1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp hạn chế trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PVI đông đô (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)

72 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 194,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề thực tập 66 GVHD ThS Phan Anh Tuấn MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI 3 1 1 Khái quát về bảo hiểm xe cơ giới 3 1 1 1 Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm xe cơ giới 3 1 1 1 1 Sự cần thiết của bảo hiểm xe cơ giới 3 1 1 1 2 Vai trò của bảo hiểm xe cơ giới 5 1 1 2 Phân loại và quy định chung về bảo hiểm xe cơ giới 7 1 1 2 1 Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba 7 1 1 2 2 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với thiệt hại.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI 3

1.1 Khái quát về bảo hiểm xe cơ giới 3

1.1.1 Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm xe cơ giới 3

1.1.1.1 Sự cần thiết của bảo hiểm xe cơ giới 3

1.1.1.2 Vai trò của bảo hiểm xe cơ giới 5

1.1.2 Phân loại và quy định chung về bảo hiểm xe cơ giới 7

1.1.2.1 Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba 7

1.1.2.2 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với thiệt hại thân thể và tính mạng của hành khách 10

1.1.2.3 Bảo hiểm vật chất thân xe 13

1.1.2.4 Bảo hiểm tai nạn lái xe, phụ xe và người ngồi trên xe 18

1.1.2.5 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hàng hóa chuyên chở trên xe 19

1.2 Trục lợi bảo hiểm trong bảo hiểm xe cơ giới 20

1.2.1 Khái niệm 20

1.2.2 Các hình thức trục lợi bảo hiểm xe cơ giới 21

1.2.2.1 Hợp lý hóa ngày và hiệu lực bảo hiểm 21

1.2.2.2 Thay đổi tình tiết vụ án 22

1.2.3 Nguyên nhân của hành vi trục lợi bảo hiểm xe cơ giới 23

1.2.3.1 Nguyên nhân chủ quan 24

1.2.3.2 Nguyên nhân khách quan 25

1.2.4 Hậu quả của trục lợi bảo hiểm xe cơ giới 26

1.2.4.1 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm 26

1.2.4.2 Đối với nhà nước 27

1.2.4.3 Đối với khách hàng………27

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PVI ĐÔNG ĐÔ GIAI ĐOẠN 2009 – 2014 28

2.1 Vài nét về doanh nghiệp Bảo hiểm PVI Đông Đô 28

2.1.1 Sự ra đời và phát triển 28

2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy 33

2.1.3 Kết quả kinh doanh trong những năm gần đây 34

2.2 Tình hình triển khai bảo hiểm xe cơ giới tại Bảo hiểm PVI Đông Đô 35

Trang 2

2.2.1 Công tác khai thác 35

2.2.2 Công tác đề phòng, hạn chế tổn thất 38

2.2.3 Công tác giám định, bồi thường tổn thất 40

2.3 Tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại Bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2009 -2014 41

2.3.1 Thực trạng trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại Bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2009 -2014 41

2.3.2 Các biện pháp hạn chế và xử lý trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại Bảo hiểm PVI Đông Đô 43

2.3.2.1 Hình thức hợp lí hóa ngày, giờ tai nạn và hiệu lực bảo hiểm 43

2.3.2.2 Thay đổi tình tiết vụ án 45

2.3.3 Đánh giá công tác phòng, chống trục lợi tại Bảo hiểm PVI Đông Đô 50

2.3.3.1 Công tác kiểm tra, quản lý khai thác và giám định bồi thường 51

2.3.3.2 Chất lượng nhân viên khai thác, giám định viên, bồi thường viên 51

2.3.3.3 Triển khai hình thức khai thác mới, tăng cường tuyên truyền giáo dục 52

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HẠN CHẾ TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PVI ĐÔNG ĐÔ 53

3.1 Định hướng phát triển bảo hiểm xe cơ giới tại Bảo hiểm PVI Đông Đô trong những năm sắp tới 53

3.2 Giải pháp nhằm hạn chế trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại doanh nghiệp Bảo hiểm PVI Đông Đô 57

3.2.1 Nâng cao chất lượng về cả tri thức và đạo đức nguồn nhân lực 57

3.2.2 Tăng cường kiểm tra và quản lý các khâu, từ khai thác đến bồi thường giám định 58

3.2.3 Kết hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp có liên quan 61

3.2.4 Học hỏi và trang bị những phương pháp kinh doanh và phòng chống trục lợi bảo hiểm hướng tới hiệu quả, những trang thiết bị hiện đại từ các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước 62

3.2.5 Tuyên truyền, quảng bá về công ty, nâng cao nhận thức người dân về bảo hiểm 62

3.2.6 Mở rộng quan hệ với các công ty khác trong ngành, cạnh tranh lành mạnh… 63

3.3 Kiến nghị 64

3.3.1 Đối với cơ quan nhà nước 64

Trang 3

3.3.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm nói chung và xe cơ giớinói riêng 643.3.1.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động các cơ quan thuộc nhà nước như BộCông an, Bộ y tế để góp phần cùng các cơ quan bảo hiểm hạn chế trục lợi .653.3.2 Đối với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam 66

KẾT LUẬN 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 1.1 Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam từ năm 2009 đến năm

2014 4

Bảng 2.1 : Tình hình doanh thu của Tổng Công Ty PVI từ năm 2009 đến năm 2014 31

Bảng 2.2: Doanh thu phí bảo hiểm gốc tại Công ty Bảo hiểm PVI Đông Đô 35

giai đoạn 2009-2014 35

Bảng 2.3: Doanh thu bảo hiểm TNDS xe máy tại Bảo hiểm PVI Đông Đô 37

giai đoạn 2009-2014 37

Bảng 2.4: Tình hình chi giám định bồi thường tại Bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2009-2014 39

Bảng 2.5: Số vụ trục lợi bảo hiểm tại Bảo hiểm Bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2009 -2014 4

Biểu đồ 2.1: Tổng doanh thu của pvi các năm giai đoạn 2009-2014 30

Biểu đồ 2.2: Doanh thu một số nghiệp vụ tài chính giai đoạn 2010 -2013 36

Y Sơ đồ 2.1: Mô hình cơ cấu tổ chức tại doanh nghiệp Bảo hiểm PVI Đông Đô 33

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Đất nước càng phát triển các loại hình phương tiện giao thông càng đa dạng

giúp con người có thể di chuyển một cách thuận tiện nhất Các hình thức vận

chuyển phong phú bằng đường sắt, đường thủy, đường hàng không và đường bộ

Trong đó nhu cầu sử dụng đường bộ và đi kèm theo là xe cơ giới trở nên phổ biến

nhất bởi những ưu điểm nổi bật của nó về tính cơ động cao, tốc độ tương đối

nhanh, giá thành vận chuyển thấp Việc sử dụng xe cơ giới để làm phương tiện đi

lại của các cá nhân, tổ chức ngày càng tăng lên, số lượng xe cơ giới tăng lên không

ngừng Tuy nhiên số lượng xe cơ giới tăng lên cùng với nhiều nguyên nhân khách

quan và chủ quan khác lại làm gia tăng số vụ tai nạn giao thông Vì vậy tham gia

bảo hiểm là sự lựa chọn hiệu quả nhất để các tổ chức cá nhân ổn định tài chính khi

các rủi ro liên quan đến giao thông xảy ra cả về người và về phương tiện

Song hành với sự phát triển của kinh tế và xã hội, bảo hiểm ngày càng trở nên

quan trọng và trở thành một phần không thể thiếu đối với nền kinh tế nói chung,

cũng như các tổ chức cá nhân nói riêng Bảo hiểm không những góp phần ổn định

tài chính cho các tổ chức, cá nhân mà còn là một nguồn huy động vốn nhàn rỗi hiệu

quả cho nền kinh tế Năm 1964, công ty bảo hiểm Việt Nam được thành lập Kể từ

đó đến nay, tổng số doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường là 58 doanh nghiệp,

trong đó gồm 29 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, 15 doanh nghiệp bảo hiểm

nhân thọ, 12 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm, cùng

với đó là hệ thống các công ty thành viên, các trụ sở trên khắp các tỉnh thành cả

nước đã minh chứng sự phát triển của bảo hiểm nhanh như thế nào

Quay lại luận điểm “ Tham gia bảo hiểm là sự lựa chọn hiệu quả nhất để các cá

nhân ổn định tài chính khi xảy ra các rủi ro về người và phương tiện khi tham gia

giao thông” Đối với loại hình bảo hiểm xe cơ giới thuộc bảo hiểm phi nhân thọ đã

phát triển từ lâu nhưng với thị trường bảo hiểm hiện nay thì đây vẫn là một mảng thị

trường tiềm năng khai thác đem lại nguồn thu vô cùng lớn cho các doanh nghiệp

bảo hiểm cả về bắt buộc và tự nguyện Song chính vì tiềm năng to lớn này không

phải lúc nào việc khai thác thị trường giữa các doanh nghiệp cũng lành mạnh, đồng

thời người dân không phải lúc nào cũng tham gia đầy đủ và có ý thức đối với loại

hình bảo hiểm xe cơ giới bắt buộc, các khai thác viên lợi dụng sự đặc thù của loại

hình bảo hiểm này để cấu kế với người tham gia bảo hiểm làm lợi bất chính gây

thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp bảo hiểm Hành vi đó được gọi là “trục lợi bảo

