Đề tài cuối kỳ Nhận xét về Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam CHÍNH CƯƠNG CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM VĂN KIỆN CÓ TÍNH CHẤT BƯỚC NGOẶT TRONG LỊCH SỬ CÁCH MẠNG VIỆT NAM Tóm tắt Bài viết trình bày những suy nghĩ về vai trò và ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị của Đảng ta tại Đại hội II (21951) Đồng thời bài viết nhấn mạnh đến những tư duy mang tầm chiến lược mà trong cả Cương lĩnh và các văn kiện khác của Đại hội đã nêu ra, và liên hệ tư duy chiến lược đó với thực tiễn cách mạng Việt Nam để có.
Trang 1Đề tài cuối kỳ: Nhận xét về Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam.
CHÍNH CƯƠNG CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM - VĂN KIỆN CÓ TÍNH CHẤT BƯỚC NGOẶT TRONG LỊCH SỬ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
Tóm tắt
Bài viết trình bày những suy nghĩ về vai trò và ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị của Đảng ta tại Đại hội II (2/1951) Đồng thời bài viết nhấn mạnh đến những tư duy mang tầm chiến lược mà trong cả Cương lĩnh và các văn kiện khác của Đại hội
đã nêu ra, và liên hệ tư duy chiến lược đó với thực tiễn cách mạng Việt Nam để có thể nhận thức sâu sắc hơn về vai trò và ý nghĩa của bản Cương lĩnh chính trị nói riêng và ý nghĩa lịch sử của Đại hội II của Đảng ta nói chung
1 Vấn đề
Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam là văn kiện hoàn thiện nhất về lý luận cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, đồng thời văn kiện này cũng phác họa căn bản tư duy chiến lược về con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Văn kiện này phản ánh sâu sắc tư duy và quan điểm của Hồ Chí Minh, đó là sự quay trở
về những tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh trong Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt Đồng thời Chính cương còn là văn kiện thể hiện những tư duy mang tầm chiến lược của Người đã được bổ sung và hoàn thiện Văn kiện này gồm hai tư duy chiến lược: trong đó tư duy về cách mạng giải phóng dân tộc là nội dung chủ yếu và có tầm quan trọng rất lớn trong bối cảnh Đảng ta đang thực hiện kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và tư duy về con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, trong đó nội dung chủ đạo là xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, thực hiện kinh tế kháng chiến, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội
Để có được Chính Cương - một cương lĩnh hoàn thiện về tư duy chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc và con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội,
Trang 2Đảng ta đã phải trãi qua một khoảng thời gian tương đối dài, nhiều quanh co, đôi khi có những bước thụt lùi, lệch lạc, nhưng rồi Đảng ta cũng nhận thức, khắc phục
và phát triển, thay đổi tư duy của mình để phù hợp với tư duy chiến lược về cách mạng giải phóng dân tộc
Song, quá trình đó chỉ là bước thụt lùi tạm thời, là những thử thách mà Đảng
ta phải trãi qua để tôi luyện chính bản thân mình Điều đó, đồng thời minh chứng thêm cho chúng ta thấy về tầm nhìn và năng lực tư duy cách mạng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, là một tư duy sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam
2 Đại hội II của Đảng và sự ra đời Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam
Năm 1945, chiến tranh Thế giới lần thứ hai kết thúc với sự thắng lợi của các lực lượng dân chủ đối với chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật Cùng với sự thắng lợi
đó, các nhà nước dân chủ nhân dân lần lượt ra đời sau khi giải phóng mình khỏi ách thống trị của thực dân đế quốc Sau cách mạng tháng Tám lịch sử, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, đã xóa bỏ đi ách thống trị của thực dân đế quốc và chế độ quân chủ Ngày 2 tháng Chín 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nhà nước dân chủ cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á
Nhưng nền độc lập của nước ta vừa mới ra đời đã phải đối phó với hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc Theo chân thực dân Anh, Pháp quay trở lại tái xâm lược nước ta, cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc lại tiếp tục Nhân dân ta đã anh dũng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” ròng rã suốt 9 năm để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu
Trang 3Đến năm 1950, sau 5 năm của cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của nhân dân
ta, địa vị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có những bước tiến triển đáng
kể, nhất là sau khi các nước Xã hội chủ nghĩa bắt đầu công nhận và thiết lập ngoại giao với nước ta Đông Dương trở thành tiền đồn của phe Xã hội chủ nghĩa, còn các nước Xã hội chủ nghĩa trở thành hậu phương chi viện cho cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của các dân tộc Đông Dương Tình hình đó vừa đem lại những thuận lợi nhất định về thế và lực của ta, đồng thời cũng mang lại khó khăn khi Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào chiến trường Đông Dương nhằm thay chân Pháp tiến hành “chế độ thực dân kiểu mới” ở nước ta
