Theo tài liệu Lịch sử quận Ba Đình, tháng 7/1945, bác sĩ Trần Văn Lai Thị trưởng Hà Nội với tinh thần dân tộc đã đổi tên Vườn hoa Puginier trước Phủ Toàn quyền thành Vườn hoa Ba Đình, th
Trang 1To our presentation!!
Trang 2Nguyễn Thị Lan Anh
NGUỒN GỐC TÊN GỌI CỦA 30 QUẬN HUYỆN HÀ
NỘI!!
NGUỒN GỐC TÊN GỌI CỦA 30 QUẬN HUYỆN HÀ
NỘI!!
Trang 3Bạn có biết
nguồn gốc nơi
bạn ở?
Bạn đang sống ở đâu?
Trang 4Theo tài liệu Lịch sử quận Ba Đình, tháng 7/1945,
bác sĩ Trần Văn Lai (Thị trưởng Hà Nội) với tinh thần dân tộc đã đổi tên Vườn hoa Puginier trước Phủ Toàn quyền thành Vườn hoa Ba Đình, theo tên cuộc khởi nghĩa Ba Đình chống Pháp cuối thế kỷ 19
ở huyện Nga Sơn, Thanh Hóa Vườn hoa Ba Đình
về sau gọi là Quảng trường Ba Đình Tháng
10/1954, tên Ba Đình được đặt cho một trong 8 khu nội thành Hà Nội, sau chuyển thành khu phố, rồi lên quận Ba Đình như ngày nay
Tên gọi Ba Đình xuất phát từ chiến khu Ba Đình
của cuộc khởi nghĩa Ba Đình diễn ra từ năm
1886 - 1887 hưởng ứng phong trào Cần Vương
cuối thế kỷ XIX của các nhà cách mạng yêu nước
là Phạm Bành, Đinh Công Tráng và nhân dân
huyện Nga Sơn, Thanh Hóa.
1 BA ĐÌNH
Đặt theo tên một cuộc khởi nghĩa chống
Pháp cuối thế kỷ 19
Trang 52 QUẬN HOÀN KIẾM
Lê Lợi trả gươm cho rùa thần
Hồ Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm quận
Hoàn Kiếm, còn gọi là hồ Gươm, hay tên xưa là hồ Lục Thủy, hồ Thủy Quân, hồ Tả Vọng Theo tư liệu của Cục Di sản văn hóa, tên hồ Hoàn Kiếm gắn với truyền thuyết Lê Lợi trả gươm cho rùa thần, sau cuộc kháng chiến trường kỳ chống quân Minh giành thắng lợi Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2013
Trang 6Quận Tây Hồ ở Hà Nội có hồ Tây Theo Cổng TTĐT Hà Nội, từ xưa hồ đã là danh thắng nổi tiếng của đất Thăng Long, từng
có nhiều tên gọi qua các thời kỳ, như đầm Xác Cáo (với sự tích hồ ly tinh 9 đuôi), hồ Kim Ngưu (với sự tích Trâu Vàng), hồ Lãng Bạc (tức hồ đầy sóng vỗ), hồ Dâm Đàm (tức hồ mù sương) Tới năm 1573, khi vua Lê Thế Tông (Duy Đàm) lên ngôi, để tránh phạm húy nên đổi gọi là Tây Hồ
3 QUẬN TÂY HỒ
Trang 74 QUẬN ĐỐNG ĐA
Quận Đống Đa ở Hà Nội có di tích lịch sử Gò
Đống Đa, gắn với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống
Đa mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) Vì sao gọi là
Gò Đống Đa?