Trang 7

hiểm”, đây là vấn đề nhức nhối đối với các nhà bảo hiểm, làm thế nào để hạn chế và

xóa bỏ hoàn toàn trục lợi, đảm bảo kinh doanh có hiệu quản, nâng cao uy tín, vị thế

công ty, đảm bảo bồi thường đúng người, đúng vụ Do đó, để tìm hiểu về vấn đề này

và đưa ra các giải pháp hạn chế trục lợi bảo hiểm em đã lựa chọn đề tài: “ Thực

trạng và giải pháp hạn chế trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Bảo hiểm PVI

Đông Đô” làm chuyên đề thực tập của mình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu là vấn đề trục lợi bảo hiểm tại doanh nghiệp Bảo

hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2009 – 2014

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là phương pháp phân tích thống kê, thực

nghiệm kết hợp lý luận đưa ra đánh giá, so sánh số liệu, đưa ra kết luận cơ sở để đềxuất kiến nghị giải quyết vấn đề

- Kết cấu của đề tài: Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham

khảo, chuyên đề được kết cấu bảo gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về bảo hiểm xe cơ giới và trục lợi bảo hiểm

xe cơ giới.

Chương 2: Tình hình trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại doanh nghiệp Bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2009 – 2014.

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế trục lợi bảo hiểm

xe cơ giới tại doanh nghiệp Bảo hiểm PVI Đông Đô

Để hoàn thành chuyên đề này, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS PhanAnh Tuấn và toàn thể các anh chị em trong doanh nghiệp Bảo hiểm PVI đã nhiệttình giúp đỡ em hoàn thành tốt chuyên đề này Do còn hạn chế về thời gian và kiếnthức, chuyên đề của em không tránh khỏi sai sót, nên em mong thầy cô trong khoađóng góp ý kiến để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 8

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI VÀ TRỤC LỢI

BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI

1.1 Khái quát về bảo hiểm xe cơ giới

1.1.1 Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm xe cơ giới

1.1.1.1 Sự cần thiết của bảo hiểm xe cơ giới

Giao thông và vận tải là một trong những nhân tố chủ chốt để phát triển kinh

tế - xã hội bền vững và thành công tại tất cả các xã hội, đặc biệt là tại các quốc giađang phát triển như Việt Nam Trong nền kinh tế, giao thông và vận tải được ví như

“ huyết mạch của nền kinh tế quốc dân Giao thông vận tải phục vụ nhu cầu đi lạicủa nhân dân, giúp cho các hoạt động sinh hoạt được thuận tiện

Điện, Đường, Trường, Trạm là 4 yếu tố cơ sở để các vùng miền, địa phươngphát triển Trong đó “ Đường – hay chính là giao thông vận tải” được xếp ở vị tríthứ 2 về tầm quan trọng, có đường thì sẽ có giao thông, có giao thông thì sẽ có cơhội để phát triển Các mối liên hệ kinh tế xã hội giữa các địa phương được thực nhờmạng lưới an giao thông vận tải Vì thế, những nơi gần các tuyến vận tải lớn hoặccác đầu mối giao thông vận tải cũng là những nơi tập trung của các ngành sản xuất,dịch vụ và dân cư

Luật giao thông đường bộ năm 2008 đã quy định: Phương tiện giao thông cơgiới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi

rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xegắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự Số lượng xe cơ giới, đặc thùcủa xe cơ giới cũng như những yếu tố khách quan chủ quan: cơ sở hạ tầng đường

xá, ý thức tham gia giao thông của đại đa số bộ phận dân cư sẽ cho thấy vai trò củabảo hiểm xe cơ giới quan trọng như thế nào

- Số lượng đầu xe đăng ký ngày càng tăng và có những thời kì tăng đột biến

làm cho tai nạn có những thời kì xảy ra ngày càng nhiều và càng nghiêm trọng Sốlượng xe máy năm 2009 là gần 20 triệu xe, và tính đến 6 tháng đầu năm 215 là gần

43 triệu xe, tăng gần gấp 2,15 lần Số lượng ô tô năm 2015 sấp xỉ 2 triệu chiếc

- Xe cơ giới có tính cơ động cao, tính việt dã tốt và nó tham gia triệt để vào

qía trình vận chuyển vì vậy xác suất rủi ro là rất lớn

Trang 9

- Xe cơ giới có những nhược điểm như độ an toàn thấp, có thể dẫn tới tổn

thất lớn Trong khi hệ thống đường giao thông nước ta còn kém, chất lượng mặtđường chưa đồng đều thêm với đó là ý thức của người tham gia giao thông cònthấp, cùng với số lượng xe tăng lên một cách chóng mặt làm cho áp lực giao thôngngày càng lớn, tai nạn xảy ra để lại hậu quả nghiêm trọng hơn

Bảng 1.1 Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam từ năm 2009 đến

So sánh

Số người bị thương

So sánh Tăng

(giảm) tuyệt đối (%)

Tăng (giảm) liên hoàn (%)

Tăng (giảm) tuyệt đối (%)

Tăng (giảm) liên hoàn (%)

Tăng (giảm) tuyệt đối (%)

Tăng (giảm) liên hoàn (%)

(Nguồn: Bộ giao thông vận tải)

Bảng 1.1 cho thấy tình hình tai nạn giao thông ở Việt Nam đã từ năm 2009-2014 đã có những chuyển biến tích cực Số vụ tai nạn giao thông, số người chết, sốngười bị thương trong mỗi vụ đã giảm đáng kể Tỷ lệ số vụ tai nạn giao thông năm

2014 giảm còn bằng 75% của năm 2009, tỷ lệ số người chết giảm khoảng 64%, tỷ

lệ số người bị thương giảm còn 89% Để đạt được những bước chuyển biến tích cựcnày là sự nỗ lực của Đảng và nhà nước cũng như các tổ chức nâng cao tuyên truyền,giáo dục tới người dân về an toàn giao thông, cơ sở hạ tầng, đường xá được cảithiện… Tuy nhiên, số vụ tai nạn giao thông đã có giảm, nhưng vẫn ở mức cao Đây

là một thách thức để những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền tăng cường, nâng caohơn nữa hiệu quả của các biện pháp hạn chế tai nạn, đảm bảo an toàn giao thôngđường bộ để giảm thiểu nhiều nhất về số vụ tai nạn cũng như số người bị chết và bịthương

Trang 10

1.1.1.2 Vai trò của bảo hiểm xe cơ giới

a, Đối với người tham gia bảo hiểm

Trước hết bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trongtrường hợp tổn thất do những rủi ro trong phạm vi bảo hiểm xảy ra Rủi ro bất ngờđều gây thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến thu nhập, đời sống, sản xuất kinh doanhcủa các cá nhân, doanh nghiệp tham gia bảo hiểm, chưa kể có lúc gây thiệt hại vềngười Tổn thất đó sẽ được bảo hiểm bồi thường về tài chính để người tham gianhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống sản xuất kinh doanh Từ đó, họkhôi phục và phát triển sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác 1 cách bìnhthường Tác động này phù hợp với mục tiêu kinh tế nên thu hút được số đông đất vềngười và tài sản cho chủ xem giúp cho cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội trật

tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân tham gia giao thông, cho mỗi doanh nghiệpkinh doanh vận tải

b, Đối với doanh nghiệp bảo hiểm

Bảo hiểm xe cơ giới có vai trò quan trọng trong việc đem lại doanh thu và lợinhuận cho công ty bảo hiểm Công ty bảo hiểm khai thác được nhiều hợp đồng bảohiểm xe cơ giới, quy trình giám định, bồi thường cũng như công tác đề phòng hạnchế tổn thất được triển khai hiệu quả sẽ đem lại nguồn lợi rất lớn cho công ty bảohiểm Từ đó công ty sẽ có những chế độ đãi ngộ cho nhân viên tốt hơn, đồng thời cóthể dành nhiều nguồn lực cho việc đầu tư phát triển sản phẩm mới, cũng như cáchoạt động kinh tế khác Những điều này sẽ đem lại danh tiếng, thương hiệu chocông ty bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm nói riêng và nền kinh tê nói chung

c, Đối với xã hội

Quỹ bảo hiểm xe cơ giới cũng giống như quỹ của các loại hình bảo hiểmthương mại khác được hình thành từ sự đóng góp dưới hình thức “phí bảo hiểm”của người tham gia bảo hiểm xe cơ giới Quỹ này được người bảo hiểm sử dụng đểtrợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia để họ

