1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

7_ Lạm dụng vị trí độc quyền VINAPCO

34 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lạm Dụng Vị Trí Độc Quyền VINAPCO
Người hướng dẫn Tiến Sỹ. Trịnh Minh Hiền
Trường học Đại học
Chuyên ngành Luật Cạnh Tranh
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 5,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vướng mắc, bất cập của Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng Cạnh tranh – Đề xuất sửa đổi HỘI THẢO 10 NĂM THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CHÂU ÂU TP Hồ C[.]

Trang 1

HỘI THẢO

10 NĂM THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM

VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CHÂU ÂU

TP Hồ Chí Minh, ngày 16-17 tháng 12 năm 2014

Trang 2

Tiến sỹ Trịnh Minh Hiền

Chuyên gia Dự án MUTRAP Nguyên Thành viên Hội đồng Cạnh tranh

Trang 3

Vào thời điểm diễn ra vụ việc (tháng 4/2008), Công ty Xăng dầu hàng không Việt Nam (Vinapco) (trực thuộc Tổng Công ty hàng không VN-VNA) là doanh nghiệp độc quyền cung cấp nhiên liệu hàng không và Công ty Hàng không cổ phần Pacific Arlines (PA) (sau này chuyển thành Công ty cổ phần hàng không Jestar Pacific Airlines) (PA) là 1 trong 2 hãng hàng không vận chuyển hành khách tại Việt Nam.

Trang 4

Ngày 31/12/2007, Vinapco và PA ký Hợp đồng mua bán nhiên liệu hàng không JET A-1 số 34/PA2008 Theo đó,

2 bên thỏa thuận:

- Mức phí cung ứng nhiên liệu là 593.000 đ/T Khi có sự thay đổi về mức phí cung ứng, Vinapco có trách nhiệm thông báo cho PA bằng văn bản qua đường Fax (Điều 4.3).

- Trong trường hợp PA thanh toán chậm hơn 03 ngày làm việc so với thời hạn quy định, Vinapco có quyền ngừng cung cấp nhiên liệu cho đến khi PA thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thanh toán cho Vinapco ( Điều 5.4).

4

Trang 5

- Mọi tranh cấp được giải quyết trên tin thần thương lượng Trong trường hợp giải quyết bằng thương lượng không thành, hai bên sẽ đưa tranh chấp ra Tòa Kinh tế thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (Điều 7.2).

- Mọi sửa đổi, bổ sung bản hợp đồng đều phải được hai bên thỏa thuận bằng văn bản có chữ ký của người có thẩm quyền và là bộ phận không tách rời của bản hợp đồng này (Điều 9.1).

Trang 6

Từ ngày 12/3/2008 đến ngày 26/3/2008, Vinapco và PA tiến hành đàm phán mức phí mới theo đề xuất của

Vinapco

Ngày 28/3/2008, Vinapco có công văn gửi PA qua

đường Fax yêu cầu PA chấp thuận bằng văn bản mức phí cung ứng mới là 750.000 đ/t trước ngày 31/3/2008 Trường hợp Vinapco không nhận được trả lời bằng

văn bản theo thời hạn trên, Vinapco sẽ dừng cung ứng nhiên liệu bay cho PA cho đến khi PA chấp thuận.

6

Trang 7

Ngày 31/3/2008, Vinapco có công văn gửi các xí nghiệp kinh doanh của Vinapco ở các khu vực đề nghị các xí nghiệp này ngừng tra nhiên liệu JET A-1 cho mọi chuyến bay của PA từ 0h00 ngày 1/4/2008 cho đến khi

có chỉ đạo mới bằng văn bản của Vinapco; đồng thời cùng ngày, Vinapco có công văn gửi PA thông báo ngừng tra nhiên liệu bay cho mọi chuyến bay của PA

từ 0h00 ngày 1/4/2008.

