1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia

168 373 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vào quy hoạch sử dụng đất ở Campuchia
Tác giả Kao Madilenn
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Đình Mạnh, PGS.TS. Nguyễn Thị Vòng
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận án tiến sỹ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 2,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Campuchia là một nước chậm phát triển với chế độ sở hữu tư nhân về đất đai, quá trình khai thác sử dụng tự do dẫn đến hiện tượng thoái hóa và ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước đan

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I

-***~Ô~*~Ô~*** -

Kao Madilenn

nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vào quy hoạch

sử dụng đất ở campuchia

luận án tiến sỹ nông nghiệp

Hà Nội - 2006

Trang 2

bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là trung thực và ch−a hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tác giả

Kao Madilenn

Trang 4

Lời cảm ơn

Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông nghiệp I, tôi đã

được Ban giám hiệu, các thầy cô giáo ân cần bảo ban, dìu dắt Đó là thời gian quý giá nhất trong quá trình học tập của tôi

Với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đình Mạnh và PGS.TS Nguyễn Thị Vòng đã trực tiếp hướng dẫn chỉ đạo tận tình giúp tôi hoàn thành tốt luận án này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Trường Đại học Nông nghiệp I, Khoa Đất và Môi trường, đặc biệt là Bộ môn Khoa học đất, Bộ môn Vi sinh vật, Bộ môn Công nghệ Môi trường

Tôi cũng bày tỏ lời cảm ơn tới Bộ Quy hoạch đất và Xây dựng Campuchia,

Bộ Môi trường Campuchia, UBND huyện Suom Ruong Tuong và huyện Ro Ka Thom

Kao Madilenn

Trang 5

mục lục

TrangTrang phụ bìa

chương 1: Tổng quan tài liệu

1.1.2 Báo động về ô nhiễm môi trường và cân bằng sinh thái toàn cầu 6

1.3 Một số yếu tố môi trường sinh thái cần được kiểm soát trong quy

1.3.1 Tác động của đô thị hoá đến việc sử dụng đất khu dân cư và đô thị 18 1.3.2 ảnh hưởng yếu tố môi trường khi quy hoạch ngành giao thông 19 1.3.3 ảnh hưởng của quy hoạch đất khu công nghiệp không phù

Trang 6

1.3.4 Tầm quan trọng của rừng và yếu tố che phủ khi quy hoạch

1.3.5 Vấn đề sản xuất nông nghiệp khu nông thôn tác động đến

1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Campuchia 28

1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Biển hồ 36

1.6.1 Tình hình quản lý và sử dụng đất ở Campuchia 39 1.6.2 Công tác quy hoạch sử dụng đất ở Campuchia 40

1.7 Những yếu tố môi trường sinh thái quan trọng của quy hoạch

chương 2: nội dung, phương pháp và địa bàn nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu môi trường 45

2.2.5 Một số phương pháp sử dụng khi lập quy hoạch sử dụng đất 47 2.2.6 Xử lý số liệu theo phần mềm Epi Infor và SPSS 10.0 48

chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1 Những yếu tố môi trường sinh thái cần thiết để đảm bảo phát

Trang 7

3.1.2 Đối với đường giao thông 50

3.1.6 Vấn đề người dân không có đất tại Campuchia 52

3.1.8 Vấn đề bảo vệ vùng sinh thái nhạy cảm, khu vực bảo tồn 55

3.2.2 Lựa chọn và xây dựng các bài toán áp dụng cho yếu tố môi trường 61

3.3 Kết quả áp dụng yếu tố môi trường sinh thái vào quy hoạch sử dụng đất ở Campuchia 78

3.3.1 Kết quả thực hiện tại huyện Som Ruong Tuong 82

3.4 Một số đề xuất, đóng góp cho quy hoạch sử dụng đất huyện

3.5 Đánh giá chung yếu tố môi trường sinh thái đối với quy hoạch

Kết luận và đề nghị

danh mục các công trình đ∙ công bố có liên quan đến luận án 108

Trang 8

danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t vµ ký hiÖu

Trang 9

danh mục các bảng biểu

1.1 Chi phí khắc phục ô nhiễm môi trường của một số nước

1.2 Gia tăng dân số theo khu vực từ năm 1990 - 2050 10

1.4 Phân bố tỉnh thành theo từng vùng đất ở CPC 28 1.5 Chất thải rắn và sinh hoạt của một số tỉnh, thành phố 32

1.7 Thống kê tỷ lệ diện tích đất rừng đã mất trong toàn quốc 34 1.8 Tổng sản lượng cá nước ngọt ở CPC năm 1982 - 1995 35 1.9 Tổng sản lượng cá nước ngọt ở CPC từ năm 1940-1994 36

Trang 10

3.1 Quy trình Xây dựng phần mềm tính khoảng cách QH tránh ô

3.2 Khoảng cách an toàn bảo vệ MT khi nhà máy xả khói độc 77

Trang 11

1.6 Biển nghiêm cấm chặt phá rừng ngập nước xung

1.7 Biển báo cấm SD thuốc bảo vệ thực vật quá mức trong

vùng bảo tồn rừng ngập nước xung quanh Biển Hồ 36 1.8 Cảnh chim nghiên cứu và nhân giống để thả vào tự nhiên 37

1.10 Hậu quả của việc khai thác đá quý các tỉnh phía Tây Bắc CPC 38

1.13 Xương người dân bị Khơme Đỏ giết từ năm 1975 - 1979 39

3.2 Củi đưa vào thành phố theo đường thủy 50

3.8 Phá mìn trong đất 54

3.11, 3.12, 3.13 Củi được sử dụng vào mục đích đun nấu 94

3.14, 3.15, 3.16 Người dân chặt và tìm kiếm củi 94

3.17, 3.18, 3.19 Ba loại củi bán trên địa bàn huyện Ro Ka Thom 95

3.21 Giới thiệu về yếu tố MT trong huyện Som Ruong Tuong 101

3.22 Hội thảo đề xuất khoảng cách QH tránh ô nhiễm

3.23 Hội thảo đề xuất những yếu tố MTST với các cán bộ

Trang 12

danh mục các bản đồ

1 Bản đồ hành chính tỉnh Kom Pong Spư 80

2 Bản đồ HTSD đất huyện Som Roung Tuong tỉnh Kom Pong Spư 81

3 Bản đồ HTSD đất rừng và đất mặt nước huyện Ro Ka Thom tỉnh

4 Bản đồ HTSD đất ở và đường giao thông huyện Ro Ka Thom tỉnh

5 Bản đồ HTSD đất huyện Ro Ka Thom tỉnh Kom Pong Spư 92

6 Bản đồ tính toán yếu tố môi trường, đề xuất phương án QHSD đất

Trang 13

mở đầu

1 Đặt vấn đề

Sử dụng đất một cách khoa học, hợp lý để đảm bảo sự bền vững đã và

đang là một vấn đề thời sự đối với thế giới hiện đại Quy hoạch sử dụng đất

đóng vai trò quan trọng trong vấn đề này

Campuchia là một nước chậm phát triển với chế độ sở hữu tư nhân về

đất đai, quá trình khai thác sử dụng tự do dẫn đến hiện tượng thoái hóa và ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước đang ngày một gia tăng ở những khu dân cư đô thị và khu công nghiệp phát triển… do việc sử dụng đất không hợp

lý và thiếu khoa học Công tác quản lý đất đai ở Campuchia là một vấn đề cần thiết và bức xúc cả về mặt quản lý pháp luật, diện tích và quản lý chất lượng môi trường sinh thái

Công tác quy hoạch, quản lý đất trong thời gian qua còn có rất nhiều hạn chế, nhất là về vấn đề dự đoán, dự báo các biến động với môi trường sinh thái Chẳng hạn, khí hậu biến động mạnh khi xây dựng khu công nghiệp, lượng bụi hoặc sự toả nhiệt của đường giao thông tăng lên, ảnh hưởng như thế nào đến đất, nước, khí quyển và cuộc sống của con người trong vùng quy hoạch Do đó, việc hoạch định chiến lược sử dụng đất trong một giai đoạn dài và quá trình quản lý các hoạt động đó cần làm tốt hơn

Công tác quy hoạch sử dụng đất là một lĩnh vực mà nhà nước Campuchia bắt đầu quan tâm, việc sử dụng đất cần có hiệu quả cao mà vẫn đảm bảo về môi trường và cân bằng sinh thái Xuất phát từ các vấn đề nêu trên, bước đầu nghiên cứu nội dung và phương pháp quy hoạch sử dụng đất cho Campuchia được thể hiện trong luận văn thạc sỹ của tác giả Tuy nhiên, các kết quả mới chỉ đề cập

trên quan điểm chung Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu đưa một số yếu tố

môi trường sinh thái vào quy hoạch sử dụng đất ở Campuchia” được tiếp

tục triển khai

Trang 14

2 Mục đích và yêu cầu

- Xác định được quy mô, tỷ lệ rừng, mặt nước, khoảng cách quy hoạch

đường giao thông, diện tích đất bãi thải để bảo đảm phát triển bền vững ở khu vực nghiên cứu, giảm thiểu sự thay đổi yếu tố môi trường sinh thái của vùng