ổn định tài chính và đời sống, từ đó góp phần ổn định xã hội

Ngoài ra, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới đã tập chung cho hoạt động tuyên truyềnbảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới và đảm bảo an toàn giao thông với cácchương trình lớn, phối hợp với Trung ương Đoàn, Cảnh sát giao thông, Hiệp hộiVận tải ô tô Việt Nam

Trang 11

DNBH được phép kinh doanh bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới cótrách nhiệm trích tối thiểu 2% doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe

cơ giới thực thu hằng năm để đóng góp vào Quỹ tuyên truyền và đảm bảo an toàngiao thông đường bộ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam quản lí và sử dụng

Bảo hiểm góp phần ổn định tiêu chí của ngân sách Nhà nước Với quỹ bảohiểm xe cơ giới do các thành viên tham gia đóng góp, cơ quan, DNBH sẽ trợ cấphoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia để họ khôiphục cuộc sống, sản xuất kinh doanh Như vậy, ngân sách Nhà nước không phải chi

ra để trợ cấp cho các chủ xe, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải khi gặp rủi ro, tấtnhiên trừ những trường hợp có tổn thất mang tính thảm họa, mang tính xã hội lớn

d, Đối với nền kinh tế

Bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xe cơ giới nói riêng có vai trò quan trọng đốivới nền kinh tế, đặc biệt với nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập như ViệtNam hiện nay

Các doanh nghiệp bảo hiểmvới việc nắm giữ quỹ tiền tệ bảo hiểm rất lớnnhưng tạm thời nhàn rỗi đã trở thành những nhà đầu tư lớn Bảo hiểm vì vậy còn cóvai trò trung gian tài chính là một kênh huy động và cấp vốn có hiệu cho nền kinhtế

Bảo hiểm xe cơ giới giúp các cá nhân, tổ chức bớt đi những gánh nặng khi xảy

ra rủi ro, vì thế các cá nhân tổ chức sẽ chuyên tâm vào phát triển kinh tế hơn Bảohiểm xe cơ giới cũng thúc đẩy mối quan hệ qua lại giữa các ngân hàng, cácshowroom để cùng nhau đưa nền kinh tế tăng trưởng

1.1.2 Phân loại và quy định chung về bảo hiểm xe cơ giới

1.1.2.1 Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.

Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là một loại hình bắtbuộc Chủ xe phải them gia theo quy định của pháp luật, loại hình bảo hiểm nàycũng là một dạng của bảo hiểm trách nhiệm nên nó mang đầy đủ các đặc điểm củabảo hiểm trách nhiệm

Đối tượng và phạm vi bảo hiểm

- Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với

người thứ ba Đối tượng bảo hiểm không được xác định trước và có tính trừu tượng

là phần trách nhiệm hoặc bồi thường thiệt hại

Trang 12

Các điều kiện phát sinh TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:

- Thứ nhất: Thiệt hại về tài sản, tính mạng hoặc sức khỏe của người thứ ba

- Thứ hai: Chủ xe ( lái xe) gây ra thiệt hại về người vàcủa cải bên thứ ba

- Thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại của chủ

xe (lái xe) với tổn thất thực tế của người thứ ba

- Thứ tư: Có sự khiếu nại của người thứ ba

Người thứ ba ở đây là nạn nhân trong vụ tai nạn có thể là một người, nhiềungười cũng có thể là tài sản,hoa màu hoặc tư trang hành lí của người đó

Bảo hiểm sẽ không bồi thường nếu người thứ ba là:

- Lái xe, phụ xe làm thuê cho chủ xe

- Gia đình của lái xe, phụ xe và hành trang hành lí của họ

- Hành khách đi trên xe

Không bảo hiểm trong trường hợp này để tránh trường hợp công ty bảo hiểm

bị trục lợi và công tác giám định bồi thường thêm phức tạp

Phạm vi bảo hiểm: trong hợp đồng bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối vớingười thứ ba thì các rủi ro được bảo hiểm phải là các rủi ro bất ngờ, không lườngtrước được và để xảy ra tai nạn và phát sinh ra trách nhiệm dân sự của chủ xe Cácrủi ro đó gồm:

- Thiệt hại về tính mạng và giảm tình trạng sức khỏe của người thứ ba.

- Thiệt hại về vật chất của người thứ ba.

- Tổn thất về tài sản làm giảm thu nhập của người thứ ba.

- Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của những người tham gia cứu chữa ngăn

chặn vụ tai nạn xảy ra, chi phí cứu chữa và chăm sóc nạn nhân

- Những trường hợp sau sẽ không được người bảo hiểm bồi thường:

- Hành động cố ý vi phạm của chủ xe, lái xe và bên thứ ba.

- Xe không đủ điều kiện theo quy định của Luật an toàn giao thông đường

bộ để lưu hành

- Chủ xe và lái xe vi phạm những quy định của Luật giao thông đường bộ

như không có giấy phép lưu hành, lái xe không có bằng lái, nồng độ cồn của lái xequá mức cho phép, xe đi vào đường cấm…

- Thiệt hại do chiến tranh, bạo động gây nên.

Ngoài ra bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm đối với các tài sản quý giánhư vàng, kim cương, đá quý

Trang 13

Phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là một số tiềnnhất định mà chủ xe ( lái xe) sẽ phải nộp cho công ty bảo hiểm ngay sau khi họnhận được giấy chứng nhận bảo hiemer

Số phí này được đóng một lần trong suốt thời gian hợp đồng có hiệu lực

Do các phương tiện giao thông khác nhau, đa dạng, về độ lớn có xác suất gâytai nạn khác nhau do đó chi phí bảo hiểm được tính theo công thức:

P = f + d Trong đó:

P: Phí bảo hiểm tính trên đầu phương tiện

Si: Số vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra có phát sinh trách nhiệmdân sự được bảo hiểm bồi thường năm i

Ti : Là số tiền bảo hiểm bình quân một vụ tai nạn trong năm i

Ci: Số phương tiện tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơgiới đối với người thứ ba trong năm i

n : Số năm thống kê Thông thường từ 3 đến 5 năm

Riêng với những phương tiện hoạt động ngắn hạn (thường là dưới 1 năm)thời gian tham gia bảo hiểm được lấy tròn tháng thì phí bảo hiểm được xác địnhtheo công thức sau:

Trang 14

PN : Phí bảo hiểm 1 năm

Nếu trong trường hợp mà người tham gia bảo hiểm đã đóng đủ phí cho cảnăm, nhưng vào một thời điểm nào đó trong năm phương tiện đó không hoạt độngnữa hoặc được chuyển nhượng cho người khác nhưng không được chuyển quyềnbảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm sẽ được bồi hoàn phí bảo hiểm tương ứng với

số thời gian còn lại của năm nếu trước đó người tham gia bảo hiểm chưa có khiếunại và được bảo hiểm bồi thường

Phí hoàn lại PHL = hoàn lại

Cách tính phí bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba ở trên

là dựa theo quy luật số lớn Nhưng hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm khi triểnkhai nghiệp vụ này đều tuân thủ theo quy tắc, biểu phí của Bộ Tài Chính và biểu phí

mở rộng thỏa thuận giữa các doanh nghiệp bảo hiểm mà đã được Bộ tài chính phêchuẩn

Hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm là bản cam kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm và ngườitham gia bảo hiểm, theo hợp đồng thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường theonhư thỏa thuận nếu người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro được bảo hiểm

Bảo hiểm trách nhiệm thường được thực hiện theo các hính thức bắt buộc:Vừa ổn định tài chính cho người được bảo hiểm, vừa bảo vệ quyền lợi cho phíangười bị nạn

Đối với loại hình bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba thìhợp đồng bảo hiểm chính là giấy chứng nhận bảo hiểm hay còn gọi là ấn chỉ sẽđược giao cho người tham gia bảo hiểm khi họ nộp phí và hợp đồng bắt đầu có hiệulực kể từ lúc đó Trong ấn chỉ sẽ có những nội dung bắt buộc: tên công ty bảo hiểm,nơi cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, họ và tên người tham gia bảo hiểm, biển kiểmsoát, phí bảo hiểm, ngày hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực, tham gia loại hình bảohiểm TNDS với hạn mức trách nhiệm là bao nhiêu Ở đằng sau của ấn chỉ còn ghinhững thông tin về điều kiện được bảo hiểm, các điều kiện loại trừ để khách hàngtham khảo

1.1.2.2 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với thiệt hại thân thể và tính mạng của

hành khách.

