thuần) hoặc máu cục lẫn với tổ chức não hoại tử (máu tụ kèm dập não)
- Thể tích máu tụ dao động từ 30-150ml, đường kính máu tụ có thể 3cm
- Vị trí máu tụ hay gặp ở : Thuỳ thái dương và thuỳ trán
- MTTN thường kết hợp với giập não lớn, máu tụ DMC Phần lớn máu tụ trong não được điều trị nội khoa (không phẫu thuật) Máu tụ sẽ được hấp thu sau 4- 6 tuần nhờ quá trình đại thực bào và quá trình tăng sinh thần kinh đệm
- Bệnh nhân thường mê ngay sau tai nạn nhưng không tỉnh lại mà chỉ chuyển từ trạng thái hôn mê sâu sang hôn mê nông hơn
Máu tụ trong não hình thành được là trên cơ sở những ổ dập não Khi dập não có đứt các sợi trục lan toả, thường kèm theo đứt mạch máu đi theo sợi trục
Hình 1.5: Hình ảnh máu tụ dưới màng cứng 1.2.2 Đánh giá tri giác người bệnh bằng thang điểm Glasgow
Trang 1912
* Lời nói
Trả lời đúng nhanh ( 5đ) Trả lời chậm ( 4đ) Trả lời không đúng ( 3đ )
Ú ớ hoặc kêu rên ( 2đ ) Không trả lời ( 1đ )
* Vận động
Làm theo lệnh nhanh ( 6đ ) Làm theo lệnh chậm ( 5đ ) Gạt đúng khi kích thích đau ( 4đ ) Gấp tay khi kích thích đau ( 3đ ) Duỗi tay cứng khi gây đau ( 2đ ) Không cựa khi kích thích đau ( 1đ ) 1.2.3 Một số biến chứng sau mổ
+ Chảy máu tại nơi mổ + Phù não
+ Máu tụ tái phát + Nhiễm trùng vết mổ + Loét tỳ đè do nằm lâu + Nhiễm trùng hô hấp
+ Tắc dẫn lưu não thất do bị gập hoặc bít ống dẫn lưu
Trang 20Chương 2
MÔ TẢ TRƯỜNG HỢP
2.1 Tình hình nghiên cứu chấn thương sọ não
2.1.1 Tại việt nam
Ở Việt Nam hiện nay, Theo báo cáo của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia trong năm 2016, cả nước xảy ra 21.589 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.685 người, làm bị thương 19.280 người Như vậy trung bình mỗi ngày có 24 người chết do tai nạn giao thông và thiệt hại lên đến 885 triệu USD mỗi năm Số trường hợp chấn thương sọ não ngày càng tăng, hay gặp ở người trẻ đang trong độ tuổi học tập và lao động, tỷ lệ tử vong cao, để lại di chứng khá nặng nề và chi phí điều trị khá tốn kém Theo thống kê, tỷ lệ tử vong do CTSN tại bệnh viện Việt Đức là 17,4%
Thương tổn hay gặp trong chấn thương sọ não thường gặp là các loại máu tụ trong
sọ, giập não, phù não hậu quả làm tăng áp lực trong sọ gây tử vong cho người bệnh và để lại hậu quả cho gia đình và xã hội
2.1.2 Trên thế giới
Rất khó để xác định số người bị CTSN, bất kể thể nặng hay nhẹ, do những khó khăn trong việc mã hóa tình trạng này tại các Bệnh viện Rất nhiều người bị CTSN nhẹ không đến cơ sở y tế mà tự xử trí tại nhà Hiện tại, gần như không thể biết được có bao nhiêu người phải vào cấp cứu hoặc đi khám bác sĩ với tình trạng chấn thương đầu là do thật sự bị CTSN (New Zealand Guidelines Group, 2006) Nghiên cứu tổng hợp y văn được thực hiện bởi WHO Collaborating Centre Task Force on Mild Traumatic Brain Injury kết luận rằng tỷ lệ “thật sự” trên tổng dân số bị CTSN nhẹ là lớn hơn 600 trường hợp trên 100.000 người mỗi năm Tỷ lệ đó nếu tính cho Việt Nam sẽ là lớn hơn 560.000 trường hợp mỗi năm Chấn thương gây ra do tai nạn giao thông được cho là nguyên nhân dẫn đến tử vong xếp hàng thứ tám trên toàn thế giới (xấp xỉ 1,24 triệu người chết mỗi năm do tai nạn giao thông trên toàn thế giới), gây ra hậu quả tương đương với hậu quả của các bệnh truyền nhiễm như sốt rét