Gò đống có nhiều cây đa
Quận Đống Đa ở Hà Nội có di tích lịch sử Gò Đống
Đa, được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt vào năm
2018 Theo tư liệu của Cục Di sản văn hóa, di tích Gò Đống Đa nguyên xưa thuộc xứ Đống Đa, có các gò đống cây cối mọc um tùm, nhiều nhất là cây đa, nên người dân thường gọi là Gò Đống Đa Nơi đây gắn với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa năm 1789 của Hoàng
đế Quang Trung - Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh
Trang 8Cái tên của huyện này nghĩa là "rồng giao nhau", được truyền thuyết cho là vì một con rồng đã
xuất hiện trên mặt sông ngay khi thành phố này được thành lập
Có ý cho rằng, vào khoảng thế kỉ thứ 6, nó được biết đến qua cái tên Long Uyên ( 龍淵 ) Tuy
nhiên, các mục địa lý trong các sách cổ Hậu Hán thư, Tống thư không có chi tiết này, mà tên gọi
Long Biên vẫn tồn tại ngay từ thời Hán Năm 621, Long Biên được đổi thành Long Châu ( 龍州 ),
gồm hai huyện Bình Lạc, Vũ Ninh Năm 627, đổi về Long Biên như cũ
5 QUẬN LONG BIÊN
Trang 96 QUẬN CẦU GIẤY
Cầu Giấy là cây cầu bắc qua sông Tô Lịch tại nơi nay là đường Cầu Giấy, quận Cầu Giấy, Hà Nội Khoảng thế kỉ 17, cầu có tên là cầu Sông Tô
Đến thời nhà Nguyễn, cầu đã có tên Cầu Giấy Đại Nam nhất thống chí triều Nguyễn ghi: Cầu Giấy dài ba trượng, trên cầu có nhà lợp ngói ở huyện Từ Liêm Gọi tên là "Giấy" vì cầu nằm tại làng
Thượng Yên Quyết, vốn là làng có nghề làm giấy cổ truyền từ thế kỷ 13, trước cả vùng giấy Bưởi Ngõ vào làng xưa có tên gọi "Chỉ Tác", có nghĩa là "làm giấy"
Ngày nay, cầu Giấy làm bằng bê tông và là một đoạn của đường Cầu Giấy
Trang 10có đền thờ Hai Bà Trưng còn gọi là đền Đồng Nhân.
Trang 118 Q
uận Ho àng M
ai
Quận Hoàng Mai ở Hà Nội ngày
nay gắn với vùng đất Cổ Mai
xưa Cổ Mai là tên chữ , còn có
tên Nôm là kẻ Mơ “Mai” trong
tiếng Hán có nghĩa là quả mơ,
dùng làm rượu mơ, ô mai, hoặc
ăn tươi Người dân nơi đây do
canh tác lâu năm phân ra các
giống mai vàng ,mai trắng , mai
hồng ,từ đó có các địa danh làng
xóm như Hoàng Mai, Bạch Mai,
Hồng Mai
Trang 129 Quận Thanh Xuân
Thế kỷ XII, tại huyện Thanh Oai
có chùa Thanh Xuân (tức chùa Phùng Khoang,thuộc phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm ngày nay ).Thời Pháp thuộc , ven đường Thiên Lý đi vào nội thành Hà Nội, trước cửa chùa Thanh Xuân xuất hiện một dãy phố nên gọi là phố Thanh Xuân,
có bến xe điện Thanh Xuân
Trang 1411 Huyện Đông Anh
Huyện Đông Anh trước khi là một phần huyện Kim Hoa (gồm Mê Linh,Đông Anh, Sóc Sơn của Hà Nội, thị xã Phúc Yên của Vĩnh Phúc Ngày 10 tháng 4 năm 1903, huyện Đông Khê lại được chia tách thành
2 huyện là Kim Anh và Đông Khê, sau hợp lại thành Đông Anh
I’m superman!!
Trang 1512 Huyện Gia Lâm
Tên Gia Lâm có từ thời Lý, xưa gọi quận Gia Lâm là vùng đất rộng gồm toàn bộ Bắc Ninh, sau tên đó dùng để gọi phần đất thu lại còn một huyện Tức là phía nam Kinh Bắc giáp sông Hồng , bên dưới là huyện Văn Giang.
