18 2.Thực trạng qua chăm sóc người bệnh có đặt ống dẫn lưu Kehr sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ tại khoa Ngoại TH- Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ ..... Chăm sóc ống dẫn lưu Kehr trên ngườ
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
TẠ THỊ THẮM
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC DẪN LƯU KERH SAU PHẪU THUẬT SỎI ỐNG MẬT CHỦ TẠI KHOA NGOẠI TỔNG HỢP
BVĐK TỈNH PHÚ THỌ - 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2021
Chuyên ngành : Ngoại người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : ThS BS TRẦN HỮU HIẾU
NAM ĐỊNH – 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn
Ban giám hiệu và phòng Đào tạo Sau đại học – Trường đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện chuyên đề tốt nghiệp
Bộ môn Người lớn ngoại khoa và các thầy cô tham gia giảng dạy lớp Điều dưỡng chuyên khoa I khóa 8 Trường đại học Điều dưỡng Nam Định
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc tới những người thầy đáng kính trong hội đồng đã góp ý cho tôi những ý kiến quý báu và xác đáng để tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ tình cảm, lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới ThS BS Trần Hữu Hiếu – người thầy đã tận tình dìu dắt, chỉ bảo, trực tiếp giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện chuyên đề này Thầy là tấm gương sáng về trí tuệ, tri thức cho tôi rèn luyện và học tập
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Đảng ủy, Ban giám đốc, tập thể khoa Ngoại tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin chân thành cám ơn bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, hỗ trợ tôi suốt hai năm học
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và những người thân đã hết lòng động viên và ủng hộ tôi trong quá trình học tập
Phú Thọ, tháng 8 năm 2021
Học viên
Tạ Thị Thắm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được áp dụng Báo cáo này do bản thân tôi thực hiện dưới sự giúp đỡ của Giáo viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Phú Thọ, tháng 8 năm 2021
Học viên
Tạ Thị Thắm
Trang 5MỤC LỤC Nội dung Trang
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Danh mục hình ảnh iii
Đặt vấn đề 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 3
I Cơ sở lý luận 3
1 Giải phẫu Gan và đường mật 3
2 Định nghĩa Sỏi ống mật chủ 4
3 Nguyên nhân 5
4 Yếu tố ảnh hưởng đến tạo sỏi ống mật chủ 5
5 Dấu hiệu lâm sàng 6
6 Biến chứng 8
7 Phương pháp phẫu thuật ống mật chủ 8
8 Chăm sóc dẫn lưu Kehr sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ 9
II Cơ sở thực tiễn 12
A.Trên thế giới 12
B Ở Việt Nam 12
1 Chăm sóc người bệnh sau tán sỏi ống mật chủ 12
2.Chăm sóc sau khi lấy sỏi mật qua đường hầm Kehr 13
3 Theo dõi biến chứng sau mổ 16
Chương 2 Mô tả vấn đề cần giải quyết 18
1 Giới thiệu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ 18
2.Thực trạng qua chăm sóc người bệnh có đặt ống dẫn lưu Kehr sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ tại khoa Ngoại TH- Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ 20