Đây là loại hình bắt buộc với mục đích:

Trang 15

- Góp phần ổn định cuộc sống của bản thân hành khách không may bị tainạn vàgia đình họ.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạnkhắc phục hậu quả kịp thời, nhanh chóng

- Xét trên phạm vi xã hội, nó góp phần ngăn ngừa và đề phòng tai nạn giaothông Tăng thu ngân sách cho Nhà nước đề từ đó có điều kiện để đầu tư trở lạinâng cấp và xây dựng mới cơ sở hạ tầng giao thông

Đối tượng bảo hiểm:

Là tính mạng và tình trạng sức khỏe của tất cả hành khách đi trên cácphương tiện giao thông kinh doanh chuyên chở hành khách Những người nàykhông phân biệt lứa tuổi ,nghề nghiệp ,miễn là họ có vé hoặc miễn giảm vé theoquy định Những người được bảo hiểm bao gồm cả những hành khách được ưu tiênđặc biệt không phải mua vé, trẻ em đi theo người lớn được miễn vé

Tuy nhiên, hành lý, tài sản, hàng hóa của hành khách mang theo, các lái phụ

xe và những người đang làm việc trên các phương tiện vận chuyển hành khách( ôtô, tàu hỏa, tàu thủy, thuyền phà và máy bay) không thuộc đối tượng bảo hiểm.Nghiệp vụ này ở nước ta được triển khai dưới hình thức bắt buộc, vì vậy phí bảohiểm được tính vào giá cước vận chuyển và mặc nhiên mỗi tấm vé là một giấychứng nhận bảo hiểm

Phạm vi bảo hiểm:

 Các rủi ro được bảo hiểm:

Là các rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ xảy ra trong suốt hành trình củahành khách gây thiệt hại đến tính mạng và tình trạng sức khỏe của người được bảohiểm

- Thiên tai bao gồm: Thời tiết xấu, bão lốc, lũ lụt, sụt lở đất đá…gây thiệt hạicho phương tiện chuyên chở, do đó gây thiệt hại đến tính mạng và tình trạng sứckhỏe của hành khách

- Tai nạn bất ngờ: Đâm va, cháy nổ, lật nghiêng, do sự cố kỹ thuật của chínhphuwowng tiện, lỗi lầm của người điều khiển phương tiện hoặc do phương tiệnkhác đâm vào…

 Các rủi ro loại trừ:

Trang 16

- Bị tai nạn do vi phạm trật tự an toàn giao thông vi phạm pháp luật ( nhảytàu, xe khi phương tiện chưa dừng hẳn, bám xe , đứng ngồi không đúng chỗ quyđịnh, hành hung, ….)

- Bị tai nạn do những nguyên nhân không liên quan trực tiếp đến quá trìnhvận chuyển hoặc bản thân tình trạng sức khỏe của hành khách gây ra ( ngộ độc thức

ăn, , ốm đau…)

 Thời hạn hiệu lực của bảo hiểm:

- Là thời gian hợp lý để thực hiện cuộc hành trình, tức là bắt đầu từ lúchành khách bước chân lên phương tiện và kết thúc khi hành khách rời khỏi phươngtiện một cách an toàn tại bến, ga hoặc sân bay cuối cùng ghi trên vé Thời gian tạmngừng hợp lý vẫn được tính vào thời hạn bảo hiểm Nếu đi liên vận, hành kháchphải thay đổi phương tiện, trong lúc chờ đợi để lên phương tiện tiếp theo có bảohiểm

- Nếu hành khách tự ý hay vô tình rời bỏ cuộc hành trình , rời bỏ hay lạcmất phương tiện chuyên chở thì coi như thời hạn bảo hiểm chấm dứt

Số tiền bảo hiểm:

Số tiền bảo hiểm được ấn định theo quy định chung đối với mỗi loại phươngtiện hay một số loại phương tiện Vì nghiệp vụ được thực hiện dưới hình thức bắtbuộc nên người tham gia bảo hiểm không có quyền lựa chọn số tiền bảo hiểm Trẻ

em mua nửa vé hoặc được miễn vé thì số tiền bảo hiểm chỉ bằng 50% số tiền bảohiểm của người lớn

Phí bảo hiểm:

Vì thực hiện bảo hiểm bắt buộc nên phí bảo hiểm được tính vào giá vé Cơquan làm nhiệm vụ vận chuyển hành khách bán vé cũng là người thu phí bảo hiểm.Phí bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố sau:

- Số tiền bảo hiểm

- Loại phương tiện bảo hiểm

- Độ dài tuyến đường chuyên chở

- Đặc điểm tuyến đường hoạt động của phương tiện vận chuyển (chất

lượng đường xá, địa hình)

Có 2 phương pháp tính phí được các công ty bảo hiểm vận dụng:

Trang 17

f4 : Phí quản lí và lãi dự kiến

Trả tiền bảo hiểm:

- Nếu tai nạn chếtngười: Số tiền chi trả cho moojt hành khách bằng số tiền bảohiểm

- Nếu bị tai nạn thương tật: Số tiền chi trả bằng tỉ lệ thuwowng tật nhân với

số tiền bảo hiểm (tỷ lệ thương tật được thông qua giám định y khoa)

- Nếu hành khách bị tai nạn nhẹ, tạm thời: Số tiền có thể tính theo chi phíthực tế (nằm viện, điều trị ) hoặc cũng có thể bằng số tiền chi trả bình quân mộtngày nhân với số ngày nằm viện Số tiền chi trả 1 ngày và số ngày nằm viện đượcquy định thống nhất căn cứ vào số tiền bảo hiểm Nhưng số tiền chi trả tối đa khôngvượt quá số tiền bảo hiểm

1.1.2.3 Bảo hiểm vật chất thân xe.

Đối tượng bảo hiểm:

Bao gồm tất cả những chiếc xe còn giá trị và được phép lưu hành trên lãnhthổ của quốc gia

- Chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe là để được bồi thường cho nhữngthiệt hại vật chất xảy ra với xe của mình do những rủi ro được bảo hiểm gây ra

- Đối với xe ôtô các loại có thể tham gia bảo hiểm toàn bộ vật chất xe cũng

có thể tham gia bảo hiểm từng bộ phận của chiếc xe Tuy nhiên nếu tham gia từng

bộ phận phải có thể tham gia 1 trong 7 tổng thành sau :

Trang 18

+ Tổng thành cầu sau.

+ Tổng thành lốp

Ngoài ra còn một số loại xe tổng thành thứ 8 như xe cứu thương, xe cứu hỏa,móc kéo…

- Còn đối với xe môtô và xe máy chỉ tiến hành bảo hiểm toàn bộ xe

Đây là loại hình bảo hiểm tài sản vì vậy được thực hiện dưới hình thức tựnguyện Khi tham gia bảo hiểm chủ xe cần lưu ý 4 vấn đề sau:

- Trong mọi trường hợp không bao giờ bảo hiểm bồi thường vượt quá số tiềnghi trong đơn bảo hiểm, hay nói cách khác đó là giới hạn tối đa để bồi thường

- Nếu chủ xe cũ đã mua bảo hiểm , sau đó chuyển quyền sở hữu cho chủ xekhác thì chủ xe mới vẫn được hưởng quyền bảo hiểm đó cho đến hết hợp đồng,nhưng chủ xe phải báo cho công ty bảo hiểm

- Bảo hiểm không chịu phần hao mòn tự nhiên của chiếc xe Chủ xe phảichịu các khoản miễn thường, hao mòn, trục trặc máy móc, hỏng lốp do xe sử dụngthành bi cắt hay nổ

Phạm vi bảo hiểm:

 Các rủi ro được bảo hiểm thông thường bao gồm:

- Tai nạn do đâm va, lật đổ.