- Ngày 31/3/2008, PA có công văn gửi Bộ trưởng Bộ GTVT và Cục Hàng không VN báo cáo việc Vinapco đơn phương ngừng cung cấp nhiên liệu cho PA và đề nghị Bộ trưởng có ý kiến chỉ đạo.

Trang 8

Ngày 1/4/2008, Vinapco đã ngừng cung cấp nhiên

liệu bay cho PA khiến nhiều chuyến bay của PA bị chậm, hủy làm ảnh hưởng đến hàng nghìn hành khách.

- Ngày 1/4/2008, Cục hàng không Việt nam có công văn yêu cầu VNA chỉ đạo Vinapco không được đơn phương ngừng cung cấp xăng dầu nếu không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

8

Trang 9

Ngày 1/4/2008, Vinapco có công văn gửi PA thông báo cung cấp nhiên liệu bay cho PA trong hai ngày 1 và 2/4/2008.

- Ngày 2/4/2008, Vinapco thông báo tiếp tục tra nạp nhiên liệu bay cho tất cả chuyến bay của PA từ 0h00 ngày 3/4/2008.

 Qua phương tiện thông tin đại chúng về vụ việc Vinapco ngừng cung cấp nhiên liệu bay cho PA:

- Ngày 22/4/2008, Cục trưởng Cục QLCT ra QĐ số

21/QĐ-QLCT về việc điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh.

- Ngày 26/5/2008, Nhóm điều tra viên hoàn thành Báo cáo điều

tra sơ bộ vụ việc KNCT-HCCT-0004.

Trang 10

Ngày 28/5/2008, Cục trưởng Cục QLCT ra QĐ số 34/QĐ-QLCT về việc điều tra chính thức vụ việc cạnh tranh, sau đó có QĐ gia hạn điều tra chính thức vụ việc.

- Ngày 29/12/2008, Nhóm điều tra viên hoàn thành Báo cáo điều tra chính thức và ngày 2/1/2009, Cục QLCT có Kết luận điều tra chính thức, gửi HĐCT.

10

Trang 11

Ngày 2/3/2009, HĐCT có QĐ số 07/QĐ-HĐCT thành lập HĐXL.

- Ngày 14/4/2009, tại Hà Nội, diễn ra Phiên điều trần.

- Ngày 14/4/2009, HĐXL có Quyết định số HĐXL về việc xử lý vụ việc Vinapco ngừng cung cấp nhiên liệu cho JPA.

11/QĐ- Ngày 7/5/2009, Vinapco có Đơn khiếu nại QĐ số 11/QĐ-HĐXL gửi HĐCT.

- Ngày 26/6/2009, HĐCT có QĐ số 12/QĐ-HĐCT giải quyết khiếu nại của Vinapco đối với QĐ số 11/QĐ- HĐXL.

Trang 12

Thị trường sản phẩm liên quan: dịch vụ cung cấp xăng dầu hàng không dân dụng (Căn cứ pháp lý: Điều

21 Nghị định số 83/2007/NĐ-CP).

Thị trường địa lý liên quan: các sân bay dân dụng và sân bay dùng chung dân dụng, quân sự (Căn cứ pháp lý: Điều 21 Nghị định số 83/2007/NĐ-CP, Điều 65 Luật hàng không dân dụng VN, Điều 7, Điều 8 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP).

12

Trang 13

Rào cản gia nhập thị trường

- Quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Luật HKĐVN, Nghị định số 55/2007/NĐ-CP và Nghị định số 83/2007/NĐ-CP.

- Các quy định về điều kiện kinh doanh, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.

Kết luận thị trường liên quan: thị trường cung cấp xăng dầu hàng không dân dụng tại các sân bay dân dụng và sân bay dùng chung dân dụng và quân sự của Việt Nam.

Trang 14

Vị trí độc quyền: Vinapco là doanh nghiệp độc quyền trên thị trường cung cấp xăng dầu hàng không dân dụng tại các sân bay dân dụng và sân bay dùng chung dân dụng và quân sự của Việt Nam.