Chương 3 Bàn luận 23
3.1 Ưu điểm 23
3.2 Nhược điểm 23
Trang 633 Nguyên nhân: 24
Khuyến nghị 25
Kết luận 26
1 Chăm sóc ống dẫn lưu Kehr trên người bệnh sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ tại khoa Ngoại tổng hợp BVĐK tỉnh Phú Thọ 26
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao quy trình chăm sóc dẫn lưu kehr trên người bệnh sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ- BVĐK tỉnh Phú Thọ năm 2021 26
Đề xuất các giải pháp 28
1 Đối với bệnh viện 28
2 Đối với khoa/ Trung tâm 28
3 Đối với Điều dưỡng viên 28
Tài liệu tham khảo 30 Phụ lục
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1: Giải phẫu đường mật:……….4
Hình 2 : Sỏi đường mật trong gan: ……….…… ……….5
Hình 3 : Vị trí sỏi ống mật chủ:……….……….… ….………… 8
Hình 4: Hình ảnh Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ……… 19
Hình 5: Hình ảnh dẫn lưu Kerh sau phẫu thuật:……….20
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ Sỏi mật là sự kết tụ thành khối rắn chắc của các thành phần có trong dịch mật,
có thể được hình thành ở nhiều vị trí khác nhau trong hệ thống dẫn mật như sỏi túi mật, sỏi ống mật chủ, đường dẫn mật trong gan (sỏi gan) Sỏi mật có 2 loại chính: sỏi cholesterol và sỏi sắc tố mật
Sỏi mật là một bệnh lý ngoại khoa khá phổ biến ở các nước phát triển cũng như
ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Tần suất mắc sỏi mật phụ thuộc nhiều yếu tố: vị trí địa lý, giống nòi, tập quán sinh hoạt, chế độ ăn uống, môi trường sống, nhiễm khuẩn, ký sinh trùng đường ruột
Ở châu Âu – Mỹ: sỏi ống mật chủ hình thành phần lớn là do sỏi túi mật di chuyển xuống, thành phần chủ yếu là Cholesterol Tính chất của sỏi: cứng, màu vàng nâu, mặt gồ ghề Tỷ lệ nữ nhiều hơn nam gấp 4 lần, thường xảy ra trên những người phụ nữ béo ít vận động
Ở Châu Á: sỏi đường mật phần lớn do giun chui lên đường mật gây nhiễm khuẩn đường mật, sỏi mật ở châu Á chủ yếu là sỏi ở ống mật chủ và sỏi ở trong gan Sỏi có màu nâu đen dễ vỡ, tỷ lệ nam và nữ tương đương; gặp ở mọi lớp người, lứa tuổi hay gặp là trung niên
Ở Việt Nam, theo Giáo sư Tôn Thất Tùng: Sỏi túi mật chiếm 10,8% - 11,4%, sỏi ống mật chủ và sỏi trong gan chiếm sấp xỉ 80%, ngược lại ở Châu Âu sỏi túi mật chiếm 63,8% (7)
Sỏi ống mật chủ trường hợp không gây tắc, nhiễm trùng sẽ không có triệu chứng, tuy nhiên khi bị tắc và gây nhiễm trùng thường rất nặng nề nếu không được điều trị kịp thời dễ có những biến chứng có thể gây tử vong
Hiện nay điều trị sỏi ống mật chủ có nhiều phương pháp khác nhau được áp dụng như: dùng thuốc làm tan sỏi (với sỏi có thành phần cấu tạo là cholesteron), tán sỏi ngoài cơ thể, lấy sỏi theo đường hầm xuyên qua da, phẫu thuật nội soi lấy sỏi mật
Tuy nhiên phương pháp mở ống mật chủ lấy sỏi – đặt dẫn lưu Kehr là phẫu thuật kinh điển vẫn đang giữ vai trò chủ yếu và chiếm tỷ lệ nhiều nhất ở Việt Nam nhằm mục đích lấy hết sỏi đường mật, tạo lưu thông tốt cho mật ruột Trong thời đại khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của phẫu thuật