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Sử dụng quy trình thực hiện quy hoạch sử dụng đất của Việt Nam áp dụng vào cấp huyện của Campuchia, đồng thời phải lựa chọn và lồng ghép

được một số yếu tố môi trường sinh thái trong quy hoạch sử dụng đất nhằm bước đầu thử nghiệm để góp phần bảo vệ môi trường sinh thái của Campuchia

Trang 15

4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Lần đầu tiên đưa ra bài toán tính toán cân bằng lượng chất đốt từ gỗ với diện tích rừng cần có Đã xác lập bài toán tính diện tích rừng cần có để bảo

đảm cân bằng CO2 Lựa chọn bài toán và xây dựng phần mềm đơn giản để tính khoảng cách quy hoạch từ đường giao thông đến điểm dân cư

4.2 ý nghĩa thực tiễn

- Đây là lần đầu tiên đưa vấn đề môi trường sinh thái vào quy hoạch sử dụng đất ở Campuchia nhằm góp phần cho sự phát triển bền vững ngay từ khi Campuchia mới thực hiện các quy hoạch sử dụng đất đai

- Thực hiện bước đầu có kết quả việc đưa yếu tố môi trường sinh thái vào công tác quy hoạch sử dụng đất ở cấp huyện của Campuchia Kết quả tuy mới

là bước đầu, song được Bộ Quy hoạch đất và Xây dựng của Campuchia đánh giá tốt và khuyến khích nghiên cứu tiếp

5 Đóng góp mới của luận án

- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về yếu tố môi trường sinh thái cần thiết trong nội dung quy hoạch sử dụng đất ở Campuchia

- Dựa vào điều kiện thực tế, phân tích, đánh giá thực trạng, xác định những ảnh hưởng của môi trường sinh thái đến cuộc sống của người dân do quy hoạch sử dụng đất chưa khoa học

- Trong luận án ứng dụng phần mềm bài toán tổng hợp để tính toán chất thải độc, bụi khí do hoạt động đường giao thông và xác định khoảng cách quy hoạch; xây dựng công thức cân bằng CO2 nhờ thảm thực vật trong vùng quy

Trang 16

hoạch cần đạt; xác định công thức tính diện tích đất khu vực đổ chất thải từ sinh hoạt trong vùng quy hoạch khu dân cư; xác định công thức tính diện tích trồng rừng để phục vụ làm chất đốt trong vùng quy hoạch ở điều kiện Campuchia hiện nay

- Mặc dù, hiện nay ở Campuchia chưa có quy trình thực hiện quy

hoạch sử dụng đất - nhưng tác giả đã vận dụng quy trình của Việt Nam và

đưa thêm chỉ tiêu môi trường sinh thái để thực hiện ở Campuchia tại huyện Ro

Ka Thom Tiếp đó, ứng dụng tính toán quy hoạch, đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất huyện Ro Ka Thom tỉnh Kom Pong Spư có yếu tố môi trường sinh thái và được Bộ Quy hoạch đất và Xây dựng Campuchia bước đầu chấp nhận

Trang 17

Chương 1 Tổng quan tài liệu

1.1 Những nghiên cứu về môi trường sinh thái trên thế giới

1.1.1 Khái niệm về môi trường

Hội đồng Quốc tế các nước nói tiếng Pháp cách đây 25 năm đã định nghĩa khái niệm môi trường (MT) như sau: “Môi trường là tập hợp, ở một thời

điểm đã cho, các nhân tố vật lý, hoá học, sinh học và các nhân tố xã hội có thể

có một hậu quả trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài, đối với các sinh vật sống và các hoạt động của con người”[29]

Luật môi trường của Campuchia (CPC) năm 1999 đã định nghĩa: “Môi trường là hệ thống có sự sống, không có sự sống và những gì con người tạo nên ở xung quanh ta có ảnh hưởng lẫn nhau trong đời sống trực tiếp hay gián tiếp theo chiều hướng tốt hoặc xấu”[104]

Theo Virginia Maclaren thì: “Môi trường có thể định nghĩa một cách rộng hay hẹp Một số nước định nghĩa môi trường chỉ là môi trường thiên nhiên bao gồm không khí, nước, đất, chất hữu cơ, vô cơ và các sinh vật sống

Đa số các nước định nghĩa môi trường bao gồm cả môi trường thiên nhiên và môi trường kinh tế xã hội (việc làm, thu nhập, dân số, hoạt động kinh tế, vận tải, xây dựng nhà cửa, giáo dục và y tế, phong cách sống và sự liên kết cộng

đồng) có chịu ảnh hưởng của những thay đổi trong môi trường thiên nhiên”[dẫn theo 35]

Trong “Luật bảo vệ môi trường” của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2003 định nghĩa “môi trường” ở Điều 1 như sau:

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”[45]

Trang 18

Theo tổ chức UNDP (1999) “Environment: Concept and issues a Focus

on Cambodia” thì “môi trường là những hệ vật thể và phi vật thể ở xung quanh

ta như: gió, đất, nước, cây cối, động vật, sinh vật, sông, biển cả và những gì

mà con người tạo nên: thành phố, trang trại, nhà cửa và các sản phẩm di tích lịch sử khác mà có ảnh hưởng lẫn nhau theo chiều hướng tốt hay xấu”[87]

ở mức độ chi tiết này hay khác, các định nghĩa môi trường đều nêu rõ bản chất “bao quanh” của môi trường và “ảnh hưởng” của nó đối với các sinh vật, do đó một cách ngắn gọn có thể nói như sau:

Môi trường là tất cả những gì ảnh hưởng đến mỗi sinh vật trong đời sống của nó[78]

Theo những định nghĩa trên, việc phân biệt nghĩa rộng hay nghĩa hẹp của

“môi trường” có ý nghĩa nhất định Trong một số nghiên cứu, thí dụ như về hạch toán tài nguyên thiên nhiên và môi trường, hiện tại người ta chỉ nói đến định nghĩa hẹp: không khí, đất, nước (và tương tác giữa chúng) Trong một số trường hợp khác, do mục đích đặt ra người ta chỉ chú ý đến mặt “thiên nhiên” của môi trường; khi đó, “môi trường” được hiểu theo nghĩa hẹp[30] Trong hướng nghiên cứu, chúng tôi đề cập tất cả yếu tố môi trường như môi trường tự nhiên, môi trường kinh tế và môi trường xã hội,

1.1.2 Báo động về ô nhiễm môi trường và cân bằng sinh thái toàn cầu

Trong vài thập kỷ gần đây, sự bùng nổ về nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên tăng như vũ bão Nhu cầu sử dụng (SD) năng lượng tăng lên và nhiều ngành sản xuất mới ra đời, sản xuất công nghiệp phát triển với quy mô vô cùng lớn Những hoạt động đó đã tác động mạnh mẽ đến điều kiện sống và làm việc của con người và các hệ sinh thái không chỉ ở phạm vi nhỏ như một nhà máy, mà cả cộng đồng lớn như một đô thị, một vùng, một quốc gia hay cả thế giới Tài nguyên thiên nhiên bị đe dọa cạn kiệt và bị phá hoại Môi trường thiên nhiên bị biến đổi theo chiều hướng xấu, nhất là từ khi người ta phát hiện

ra các trận mưa axít, hiện tượng suy giảm tầng ôzôn, hiện tượng tăng dần nhiệt

Trang 19

độ của trái đất và tần suất của thiên tai, mưa, bão, lũ lụt ngày càng cao, số người chết vì các bệnh hiểm nghèo do ô nhiễm môi trường gây ra ngày càng lớn v.v Vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại

Theo Phạm Ngọc Đăng (1998): “không thể có được một xã hội, một nền kinh tế phát triển lành mạnh, bền vững, trong một thế giới có quá nhiều sự nghèo đói, suy thoái môi trường và mất cân bằng sinh thái”[13]

Bản tuyên bố của Hội nghị đầu tiên của Liên hợp quốc về môi trường, họp tại Stokholm - Thụy Điển ngày 5/6/1972 đã kêu gọi: “Bảo vệ và cải thiện môi trường là một vấn đề có ảnh hưởng tới phúc lợi của mọi dân tộc và sự phát triển kinh tế trên toàn thế giới, đó là khảo sát khẩn cấp của các dân tộc trên thế giới và là nhiệm vụ của mọi Chính phủ”[dẫn theo 13]

Phát triển KT - XH mà không lồng ghép hữu ích với việc bảo vệ môi trường thì sẽ dẫn đến hậu quả thiệt hại nghiêm trọng đối với môi trường sống của con người và nền KT - XH của quốc gia Nhiều nước phát triển và đang phát triển đã phải trả giá cho sự phá huỷ môi trường và suy giảm tài nguyên thiên nhiên của mình ở một số nước, người ta ước tính chi phí cho chống xói mòn đất, ô nhiễm