- Cháy nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá…

- Tai nạn rủi ro bất ngờ khác gây nên

Ngoài việc được bồi thường những thiệt hại vật chất xảy ra cho chiếc xeđược bảo hiểm trong những trường hợp trên, các công ty bảo hiểm còn thanh toáncho chủ xe tham gia bảo hiểm những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm:

- Ngăn ngừa và hạn chế tổn thất phát sinh thêm khi xe bị thiệt hại do cácrủi ro được bảo hiểm:

- Chi phí cho bảo vệ xe và kéo xe thiệt hại tới nơi sửa chữa gần nhất:

- Giám định tổn thất nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm:

Tuy nhiên, trong mọi trường hợp tổng số tiền bồi thường của công ty bảo hiểmkhông vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên đơn hay giấy chứng nhận bảo hiểm

 Công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hạivật chất của xe gây ra bởi:

Trang 19

- Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tậthoặc hư hỏng thêm do sửa chữa.

- Hư hỏng về ddieenj hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp bị hư hỏng

mà không do tai nạn gây ra

- Mất cắp bộ phận xe

- Vi phạm các trường hợp loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giớivới người thứ 3

Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm.

Giá trị bảo hiểm của xe cơ giới là giá trị thực tế trên thị trường của xe tại thờiđiểm người tham gia bao hiểm mua bảo hiểm Việc xác định đúng giá trị của xetham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi thường chính xác thiệt hạithực tế cho chủ xe tham gia bảo hiểm Tuy nhiên, giá trị xe trên thị truwowng luônbiến động và có thêm nhiều chủng loại xe mới gây khó khăn cho việc xác định đúnggiá trị của xe

Trong thực tê, các công ty bảo hiểm thwuwowfng dựa trên các yếu tố sau đểxác định giá trị của xe:

- Loại xe

- Năm sản xuất

- Mức độ cũ, mới của xe:

- Thể tích làm việc của xi lanh…….

Một phương pháp xác định giá trị của bảo hiểm mà các công ty bảo hiểm hay

áp dụng đó là căn cứ vào giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao Cụ thể:

Giá trị bảo hiểm = Giá trị ban đầu – Khấu hao

Ví dụ: Chủ một chiếc xe ôtô HONDA mua ngày 01 tháng 01 năm 2008 vớigiá 1000 triệu đồng: mua bảo hiểm vật chất xe vào ngày 10 tháng 4 năm 2010.Công ty bảo hiểm đánh giá tỉ lệ khấu hao là 12% năm Mức khấu hao được tính chotừng tháng, nếu mua bảo hiểm vào trước ngày 16 thì tháng đó không phải tính khấuhao, còn từ ngày 16 trở đi thì tháng đó phải tính khấu hao Trong trường hợp này giátrị bảo hiểm được tính như sau:

Giá trị ban đầu 1000.000.000 VNĐ

Trang 21

Phí bảo hiểm:

Khi xác định phí bảo hiểm cho từng đối tượng tham gia bảo hiểm cụ thể, cáccông ty bảo hiểm thường căn cứ vào các nhân tố sau:

+ Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kyx thuật khác nhau, có mức

độ rủi ro khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất xe được tính riêng cho từng loại.Thông thường, các công ty bảo hiểm đưa ra những biểu xác định phí bảo hieemrphù hợp cho hầu hết các xe thông dụng thông qua việc phân loại xe thành cácnhóm Việc phân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ gia tốc, chi phívàmức độ khó khăn khi sửa chữa vàsự khan hiếm của phụ tùng Đối với các xe hoạtđộng không thông dụng như xe kéo rơ moóc, xe chở hàng nặng…do mức độ rủi rocao nên phí bảo hiểm thường được cộng thêm một tỷ lệ nhất định dựa trên mức phí

cơ bản

Giống như tính cách phí bảo hiểm nói chung, phí bảo hiểm phải đóng chomỗi đầu xe đối với mỗi loại xe được tính theo công thức sau:

P = f + dTrong đó: P – thu phí mỗi đầu xe

d – thu phí

f – phí bồi thườngTheo công thức trên, việc xác định phí bảo hiểm phụ thuộc vào những nhân

tố sau:

- Tình hình bồi thường tổn thất của những năm trước đó Căn cứ vào số

liệu thống kê, công ty bảo hiểm sẽ tính toán được phần phí bồi thường “f” cho mỗiđầu xe:

f =

(Với: i= 1,2,… n)

Trong đó:

Si: số vụ tai nạn xảy ra năm thứ i

Ti: Thiệt hại bình quân 1 vụ trong năm thứ i

Ci: Số xe hoạt động thực tế năm thứ i

Trang 22

- Các chi phí khác hay còn gọi là phần thu phí (d), bao gồm các chi phí nhưchỉ đề phòng hạn chế tổn thất, chi quản lý

+ Khu vực giữ xe và để xe: Trong thực tế, không phải công ty bảo hiểm nàocũng quan tâm tới nhân tố này Tuy nhiên, cũng có một số công ty bảo hiểm tính phỉbảo hiểm dựa theo khu vực giữ xe và để xe rất chặt chẽ

+ Mục đích sử dụng: Đây là nhân tố quan trọng khi xác định phí bảo hiểm

Nó giúp công ty bảo hiểm biết được mức độ rủi ro có thể xảy ra Ví dụ, xe do mộtngười về hưu sử dụng do mục đích đi lại đơn thuần chắc chắn sẽ đóng phí bảo hiểmthấp hơn so với xe do một thương gia sử dụng để đi lại những khu vực rộnglớn Rõràng xe lăn bánh trên đường càng nhiều, rủi ro tại nạn càng lớn

+ Kinh nhiệm lái xe của người yêu cầu bảo hieemr và những người thườngxuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm Số liệu thống kê cho thấy rằng các lái xe trẻtuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe có số tuổi lớn hơn Trong thực tế, cáccông ty bảo hiểm thường áp dụng giảm phí bảo hiểm cho các lái xe trên 50 hoặc 55tuổi, do kinh nhiệm cho thấy những người này gặp ít tai nạn hơn so với những lái xetrẻ tuổi Tuy nhiên, với những lái xequá lớn tuổi (thường từ 65 trở lên) thường phảixuất trình giấy chứng nhận sức khỏe phù hợp để có thể lái xe thì công ty bảo hiểmmới nhận bảo hiểm Ngoài ra, để khuyến khích hạn chế tai nạn, các công ty bảohiểm thường yêu cầu người được bảo hiểm tự chịu một phần tổn thất với xe(hay còngọi là mức miễn thường) Đối với những lái xe trẻ tuổi mức miễn thường nàythường cao hơn so với những lái xe lớn tuổi

+ Giảm phí bảo hiểm: Để khuyến khích các chủ xe có số lượng lớn tham giabảo hiểm tại công ty mình, các công ty bảo hiểm thường áp dụng mức giảm phí sovới mức phí chung theo số lượng xe tham gia bảo hiểm Ngoài ra, hầu hết các công

ty bảo hiểm còn áp dụng cơ chế giảm giá cho những người tham gia bảo hiểmkhông có khiếu nại và gia tăng tỉ lệ giảm giá này cho một số năm không có khiếunại gia tăng Có thể nói đây là biện pháp phổ biến trong bảo hiểm xe cơ giới

Đối với những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ, tức là chỉ hoạt động một

số ngày trong một năm, thì chủ xe phải đóng bảo hiểm cho những ngày hoạt động

đó với công thức sau:

Phí bảo hiểm = Mức phí cả năm x Số tháng xe hoạt động trong năm ( 12 tháng)

+ Biểu phí đặc biệt: Khi khách hàng có số lượng xe tham gia bảo hiểm nhiều,

các công ty bảo hiểm có thể áp dụng biểu phi riêng cho khách hàng đó Việc tính

Trang 23

toán biểu phi riêng cũng tương tự như cách tính biểu phi được đề cập ở trên, chỉkhác là dựa trên các số liệu về bản thân khách hàng đó, cụ thể:

- Số lượng xe của công ty tham gia bảo hiểm:

- Tình hình bồi thường tổn thất của công ty bảo hiểm cho khách hàng ởnhững năm trước đó:

- Tỷ lệ thu phi theo quy định của công ty:

Trường hợp mức phí đặc biệt thấp hơn mức phí quy định chung, công ty bảohiểm sẽ áp dụng theo mức phí đặc biệt Còn nếu mức phí đặc biệt tính được là cao hơn(hoặc bằng) mức phí chung, tức là tình hình tổn thất của khách hàng cao hơn (hoặcbằng) mức tổn thất bình quân chung, thì công ty bảo hiểm sẽ áp dụng mức phí chung

+ Hoàn phí bảo hiểm: Có những trường hợp chủ xe đã đóng phí bảo hiểm cảnăm, nhưng trong năm xekhông hoạt động một thời gian vì một lý do nào đó Ví dụnhư ngừng hoạt động để tu sửa xe Trong trường hợp này thông thường công ty bảohiểm sẽ hoàn lại phí bảo hiểm của những tháng ngừng hoạt động đó cho chủ xe Sốphí hoàn lại được tính như sau:

Phí hoàn lại = Phí cả năm x Số tháng xekhông hoạt đông x tỷ lệ hoàn lại

Mỗi công ty bảo hiểm có tỷ lệ hoàn phí là khác nhau Nhưng thông thường

tỷ lệ hoàn này là 80%

Nếu chủ xe muốn hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm khi chưa hết hạn hợp đồng thìthông thường công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại đótheo công thức trên, nhưng với điều kiện là chủ xe chưa có lần nào được công tybảo hiểm trả tiền bảo hiểm

1.1.2.4 Bảo hiểm tai nạn lái xe, phụ xe và người ngồi trên xe.

Đối tượng bảo hiểm:

Đối tượng bảo hiểm là thiệt hại về thân thể và tính mạng đối với lái xe, phụ

xe và những người khác được trở trên xe gây ra do tai nạn khi xe đang tham giagiao thông

Phạm vi bảo hiểm:

Nhà bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về thân thể của lái xe vànhững người khác được chở trên xe Những người này bị tai nạn khi đang ở trên xe,lên xuống xe hay trong quá trình xe đang tham gia giao thông

Các trường hợp loại trừ:

Trang 24

- Đối tượng được bảo hiểm cố ý gây tai nạn.

- Vi phạm các trường hợp loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới

đối với người thứ 3

Số tiền bảo hiểm:

- Đây là nghiệp vụ bảo hiểm con người nên các công ty bảo hiểm sử dụng mứcgiới hạn trách nhiệm bồi thường và các công ty thường đưa ra nhiều mức giới hạncho từng loại xe để người tham gia bảo hiểm có thể lựa chọn sao cho phù hợp vớikhả năng tài chính của mình

1.1.2.5 Bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hàng hóa chuyên chở trên xe.

Đối tượng bảo hiểm:

Loại hình bảo hiểm này chỉ áp dụng cho những xe có giấy phép kinh doanhvận tải hàng hóa Khi nhận hàng hóa để chuyên chở, chủ xe phải có nghĩa vụ đưahàng hóa đến điểm giao cuối cùng 1 cách đầy đủ vànguyên vẹn do vậy chủ xe phảichịu trách nhiệm về những thiệt hại của hàng hóa mà họ nhận chuyển chở xảy ra dolỗi của họ hoặc người làm công cho họ Vì vậy, đối tượng được bảo hiểm là TNDScủa chủ xe cơ giới đối với thiệt hại của hàng hóa được vận chuyển trên xe theo hợpđồng vận chuyển giữa chủ xe vàchủ hàng được pháp luật quy định tại lệ vậnchuyển hàng hóa bằng ôtô ban hành kèm theo Quyết định số 1690/QĐ-VT ngày15/9/1990 của Bộ giao thông bận tải vàBưu điện

Hàng hóa ở đây là hàng hóa thông thường không thuộc nhóm hàng cấm kinhdoanh, vận chuyển theo quy định của pháo luật Còn đối với những hàng hóa đặcbiệt như vàng bạc, đá quý, đồ cổ, tranh cổ, hài cố, tiền chỉ được bảo hiểm khi cóthỏa thuận riêng giữa chủ hàng với bên nhận bảo hiểm

Trang 25

Phạm vi bảo hiểm:

Phạm vi bảo hiểm ở đây là TNDS của chủ xe đối với hàng hóa vận chuyểntrên xe: là số tiền chủ xe phải chịu trách nhiệm bồi thường cho chủ hàng khi có tainạn làm thiệt hại về hàng hóa vận chuyển trên xe theo hợp đồng vận chuyển

Ngoài ra,nhà bảo hiểm còn thanh toán cho chủ xe các chi phí hợp lý và cầnthiết nhằm:

- Ngăn ngừa,giảm nhẹ tổn thất cho hàng hóa

- Bảo quản,xếp dỡ, lưu kho, lưu bãi hàng hóa trong quá trình vận chuyển dohậu quả của tai nạn

- Chi phí giám định tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm

Các điều khoản loại trừ:

Nhà bảo hiểm không nhận bảo hiểm và bồi thường cho những thiệt hại hànghóa trong những trường hợp sau:

- Vi phạm các điều khoản loại trừ trong bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đốivới người thứ 3

- Hàng hóa lưu thông trái phép

- Tiền, các loại ấn chỉ, hóa đơn có giá trị như tiền,đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thihài, vàng bạc, đá quý…

- Mất cắp, trộm cướp

- Tổn thất hàng hóa do bắt giữ của cơ quan chức năng Nhà nước

- Tổn thất hàng hóa do bị xô lệch, va đập trong quá trình vận chuyển mà khôngphải do va đập, lật đổ

- Xe ôtô không thích hợp với loại hàng hóa chuyên chở

Số tiền bảo hiểm:

 Đối với bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với hàng hóa vận chuyểnchở trên xe, các công ty bảo hiểm thường giới hạn mức trách nhiệm của mình đốivới một tấn trọng tải đăng ký bảo hiểm trong mộ vụ tai nạn Cụ thể:

Số tiền bảo hiểm = Mức trách nhiệm x Số tấn trọng tải đăng ký bảo hiểm

1.2 Trục lợi bảo hiểm trong bảo hiểm xe cơ giới

1.2.1 Khái niệm

Trang 26

Xã hội phát triển, thị trường bảo hiểm ngày càng lớn mạnh, các loại hình bảohiểm ngày càng trở nên phong phú đa dạng, số lượng người tham gia bảo hiểm ngàymột lớn Tuy nhiên bên cạnh những tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm với mụcđích bảo vệ, ổn định cuộc sống thì cũng một bộ phận tham gia bảo hiểm có tư tưởngkiếm lợi bất chính Đó chính là “ Trục lợi bảo hiểm”

Theo quy định tại thông tư 31/2004/TTC-BTC của Bộ tài chính hướng dẫnthực hiện nghị định 118 về xử phạt hành chính trong kinh doanh bảo hiểm có quyđịnh về trục lợi bảo hiểm như sau: “ Trục lợi bảo hiểm là hành vi cố ý lừa dối của tổchức, cá nhân nhằm thu lời bất chính khi tham gia bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm,trả tiền bảo hiểm và giải quyết khiếu nại.”

Trục lợi bảo hiểm là hành vi luôn tồn tại song hành với sự ra đời và phát triểncủa ngành bảo hiểm Trên thế giới,ở các nước ngành bảo hiểm có trình độ phát triểncao, trục lợi bảo hiểm cũng luôn là vấn đề lớn, gây thiệt hại cho xã hội và doanhnghiệp bảo hiểm

Ở Việt Nam, hành vi trục lợi bảo hiểm diễn biến ngày càng phức tạp và gâynhững thiệt hại không nhỏ cho xã hội và cộng đồng các doanh nghiệp bảo hiểm.Vấn đề này đã được các doanh nghiệp bảo hiểm đề cập và thảo luận tại nhiều hộinghị, hội thảo

1.2.2 Các hình thức trục lợi bảo hiểm xe cơ giới

1.2.2.1 Hợp lý hóa ngày và hiệu lực bảo hiểm

Giấy chứng nhận bảo hiểm được coi như một hợp đồng kinh tế và có hiệu lựcghi trong hợp đồng Nó là một chứng từ để đảm bảo cho lời cam kết bảo hiểm Khi

có sự kiện bảo hiểm xảy ra, công ty bảo hiểm sẽ căn cứ vào giấy chứng nhận bảohiểm để đền bù cho người tham gia bảo hiểm theo đúng quy định