Trang 9nội soi, phẫu thuật ít xâm hại đã được áp dụng nhiều trên thế giới cũng như ở Việt Nam Phương pháp này có ưu điểm là lấy được sỏi cho mọi đối tượng, an toàn và không cần trang thiết bị hiện đại Tuy nhiên phương pháp này vẫn còn có các nhược điểm là hậu phẫu nặng nề và đường mổ dài, có nguy cơ dính ruột cao Kết quả phẫu thuật phụ thuộc rất nhiều vào công tác kỹ thuật, chỉ định cũng như chăm sóc người bệnh…
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi phía bắc, hàng năm tỷ lệ người bệnh sỏi mật đến khám và điều trị khá cao.Vì vậy việc tìm hiểu một số chỉ số qua việc theo dõi dẫn lưu Kerh sau phẫu thuật sỏi đường mật giúp người điều dưỡng ngoại khoa lập kế hoạch chăm sóc và thực hiện kế hoạch chăm sóc dẫn lưu Kerh một cách nhanh chóng
và chính xác, tránh nhiễm khuẩn ngược dòng, phát hiện sớm các biến chứng như: chảy máu đường mật, tắc mật, viêm tụy , để phối hợp cùng Bác sỹ xử lý kịp thời, đảm bảo
an toàn cho người bệnh, giúp người bệnh mau chóng bình phục, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội là rất cần thiết
Về triệu chứng, phương pháp điều trị bệnh đã được nhiều nghiên cứu đề cập đến Tuy nhiên nghiên cứu về công tác chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ còn được ít đề cập Chính vì vậy tôi tiến hành chuyên đề: “Thực trạng chăm sóc dẫn lưu Kerh sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ tại khoa ngoại Tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ 6 tháng đầu năm 2021”
Trang 10Chương I
CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I CƠ SƠ LÝ LUẬN
1 Giải phẫu gan và đường mật
1.1 Gan
Gan người trưởng thành thường nặng 1,4 - 1,6 kilôgam, mềm, có màu đỏ sẫm Gan là một cơ quan nội tạng lớn nhất và đồng thời là tuyến tiêu hóa lớn nhất trong cơ thể Gan nằm ngay dưới cơ hoành ở phần trên, bên phải của ổ bụng Gan nằm về phía bên phải của dạ dày và tạo nên giường túi mật
Gan được cung cấp máu bởi hai mạch chính ở thùy phải: động mạch gan và tĩnh mạch cửa (tĩnh mạch gánh) Động mạch gan thường bắt nguồn từ động mạch thân tạng Tĩnh mạch cửa dẫn lưu máu từ lách, tụy và tiểu tràng nhờ đó mà gan có thể tiếp cận được nguồn dinh dưỡng cũng như các sản phẩm phụ của quá trình tiêu hóa thức ăn Các tĩnh mạch gan dẫn lưu máu từ gan và đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ dưới
Ống mật chủ tiếp theo ống gan chung đi ra phía sau khúc I tá tràng rồi đi sau đầu tụy để dổ vào bóng gan – tụy (bóng Valte) và đổ vào khúc II tá tràng cùng với ống tụy chính Ống mật chủ dài khoảng 5-6cm, đường kính khoảng 5-6mm, chỗ hẹp nhất là
ở bóng Valte và chỗ rộng nhất là ở sau tá tràng
Túi mật hình bầu dục nằm trong rãnh dọc phải ở mặt dưới gan dài 8-10cm, rộng 3cm, túi mật chia thành 3 vùng: vùng đáy, vùng thân và vùng cổ Vùng cổ túi mật phình ở giữa một bể nhỏ (bể Hartman) là nơi sỏi thường dừng lại
Trang 11Hình 1: Giải phẫu đường mật
Gan được cung cấp máu bởi hai mạch chính ở thùy phải: động mạch gan và tĩnh mạch cửa (tĩnh mạch gánh) Động mạch gan thường bắt nguồn từ động mạch thân tạng Tĩnh mạch cửa dẫn lưu máu từ lách, tụy và tiểu tràng nhờ đó mà gan có thể tiếp cận được nguồn dinh dưỡng cũng như các sản phẩm phụ của quá trình tiêu hóa thức ăn Các tĩnh mạch gan dẫn lưu máu từ gan và đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ dưới