Trang 1613 Nam Từ Liêm 14 Bắc Từ Liêm
Năm 2013, Chính phủ ra Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính huyện
Từ Liêm để thành lập 2 quận Bắc Từ Liêm , Nam Từ Liêm thuộc Hà Nội Do huyện Từ Liêm cũ có địa hình khá dài theo hướng Bắc -Nam , nên 2 quận mới thành lập cũng phù hợp theo
2 khối hình thể địa lí có sẵn Địa danh
“Từ Liêm” có từ lâu đời trong lịch sử hình thành và phát triển Thăng Long -
Hà Nội , có thể hiểu “Từ” nghĩa là người trên thương yêu người dưới hay tình thương chung , còn “Liêm” nghĩa
là trong sạch , ngay thẳng , không tham của người khác , gửi gắm niềm tin , ước vọng , lẽ sống tốt đẹp
Trang 1715 Huyện Thanh Trì
Theo dấu lịch sử, từ xa xưa, vùng đất này có
tên là Long Đàm (đầm Rồng) Thế kỷ X, sứ
quân Nguyễn Siêu chiếm đóng Tây Phù Liệt,
khai khẩn đất hoang tạo nên một thế lực quân
sự mạnh và phát triển thành một trong 12 sứ
quân Đến thời thuộc Minh, không muốn dân
chúng nhớ lại tên Thăng Long, chính quyền
phong kiến phương Bắc đã đổi tên kinh đô nước
Việt thành Đông Quan và Long Đàm cũng bị
đổi theo thành Thanh Đàm (đầm nước trong)
thuộc châu Phúc Yên Sang thời Lê Thế Tông
(1573 - 1591), để kiêng húy tên vua, vùng đất
này được đổi tên lần nữa thành Thanh Trì và tên
gọi này được sử dụng đến tận ngày nay
Trang 1816 Huyện Mê Linh
Mê Linh là vùng đất cổ thuộc trấn Sơn Tây Xưa gọi là Mi Ling, mang biểu tượng (Symbcle) của bộ lạc Chim Thủ lĩnh Của
bộ lạc Chim là các vua Hùng, thường gọi là Klen, Ở vùng chân núi, giữa Tản Viên và Tam Đảo Bộ lạc làm nghề nông, gắn với sông nước, vào thời đại Đồng thau
Trang 1917 Quận Hà Đông
Có nhiều câu chuyện về tên gọi của quận này
Câu chuyện 1: Thực hiện ý đồ biến
toàn cõi Đông Dương thành thuộc địa,
Quốc hội Pháp quyết định lấy thành
phố nhượng địa Hà Nội làm Thủ đô của
Liên bang Đông Dương, do vậy không
thể có tên một tỉnh trùng với tên thủ đô
Vì lẽ đó, ngày 3-5-1902, Toàn quyền
Đông Dương Paul Doumer đã ra nghị
định đổi tỉnh Hà Nội thành tỉnh Cầu
Đơ Nhưng Cầu Đơ là tên nôm của một
làng, lại dùng để đặt cho một tỉnh lớn
nằm ngay sát Thủ đô của Liên bang
Đông Dương khiến cho nhiều ý kiến đề
nghị nên đổi sang tên khác Sau khi
Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer
bị gọi về Pháp và J.Paul Beau sang
thay, có vẻ như cái tên Cầu Đơ cũng
không được Toàn quyền mới ưa thích
nên ngày 6-12-1904 đã ra nghị định đổi
tên Cầu Đơ thành Hà Đông.