Trang 15

Vinapco đã dừng thương lượng với PA bằng việc đơn phương đặt thời hạn cuối cùng để buộc PA phải chấp nhận bằng văn bản mức phí mới.

Vinapco đã thực hiện lời de dọa trong thông điệp gửi đến PA để buộc PA phải chấp nhận mức phí mới.

- Chứng minh “những nghĩa vụ này gây khó khăn cho

PA trong quá trình thực hiện hợp đồng”.

Vinapco đưa ra mức phí 750.000 đ/t, nhưng sau khi

Bộ TC tổ chức hiệp thương thì mức phí là 725.000 đ/t, chứng tỏ mức phí Vinapco đề nghị là cao.

Trang 16

Khi Vinapco ngừng cung cấp nhiên liệu bay cho PA đã dẫn đến việc các chuyến bay của PA bị chậm hoặc hủy chuyến.

o Hành vi “Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không

có lý do chính đáng”

- Căn cứ pháp lý: khoản 3 Điều 14 Luật CT, khoản 2 Điều 33 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP.

16

Trang 17

- Chứng minh Vinapco có hành vi đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết

Việc Vinapco ngừng cung cấp nhiên liệu bay trong khi không tuân thủ các Điều 7.2 và Điều 9.1 của Hợp đồng số 34/PA2008 là hành vi đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã ký kết.

Trang 18

- Chứng minh Vinapco không phải chịu biện pháp

chế tài nào.

Tại Phiên điều trần, Vinapco thừa nhận cho đến ngày xét xử tại Phiên điều trần, Vinapco chưa chịu chế tài nào.

Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ

- Tình tiết tăng nặng: không có.

18

Trang 19

- Tình tiết giảm nhẹ:

Thời gian thực hiện hành vi vi phạm rất ngắn.

Vinapco đã hợp tác với Cục QLCT, tự nguyện cung cấp nhiều chứng cứ, thông tin liên quan.

Thái độ của PA trong vụ việc này là không tích cực,

do đó đã không giúp giảm hậu quả của vụ việc.

Đây là vụ vi phạm Luật CT đầu tiên của Vinapco, đồng thời cũng là vụ việc hạn chế cạnh tranh đầu tiên được xét xử tại Việt Nam.

Trang 20

Cơ sở áp dụng mức phạt

- Mức độ gây hạn chế cạnh tranh do hành vi vi phạm gây ra:

Nhiên liệu bay là đầu vào thiết yếu cho các hãng hàng không PA không vi phạm các hợp đồng đã ký Nếu bị ngừng cung cấp nhiên liệu bay, PA sẽ không thể tìm được nguồn thay thế.

Việc PA bị ngừng cung cấp nhiên liệu bay sẽ dẫn đến hậu quả là hủy bỏ cạnh tranh trên thị trường vận chuyển hành khách bằng máy bay.

Ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế khác vào thị trường hàng không.

20

Trang 21

- Mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra:

Thiệt hại cho khách hàng của Vinapco: PA phải trả tiến bồi thường chậm chuyến cho hành khách Ngoài

ra, trong một số ngày tiếp theo, hành khách đã từ chối mua vé máy bay của PA vì sợ PA không có nhiên liệu bay.

Thiệt hại của người tiêu dùng: người tiêu dùng đã mua vé máy bay bị bị lỡ chuyến Ngoài ra, nếu PA bị ngừng hoạt động thì người tiêu dùng sẽ có ít sự lựa chọn trong việc di chuyển bằng đường hàng không.

Trang 22

- Khả năng gây hạn chế cạnh tranh: Vì Vinapco là doanh nghiệp độc quyền nên khả năng này là lớn.

- Thời gian thực hiện hành vi vi phạm là ngắn (01 ngày).

- Khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành

vi vi phạm: Vinapco không thu được lợi nhuận gì

từ việc ngừng cung cấp nhiên liệu bay cho PA.

- Các tình tiết giảm nhẹ khác nêu ở trên.

22

Trang 23

Quyết định xử lý của HĐXL

o Phạt tiền với mức phạt là 0,05% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm Vinapco thực hiện hành vi vi phạm (năm 2007), tương đương với số tiền là 3.378.086.700 đ Nộp phí xử lý vụ việc cạnh tranh 100.000.000 đ.

o Không buộc Vinapco phải loại bỏ quy định về “ngừng cung cấp nhiên liệu” trong trường hợp chậm thanh toán tại Điều 5.4 của Hợp đồng số 34/PA2008 vì kinh doanh nhiên liệu bay có nét đặc thù (nguồn cung phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, giá trị hợp đồng lớn) nên các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng trong khuân khổ pháp luật.

Trang 24

Ngoài ra, HĐXL kiến nghị HĐCT có văn bản đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền:

o Tách Vinapco ra khỏi VNA;

o Cấp giấy phép cho các DN khác cùng thực hiện chức năng cung cấp xăng dầu hàng không;

o Tăng cường hơn nữa quản lý nhà nước đối với dịch vụ cung cấp xăng dầu hàng không.

24

Trang 25

Một số nội dung chính của Đơn khiếu nại của Vinapco đối với QĐ số 11QĐ-HĐXL của HĐXL và kết luận của HĐCT

o Vinapco cho rằng Hợp đồng giữa Vinapco và PA là một HĐ thương mại thuần túy Việc tiến hành điều tra, kết luận và

xử phạt hành chính Vinapco theo Luật CT đối với một tranh chấp hợp đồng thương mại là không phù hợp với bản chất của vụ việc.

Kết luận của HĐCT: pháp luật về HĐ thừa nhận nguyên tắc

tự do, tự nguyện thỏa thuận ( Điều 4 Bộ luật DS, Điều 11 Luật TM) nhưng khi thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh và hành vi của các DN trên thị trường xâm phạm môi trường kinh doanh, xâm phạm quyền cạnh tranh trong kinh doanh ( Điều 4 Luật CT) thì Luật CT sẽ được áp dụng.

Trang 26

o Vinapco cho rằng HĐXL đã nhận định thiếu căn cứ đối với hành vi “áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng của doanh nghiệp có vị trí độc quyền” Vinapco thông báo cho PA về sự tăng giá của thị trường là trách nhiệm thực hiện Điều 4.3 của HĐ chứ không phải sửa Điều 4.3 về giá Vì vậy, không thể dẫn chiếu Điều 9.1 rằng đây là nội dung sửa đổi HĐ.

Kết luận của HĐCT: cơ chế đàm phán giữa Vinapco

và PA phải kết hợp giữa Điều 4.3 và Điều 9.1 Nếu hai bên có cách hiểu khác nhau thì cần áp dụng Điều 7.2

về giải quyết tranh chấp.

26

Trang 27

o Vinapco cho rằng HĐXL kết luận sai thực tế rằng Vinapco “đơn phương áp đặt PA phải chấp nhận vô điều kiện mức phí do Vinapco đưa ra” Vinapco lập luận việc giá nhiên liệu thế giới tăng nên giá trong nước tăng là hợp lý, nếu không tăng thì PA đã được hưởng lợi PA đã không thực hiện nghĩa vụ của Điều 4.3 của HĐ, không trả lời thông báo.

Kết luận của HĐCT: Điều 4.3 HĐ đặt ra nghĩa vụ

thông báo việc tăng giá, không buộc PA phải chấp nhận tăng giá Chính vì vậy, giữa Vinapco và PA đã có những đàm phán về giá và vì thế Vinapco cần PA ký chấp nhận mức phí mới bằng văn bản.