Trang 12Cấu trúc thành phần của sỏi là cholesterol và sỏi sắc tố mật Tính chất của sỏi ống mật chủ thường là có màu nâu đen, mềm dễ mủn nát
Hình 2 : Sỏi đường mật trong gan(Nguồn
4 Yếu tố ảnh hưởng đến tạo sỏi ống mật chủ
Ngoài hai chất chính cholesterol gây sỏi cholesterol và sắc tố bilirubin gây sỏi đường mật có một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo sỏi mật nhất là sỏi mật choleterol như:
Trang 13- Mập phì: là nguy cơ đáng ngại cho sỏi mật nhất là phụ nữ Người ta giả định rằng mập phì có khuynh hướng làm giảm số lượng muối mật bài tiết, do đó cũng làm tăng hàm lượng cholesterol Mập phì cũng làm giảm sự tổng xuất túi mật
- Estrogen: lượng estrogen thặng dư do thai nghén, do uống thuốc kích thích tố, hay do uống thuốc ngừa thai cũng được giả định làm tăng lượng cholesterol trong máu
và làm giảm chuyển động của túi mật Cả hai điều kiện này đều dễ gây nên sỏi mật
- Chủng tộc: người Mỹ thổ dân trong cơ thể chứa di thể có khuynh hướng làm tiết nhiều cholesterol trong mật Tỷ lệ người bị sỏi mật cao nhất là những người này
- Giới tính: đàn bà thường bị sỏi mật nhiều hơn Số đàn bà độ tuổi từ 20 đến 60
có nhiều triển vọng bị sỏi mật nhiều hơn đàn ông
- Tuổi tác: những người trên 60 tuổi dễ bị sỏi mật hơn
- Bệnh tiểu đường: những người thường có lượng fatly acids triglyce – rides cao Những chất này có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi mật
- Xuống cân quá nhanh: khi cơ thể cố gắng biến dưỡng chất béo trong thời gian xuống cân quá nhanh, nó có thể gây bệnh gan mãn tính, bệnh đường ruột, sỏi đường mật …
5 Dấu hiệu lâm sàng:
Sự có mặt của sỏi trong lòng ống mật chủ thường không có biểu hiện lâm sàng
để tạo nên bệnh cảnh trầm trọng ngay, nhưng sớm muộn cũng gây ứ đọng nước dịch mật và nhiễm trùng đường mật
5.1 Triệu chứng cơ năng: Tam chứng Charcot
- Đau: đau do sỏi di chuyển, cơn đau đột ngột, đau dữ dội, vị trí đau ở hạ sườn phải, đau lan ra sau lưng và lên vai (cơn đau quặn gan)
- Sốt: Sau đau vài giờ người bệnh xuất hiện sốt 390 – 400C Sốt kèm theo rét run, chán ăn, cơn sốt kéo dài vài giờ sau đó vã mồ hôi Thường sốt cao vào buổi chiều
- Vàng da - vàng mắt: xuất hiện sau đau và sốt Lúc đầu vàng nhẹ ở củng mạc mắt rồi dần dần vàng đậm ở da, vàng da kèm theo ngứa ở da, nước tiểu thẫm màu
Đối với tắc mật do sỏi thì đau – sốt – vàng da diễn ra đúng theo thứ tự thời gian
và mất đi theo thứ tự thời gian
5.2 Triệu chứng thực thể:
- Ấn đau vùng hạ sườn phải, co cứng nửa bụng phải hay cả vùng thượng vị
Trang 14- Gan to ứ mật, ấn đau tức vùng gan
- Túi mật căng to, đôi khi sờ thấy đáy túi mật tròn nhẵn như quả trứng gà, mềm,
ấn rất đau, di động theo nhịp thở, đôi khi đáy túi mật ngang rốn Cơn đau giảm khi mật
đã lưu thông túi mật nhỏ lại
- Điểm đau: ấn điểm túi mật, điểm cạnh ức đau
5.3 Triệu chứng toàn thân:
- Trong trường hợp nhẹ: biểu hiện toàn thân không có gì thay đổi
- Khi sỏi mật đã gây biến chứng có biểu hiện nhiễm trùng, nhiễm độc: môi khô, lưỡi bẩn, hơi thở hôi, người mệt mỏi, chán ăn, da vàng sạm, đái ít, vết ngứa trên da