Những người trục lợi bảo hiểm bằng hình thức này là những người đã tham giabảo hiểm, tuy nhiên tại thời điểm phát sinh tai nạn, hợp đồng bảo hiểm đã hết hạn

và họ có ý định thay đổi nhằm hạn chế tổn thất mình phải gánh chịu Thông thường,

có 2 cách để họ có thể trục lợi:

a Ghi lại ngày mua trên giấy chứng nhận bảo hiểm

Trường hợp này xảy ra khi xe cơ giới xảy ra tai nạn nhưng chưa tham gia bảohiểm Chủ xe dựa vào mối quan hệ quen biết hoặc dùng các hình thức mua chuộcnhân viên đại lý bán bảo hiểm cấp đơn bảo hiểm và ghi lùi ngày cấp bảo hiểm trở

Trang 27

về ngày trước khi xảy ra tai nạn Họ chỉ có thể thực hiện điều này nếu công tác quản

lý ấn chỉ thiếu chặt chẽ Đây là hình thức trục lợi bảo hiểm rất khó bị phát hiện bởi

nó được thực hiện chính bởi các cán bộ, đại lý của công ty bảo hiểm, những người

đã quá hiểu luật lệ cũng như nắm rõ các kẽ hở của công ty

b Ghi lại ngày tai nạn

- Trong trường hợp chủ xe gặp tai nạn mà chưa mua bảo hiểm, chủ xe ngay

lập tức mua bảo hiểm và mua chuộc cơ quan chức năng để ghi lại ngày xảy ra tainạn sao khi mua bảo hiểm Trong trường hợp này chủ xe đã lợi dụng sơ hở nhânviên, đại lý bảo hiểm không thấy trực tiếp hiện trạng xe khi tham gia bảo hiểm

- Trong trường hợp chủ xe có mua bảo hiểm nhưng thời điểm xảy ra tai nạn

bảo hiểm vừa mới hết hạn Chủ xe mua chuộc cơ quan chức năng ghi lại ngày xảy

ra tai nạn nằm trong thời hạn bảo hiểm

Cả 2 trường hợp này có thể dễ dàng bị phát hiện nếu giám định viên điều trađược những người dân xung quanh, tuy nhiên trong nhiều trường hợp tai nạn xảy ratại các vùng núi thưa thớt người thì phải đòi hỏi giám định viên co chuyên môn thậtcao để đánh giá đúng ngày xảy ra tai nạn

1.2.2.2 Thay đổi tình tiết vụ án

- Thay đổi người lái xe có giấy phép lái xe hợp Sửa chữa hiệu lực bằng lái

( do hết hạn hoặc không phù hợp với loại xe được lái)

- Thay đổi lỗi, nguyên nhân trong vụ tai nạn.

- Thay đổi biên bản xe vi phạm giao thông, chở quá số người quy định, đi

đêm không bật đèn…

Thông thường, hồ sơ tai nạn bao gồm bản sao các chứng từ: Giấy chứngnhận bảo hiểm, giấy phép lái xe, giấy thông hành…Người tham gia bảo hiểm chỉnhsửa rất tinh vi, nên nếu giám định viên không kiểm tra đối chiếu lại với bản gốc thìrất dễ bị qua mặt

1.2.3 Nguyên nhân của hành vi trục lợi bảo hiểm xe cơ giới

Nguyên nhân sâu xa thúc đẩy hành vi gian lận bảo hiểm xuất phát từ lòngtham của con người, họ có thể tìm mọi cách để mình có lợi, kể cả những hành vi viphạm pháp luật

1.2.3.1 Nguyên nhân chủ quan

Nguyên nhân chủ quan đầu tiên phải nhắc đến là hiện tượng cạnh tranh khônglành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường bằng đủ mọi cách, mọi

Trang 28

thủ đoạn Một số công ty bảo hiểm đã mở rộng phạm vi bảo hiểm một cách thiếuchuyên nghiệp, trái với thông lệ bảo hiểm quốc tế, tạo điều kiện cho những hành vitrục lợi bảo hiểm ngày càng nhen nhóm và phát triển.

Do các doanh nghiệp luôn hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt,khốc liệt nên các doanh nghiệp bảo hiểm luôn phải giữ bí mật thông tin Việc traođổi thông tin cần thiết về khách hàng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm gần nhưkhông có Vì vậy, khi có tai nạn xảy ra, các công ty bảo hiểm cũng tiến hành bồithường mà không xem xét tình hình ở các doanh nghiệp khác dẫn đến chủ xe có thểđược hưởng nhiều lần tiền bồi thường ở các công ty khác nhau do họ bảo hiểmtrùng, mà theo nguyên tắc không được bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản

Cũng do điều kiện hoạt động trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, để nângcao doanh thu phí bảo hiểm, các công ty đã đơn giản hóa nhiều thủ tục khi kí kếthợp đồng cũng như khi xảy ra tổn thất hoặc khi đánh giá rủi ro xét nhận bảo hiểm,đơn giản thủ tục xét bồi thường…đã tạo điều kiện cho các chủ xe lợi dụng các kẽ hở

để trục lợi

Nhận thức của người dân về pháp luật còn yếu kém, nhất là những văn bảnquy phạm pháp luật về bảo hiểm Nhiều người dân còn nhận thức mơ hồ về bảohiểm, và họ cho rằng, quỹ bảo hiểm giống như quỹ phúc lợi Cho nên có nhữngtrường hợp nói sai sự thật nhằm giúp nạn nhân nhận các quyền lợi bảo hiểm…

Đối với những trường hợp khiếu nại gian lận bị công ty bảo hiểm phát hiện,các công ty chưa có những biện pháp xử lí đích đáng, mang tính răn đe, mà mới chỉdừng lại ở mức độ từ chối bồi thường, điều này làm cho các chủ xe suy nghĩ tiêucực là cứ lập hồ sơ khiếu nai nếu qua được thì được nhận tiền bồi thường, còn nếukhông qua đươc thì không phải nộp phạt…

Trong công tác phòng chống gian lận bảo hiểm, các đại lí khai thác và cácnhân viên giám định có một vai trò hết sức quan trọng Công việc của hai chức danhnày ảnh hưởng đến việc ngăn ngừa và phát hiện hành vi gian lận,kể cả khi ký kếthợp đồng cũng như khi giải quyết bồi thường Do đó những người làm trong hai bộphận này phải là những người có tâm huyết với nghề, phẩm chất đạo đức tốt, cónăng lực thực sự…Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là việc tuyển dụng đại lí còntương đối dễ dàng, qua loa, chủ yếu do quen biết…do đó nhiều nhân viên đại lícũng có hành vi gian lận bảo hiểm cùng khách hàng…nếu điều này xảy ra thì sẽ gâyhậu quả nghiêm trọng cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trang 29

Trình độ của nhân viên bảo hiểm còn hạn chế Đặc biệt đối với nghành bảohiểm Việt Nam thì đây còn là một điều trăn trở, vì thị trường bảo hiểm Việt Namcòn non trẻ, việc đào tạo cho nhân viên chưa được coi trọng, các nhân viên còn ítkinh nghiệm trong công tác phòng chống gian lận bảo hiểm Do đó nhiều nhân viênchạy theo mức doanh thu phí mà quên mất điều quan trọng là khi tổn thất xảy ra thì

số tiền bồi thường sẽ rất lớn so với mức phí thu được nếu như khi kí hợp đồng họcoi nhẹ công tác đánh giá rủi ro để dễ dàng kí được hợp đồng Đây là một điều tốtcho các chủ xe làm bất chính…

Do tư cách phẩm chất của một số bộ phận nhân viên trong công ty bị thoáihóa, coi trọng đồng tiền hơn cả trách nhiệm nghề nghiệp Họ có thể đánh giá caomức độ tổn thất hoặc vạch đường đi nước bước cho khách hàng lợi dụng các kẽ hởtrong các thủ tục hành chính,giám định, bồi thường để trục lợi

1.2.3.2 Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân khách quan đầu tiên phải nhắc đến sự chưa chặt chẽ của hệthống hành lang pháp lí đã khiến các cơ quan chức năng lới lỏng việc ngăn chặn cáchành vi gian lận bảo hiểm, do chưa có một quy trình rõ ràng, đầy đủ khi kí kết hợpđồng bảo hiểm hoặc do trong quá trình thực hiện chưa được nghiêm minh, chủ xe

dễ dàng thực hiện hành vi gian lận của mình , dễ dàng lách qua kẽ hở của pháp luật

mà không bị trừng trị của pháp luật

Do sự quản quá lí lỏng lẻo của các cơ quan chức năng thiếu sự kiểm tra, kiểmsoát và xử lí Không gian địa lí cũng là một nguyên nhân phát sinh hành vi gian lậnbảo hiểm Như ta đã biết, xe cơ giới có tính cơ động cao , tham gia hoạt động trênnhiều địa bàn, nhiều khu vực trong cả nước Do đó, đối với những vụ tai nạn xảy ra