Câu chuyện 2 :Xuất xứ cái tên Hà Đông là do
Thám hoa Vũ Phạm Hàm, khi đó đang giữ chức Đốc học tỉnh Cầu Đơ, đề xuất và được chấp thuận Người hay chữ suy đoán, tên Hà Đông có thể xuất xứ từ câu của Mạnh Tử nói về 2 địa danh
ở Trung Quốc xưa: “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư
Hà Đông, chuyển kỳ túc ư Hà Nội” (nghĩa là Hà Nội bị tai họa thì đưa dân về Hà Đông, chuyển
thóc từ Hà Đông ra Hà Nội)
Trang 2018 Thị xã Sơn Tây
Theo thư tịch cổ thì tên Sơn Tây xuất hiện lần đầu
tiên vào năm 1469 Đến thời Lê Cảnh Hưng do bị
ngập lụt, nước làm lở thành, trấn sở được dời về xã
Mông Phụ, huyện Phúc Lộc, phủ Quảng Oai (nay
thuộc xã Đường Lâm)
Theo Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu
thì: "Năm Minh Mệnh thứ 12 (1832), chia hạt gọi
là tỉnh Sơn Tây (Đặt chức Sơn Hưng Tuyên Tổng
đốc, cai trị các hạt Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên
Quang; tỉnh lỵ trước ở xã Cam Giá (làng Mía) huyện
Phúc Thọ, năm Minh Mệnh thứ 3 dời đến xã Thuần
Nghệ, huyện Minh Nghĩa (nay tức năm 1890) là
huyện Tòng Thiện)).
Trang 2119 Ba Vì Huyện Ba Vì được thành lập ngày 26 tháng 7 năm 1968 trên cơ sở hợp nhất các huyện cũ Bất Bạt, Tùng Thiện và Quảng Oai
của tỉnh Hà Tây, khi mới thành lập, huyện gồm 43 xã.
Ngày 16 tháng 10 năm 1972, chuyển xã Trung Hưng về thị xã Sơn Tây quản lý.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, huyện Ba Vì thuộc tỉnh Hà Sơn Bình.
Ngày 18 tháng 12 năm 1976, hợp nhất 2 xã Vân Sơn và Hòa Thuận thành xã Vân Hòa.
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Ba Vì thuộc thành phố Hà Nội Ngày 2 tháng 6 năm 1982, chuyển 7 xã: Cổ Đông, Đường Lâm, Kim Sơn, Sơn Đông, Thanh Mỹ, Trung Sơn Trầm, Xuân Sơn về thị xã Sơn Tây quản lý và chuyển 2 xã: Tích Giang, Trạch Mỹ Lộc về huyện Phúc Thọ quản lý.
Ngày 3 tháng 3 năm 1987, thành lập thị trấn Quảng Oai (tách
Trang 2220 Phúc Thọ
Tên cũ xưa kia là Phúc Lộc Tên huyện Phúc Thọ có từ năm 1822,
thuộc trấn Sơn Tây Sau năm 1945, Phúc Thọ thuộc tỉnh Sơn Tây
Ngày 21 tháng 4 năm 1965, khi Sơn Tây sáp nhập với Hà Đông thành
Hà Tây, Phúc Thọ thuộc tỉnh Hà Tây.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, Phúc Thọ thuộc tỉnh Hà Sơn Bình,
gồm 17 xã
Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Phúc Thọ được nhập về Hà Nội.
Ngày 17 tháng 2 năm 1979, sáp nhập thêm 3 xã của huyện Quốc
Oai là Tam Hiệp, Hiệp Thuận, Liên Hiệp Huyện Phúc Thọ có 20 xã
Ngày 2 tháng 6 năm 1982, chuyển 2 xã Tích Giang, Trạch Mỹ Lộc
của huyện Ba Vì về huyện Phúc Thọ quản li ,huyện Phúc Thọ tổng có
có 22 xã là: Cẩm Đình, Hát Môn, Hiệp Thuận, Liên Hiệp, Long
Xuyên, Ngọc Tảo, Phúc Hòa, Phụng Thượng, Phương Độ, Sen Chiểu,
Tam Hiệp, Tam Thuấn, Thanh Đa, Thọ Lộc, Thượng Cốc, Tích
Giang, Trạch Mỹ Lộc, Vân Hà, Vân Nam, Vân Phúc, Võng Xuyên,
Xuân Phú.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Hà Tây được tái lập, huyện Phúc
Thọ chuyển về trực thuộc tỉnh Hà Tây
Ngày 1 tháng 8 năm 2008, tỉnh Hà Tây sáp nhập vào thành phố Hà
Nội, huyện Phúc Thọ lại trực thuộc thành phố Hà Nội cho đến nay.