- Có thể có các dấu hiệu của suy thận như : đái ít, vô niệu trong trường hợp nhiễm khuẩn mật nặng
5.4 Triệu chứng cận lâm sàng:
- Xét nghiệm huyết học: số lượng bạch cầu tăng, tốc độ máu lắng tăng
- Sinh hóa máu: Bilirrubin tăng, Phosphataza kiềm tăng, thời gian Quick tăng, Men gan (SGOT và SGPT tăng), trường hợp nhiễm khuẩn nặng có suy thận thì Ure và Creatinin máu tăng cao
- Đông máu cơ bản: Prothrombin giảm làm cho thời gian đông máu kéo dài
- Xét nghiệm nước tiểu : có nhiều sắc tố mật và muối mật
- X quang:
+ Chụp bụng không chuẩn bị thấy bóng gan, bóng túi mật to
+ Chụp đường mật qua da, chụp đường mật ngược dòng qua soi tá tràng xác định số lượng sỏi, vị trí sỏi
Siêu âm, chụp CT Scanner: xác định số lượng, vị trí sỏi, hình sỏi
Trang 15Hình 3 : Vị trí sỏi ống mật chủ
6 Biến chứng:
- Thấm mật phúc mạc: do thành ống mật chủ giãn, túi mật căng to làm thành túi mỏng, nước mật đem theo cả vi khuẩn thấm vào ổ bụng
- Viêm phúc mạc mật: vi khuẩn ở nước dịch mật vào ổ bụng gây viêm phúc mạc
- Viêm đường mật có mủ và áp xe gan đường mật: tắc mật gây ứ đọng mật và nhiễm khuẩn, trên mặt gan có nhiều ổ áp xe nhỏ rải rác, mủ thối, vi khuẩn thường gặp
là Ecoli, trực khuẩn mủ xanh
- Viêm mủ túi mật hoại tử: thủng túi mật các tạng xung quanh hoặc mạc nối dính chặt tạo thành đám cứng ở hạ sườn phải, hoặc bục ra gây viêm phúc mạc
- Chảy máu đường mật: do áp xe hoại tử nhu mô gan làm cho các nhánh động mạch hoặc tĩnh mạch trong gan thông thương với đường mật
7 Phương pháp phẫu thuật sỏi ống mật chủ
Phẫu thuật hở mở ống mật chủ lấy sỏi, kết hợp đặt dẫn lưu Kehr là một biện pháp ngoại khoa kinh điển đã được áp dụng từ lâu với những kết quả khả quan Năm
1890 Luwig Courvoisier là người đầu tiên phẫu thuật mở ống mật chủ lấy sỏi Phẫu thuật này có những ưu điểm:
- Lấy triệt để đối với mọi đối tượng
- An toàn
- Không cần các trang thiết bị đắt tiền
Nhưng cũng có những nhược điểm:
- Hậu phẫu nặng nề
Trang 16- Đường mổ dài và nguy cơ dính ruột sau mổ cao
Nhưng hiện nay, hình thức phẫu thuật tiên tiến và ít xâm hại hơn là mổ nội soi,
có dẫn lưu đường mật Kehr được ưu tiên lựa chọn tại nhiều bệnh viện nhờ vào khả năng lấy hết sỏi đường mật, cũng như có thể tạo lưu thông mật ruột
Các phương pháp dẫn lưu đường mật bao gồm:
- Dẫn lưu ống mật chủ qua cơ Oddi và tá tràng (phương pháp Volker)
- Dẫn lưu ống Kehr qua ống túi mật (đối với bệnh nhân có cắt túi mật)
- Dẫn lưu qua ống gan
- Dẫn lưu túi mật
Thông thường, sau khi giải quyết lấy sỏi và dị vật ở đường mật thì phải tiến hành khâu ống mật chủ Nhằm đảm bảo an toàn cho đường khâu ống mật chủ, các bác
sĩ thường sử dụng sonde Kehr để dẫn lưu dịch mật
8 Chăm sóc dẫn lưu Kerh sau phẫu thuật sỏi ống mật chủ
8.1 Nhận định:
- Sự lưu thông của ống dẫn lưu
- Lượng dịch thoát ra trong túi chứa dịch dẫn lưu, tính chất, màu sắc dịch Mức
độ, màu sắc dịch thấm băng
- Tình trạng vết mổ
- Nhu cầu giảm đau, tạo sự thoải mái cho người bệnh trong quá trình chăm sóc
- Nhận định vùng da xung quanh (màu sắc, nhiệt độ, phù nề, có bầm máu hay thấm dịch?)