đô thị và tắc nghẽn giao thông đô thị đã chiếm hơn 5% thu nhập quốc dân hàng năm Theo tài liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố tại hội thảo quốc tế về

“Tái sử dụng chất thải phục vụ nông nghiệp” ở Washington năm 1996 thì một

số nước đang phát triển ở châu á, do nền sản xuất còn lạc hậu và công tác bảo

vệ môi trường được quan tâm muộn hơn các nước khác, nên hiện nay cần phải chi phí nhiều hơn cho việc khắc phục ô nhiễm môi trường (bảng 1.1)

Đã đến lúc nhận thức được rằng, ảnh hưởng của con người lên hành tinh này đã trở nên rất lớn, dường như mọi hậu quả về môi trường đang đe dọa hầu hết các hệ thống căn bản duy trì đời sống của chúng ta Gần đây, người ta đã quan sát thấy hàng loạt các dấu hiệu lo ngại về môi trường toàn cầu và nó hình như là lời cảnh báo về những điều nghiêm trọng sắp xảy ra

Trang 20

Bảng 1.1 : Chi phí khắc phục ô nhiễm môi trường của một số nước theo tổng thu nhập quốc nội ( Đơn vị tính: tỷ lệ % so với tổng thu nhập quốc nội)

- ấn Độ, Pakixtan, Xri-Lanca,

Niu Ghinê, Fyji, Băngladet

7,20 7,43 5,50 4,70

Nguồn: Ngân hàng Thế giới năm 1996[14]

- Tầng ôzôn bị hủy hoại

Những “lỗ thủng” lớn của tầng ôzôn thường mở ra theo mùa tại vùng Nam Cực, dường như nó càng trở nên rộng hơn sau mỗi năm Bộ y tế Achentina đã khuyên những người dân ở Patagonia vào khoảng từ tháng 9 đến tháng 10 phải ở trong nhà càng nhiều càng tốt ở Queensland (Đông Bắc Ôxtrâylia), hơn 75% số người đến tuổi 65 đều có triệu chứng ung thư da dưới hình thức này hay hình thức khác Luật pháp ở đây đã bắt trẻ em phải đội mũ rộng vành và dùng khăn quàng cổ khi đến trường để bảo vệ, chống lại ảnh hưởng của tia cực tím Hiệp hội Hoàng gia Ôxtrâylia về ngăn ngừa đối xử thô bạo với động vật ở Sydney, đã phải giải quyết khoảng 500 trường hợp ung thư da của loại mèo mỗi năm; một vài năm về trước, hầu như không có tình trạng này Mặc dù, tình trạng mỏng

đi của tầng ôzôn chỉ diễn ra mạnh nhất ở hai cực trái đất, song có lý do để tin rằng lớp bảo vệ này cũng đang mỏng dần đi ở các vĩ tuyến khác của địa cầu Trên khắp thế giới, các loài cóc, nhái đã tồn tại được 200 triệu năm nay đã chết hàng loạt mà chưa ai có thể làm rõ nguyên nhân gây ra cái chết của chúng Theo David Wake (1999), giám đốc Viện bảo tàng động vật có xương sống của trường Đại học California: “Nguyên nhân của hiện tượng này chính là đa dạng sinh học bị phá vỡ và do sự suy thoái môi trường tổng thể gây nên”[21] Một nghiên cứu mới trong phạm vi trường đại học cho thấy, vấn đề này có thể phần nào

do tình trạng phóng xạ tia cực tím gia tăng bởi tầng ôzôn đã trở nên quá mỏng[21]

Trang 21

- Vấn đề biến đổi khí hậu và hậu quả của nó

Trong số các vấn đề về khí tượng, điều đáng được quan tâm là hiện tượng toàn cầu nóng lên Đây có lẽ là điều mà chúng ta còn ít hiểu biết nhất, cũng là vấn đề khó giải quyết nhất và có thể trở thành vấn đề gây xáo trộn nhiều nhất trong số các vấn đề về khí hậu môi trường Dự báo đến cuối thế kỷ 21, nhiệt

độ trung bình trên bề mặt trái đất sẽ tăng thêm 2 đến 6 0C và mực nước biển sẽ dâng cao 0,5 m đến 1,5 m[23]

Theo báo cáo của Diễn đàn Quốc tế về thay đổi khí hậu toàn cầu (IPCC) năm 2000 mức độ nóng lên của bầu khí quyển là gấp đôi so với dự báo của các nhà khoa học 6 năm về trước[11]

Những thay đổi đó sẽ gây ra hàng loạt hậu quả như tăng tần số xuất hiện

và mức độ phá hoại của các cơn bão, những vụ hạn hán kéo dài, những đợt nóng kéo dài hơn và nóng hơn, các mùa mưa lớn hơn

Các giống loài và quần thể sinh vật sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp Con người cũng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp Đồng thời lại phải đối đầu với sự lan tràn trở lại của các bệnh truyền nhiễm Thí dụ, ở Rwanda khi nhiệt độ tăng 1 0C đã làm số trường hợp mắc bệnh sốt rét tăng 33,7%[23] Và từ năm 1985 đến 1991, nhiệt độ trung bình năm ở Hà Nội tăng từ 23,2 0C lên đến 24,2 0C[19]

Mức độ sử dụng năng lượng và tài nguyên tăng sẽ dẫn tới tình trạng ô nhiễm cũng gia tăng Ngày nay chúng ta sử dụng năng lượng nhiều gấp 125 lần

so với thời kỳ tiền sử Chỉ riêng các ngành công nghiệp, hàng năm cũng làm tăng lượng phế thải arsen 3 lần, cađimi 7 lần, thuỷ ngân 10 lần và chì 25 lần[21] Nếu tiếp tục mức phế thải oxitnitơ như hiện nay thì đến năm 2025 nguy cơ ảnh hưởng đến năng suất cây trồng sẽ tăng gấp ba lần[23]

- Sự gia tăng dân số

Theo dự báo của Liên hợp quốc, đến năm 2020 dân số thế giới sẽ tăng khoảng 38%, trong đó khu vực châu á - Thái Bình Dương tăng 36%

Trang 22

Dân số thế giới sẽ tăng thêm 2,2 tỷ người, trong đó phần đóng góp của vùng châu á - Thái Bình Dương là 1,2 tỷ người, chiếm khoảng 55% Bảng 1.2 chỉ ra các số liệu dự báo dân số thế giới trong vòng 50 năm tới[23]

1990 2010 2030 2050

Nguồn: Dự báo của Liên hợp quốc năm 1990[23]

Xu thế tăng dân số ảnh hưởng lớn tới các vấn đề KT - XH và môi trường

Từ 1990 đến 2025, dân số đô thị sẽ tăng gấp đôi và đạt tới 5 tỷ người[23]

Đô thị hoá gắn liền với vấn đề phát triển KT - XH, đặc biệt ở các nước

đang phát triển ở đó sẽ xuất hiện các vấn đề nghiêm trọng về môi trường như tăng mức độ ô nhiễm, điều kiện vệ sinh kém, suy giảm tài nguyên thiên nhiên

và sự huỷ hoại của các hệ sinh thái dễ bị tổn thương

Năm 1990, bề mặt của trái đất ấm hơn cả kể từ năm giữ kỷ lục vào giữa thế

kỷ XIX; sáu trong số bảy năm ấm nhất trong kỷ lục đã xảy ra kể từ năm 1980[21]

Từ 1950 đến 1991, tổng lượng lương thực tiêu thụ trên thế giới tăng 2,5 lần; lượng tiêu thụ theo đầu người tăng thêm 1/3[48] Tài liệu này cũng cho biết, các hệ sinh thái và tài nguyên hầu như đã đạt tới giới hạn khai thác:

- Sản lượng ngũ cốc từ năm 1984 đã giảm chút ít, tính theo đầu người cho

là những nơi hỗ trợ, bảo tồn các tài nguyên dễ bị tổn thương[23]

Trang 23

Nước là nguồn tài nguyên có ý nghĩa sống còn đối với mọi sinh vật, nhưng phải thấy rằng nguồn tài nguyên nước là có hạn Khả năng có được nước dùng tuỳ thuộc vào chu trình thuỷ văn của nó kéo dài từ vài năm đến vài trăm năm[23] Hầu hết các nguồn nước trên trái đất đều không thể dùng trực tiếp được: 97% là nước biển; 2% nằm kẹt trong các núi, sông băng và một tỷ lệ lớn trong số 1% còn lại nằm quá sâu dưới lòng đất không thể dễ dàng khai thác được[52]

Nhu cầu dùng nước của thế giới tăng mỗi năm khoảng 2% đến 3% và cứ sau 21 năm lại tăng gấp đôi Do nhu cầu tăng, do sự phân bố không đồng đều nguồn nước mưa, nước mặt, nước ngầm sẽ gây nên tình trạng thiếu nước nghiêm trọng Trên thế giới có hơn 200 thuỷ vực là tài nguyên chung của 2 quốc gia trở lên và tình trạng khan hiếm nước sẽ tạo tiềm năng về các tranh chấp nguy hiểm Đến năm 2025, sẽ có khoảng 34 quốc gia có lượng nước ngọt

dự trữ xuống dưới mức 1000 m3/người/năm[21]