Trang 2321 Đan Phượng
Huyện được đặt từ thời Trần, trước đây là xứ Đoài, đến thời Minh chiếm đóng thì huyện tên là Đan Sơn thuộc châu Từ Liêm, phủ Giao Châu Sang thời Hậu Lê huyện lệ
về phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây Năm 1831, vua Minh Mạng điều chỉnh địa giới hành chính và thành lập các tỉnh mới Huyện đựợc tách ra thành huyện riêng vào năm 1832 vẫn thuộc phủ Quốc Oai Năm 1888, sau khi vua Đồng Khánh cắt Hà Nội cho Pháp Huyện Đan Phựợng được nhập về phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
Sau cách mạng tháng Tám (1945), cấp phủ bị bãi bỏ, nên
từ tháng 8 năm 1945 đến tháng 3 năm 1947 sáp nhập một
số xã, tổng thuộc huyện Từ Liêm thành huyện Đan
Phượng thuộc tỉnh Hà Đông.
Ngày 1 tháng 8 năm 2008, giải thể tỉnh Hà Tây cũ, huyện Đan Phượng thuộc thành phố Hà Nội theo Nghị quyết 15- NQ/QH ngày 29 tháng 5 năm 2008.
Trang 2422 Hoài Đức
Tên gọi Hoài Đức có từ năm 622 đời Đường, niên hiệu Vũ Đức do huyện Tống Bình tách ra làm 2 huyện Giao Chỉ và Hoài Đức.
Năm 621 đổi Tống Bình thành Tống Châu, tách đặt 2 huyện Hoằng Giáo và Nam Định Nghĩa là Tống Châu gồm
2 huyện Hoằng Giáo và Nam Định Thành lập Từ Châu gồm
3 huyện Từ Liêm (có sông Tô Lịch), Ô Diên (chỗ sông Hồng tiếp sang sông Đuống, nay là Phùng, Đan Phượng) và Vũ Lập.
Năm 622 tách Tống Châu đặt thêm huyện Giao Chỉ và huyện Hoài Đức Nghĩa là Tống Châu gồm 4 huyện Hoằng Giáo, Hoài Đức, Nam Định, Giao Chỉ Năm 623 đổi Tống Châu thành châu Nam Tống.
Năm 627, bỏ châu Nam Tống, lấy 3 huyện Hoằng Giáo, Hoài Đức và Giao Chỉ kia để lập lại huyện Tống Bình (nay khoảng Hoài Đức, Từ Liêm) Dời huyện Giao Chỉ đến Nam
Từ Châu rồi đổi tên nó thành huyện Giao Chỉ mới (khoảng Đan Phượng, Phúc Thọ) trên đường sang Phong Châu (Thạch Thất, Sơn Tây).
Trang 2523 Quốc Oai
Quốc Oai trước đây là trấn, lộ Năm 1397,
Hồ Quý Ly đổi là phủ Quảng Oai Thời Hậu
Lê là phủ Quốc Oai, ở phía Đông trấn Sơn
Tây gồm 6 huyện: Từ Liêm, Phúc Lộc, Yên
Sơn, Thạch Thất, Đan Phượng, Mỹ Lương.
Năm 1888, sau khi tách huyện Đan Phượng
về phủ Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Đông mới lập, phủ Quốc Oai chuyển thành huyện Quốc Oai thuộc tỉnh Sơn Tây.