8.2 Chăm sóc sau mổ thường quy của phẫu thuật ổ bụng
* Chăm sóc 24 giờ đầu: mục đích là theo dõi để phát hiện và xử trí kịp thời các biến chứng trong giai đoạn giữa mê và tỉnh.Điều dưỡng viên cần:
- Để người bệnh trong phòng thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, không được để quá lạnh hoặc quá nóng, đặc biệt ở người già và trẻ em
- Tránh tụt lưỡi: đặt ống Mayo
Trang 17- Tránh tắc đờm rãi: nếu người bệnh có dấu hiệu thở khò khè thì phải hút sạch đờm rãi
- Tránh trào ngược dịch dạ dày vào khí quản: để người bệnh nằm thẳng, nghiêng đầu, theo dõi ống sonde dạ dày
- Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở và các ống dẫn lưu ổ bụng để phát hiện sớm các biến chứng: suy hô hấp, chảy máu trong ổ bụng
- Thực hiện thuốc theo y lệnh
- Làm các xét nghiệm theo y lệnh
* Chăm sóc các ngày sau
- Chăm sóc vết mổ: thay băng vết mổ và chân ống dẫn lưu đảm bảo đúng quy trình
- Thực hiện y lệnh thuốc kháng sinh, giảm đau
- Theo dõi mạch, huyết áp, nhiệt độ, tình trạng vết mổ và các ống dẫn lưu nhằm phát hiện sớm nhiễm trùng
- Dinh dưỡng cho người bệnh: trong giai đoạn chưa có trung tiện thì nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch, sau khi có trung tiện cho người bệnh ăn các chất mềm, dễ tiêu, cần chú ý cho người bệnh ăn ít chất béo ở giai đoạn đầu sau mổ
- Cắt chỉ vết mổ: thường cắt chỉ sau 7 ngày, người gầy có thể lâu hơn
- Tập vận động sớm cho người bệnh
8.3 Chăm sóc dẫn lưu Kerh:
Ống dẫn lưu Kehr là loại ống mềm hình chữ T, ngành ngắn được đặt trong ống mật chủ, ngành dài đi từ chỗ mở ống mật chủ đi qua thành bụng ra ngoài Nguyên tắc theo dõi ống dẫn lưu này khác các ống dẫn lưu ổ bụng khác
8.3.1 Mục đích đặt ống Kehr:
- Giảm áp đường mật, nếu mật không xuống được tá tràng thì có chỗ thoát ra ngoài, đảm bảo vết khâu không để thấm mật vào ổ bụng
- Phát hiện sót sỏi sau mổ để điều trị, bơm rửa, lấy sỏi qua đường hầm Kehr
- Chụp kiểm tra đường mật xem dịch mật đã thông tốt xuống tá tràng chưa
Trang 188.3.2 Biến chứng của dẫn lưu Kehr
- Chảy máu chân Kehr
- Nhiễm trùng chân Kehr
- Rò mật qua chân Kehr
- Tuột Kehr
8.3.3 Cách theo dõi ống dẫn lưu Kehr
- Ống Kerh được nối dẫn vào túi hoặc chai vô trùng, túi hoặc chai phải thấp hơn
vị trí đường mật để tránh trào ngược dịch mật vào trong đường mật
- Đầu ngoài ống Kehr thường được quấn một vòng quanh một cuộn băng mềm sau đó cố định cuộn băng vào thành bụng
- Ống dẫn lưu Kehr phải thông, ghi chính xác số lượng, màu sắc, tính chất của dịch mật trong túi dẫn lưu hàng ngày Trung bình dịch chảy qua Kehr khoảng 300-500ml/24 giờ trong những ngày đầu Khi có trung tiện (3-4 ngày sau mổ) một phần dịch mật xuống tá tràng, dịch mật qua Kehr khoảng 150-200ml/24 giờ Nếu số lượng nhiều hơn 500ml thì có thể do còn sót sỏi gây tắc tại Oddi, cần báo Bác sỹ để có chỉ định bơm rửa Kerh
- Dịch chảy qua ống Kehr thường có màu xanh ánh hoặc vàng trong Trong trường hợp có nhiều bùn mật, cặn sỏi hoặc dịch mật có mủ cần bơm rửa thường xuyên tránh tắc Kerh
Nếu dịch mật có máu cần báo Bác sỹ ngay
8.3.4 Kỹ thuật bơm rửa Kehr
Chuẩn bị dụng cụ: găng vô khuẩn, pank, gạc, thuốc sát khuẩn, dịch rửa ấm (thường dùng huyết thanh mặn đẳng trương) Trường hợp chảy máu đường mật dùng huyết thanh nóng 40°c, bơm tiêm 20ml và kim, khay quả đậu
Thao tác :
- Tháo ống Kehr khỏi ống nối, để đầu ngoài vào khay quả đậu
- Kẹp ống Kehr cách da 10cm
- Bơm 10ml dịch rửa đoạn ngoài
- Bơm 10ml dịch rửa đoạn trong