Trang 24

Nhiều bộ phận dân cư trên thế giới, từ các khu nhà ổ chuột ở Nam Mỹ

đến các vùng phát triển ở Trung Quốc đang sử dụng một lượng nước vượt quá lượng dự trữ nước ngọt mà họ có

Nước có thể là yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng hạn chế đối với số dân và tăng trưởng kinh tế Theo Liên hợp quốc, mỗi ngày có khoảng 40.000 trẻ em chết, trong

số này nhiều em là nạn nhân của các cuộc khủng hoảng về nước[23]

Mỗi năm, trên thế giới có hơn 2,2 triệu người chết vì các loại bệnh tật do nguồn nước bị ô nhiễm và vệ sinh môi trường kém gây ra[10]

Tổ chức Y tế Thế giới năm 1998 cho biết, các nước có thu nhập thấp tỷ suất tử vong trẻ em lớn hơn 70% so với những nước có thu nhập cao[54] Sandra Postel (2001) thuộc Viện quan sát Thế giới (World Watch Institute) đã tóm tắt vấn đề này trong cuốn “ốc đảo cuối cùng - sự đối mặt với tình trạng khan hiếm nước”[23]

Hiện tại nhiều vùng có nhu cầu về nước sinh hoạt mà chưa được đáp ứng Trên thế giới có khoảng 1/3 số người ở các nước đang phát triển (khoảng gần 1,2 tỷ người) không có khả năng tiếp cận với nguồn nước an toàn và đáng tin cậy để sử dụng cho các nhu cầu hàng ngày Thường họ phải nhờ đến các giếng cạn và ao tù vốn dễ bị nhiễm bẩn do chất thải của người và động vật Kết quả

là các bệnh do nước gây ra ước tính chiếm 80% toàn bộ các bệnh tật trên thế giới đang phát triển Phụ nữ và trẻ em ở nhiều nơi phải đi bộ vài kilômét mỗi ngày chỉ để lấy nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt

Do không có nước mưa, 9 trong số 14 quốc gia ở khu vực Trung Đông đã phải đối mặt với các điều kiện hiếm nước và trở thành khu vực hiếm nước nhất thế giới Điều đó khiến các quốc gia này phải dựa vào việc khử muối nước biển và khai thác các tầng nước ngầm xuyên giữa các quốc gia, mặc dù các nguồn nước này không mấy bền vững

Tại Bắc Kinh và các vùng lân cận, mực nước đã và đang rút xuống khoảng 1 đến 2 mét một năm, và một phần ba số giếng của thành phố này đã khô cạn Khoảng 100 thành phố và thị trấn của Trung Quốc, hầu hết nằm ở

Trang 25

các khu vực phía Bắc và các ven biển, trong những năm gần đây đã lâm vào tình trạng thiếu nước Khu vực châu thổ Bắc Trung Quốc này, với số dân khoảng 200 triệu người đã chịu tình trạng thiếu 5% lượng nước so với nhu cầu vào năm 2000 Lượng nước thoát hàng ngày chỉ riêng ở Bắc Kinh đã chiếm tới 66% lượng tiêu dùng nước hiện nay Chính quyền Trung Quốc nhận thức được những nguy cơ và đang cân nhắc thành lập một dự án lớn để đổi dòng các nguồn nước ở sông Dương Tử gần Thượng Hải chảy qua đoạn đường dài 1.190 km đến Bắc Kinh, nhằm đáp ứng nhu cầu nước ngày càng tăng ở đó[21]

Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước tương đối khá nhưng nếu không có kế hoạch sử dụng và giữ gìn nguồn nước vẫn có thể sẽ bị thiếu nước[19] Trước đây, chúng ta đã phải đối đầu với các vấn đề an ninh và kinh tế Giờ đây, các cuộc khủng hoảng sinh thái mà chúng ta chưa hề quan tâm tới có thể đe dọa với mức độ mạnh mẽ không kém một kẻ thù nào

- Tài nguyên đa dạng sinh học

Tài nguyên sinh học hay đa dạng sinh học là tổng hợp tất cả các loại

động vật, thực vật và vi sinh vật sống hoang dại, tự nhiên trong rừng, trong đất

và trong các khu vực nước Sự phát sinh và sự phát triển của chúng trên trái đất

đã đóng góp cho sự tiến hoá của sinh quyển, đồng thời lại là nguồn sống của con người Đến nay, chúng ta chưa biết chính xác trên trái đất có bao nhiêu loài sinh vật Theo “Môi trường và con người”[62], ông Mai Đình Yên cho biết có 1,4 triệu loài bò sát; 4.184 loài ếch nhái; 18.150 loài cá xương; 834 loài cá sụn; 751.000 loài côn trùng; 61.000 loài da gai; 50.000 loài thân mềm; 12.000 loại giun đốt; 12.000 loại giun tròn; 12.000 loại giun dẹt; 9.000 loại ruột khoang; 5.000 loài thân lỗ và 248.428 loài động vật nguyên sinh; thực vật 1 lá mầm có 50.000 loài; 2 lá mầm có 1.750.000 loài; 529 loài hạt trần; 10.000 loài dương xỉ; 16.600 loài rêu; 26.900 loài tảo; 46.963 loài nấm; 4.760 loài vi khuẩn

và 1.000 loài vi rút Rừng nhiệt đới có số loài lớn nhất

Tuy nhiên, đa dạng sinh học đang bị suy giảm do nơi sống của chúng bị xáo lộn, bị thu hẹp, bị ô nhiễm do con người khai thác quá mức và bừa bãi

Trang 26

Chỉ riêng sự chặt phá rừng nhiệt đới mỗi năm đã làm mất đi 17.500 loài Điều này có nghĩa là cứ 7 phút thì có một loài bị tiêu diệt Các nhà cổ sinh học đã tính rằng trong suốt lịch sử tiến hoá trước đây của sinh vật thì cứ khoảng 2 - 10 năm có 2 loài bị tiêu diệt, thế mà chỉ tính từ năm 1600 đến nay đã thống kê có

162 loài chim bị tiêu diệt và 381 loài bị đe dọa tiêu diệt, 100 loài thú bị tiêu diệt

và 255 loài khác bị đe dọa tiêu diệt[62]

Rừng là một hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao nhất ở trên cạn, nhất

là rừng ẩm nhiệt đới Rừng không chỉ cung cấp gỗ xây dựng, củi đun nấu, các nguyên liệu khác dùng trong y học, công nghiệp mà còn là ngôi nhà “khổng lồ” cho các loài động vật hoang dã sinh sống, là “người” tu bổ, làm giàu cho

đất, là “lá phổi xanh” điều hoà khí hậu toàn cầu và khu vực Với môi trường đất nói riêng, nó là tác nhân bảo vệ đất, chống thoái hoá và sa mạc hoá

Đã một thời, rừng chiếm diện tích 60 triệu km2 ở trên lục địa Rừng bị thu hẹp xuống còn 44,05 triệu km2 vào năm 1958 và 37,37 triệu km2 vào năm

1973 và hiện nay còn 29 triệu km2[62]

Báo cáo (tháng 9 - 1991) của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc cho thấy rằng, các rừng nhiệt đới của thế giới đang bị tàn phá với tốc

độ hiện nay nhanh hơn 40% so với 10 năm về trước Năm 1990, xấp xỉ 420.000 ha rừng nhiệt đới bị phát quang, tương đương với diện tích bang Washington Điều đáng suy ngẫm ở đây là cứ trong một giây có hơn 100 m2

rừng bị chặt phá Phần lớn rừng bị phát quang và tàn phá bởi những người nghèo đang có nhu cầu về đất đai và thực phẩm[62]

Sự mất đi của rừng nhiệt đới là nguyên nhân góp phần vào hiện tượng nóng lên

do hiệu ứng nhà kính, làm mất đi khả năng tẩy rửa không khí, đe dọa đời sống hoang dã, tạo ra các vùng bán sa mạc và làm tăng tình trạng lụt lội trên quy mô lớn

Nạn đốt rừng tạo ra khoảng 30% tổng lượng khí thải cacbonic trên toàn thế giới Cùng với lượng mất đi hàng năm của rừng mưa nhiệt đới khoảng từ

Trang 27

125.000 đến 205.000 ha, bằng cách đốt cây ở Braxin đã thải một lượng khí cacbonic vào không khí nhiều không kém gì Mỹ thải vào không khí qua đốt các nhiên liệu hoá thạch[23]

Tác động của con người tới đa dạng sinh học ngày càng tăng Tỷ lệ mất rừng ở vùng nhiệt đới hàng năm vào khoảng 4 đến 9%[23]