Đại hội lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương được triệu tập trong thời điểm lịch sử như vậy, cho nên nó cũng có những ý nghĩa lịch sử chính trị quan trọng Đại hội II giải quyết những công việc chủ đạo1:
- Đảng phải giải quyết và đề ra một cương lĩnh cách mạng cho toàn Đảng nhằm thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến toàn thắng Cương lĩnh
đó nhất thiết phải căn cứ trên hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể của Đông Dương
- Chính phủ cách mạng ở Đông Dương là Chính phủ kháng chiến, không còn
là thuộc địa của thực dân Pháp, ta có mặt trận dân tộc, có căn cứ địa, có nhân dân ủng hộ Đảng Cộng sản có thể công khai hoạt động dưới tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, điều lệ của Đảng phải được sửa đổi để tranh thủ tập hợp và gây dựng lực lượng
- Cương lĩnh mới của Đảng lần này xác định đúng đắn nhiệm vụ và phát triển hơn so với Luận cương tháng Mười của Trần Phú, khối lượng công việc ngày
1 Văn kiện Lịch sử Đảng, Những văn kiện chính của Đại hội II, Diễn văn khai mạc của đồng chí Tôn Đức Thắng (11/2/1951), Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, tr.12
Trang 4càng lớn, cho nên cần phải tổ chức một Ban chấp hành Trung ương mới, với số lượng ủy viên đông hơn, để có thể đáp ứng tình hình mới
Đại hội II của Đảng được tiến hành họp từ ngày 11 đến 19 tháng Hai năm
1951, tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang với sự tham gia của 158 đại biểu, đại diện cho hơn 75 vạn đảng viên2 Toàn bộ Đại hội có 14 văn kiện, trong đó gồm có: 2 văn kiện ngày khai mạc; 1 văn kiện bế mạc; văn kiện Tuyên ngôn và Cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam; Nghị quyết của Đại hội Đảng; 8 văn kiện liên quan (bao gồm cả Báo cáo chính trị của Hồ Chủ tịch) nhằm giải đáp, cụ thể hóa tư duy chiến lược và vạch ra những nhiệm vụ cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn, tình hình mới
Trong 14 văn kiện trên, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam là văn kiện mang giá trị lịch sử quan trọng bậc nhất
Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam bao gồm 3 chương, nêu bật các vấn đề: Nhận định tình hình thế giới và Việt Nam; Phân tích xã hội Việt Nam và những điều kiện của cách mạng Việt Nam; đề ra các chính sách của Đảng Lao động Việt Nam
Nội dung chủ yếu mà Chính cương đề cập đến là:
- Nhận định Xã hội Việt Nam bao gồm có ba tính chất: “dân chủ nhân dân,
một phần thuộc địa và nửa phong kiến”3 Các tính chất đó đấu tranh lẫn nhau,
trong đó mâu thuẫn chủ yếu nhất đó là “giữa tính dân chủ nhân dân và tính chất
thuộc địa”4, nói cách khác là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam và bọn đế quốc xâm lược
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr.481.
3 Văn kiện Lịch sử Đảng, Những văn kiện chính của Đại hội II, Tuyên ngôn và Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, tr.257.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr.433-434.
Trang 5Cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ở một nước thuộc địa: nhiệm vụ phản đế và nhiệm vụ phản phong Nhiệm vụ phản đế là chống lại bọn xâm lược, giành độc lập tự do cho dân tộc; nhiệm vụ phản phong là xóa bỏ tàn tích của chế độ phong kiến và nửa phong kiến Trong đó nhiệm vụ phản đế là nhiệm văn căn bản nhất, nhiệm vụ phản phong là thứ yếu và hỗ trợ cho nhiệm vụ phản đế Cho nên đối tượng của cách mạng Việt
Nam bao gồm: “Đối tượng chính hiện nay là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể
lúc này là đế quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ Đối tượng phụ hiện nay là phong kiến, cụ thể lúc này là phong kiến phản động”5
Chính cương đã khẳng định: “Cho nên nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt
Nam là: đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất hoàn toàn cho dân tộc, thủ tiêu chế độ thuộc địa, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây
cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”6
Hai nhiệm vụ phản đế và phản phong có mối quan hệ khăn khít, cần phải nhìn thấy rõ mối quan hệ đó Nhiệm vụ phản phong hoàn toàn có thể tạo điều kiện
và thúc đẩy để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ phản đế Không được xem nhiệm vụ phản phong là ngang hàng, hoặc hơn nhiệm vụ phản đế được Nhiệm vụ phản đế là nhiệm vụ quan trọng nhất và căn bản nhất, tất cả nhiệm vụ khác phải phục vụ nhiệm vụ phản đế
Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc Pháp, không thể không sử dụng lực lượng đông đảo từ quần chúng nhân dân, thậm chí đó là điều then chốt Nhưng muốn động viên quần chúng, phát động quần chúng tham gia đánh bại quân thù xâm lược, thì nhất thiết phải mang lại lợi ích thực tế cho nhân dân, làm cho quần chúng
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr.433-434.