Trang 28

o Vinapco cho rằng việc HĐXL chứng minh Vinapco có hành

vi “Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng”

là không tuân thủ luật pháp về Hợp đồng kinh tế Các bên trong hợp đồng chưa bao giờ nhìn nhận sự việc diễn ra là một sự thay đổi hay hủy bỏ Hợp đồng đã giao kết.

Kết luận của HĐCT: để có cách hiểu chính xác về Hợp đồng

số 34/PA2008 cần phải kết hợp các Điều 4.3, 9.1 và 7.2, theo

đó giá cả hợp đồng (quy định tại Điều 4.3) sẽ được đàm phán lại khi có sự biến động và kết quả đàm phán là một sửa hợp đồng (quy định tại Điều 9.1) và nếu các bên không thống nhất được mức giá mới thì phải giải quyết tranh chấp (theo Điều 7.2) Việc Vinapco ngừng cung cấp nhiên liệu không dựa trên các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng được côi

là hành vi đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng.

28

Trang 29

Quyết định của HĐCT

So với QĐ số 11/QĐ-HĐCT của HĐXL, QĐ số 12/QĐ-HĐCT của HĐCT có 2 điểm khác:

- Tách mức phạt tiền chung đối với 2 hành vi thành

2 mức phạt đối với mỗi hành vi (0,025% tổng doanh thu đối với hành vi vi phạm).

- Bỏ kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tách Vinapco ra khỏi VNA.

Trang 30

Bản án số 09/2010/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nọi và Bản án số 172/2011/HC-PT của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội của Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Vinapco về việc hủy QĐ số 12-QĐ-HĐCT của HĐCT về việc giải quyết khiếu nại đối với QĐ số 11/QĐ-HĐXL Vinapco phải chịu án phí cho mỗi lần khởi kiện là 200.000 đ.

30

Trang 31

Kết quả sau các Bản án

Tháng 4/2009, Bộ CT và Bộ GTVT đã cho phép thành lập thêm 1 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực cung cấp xăng dầu hàng không và Vinapco đã không còn là doanh nghiệp có vị trí độc quyền cung cấp xăng dầu hàng không ở Việt Nam.

Trang 32

Đối với doanh nghiệp

- Các doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp có vị trí độc quyền, cần hiểu biết về những điều được làm và không được làm để không có hành vi vi phạm.

- Trong những lĩnh vực kinh doanh có điều kiện, ví dụ như cung cấp xăng dầu hàng không, việc ngừng cung cấp dịch vụ không chỉ ảnh hưởng đến đối tác kinh doanh mà nhiều khi còn ảnh hưởng đến các khách hàng khác Vì vậy cần cân nhắc kỹ để có những xử sự đúng.

- Cần có hiểu biết đúng đắn và lôgic về từng điều khoản của Hợp đồng mà mình đã ký kết để thực hiện đúng.

32

Trang 33

Đối với cơ quan quản lý nhà nước

- Cần hạn chế đến mức tối đa các lĩnh vực kinh doanh có doanh nghiệp độc quyền.

- Việc chuẩn bị xử lý một vụ việc hạn chế cạnh tranh, đặc biệt nếu được xét xử tại Phiên điều trần, cần được HĐXL và HĐCT chuẩn bị kỹ lưỡng.

- Sau khi xét xử một vụ việc hạn chế cạnh tranh, HĐXL và HĐCT cần công bố công khai, kịp thời và có phân tích, giải thích đầy đủ để các doanh nghiệp bị xử phạt cũng như các doanh nghiệp khác hiểu rõ về hành vi vi phạm, từ đó có bài học cho riêng mình, góp phần tạo môi trường cạnh tranh ngày càng lành mạnh ở Việt Nam.

Trang 34

Tiến sỹ.Trịnh Minh Hiền Chuyên gia Dự án MUTRAP Nguyên Thành viên Hội đồng Cạnh

tranh

34

Ngày đăng: 21/04/2022, 13:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w