Nạn phá rừng ở vùng nhiệt đới thường dẫn đến tình trạng sa mạc hoá, là vấn đề môi trường lâu đời nhất và ít được công khai hoá nhất của nhân loại

Đây là vấn đề nghiêm trọng nhưng chưa được quan tâm

1.2 Một số định nghĩa về phát triển bền vững

Sau Hội nghị Thượng đỉnh tại Rio de Janeiro (Braxin), ngày 3 - 14 tháng 06 năm 1992, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành đặc trưng cơ bản của thời đại và là quốc sách của hầu hết các nước Phát triển KT - XH là con

đường tất yếu đi lên của mỗi nước, nhất là các nước đang phát triển, nhưng cần phải phát triển theo mô hình bền vững, đó là sự phát triển mạnh mẽ, liên tục của nền kinh tế, đồng thời với việc lành mạnh hoá xã hội và bảo vệ MTST

Theo định nghĩa của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển bền vững (WCED), trình bày trong tài liệu “Tương lai chung của chúng ta” năm 1987, thì

“Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi mà trong đó sự khai thác tài nguyên, phương hướng đầu tư, định hướng phát triển kỹ thuật và sự thay đổi về luật pháp đều làm hài hoà và gia tăng khả năng đáp ứng nhu cầu và khát vọng của nhân loại trong cả hiện tại và tương lai” Hay là “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai nhằm đáp ứng các nhu cầu của họ”[27]

Nhóm nhà nghiên cứu của Mỹ (1993) đã cho rằng “Phát triển bền vững đòi hỏi làm ra nhiều hơn, tiêu phí tài nguyên ít hơn, tiêu thụ năng lượng ít hơn, và sinh ra chất thải ít hơn Điều đó đòi hỏi hình thành quá trình sản xuất và thiết bị mới, mở rộng sử dụng vật liệu có khả năng tái chế và phát triển các sản phẩm có khả năng tái sinh Phát triển bền vững đòi hỏi tập trung vào phát triển công nghệ sạch để khống chế ô nhiễm đầu nguồn hơn là xử lý cuối đường ống”[84]

Trang 28

Đặng Vũ Hoạt (1995) đã định nghĩa phát triển bền vững là: “Phát triển để

đáp ứng những nhu cầu của đời nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của đời sau, cải thiện chất lượng của đời sống con người trong phạm vi chịu đựng được của các hệ sinh thái”[19]

Môi trường là tổng thể những điều kiện bên ngoài tác động đến cuộc sống,

sự phát triển và sự tồn tại của một sinh thể (Định nghĩa theo cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ - EPA - Environmental Protection Agency) (1995)[dẫn theo 17]

Viện quốc tế về Môi trường và Phát triển (International Institute for Environmental and Development - IIED) cho rằng, phát triển bền vững gồm 3

hệ thống phụ thuộc lẫn nhau (Sơ đồ 1.2)

Cho đến nay, tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng hầu hết đều công nhận phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa giữa các mục tiêu tăng cường kinh tế với các mục tiêu xã hội và bền vững MTST Phát triển bền vững còn bao hàm cả khía cạnh phát triển trong sự quản lý tốt các xung đột môi trường[27]

QHSD đất bền vững là phương án sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả cao và bền vững về mặt kinh tế, xã hội và tự nhiên có nghĩa là trong vùng QHSD đất phải đặt mục tiêu như sau: Sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, bảo

vệ đất (sử dụng đất không làm đảo lộn cân bằng sinh thái do sử dụng phân bón và

Hệ kinh tế

Hệ xã hội

Hệ

tự nhiên

PTBV

Sơ đồ 1.2: Phát triển bền vững là một quá trình dàn xếp thỏa hiệp

giữa các hệ thống kinh tế, tự nhiên và xã hội (IIED, 1995)

Trang 29

thuốc trừ sâu; làm mất cân bằng dinh dưỡng; làm xói mòn và thoái hóa đất; làm phá hủy cấu trúc đất và các tổ chức sinh học của đất do sử dụng các máy móc nặng; làm mặn hóa, chua phèn do tưới tiêu không hợp lý)[25]

Không những thế, trong vùng quy hoạch phải đáp ứng được những yếu tố sau: ổn định dân số; phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào đô thị; giảm thiểu tác động xấu của môi trường do đô thị hóa; nâng cao học vấn, xóa

mù chữ; bảo vệ đa dạng văn hóa; bình đẳng giới, quan tâm tới nhu cầu và lợi ích giới; tăng cường sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định; sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo; phát triển không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái; bảo vệ đa dạng sinh học; bảo vệ tầng ôzôn; kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính; bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm; giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm (nước, khí, đất, ), cải thiện và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm[27]

Đối với nhiệm vụ QHSD đất bền vững cần kết hợp hài hoà giữa phát triển

đô thị và nông thôn Nhịp độ đô thị hoá tăng lên trong quá trình phát triển là

điều tất yếu song cần có quy hoạch xây dựng mạng lưới đô thị và các khu công nghiệp với các đô thị lớn, vừa và nhỏ, các đô thị vệ tinh, đồng thời phát triển nông thôn bằng cách đa dạng hoá kinh tế nông thôn, cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất, dịch vụ và đời sống ở nông thôn Trong quá trình phát triển, nhất là quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, quá trình đô thị hoá, cần phòng ngừa tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường đất, nước, không khí [4], [5]

1.3 Một số yếu tố môi trường sinh thái cần được kiểm soát trong quy hoạch đất

Đây là một vấn đề hết sức quan trọng nhưng chưa được quan tâm đầy đủ và cụ thể Thông thường, các nước kém phát triển và đang phát triển rất ít chú ý hoặc chỉ nêu lên một cách hình thức Ngay cả các nước phát triển cũng đang đối mặt và chịu nhiều rủi ro vì nó Trong khuôn khổ luận án này và căn cứ tình hình nghiên cứu ở Việt Nam (phụ lục 1) [5], [9], [16], [33], [39], [46], [47], [50], [57] cũng như tình

Trang 30

hình thực tế ở Campuchia, chúng tôi bước đầu nghiên cứu một số yếu tố môi trường sinh thái có ảnh hưởng đến QHSD đất đô thị, khu dân cư, giao thông, khu công nghiệp, quy hoạch đất rừng và đất nông nghiệp

1.3.1 Tác động của đô thị hoá đến việc sử dụng đất khu dân cư và đô thị

Trên thế giới, nếu chỉ tính riêng số thành phố có quy mô dân số trên 5 triệu người vào những năm 1950 là 10 và năm 2000 con số đó là 25 thành phố

ở những đô thị này, do quy hoạch không hợp lý cho đất khu công nghiệp nhất

là khu công nghiệp tập trung và đô thị hoá cao độ đã có tác động lớn đối với môi trường Các chất thải khí, lỏng, rắn, chất độc hại cho môi trường không phải là cục bộ nữa mà là có quy mô rộng lớn Các dòng chảy nước thải gây ra

ô nhiễm môi trường nước mặt, nước ngầm và ô nhiễm đất Các loại bụi hoá chất, silic, vụn thép, muội bám trên lá cây, phủ trên mặt đất, theo đường hô hấp vào phổi người gây hại cho sức khoẻ con người Hậu quả tạo sương mù

đã cướp đi hơn 5.000 sinh mạng trong một tuần lễ ở Luân Đôn năm 1952 là một bằng chứng tác động môi trường của việc quy hoạch tập trung cao độ các cụm công nghiệp[62]

ở những năm 70 của thế kỷ 19, quy hoạch đất khu dân cư của Mỹ đã gặp rủi ro khi xây dựng nhiều khu nhà ở tại ngoại ô New York với hiện tượng ô nhiễm CH4 và SO2 từ vùng đất trước đó căn cứ quân đội sử dụng Hiện tượng tương tự trên cũng thấy ở Bỉ, Thụy Sỹ, Nam Phi [66]

Theo Bộ Xây dựng Việt Nam (1999) “Hội nghị công bố và triển khai

định hướng QH tổng thể phát triển đô thị và định hướng phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020” cho thấy rằng nỗi lo của nhà quy hoạch ở Việt Nam đối với tình trạng tuỳ tiện chuyển đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa sang

đất đô thị đang diễn ra tràn lan và nghiêm trọng Cũng theo báo cáo đó những năm gần đây, bình quân đất cho nhu cầu nhà ở mỗi năm khoảng 15.000 ha, hầu hết lấy vào đất nông nghiệp[6]

Đất đô thị ở Việt Nam năm 1997 cả nước là khoảng 63.000 ha, đến năm

Trang 31

2000 diện tích đất đô thị lên tới 114.000 ha, đến năm 2010 diện tích đất đô thị

là khoảng 243.200 ha và dự báo đến năm 2020 vào khoảng 460.000 ha, gấp 7 lần đất đô thị năm 1997[14] Vì vậy, phát triển đô thị sẽ ảnh hưởng đến vấn đề

an ninh lương thực quốc gia nói chung và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân ngoại thành do mất đất nếu không có một chính sách phù hợp