6 Văn kiện Lịch sử Đảng, Những văn kiện chính của Đại hội II, Tuyên ngôn và Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, tr.257.
Trang 6phấn đấu tự giác bảo vệ lợi ích của mình, trước hết là lợi ích chung của toàn thể dân tộc Đối với một nước có đến hơn 90% là nông dân, thì việc thõa mãn nhu cầu lợi ích của nông dân chiếm một địa vị quan trọng, đó cũng chính là nhiệm vụ phản phong Nói một cách rõ ràng, Đảng phải nhất thiết giải quyết đúng đắn mối quan
hệ giữa nhiệm vụ phản phong và kháng chiến chống Pháp, giữa nhiệm vụ phản phong và việc phát động, động viên quần chúng trong công cuộc kháng chiến chống Pháp Điều đó mang lại khả năng to lớn để cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước tiểu nhược có thể giành thắng lợi, đánh bại một trong những cường quốc hàng đầu thế giới lúc bấy giờ là đế quốc Pháp
Nhưng như thế không có nghĩa là chỉ chú trọng nông dân Cuộc kháng chiến
là của toàn thể dân tộc, phải đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, cho nên
tính chất mặt trận phải rộng rãi, phải toàn dân Chính cương viết: “Động lực của
cách mạng Việt Nam lúc này là nhân dân, gồm có công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, rồi đến những thân sĩ, địa chủ yêu nước và tiến bộ”7
Chính cương của Đảng vạch ra rằng cách mạng Việt Nam phải trãi qua 3
giai đoạn, bao gồm: “giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải
phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ những di tích phong kiến, thực hiện người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ (công nghiệp), hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”8 Ba giai đoạn đó tiếp nối nhau, có mối quan hệ biện chứng với nhau, mỗi giai đoạn lại có một nhiệm vụ trung tâm riêng
7 Văn kiện Lịch sử Đảng, Những văn kiện chính của Đại hội II, Tuyên ngôn và Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc , tr.258.
8 Tư liệu văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 19/4/2018.
Trang 7Chính cương còn đề ra 15 chính sách lớn của Đảng nhằm đẩy mạnh kháng chiến, thực hiện đến cùng nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong giai đoạn đầu tiên của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Có thể nói, văn kiện Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam đã bổ sung và hoàn thiện tư duy chiến lược về cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, vốn đã xuất hiện từ Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng ta, trãi qua 20 năm thực tiễn cách mạng ngày càng được củng cố hoàn thiện và phát triển Đến Đại hội II của Đảng ta, tư duy đó đã được đúc kết lại và hoàn chỉnh được thể hiện dưới văn kiện Cương lĩnh chính trị của Đảng Lao động Việt Nam, trong đó những quan điểm, tư duy của Hồ Chủ tịch là linh hồn của văn kiện chính trị có tầm vóc lịch sử này
Sau Đại hội II, khi Đảng ra hoạt động công khai lấy tên Đảng Lao động Việt Nam Ban chấp hành Trung ương mới đã tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến đến toàn thắng Trong suốt thời gian đó, Đảng ta đã tổ chức một số hội nghị Trung ương quan trọng thúc đẩy kháng chiến như:
Hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa II (3-1951), tập trung giải quyết các nhiệm vụ kinh tế tài chính, bồi dưỡng sức dân để phục vụ kháng chiến, bảo đảm hậu cần quân sự và phát triển công tác địch vận
Hội nghị Trung ương lần thứ hai khóa II (9-1951), bàn vệ nhiệm vụ chung,
về công tác nội bộ, nhiệm vụ kinh tế và công tác trong vùng địch chiếm đóng
Hội nghị Trung ương lần thứ ba khóa II (4-1952), bàn về chỉnh đốn Đảng, chỉnh đốn quân đội
Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa II (1-19513), kiểm điểm tình hình chính sách ruộng đất, triệt để giảm tô, chuẩn bị đề án cải cách ruộng đất
Hội nghị Trung ương lần thứ năm khóa II (11-1953), tiến hành triệt để giảm
tô và tiến hành cải cách ruộng đất
Trang 8Như vậy, trên tinh thần Cương lĩnh chính trị của Đảng và các Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II, Đảng đã tiến hành lãnh đạo toàn quân và toàn dân ra sức phát triển, củng cố và tăng cường lực lượng về mọi mặt, làm thay đổi cán cân thế và lực giữa địch và ta, tạo những bước tiền đề cho sự thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam sau khi thắng lợi ở Điện Biên Phủ