2.2 Quy trình chăm sóc dẫn lưu sọ não
Trang 2114
2.2.1 Mục đích
* Chăm sóc 24 giờ đầu: Mục đích là theo dõi để phát hiện và xử trí kịp thời các biến chứng trong giai đoạn giữa mê và tỉnh Người điều dưỡng cần:
+ Để người bệnh trong phòng thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, không được
để quá lạnh hoặc quá nóng, đặc biệt ở người bệnh già và trẻ nhỏ
+ Tránh tụt lưỡi: Đặt ống canuyn Mayo
+ Tránh tắc đờm rãi: Nếu người bệnh có dấu hiệu thở khò khè thì phải hút sạch đờm rãi
+ Tránh trào ngược dịch dạ dày vào khí quản: Để người bệnh nằm thẳng, nghiêng đầu, theo dõi ống sonde dạ dày
+ Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở, ý thức
+ Hệ thống dẫn lưu đảm bảo đạt hiệu quả Đặc biệt chú ý ống dẫn lưu sọ não về màu sắc, số lượng, tính chất để phát hiện sớm các biến chứng: Suy hô hấp, chảy máu lại trong hộp sọ
+ Theo dõi được diễn biến tại nơi có đặt ống dẫn lưu: Tuột bục đường khâu miệng nối
+ Thực hiện thuốc theo y lệnh
+ Thực hiện các xét nghiệm theo y lệnh
+ Giúp cho người bệnh sớm phục hồi nhất có thế
+ Giúp vết mổ mau khỏi, không bị nhiễm khuẩn bởi DLSN
+ Phát hiện kịp thời những biến chứng để bác sĩ xử trí một cách tốt nhất
+ Tránh loét miệng vết mổ
+ Tránh để nhiễm trùng và lây chéo trong môi trường Bệnh viện
+ Đề phòng tụ dịch sau mổ hay theo dõi sát nguy cơ chảy máu sau mổ
+ Đảm bảo an toàn cho người bệnh sau phẫu thuật
Chăm sóc các ngày sau
+ Chăm sóc vết mổ: Thay băng vết mổ và chân ống dẫn lưu hàng ngày theo y lệnh đảm bảo đúng quy trình
+ Thực hiện y lệnh thuốc đúng y lệnh
Trang 22+ Theo dõi mạch, huyết áp, nhiệt độ, ý thức người bệnh, tình trạng vết mổ và các ống dẫn lưu nhằm phát hiện sớm các biến chứng
+ Dinh dưỡng cho người bệnh: Trong giai đoạn chưa có trung tiện thì nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch, sau khi có trung tiện cho người bệnh ăn các chất mềm, lỏng, dễ tiêu, cần chú ý cho người bệnh ăn ít chất béo ở giai đoạn đầu sau phẫu thuật
+ Cắt chỉ vết mổ: Thường cắt chỉ sau 7 đến 10 ngày, tùy bệnh nhân có thể nhanh hoặc lâu hơn
+ Tập vận động sớm cho người bệnh
Hình 2.6: Thay băng vết mổ có dẫn lưu sọ não
Trang 2316
Ống dẫn lưu sọ não là loại ống mềm ngắn được đặt trong sọ não, ngành dài đi từ chỗ não tổn thương đi qua xương sọ ra ngoài Nguyên tắc theo dõi ống dẫn lưu này khác với các ống dẫn lưu khác
- Mục đích đặt ống dẫn lưu sọ não:
+ Giảm áp lực sọ não
+ Chụp kiểm tra lại xem còn máu tụ không
- Biến chứng của dẫn lưu sọ não:
+ Chảy máu chân dẫn lưu sọ não
+ Nhiễm trùng chân dẫn lưu sọ não
+ Tuột, tắc dẫn lưu sọ não
- Cách theo dõi ống dẫn lưu sọ não:
+ Ống dẫn lưu sọ não được nối dẫn vào túi hoặc chai vô trùng, túi hoặc chai phải thấp hơn vị trí sọ não để tránh trào ngược dịch trở lại vào trong não
Hình 2.7: Vị trí đặt DLSN đúng quy trình + Ống dẫn lưu dẫn lưu sọ não phải thông, ghi chính xác số lượng, màu sắc, tính chất của dịch trong túi dẫn lưu hàng ngày Trung bình dịch chảy qua dẫn lưu sọ não khoảng 150-200ml/24 giờ trong những ngày đầu, ngày sau giảm dần tùy thuộc vào vị trí của đặt dẫn lưu Khi có trung tiện (2-3 ngày sau mổ)
2.2.2 Tiến hành
* Báo cáo giải thích với người bệnh, người nhà người bệnh