Trang 26Huyện Thạch Thất có lịch sử dân cư và tổ chức hành chính từ rất sớm Trải qua hàng ngàn năm, cùng với sự biến đổi về địa giới hành chính, tên gọi của huyện cũng thay đổi nhiều lần Nhiều học giả có những đánh giá khác nhau; đến năm Vĩnh Lạc thứ 2 (1404) tên huyện gọi là Thạch Thất.
Trang 27Năm 1880 , vua Tự Đức cho thành lập đạo Mỹ Đức, địa bàn gồm huyện Mỹ Lương thuộc phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây và hai huyện Chương Đức, Hoài An thuộc phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Nội Đến năm
Đồng Khánh thứ 3 ( 1888 ), đạo Mỹ Đức giải thể và đổi thành phủ Mỹ Đức thuộc tỉnh Hà Nội Đồng thời, 4 tổng: Tuy Lai, Quảng Xá, Bột Xuyên, Vân Nội thuộc huyện Chương Đức và 4 tổng: Thái Bình, Phù Lưu Thượng, Phù Lưu Tế, Trinh Tiết thuộc huyện Hoài An hợp thành huyện Yên Đức, còn 3 tổng: Bài Trượng, Văn La, Quảng Bị thuộc huyện Chương Đức và 6 tổng: Lương Xá, Chúc Sơn, Cao Bộ, Dã Cát, Phương Hạnh và Yên Kiện thuộc huyện Mỹ Lương hợp thành huyện Chương Mỹ [1]
Năm 1890 , Toàn quyền Đông Dương lại tách hai huyện Chương Mỹ
và Yên Đức của tỉnh Hà Nội, phủ Lương Sơn và huyện Lạc Thủy
thuộc tỉnh Chợ Bờ (Hòa Bình) để tái lập đạo Mỹ Đức Tuy nhiên, một năm sau, Toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định giải thể đạo Mỹ Đức, địa bàn nhập vào hai tỉnh Hà Nội và Hòa Bình như cũ.
Từ năm 1904, huyện Chương Mỹ và phủ Mỹ Đức thuộc tỉnh
Hà Đông Ngày 1 tháng 8 năm 2008 , tỉnh Hà Tây giải thể để sáp nhập vào Hà Nội, huyện Chương Mỹ thuộc thành phố Hà Nội, bao gồm 2 thị trấn
và 30 xã như hiện nay
Trang 2826 Huyện Thanh Oai
Từ thời đại Hùng Vương, Thanh Oai đã là trung tâm của nhà nước
Văn Lang [cần dẫn nguồn]
Vào triều vua Lý Cao Tông (1176- 1210), năm 1207 địa hương Thanh Oai đổi là huyện Thanh Oai.
Như vậy, tính tới năm 2007 , huyện Thanh Oai đã có lịch sử hình thành 800 năm.
Năm 1831 , vua Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội Huyện Thanh Oai lúc
đó thuộc phủ Ứng Hòa của tỉnh Hà Nội Phủ Ứng Hòa lúc đó, gồm
4 huyện là Sơn Minh, Chương Đức, Thanh Oai, Hoài An.
Năm 1888, Pháp lập ra tỉnh Hà Đông và lúc đó huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà Đông.
Thời gian 1949 - 1954 , huyện Thanh Oai thuộc quận Văn Điển, thành phố Hà nội dưới chính quyền Quốc gia Việt Nam
Ngày 4 tháng 1 năm 1955 , Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Nghị định số 436-TTg giải tán quận Văn Điển do
Quốc gia Việt Nam lập ra trong thời gian bị tạm chiếm trả lại cho tỉnh Hà Đông để tổ chức lại hai huyện Thanh Oai và Thanh Trì Ngày 20 tháng 4 năm 1961 , Kỳ họp thứ 2 - Quốc hội khóa II thông qua Nghị quyết phê chuẩn mở rộng thành phố Hà Nội lần thứ nhất Theo đó, sáp nhập phần lớn các xã thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông vào thành phố Hà Nội