3 Những tư duy mang tầm chiến lược trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam.
Tại Hội nghị thành lập Đảng tháng Hai 1930, thông qua các văn kiện Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt do Nguyễn
Ái Quốc soạn thảo Đây là thời điểm tư duy mang tầm chiến lược của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc bắt đầu hình thành Ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Người đã xác định một cách chính xác phương hướng cách mạng cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam, đó phải là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mặc dù lý luận lúc đó còn sơ khai và chưa hoàn chỉnh Do tình hình thực tế và nhiệm vụ cần kíp trước mắt cho nên vấn đề “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội” chưa được Nguyễn Ái Quốc đặt ra trong các văn kiện trên
Hội nghị lần thứ nhất Ban chấp hành Trung ương tháng Mười 1930 đã thông qua Luận cương chính trị tháng Mười do đồng chí Trần Phú khởi thảo Cương lĩnh
có viết này chỉ đề cập đến tư duy chiến lược về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
khi đề cập: “xứ Đông Dương sẽ nhờ vô sản giai cấp chuyên chánh các nước giúp
sức cho mà phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”9 Vấn đề giải phóng dân tộc trong Luận cương tháng Mười chỉ được xem là một bộ phận của đường lối cách mạng tư sản dân quyền, xem nó là thời kỳ
dự bị để đi tới chủ nghĩa xã hội mà thôi
9 Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.2, 2002, tr.98.
Trang 9Cương lĩnh 1991 hay Cương lĩnh thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Cương lĩnh bổ sung 2011, ra đời trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước cho nên Cương lĩnh không đề cập đến tư duy về cách mạng giải phóng, mà chỉ đề cập đến tư duy chiến lược về con đường quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Khác với tất cả các Cương lĩnh chính trị còn lại của Đảng, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam là cương lĩnh duy nhất nêu ra cùng lúc hai nhiệm vụ mang tầm chiến lược của cách mạng Việt Nam: tư duy chiến lược về cách mạng giải phóng dân tộc và tư duy chiến lược về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đồng thời, cả hai tư duy chiến lược đó đều là những tư duy đúng đắn đã được thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam minh chứng
3.1 Tư duy chiến lược về cách mạng dân tộc giải phóng
Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam được xem là bản Cương lĩnh hoàn chỉnh nhất về đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng Lao động Việt Nam Nó là sự quay trở lại với những giá trị, tư tưởng của Hồ Chí Minh
về cách mạng giải phóng dân tộc trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta Không những thế, trong Chính cương, những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh còn được hoàn thiện cụ thể hơn, đã được bổ sung và làm rõ hơn so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên
Trước hết, nói về phương hướng cách mạng Chính Cương của Đảng Lao
động Việt Nam có viết rõ: “Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam hiện nay là
đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thực sự cho dân tộc, xóa
bỏ tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”10
10 Văn kiện Đại hội Đảng, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam, ngày 19-4-2018.
Trang 10Có thể thấy, so với Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng Lao động Việt Nam
đã phát triển toàn diện về phương hướng chính trị cho cương lĩnh cách mạng dân tộc dân chủ So với Luận Cương tháng 10 của Trần Phú thì Chính Cương khác biệt hoàn toàn về phương hướng chính trị khi Luận Cương đặt hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến song song với nhau, chưa nhận thức và đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu
Chính Cương còn xem con đường đi tới chủ nghĩa xã hội là con đường nền tảng lâu dài, điều này tương đồng với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc Đồng thời quan điểm này bác bỏ quan điểm cách mạng liên tục lên chủ nghĩa xã hội trong Luận cương tháng 10 của Trần Phú khi chỉ xem làm “tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”
Chính Cương chia con đường cách mạng Việt Nam thành nhiều giai đoạn11: trước hết là cách mạng giải phóng dân tộc nhằm làm cho nước nhà thực sự độc lập
và thống nhất; thực hành cách mạng ruộng đất và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, xem hai nhiệm vụ này có mối quan hệ chặt chẽ; đặt vấn đề xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội (thay cho Luận Cương tháng 10 của Trần Phú chỉ xem đây là thời gian dự bị để chuyển tiếp ngay lập tức lên CNXH), đảm bảo cho sự nhận thức của Đảng về con đường từng bước để đi lên chủ nghĩa xã hội Trong đó con đường cách mạng này phải trãi qua từng bước từng bước, không phải là con đường cách mạng liên tục không ngừng như Luận cương chính trị đề cập Điều trên đây cũng cho thấy các nhiệm vụ cách mạng mang tính phù hợp với giai đoạn phát triển cách mạng
Chính Cương còn hoàn thiện trong viện nhận định tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam Trong chương II12: Xã hội Việt Nam và cách mạng Việt
11 Văn kiện Đại hội Đảng, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam, ngày 19-4-2018
12 Văn kiện Đại hội Đảng, Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, báo điện tử đảng cộng sản Việt Nam, ngày 19-4-2018