Theo Phạm Ngọc Đăng (1995) “Hiện nay, ở Việt Nam chưa có đô thị nào bảo đảm được tiêu chuẩn tiện nghi của một đô thị hiện đại; quá trình đô thị hoá không được kiểm soát chặt chẽ trên từng vùng lãnh thổ và cả nước; nạn phá cây xanh, san lấp ao hồ, khai thác tài nguyên thiên nhiên không hợp lý và sự gia tăng lượng các chất thải lỏng, khí và rắn v.v xả vào môi trường sống đang dẫn đến tình trạng phá vỡ cân bằng sinh thái đô thị làm đảo lộn quy luật tự nhiên, có tác hại trực tiếp đến cuộc sống con người và sự phát triển bền vững của đô thị”[14] Chính vì vậy, nếu không có QHSD đất hợp lý khu dân cư và đô thị sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tài nguyên và môi trường sống của con người trong vùng

1.3.2 ảnh hưởng yếu tố môi trường khi quy hoạch ngành giao thông

Đô thị hoá, công nghiệp hoá sẽ làm bùng nổ phát triển giao thông bằng phương tiện cơ giới Vào thời gian đại chiến thế giới lần thứ hai, tổng lượng xe cơ giới chạy trên đường giao thông của toàn thế giới ước khoảng 40 triệu xe, đến năm 1996 số lượng này đã tăng lên tới 2.025 triệu xe Hiện nay, xe giao thông của toàn thế giới đã tiêu thụ khoảng 50% tổng năng lượng sử dụng của mọi ngành trên thế giới[14] Trong quá trình quy hoạch đất cho giao thông người ta cũng đã phạm một

số sai lầm khi không cân nhắc đến yếu tố MTST

Tại Nga, ở những năm 1960 - 1970 đã xây dựng đường cao tốc vượt khu dân cư vì thế khu đô thị về sau bị phá bỏ[66]

ở Mỹ, công trình nghiên cứu của FHA (1990) đã cho thấy thiệt hại về kinh

tế do ô nhiễm và tắc nghẽn giao thông (thiệt hại đối với sản xuất, sức khoẻ và tai nạn) do quy hoạch không hợp lý và không phù hợp với mức phát triển của đất nước vào khoảng 340 $ tính trên đầu người dân đô thị mỗi năm Ô nhiễm môi trường đã gây ra ốm đau khoảng 25% tổng số người đau ốm[14][48]

Trang 32

ở Thái Lan, do thiếu sót về quy hoạch đất cho giao thông và quản lý đô thị trong quá trình đô thị hoá mà ô nhiễm giao thông ở thành phố Bangkok đã trở thành vấn đề nghiêm trọng Tốc độ xe chạy trung bình trong thành phố chỉ

đạt được 10 km/h (1992) gây tổn thất về kinh tế khá lớn, lên tới 1,4 triệu USD/ngày do tốn thêm xăng dầu, mỗi công nhân viên mất 44 ngày công/năm, tất cả là do xe đi chậm và chờ đợi ở các nút giao thông Thống kê riêng năm

1990, có hơn 1 triệu dân Bangkok phải điều trị bệnh hô hấp do tác động của ô nhiễm không khí ở Bangkok, tỷ lệ số người bị ung thư phổi gấp 3 lần so với

địa phương ngoài Bangkok Do nhiễm độc chì từ khói xả của các phương tiện giao thông cơ giới mà ở Bangkok hàng năm có hàng trăm ngàn người bị bệnh huyết áp cao và có tới 4.000 người chết[14]

1.3.3 ảnh hưởng của quy hoạch đất khu công nghiệp không phù hợp đến môi trường sinh thái

Theo UNDP, trong thời gian qua sự hình thành các khu công nghiệp cùng với sự phát triển của các nước với tốc độ nhanh là bức tranh chung của toàn thế giới Năm 1995, Hội đồng nghiên cứu phát triển quốc tế của Liên hợp quốc đã thống kê thế giới có 12.000 khu công nghiệp với diện tích khu bé nhất

là 1 ha và lớn nhất 10.000 ha[86]

Công nghiệp hoá sẽ đưa đến sự tăng trưởng các ngành kinh tế, phát triển xã hội và nâng cao mức sống của người dân đó là mặt tích cực Ngược lại, quá trình công nghiệp hoá sẽ gây áp lực mạnh mẽ đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên, làm mất cân bằng sinh thái, làm giảm chất lượng môi trường, làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên

Hiện tượng quy hoạch cho nhà máy, xí nghiệp làm thiệt hại đến đời sống, nguồn nước, biển, đã thấy ở rất nhiều nơi trên thế giới như xây dựng nhà máy hoá chất ở Minasota (Nhật Bản), xây dựng các nhà máy pin và sơn ở

Ba Lan và nhiều nước khác[72]

Lê Quý An (1999) đã giới thiệu nhiều kết quả nghiên cứu tổng kết rất hữu ích cho ta hiểu biết nhiều hơn về tình hình thiệt hại kinh tế và sức khoẻ

Trang 33

cộng đồng do ô nhiễm công nghiệp gây ra Trong đó có Trung Quốc, ước tính thiệt hại về kinh tế do ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm nước và chất thải rắn gây ra năm 1990 khoảng 8.093 triệu USD, chiếm tới 1,93% GNP (tổng GNP của Trung Quốc năm 1990 ước tính là 419 tỷ USD) Ngoài thiệt hại về kinh tế như đã nêu trên, về sức khoẻ cộng đồng thì ô nhiễm không khí

đã gây ra các bệnh mãn tính về phổi, đã làm chết 25% trong tổng số người chết vì các bệnh ở vùng xung quanh khu công nghiệp[1], [2]

ở Việt Nam, tình hình này đã xảy ra, điển hình phải khắc phục là: nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, nhà máy xi măng Hoàng Thạch (Hải Phòng), khu khai thác

mỏ than Mạo Khê (Quảng Ninh), khu công nghiệp Biên Hoà (Đồng Nai), cũng

đã phá huỷ khu sinh thái lịch sử nổi tiếng mà hiện nay vẫn chưa có biện pháp khắc phục[34]

Theo Phạm Ngọc Đăng (2000) về vấn đề quy hoạch không hợp lý cho khu công nghiệp trong thành phố, thị trấn, ở Việt Nam là trong quá trình đô thị hoá đặc biệt là thành phố lớn, thường xảy ra một hiện tượng là nhiều xí nghiệp, nhà máy gây ô nhiễm môi trường lớn trước đây nằm ở ngoại thành, nay đã lọt vào giữa các khu đô thị cùng với dân cư đông đúc Vì vậy, cần phải chi rất nhiều tiền để di chuyển các nhà máy này ra các khu công nghiệp ngoại thành ở Hà Nội, đã có kế hoạch di chuyển 11 nhà máy, xí nghiệp tại nội thành, nhưng đến cuối năm 1998 mới chỉ di chuyển được một số công đoạn sản xuất độc hại của công ty Cao su Sao Vàng, công ty Da Thụy Khuê, Pin Văn Điển và xí nghiệp Hoá chất Ba Nhất Như vậy khi quy hoạch khu công nghiệp không tính toán kĩ lưỡng sẽ tổn thất lớn về kinh phí quốc gia và ảnh hưởng mạnh mẽ tới môi trường sống[14]

ở Nhật Bản, do việc quy hoạch đất cho khu công nghiệp ở thị trấn Minamata cho nhà máy phân hóa học thuộc tập đoàn Hoá chất Chisso không hợp

lý đã gây cho 2.248 người mắc bệnh Minamata, mà họ đã phát hiện ra bệnh này

từ năm 1956, sau nghiên cứu 12 năm đến 1969 mới kết luận được nguyên nhân là

do nhiễm độc bởi chất methyl - thuỷ ngân do hệ thống nước của nhà máy thải ra Trong đó, 1.004 người chết, 2.000 người đòi bồi thường[14]

Trang 34

Cũng ở Nhật Bản, có loại bệnh Itai - Itai (Itai có nghĩa là đau quá) bệnh Itai - Itai đã xảy ra tại lưu vực sông Jinsu trong thập niên 40 của thế kỷ XX Sau hơn 20 năm nghiên cứu, đến năm 1968 đã kết luận về nguyên nhân là do nhiễm độc Cadimi (Cd) trong MT nước bởi nước thải của mỏ khoáng Shinkou (tinh luyện kẽm) ở tỉnh Toyama, nằm ở đầu nguồn sông Jinsu Đặc trưng của bệnh này là gây ra tác hại đối với xương ô nhiễm nước ở sông này đạt tới cực

đại vào các năm 1956 - 1957 Số người bị bệnh theo thông báo chính thức tính

đến năm 1978 là 210 người (trong đó 80 người đã chết), số người nằm trong diện cần được theo dõi sức khoẻ là 661 người (trong đó 285 người đã chết) Hàm lượng Cadimi trong lúa được trồng ở vùng này cao hơn gấp 10 lần so với lúa trồng ở khu vực khác nên chúng đã bị huỷ bỏ

ở Việt Nam, sự cần thiết phải có yếu tố MTST trong công tác QHSD đất

và quy hoạch cụ thể khác cũng được nhiều nhà khoa học đề cập đến Dự án

“Điều tra, xác định các yếu tố môi trường cơ bản phục vụ công tác quản lý và QHSD đất đai” đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cho phép thực hiện là một bước đi quan trọng mở ra các nghiên cứu sâu hơn sau này làm cho QHSD

đất ngày càng hiệu quả hơn, phù hợp hơn[33]

1.3.4 Tầm quan trọng của rừng và yếu tố che phủ khi quy hoạch sử dụng đất

Rừng không chỉ có ý nghĩa trong phát triển KT - XH của từng địa phương mà nó đồng thời cũng là bộ phận cấu thành quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Rừng bị suy giảm do bất kỳ một nguyên nhân nào cũng đều có thể gây ra các vấn đề về MTST như: gây hạn hán, lũ lụt, ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu, làm giảm đa dạng sinh học, gây xói mòn đất và

có nguy cơ dẫn đến sa mạc hoá các vùng đất Cuối cùng chúng sẽ gây hậu quả

về kinh tế, xã hội và dẫn đến đói nghèo[8], [18], [27], [28], [49]

Cây xanh là yếu tố quan trọng sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời và CO2

để thành lập vòng tuần hoàn vật chất và dòng năng lượng trong hệ sinh thái Rừng là

hệ sinh thái có đa dạng sinh học lớn nhất trên cạn Rừng chiếm khoảng 1/3 diện tích

Trang 35

đất trên hành tinh và có năng suất trung bình 5 tấn chất khô/ha/năm Rừng còn là nơi cung cấp thực phẩm, đất đai để mở rộng sản xuất nông nghiệp, điều hoà khí hậu vùng và toàn cầu[7], [8], [20], [58]

Tóm lại, rừng có tầm quan trọng rất lớn trong đời sống của con người Nếu nhìn ở góc độ QHSD đất, rừng có vai trò giảm xói mòn đất, bảo vệ đất, điều hoà nhiệt trong vùng, làm sạch không khí (phần quan trọng gồm 4 chất khí cơ bản

là O2, CO2, CH4, NOx, trong đó CO2 là tác nhân nguy hiểm nhất[49])

1.3.4.1 ảnh hưởng của rừng đến khí hậu

Rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ gió của từng địa phương Chế độ gió thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi chế độ nhiệt và chế độ khô ẩm Rừng là chướng ngại trên đường di chuyển của gió, làm thay đổi tốc độ gió và hướng gió[28] Nó làm giảm tốc độ gió để tránh bão và chắn cát bay có tác dụng rất tốt làm tăng năng suất cây trồng

được trả lại khí quyển do quá trình hô hấp của sinh vật Để bảo đảm quang hợp bình thường, hàng năm mỗi ha rừng cần 4 tấn cacbon, tương đương với hàm lượng CO2 có trong 1.800.000 m3 không khí[28], [64], [67]

Theo Menden (1956), một ha rừng Vân Sam có khả năng hút 32 tấn bụi trong không khí, rừng thông: 36,4 tấn, rừng giẻ: 68 tấn, lá cây có khả năng hấp thụ 50% lượng ion phóng xạ trong không khí Nhiều nghiên cứu cho thấy,

Trang 36

nước mưa ở nơi không có rừng chứa các chất phóng xạ cao hơn 39 lần so với nước mưa trong rừng Bên cạnh đó rừng cũng góp phần làm giảm đáng kể tiếng ồn; người ta gọi đây là khả năng chống nhiễm bẩn vật lý môi trường của rừng[8], [28] Ngoài ra rừng có khả năng chống nhiễm bẩn hoá học môi trường SO2 là chất độc đối với con người, nhất là khi gặp không khí ẩm tạo thành H2SO3 sẽ tác động đến cơ quan hô hấp Rừng có tác dụng ngăn cản cơ giới sự truyền bá SO2 và làm giảm nồng độ của chúng

Khí hậu địa phương là khí hậu của một khu vực nào đó có quy mô địa phương được tạo nên bởi quan hệ giữa điều kiện địa hình (hướng dốc và độ dốc),

địa mạo (kiểu dạng địa hình của khu vực đó) với điều kiện bức xạ mặt trời Từ mối quan hệ này sẽ hình thành nên các điều kiện nhiệt độ không khí, chế độ mưa, chế

độ gió khác nhau của các khu vực được gọi là vi khí hậu[27], [28], [51], [70], [73]

ở vùng có nhiều thảm thực vật, nhiệt độ ở đó thấp hơn vùng ít thảm thực vật, vì quá trình hấp thụ bức xạ trong khí quyển (chủ yếu do hơi nước và bụi) làm cho bức xạ mặt trời khi đi đến bề mặt trái đất bị suy yếu đi (giảm đi tới 15%)[38] Sức đốt nóng của nó phần lớn chỉ đủ bốc hơi nước sương, phần nhỏ làm khô mặt đất hoặc nóng lên ít và nếu không có độ che phủ đất bị đốt nóng mạnh Do đó chúng ta dễ dàng nhận thấy, nhiệt độ vùng đó vào ban ngày là rất nóng đạt giá trị lớn nhất

1.3.4.2 ảnh hưởng của rừng đến đất đai

Nói về đất các nhà quy hoạch xác định rằng "đất là một phần quan trọng của con người sống trên hành tinh này" Vì thế việc bảo vệ và giữ gìn đất với tình trạng sử dụng đúng mục đích, sản xuất có hiệu quả cao và không ô nhiễm

là một vấn đề đã nằm trong sự quan tâm của các nhà khoa học nói chung và nhà QHSD đất nói riêng

Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng "Rừng là một phần quan trọng

để bảo vệ và cải tạo đất"

Trang 37

Việc phá rừng để nuôi tôm, làm nông nghiệp trên diện tích rộng, thiếu nước ngọt làm cho đất thoái hoá nhanh Do mất tán rừng che phủ, dưới tác động của ánh sáng mạnh, nhiệt độ cao đất giàu xác hữu cơ và lưu huỳnh sẽ chuyển thành đất chua mặn, không thể trồng cây nông nghiệp được

Mặt khác, chất hữu cơ trong đất sẽ bị ôxy hoá, tạo ra khối lượng lớn CO2bay vào khí quyển làm cho bầu không khí nóng lên[20]

Nghiên cứu của Bộ Môi trường CPC (1997) cho biết, vấn đề chặt phá rừng ngập mặn để nuôi tôm và sản xuất than củi đã ảnh hưởng rất mạnh đến sinh thái ven biển và vấn đề đáng lo lắng hơn là diện tích đất rừng ngập mặn trước đây đã trở thành vùng bãi cát mất khả năng sản xuất[76]

Các nghiên cứu ở vùng ôn đới cho thấy nước mưa được thực vật rừng giữ lại 25% tổng lượng Tán rừng có khả năng giảm sức công phá của nước mưa đối với tầng đất mặt Rừng còn làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất hạn chế dòng chảy trên mặt Tầng thực vật rừng có khả năng giữ lại lượng nước bằng 100 - 900% trọng lượng của nó Vì vậy, đã làm giảm đáng kể lượng đất bị xói mòn[8], [20], [26], [28] Nhiều nghiên cứu cho thấy ở nhiều nơi có rừng, lượng đất xói mòn hàng năm chỉ vào khoảng 1 - 1,5 tấn/ha, trong khi đó ở nơi không có rừng có thể lên tới 100 - 150 tấn/ha và dòng chảy mặt tăng 3 - 4 lần[8], [43]

Lê Văn Khoa và Phùng Ngọc Lan (2001) cũng cho rằng, thảm mục có vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì nguồn nước, chống lũ lụt, hạn hán và xói mòn đất[26], [28]

Rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến đất thông qua sự rơi rụng của cành, lá cây rừng, thảm mục rừng, tuần hoàn dinh dưỡng khoáng trong rừng, thông qua đó rừng ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất[28], [71] Trung bình hàng năm vật rơi rụng ở rừng tự nhiên là 11 - 17 tấn/ha còn ở rừng trồng là 9 - 10 tấn/ha Thảm

Trang 38

mục rừng lá khô chứa các chất dinh dưỡng khoáng, giảm xói mòn và ảnh hưởng lớn đến độ phì nhiều của đất Đây cũng là nơi cư trú và cung cấp dinh dưỡng cho vi sinh vật, nhiều loại côn trùng và động vật đất, tạo môi trường thuận lợi cho động vật và vi sinh vật đất phát triển[8], [28]

1.3.5 Vấn đề sản xuất nông nghiệp, khu nông thôn tác động đến môi trường sinh thái

Hoá chất bảo vệ thực vật trong SXNN bao gồm thuốc trừ sâu, thuốc diệt

cỏ, thuốc diệt nấm mốc, diệt loài gặm nhấm, thuốc trừ côn trùng Theo quan

điểm hoá học các chất bảo vệ thực vật được phân thành các dạng sau:

- Hợp chất hữu cơ Halogen

- Hợp chất hữu cơ phốt pho

- Các Cacbamat

- Các Clorophennoxyaxit

Các chất bảo vệ thực vật thâm nhập vào cơ thể con người thông qua quá trình phát tán trong nước hoặc do tồn lưu sinh vật, sau khi sinh vật chết bị cuốn trôi theo nước Chúng được tích tụ trong chuỗi thức ăn mà mắt xích cuối cùng

là con người Chất bảo vệ thực vật có trong nước sẽ tác động trực tiếp đến quá trình phát triển của sinh vật, thay đổi cấu trúc sinh học, gây ra các bệnh lý như ung thư, quái thai [41]

Hiện nay, vấn đề đáng lo ngại nhất ở các nước chậm và đang phát triển là phá rừng lấy đất sản xuất nông nghiệp Thống kê của Liên hợp quốc cho thấy, việc mở rộng SXNN có tưới trong vòng 20 năm gần đây đã làm 25% diện tích

đất được tưới bị ảnh hưởng bởi sự mặn hoá, đặc biệt là ở các nước Irắc, Iran, Pakixtan, Ai Cập… Việc chặt phá rừng lấy đất SXNN cũng đã góp phần làm tăng quá trình mặn hoá này[27]

Ước tính đến 90% hoá chất BVTV không đạt được mục đích mà là gây nhiễm đất, nước, không khí và nông sản[27]

Trang 39

Dư lượng thuốc trừ sâu trong nước ruộng lúa ở Tam Điệp (Ninh Bình) vào mùa khô là 0,85 - 3,4 microgam/lít, ở vùng Cần Thơ là 0,9 - 5,2 microgam/lít (Phạm Bình Quyền, 1995)[42]

Ngoài ra các nhà máy sản xuất phân lân, đạm và ngay cả việc sử dụng phân khoáng quá mức cũng góp phần gây ô nhiễm cho hệ sinh thái nông nghiệp và môi trường bởi thải ra lưu huỳnh và kim loại nặng Những điều tra phân tích cho thấy, trên những cánh đồng quanh nhà máy phân đạm Hà Bắc, nhà máy hoá chất Đức Giang có lưu huỳnh cao hơn nơi khác từ 10 - 20 lần Trên những cánh đồng quanh nhà máy phân lân và pin Văn Điển có hàm lượng kim loại nặng (Pb, Zn, Cu, Mn…) rất cao Lợn được nuôi bằng bèo lục bình ở đây cho mỡ màu vàng[42], [53]

Nitrat (NO

-3) là mối nguy hại cho sức khoẻ của con người ở Hung-ga-ri

từ 1976 đến 1982 có trên 1.300 người bị chết, nguyên nhân là do nguồn nước

có chứa NO

-3 ở Mỹ cũng đã xuất hiện bệnh ‘methaemoglobinaemia nước giếng’ vì 98% giếng nước do tự dân đào gần sát với các nguồn gây ô nhiễm do phân động vật và phân người, làm xuất hiện không những NO-3 mà cả E- coli

và những vi khuẩn khác gây viêm dạ dày[24]

1.4 Vấn đề về môi trường và sinh thái ở Campuchia

Theo thống kê của UNDP, tính đến hết năm 2000, toàn thế giới có 48 nước xếp vào những nước kém phát triển nhất, trong đó có CPC[97] Thông thường các nước

đang phát triển đều đưa vấn đề kinh tế lên hàng đầu, vấn đề môi trường chỉ được quan tâm đến khi không thể tránh những ảnh hưởng xấu xảy ra Ngoài ra, nhằm mang lại lợi ích cao người sản xuất bóc lột đất đai một cách quá mức, chưa ý thức

được tầm quan trọng của đất đai trong sản xuất cùng với sự phát triển bền vững Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường và phá vỡ cân bằng sinh thái là không thể tránh khỏi

Trang 40

1.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, x∙ hội của Campuchia

1.4.1.1 Điều kiện tự nhiên[92]

* Địa hình

Địa hình CPC tương đối bằng phẳng, vùng đất mùn ở xung quanh Biển

Hồ được bồi hàng năm ở vùng giữa đất nước ở phía Tây có dãy núi Kro Vanh

để chắn nước biển, nằm theo chiều dài của biển, còn phía Bắc có dãy núi Đong Rec Theo địa hình như trên, CPC đã chia thành các vùng như sau:

Bảng 1.4: Phân bố tỉnh thành theo từng vùng đất ở Campuchia

Phân chia vùng Tổng số tỉnh - thành Tên tỉnh - thành

Vùng thấp 6 Phnom Penh, Kon Dal, Kampong Cham, Suay

Rieng, Prey Veng, Ta Keo,

Kampong Chhnang, Kampong Thom, BattomBong, Siem Reap, Pursat, Bon Tieuv Mien Cheu, U Do Mien Cheu, Pay Luan

Vùng Biển 4 Krong Sayhạnụ, Kampot, Krong Kep, Koc Kong

Vùng cao & Vùng núi 6 Kampong Speu, KroChec PreahVihear,

StangSteng, OatTaNaKiRi, MonDolKiRi

Nguồn: Bộ QHĐ và XD Campuchia năm 2002

Ngày đăng: 19/02/2014, 13:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Chưa đầy 1% lượng nước trên trái đất là nước sạch[52] - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Sơ đồ 1.1 Chưa đầy 1% lượng nước trên trái đất là nước sạch[52] (Trang 23)
Sơ đồ 3.1: Quy trình xây dựng phần mềm tính khoảng cách quy hoạch tránh                       ô nhiễm bụi khói do hoạt động giao thông - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Sơ đồ 3.1 Quy trình xây dựng phần mềm tính khoảng cách quy hoạch tránh ô nhiễm bụi khói do hoạt động giao thông (Trang 82)
Bảng 3.5: Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất huyện Som Ruong Tuong năm 2004 - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Bảng 3.5 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất huyện Som Ruong Tuong năm 2004 (Trang 95)
Bảng 3.6: HTSD đất rừng của huyện Som Ruong Tuong năm 2004 - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Bảng 3.6 HTSD đất rừng của huyện Som Ruong Tuong năm 2004 (Trang 96)
Bảng 3.7: HTSD đất rừng của huyện Ro Ka Thom năm 2004                  (Đơn vị tính ha) - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Bảng 3.7 HTSD đất rừng của huyện Ro Ka Thom năm 2004 (Đơn vị tính ha) (Trang 99)
Bảng 3.8: HTSDĐ mặt n−ớc của huyện Ro Ka Thom năm 2004 - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Bảng 3.8 HTSDĐ mặt n−ớc của huyện Ro Ka Thom năm 2004 (Trang 100)
Bảng 3.9: HTSD đất giao thông và đất khu dân c− huyện Ro Ka Thom năm 2004 - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Bảng 3.9 HTSD đất giao thông và đất khu dân c− huyện Ro Ka Thom năm 2004 (Trang 100)
Bảng 3.10: Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất huyện Ro Ka Thom năm 2004 - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Bảng 3.10 Hiện trạng và cơ cấu sử dụng đất huyện Ro Ka Thom năm 2004 (Trang 103)
Bảng 3.11: Giá củi và than củi theo mùa ở đại lý trên địa bàn huyện năm 2005 - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Bảng 3.11 Giá củi và than củi theo mùa ở đại lý trên địa bàn huyện năm 2005 (Trang 107)
Bảng 3.13: Khoảng cách quy hoạch an toàn không ô nhiễm không khí - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Bảng 3.13 Khoảng cách quy hoạch an toàn không ô nhiễm không khí (Trang 112)
Sơ đồ mối quan hệ thực hiện QHSDĐ ở các nước chậm và đang phát triển - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Sơ đồ m ối quan hệ thực hiện QHSDĐ ở các nước chậm và đang phát triển (Trang 132)
Sơ đồ mối quan hệ thực hiện QHSDĐ bền vững có sự tham gia của yếu tố MT - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
Sơ đồ m ối quan hệ thực hiện QHSDĐ bền vững có sự tham gia của yếu tố MT (Trang 134)
Phụ lục 2.2. Bảng tỷ lệ tăng dân số các n−ớc Asean năm 1998 - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
h ụ lục 2.2. Bảng tỷ lệ tăng dân số các n−ớc Asean năm 1998 (Trang 141)
Phụ lục 6.1. Bảng kết quả điều tra chất đốt ở thành thị và nông thôn - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
h ụ lục 6.1. Bảng kết quả điều tra chất đốt ở thành thị và nông thôn (Trang 147)
Phụ lục 10.2. Bảng thông tin cơ bản của các hộ gia đình không có đất - nghiên cứu đưa một số yếu tố môi trường sinh thái vμo quy hoạch sử dụng đất ở campuchia
h ụ lục 10.2. Bảng thông tin cơ bản của các hộ gia đình không có đất (Trang 156)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w