ở xa, hoang vắng, ít người qua lại, khó có thể giữ nguyên hiện trường, sự thay đổitình tiết hiện trường dễ dàng xảy ra nhằm có lợi hơn cho người được bảo hiểm Đểgiám định kịp thời thường phải nhờ các công ty khác giám định hoặc phải nhờ vàobiên bản của cảnh sát, công an, mà trong biên bản này có thể vì nhiều lí do, nhiềutác động mà tính chính xác không còn cao…

Trình độ lái xe rất cao, họ am hiểu về xe cộ, địa hình đi lại…họ có thể tạo racác vụ tai nạn đánh lạc hướng cơ quan bảo hiểm đê lấy tiền bồi thường từ công tybảo hiểm

Trang 30

Do giá trị của chiếc xe là rất lớn, do đó, khi xảy ra tai nạn sẽ làm cho chủ xe bịkiệt quệ về tài chính, giảm hoặc mất khả năng tiếp tục kinh doanh, vì vậy, đây làmột động cơ rất lớn dẫn đến hiện tượng trục lợi bảo hiểm.

Bên cạnh những nguyên nhân không nằm trong tầm kiểm soát của con ngườithì cũng có những nguyên nhân phát sinh từ ý chí con người, nhưng vẫn không thểngăn chặn triệt để được

1.2.4 Hậu quả của trục lợi bảo hiểm xe cơ giới

1.2.4.1 Đối với công ty bảo hiểm

Có thể nhận thấy nếu không ngăn cản được hành vi trục lợi bảo hiểm sẽ làmgiảm lợi nhuận của công ty bảo hiểm Mà mục tiêu quan trọng nhất của hầu hết cácdoanh nghiệp trong cơ chế thị trường là lợi nhuận

Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi

Trong đó: Tồng chi = Chi bồi thường + Chi quản lí + Chi khác

Nếu hành vi trục lợi bảo hiểm không bị phát hiện thì nó sẽ làm tăng chi bồithường Tuy nhiên, để phát hiện ra các hành vi đó, công ty bảo hiểm cũng phải mở 1cuộc điều tra lớn, nó làm tăng chi phí quản lí của doanh nghiệp Thậm chí, có nhữngtrường hợp nghi ngờ, công ty tôt chức điều tra nhưng không đủ cơ sở từ chối bồithường, làm tăng cả chi bồi thường vachi quản lí Khi chi phí tăng, làm giảm lợinhuận của doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh của công ty bảo hiểm bị hạn chế

Do các hành vi trục lợi bảo hiểm ngày càng tăng nên các công ty bảo hiểmphải tăng cường công tác giám định, điều tra, kiểm tra, thanh tra Điều này làm tăngthời gian giải quyết bồi thường, làm gián đoạn kinh doanh của khách hàng, gâythiệt hại về mặt tài chính cũng như làm giảm uy tín của các công ty bảo hiểm tronglòng khách hàng Do đó làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm bảo hiểm, làmgiảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường

Trục lợi bảo hiểm làm giảm số khách hàng hiện tại cũng như các khách hàngtiềm năng khác Trong bảo hiểm, hoạt động dựa theo nguyên tắc “số đông bù số ít”

Vì vậy hành vi trục lợi bảo hiểm được thực hiện thì chính những khách hàng trungthực sẽ chịu hậu quả, do đó họ không còn muốn tham gia bảo hiểm Đó là lí do làmcho lượng khách hàng giảm đi

Trang 31

1.2.4.2 Đối với nhà nước

Khi lợi nhuận của công ty bảo hiểm giảm thì các khoản phải nộp cho ngânsách nhà nước cũng giảm

Hành vi gian lận không chỉ ảnh hưởng đến từng công ty riêng lẻ mà còn ảnhhưởng đến toàn hệ thống bảo hiểm nói chung Bảo hiểm là ngành có vai trò ổn địnhkinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, vì vậy hành vi trục lợi đã gián tiếp ảnh hưởngđến thu hút đầu tư nước ngoài nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội nói chung

Thị trường bảo hiểm Việt Nam so với các nước trên thế giới còn non trẻ, nếukhông có những biện pháp răn đe những hành vi trục lợi sẽ gây tâm lý coi thường

kỷ cương pháp luật

1.2.4.3 Đối với khách hàng

Đối với khách hàng là những người trung thực sẽ bị thiệt thòi về quyền lợibởi vì phí bảo hiểm mà họ phải nộp lại dùng để trả cho những khoản tiền gian lậnkhông được phát hiện ra Do vậy doanh nghiệp nào có nhiều vụ gian lận thì sẽ cóphí bảo hiểm cao hơn những doanh nghiệp kiên quyết chống và loại trừ những kẻtrục lợi bảo hiểm

CHƯƠNG II TÌNH HÌNH TRỤC LỢI BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI

DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PVI ĐÔNG ĐÔ GIAI ĐOẠN 2009

– 2014

2.1 Vài nét về công ty Bảo hiểm PVI Đông Đô

2.1.1 Sự ra đời và phát triển

a, Sơ lược Tổng công ty bảo hiểm PVI

Thành lập năm 1996, Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam

(PVI) phát triển từ một công ty bảo hiểm nội bộ thuộc Tổng công ty Dầu khí Việt

Nam (nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam - PVN) trở thành nhà bảo hiểmcông nghiệp số một Việt Nam, dẫn đầu trog các lĩnh vực trọng yếu của thị trườngbảo hiểm như Năng lượng (chiếm thị phần tuyệt đối), Hàng hải, Tài sản – Kỹthuật và quan trọng hơn, PVI đang sẵn sàng hướng tới trở thành một Địnhchế Tài chính – Bảo hiểm quốc tế

Trang 32

Trong 5 năm đầu thành lập, PVI đã duy trì và củng cố hoạt động của mình

với tổng doanh thu đạt 516 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước trên 48 tỷ đồng và 30

tỷ đồng lợi nhuận, đây là giai đoạn Công ty tập trung gây dựng cơ sở vật chất vàđào tạo đội ngũ nhân viên của mình

Năm 2001, thị trường bảo hiểm có nhiều biến động lớn, hàng loạt các biến

động lớn do thiên tai, khủng bố, khủng hoảng kinh tế khu vực… Với bản lĩnh vàchiến lựơc kinh doanh hợp lý, PVI đã khẳng định được vị thế của mình: doanh thuđạt 187 tỷ đồng tăng 167% so với năm 2000, các nhà bảo hiểm và môi g iới Quốc tếnhìn nhận vai trò chủ đạo của PVI trên thị trường bảo hiểm năng lượng Việt Nam.Điển hình là việc PVI đã thu xếp bảo hiểm an toàn, cấp đơn bảo hiểm đạt tiêu chuẩnquốc tế cho tài sản, hoạt động của Xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietsopetro Năm

2002, PVI đã tận dụng lợi thế thương hiệu và năng lực tài chính của mình để vươnlên thống lĩnh thị trường ở lĩnh vực bảo hiểm hàng hải và xây dựng lắp đặt

Từ năm 2005,PVI đã có những bước trưởng thành quan trọng về cung cấp

dịch vụ bảo hiểm cho các dự án dầu khí lớn tại nước ngoài và tăng cường nhận táibảo hiểm từ Triều Tiên,Trung Quốc… Từ đó PVI thành lập các chi nhánh khu vực

và phát triển mạng lưới đại lý chuyên nghiệp trên khắp các tỉnh thành trong cảnước Việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn chất lượng ISO9001:2000 từ năm 2002 đến nay đã giúp kiểm soát chặt chế quỹ trình cấp đơn bảohiểm và kiểm soát nội bộ đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng

Năm 2006,PVI đã đánh dấu chặng đường 10 năm hình thành và phát triển bằng

sự kiện đạt doanh thu 1.000 tỷ vào ngày 26/9/2006 cùng với việc vốn và tài sảnđược nâng lên đáng kể Đây là năm quan trọng trong quá trình xây dựng và pháttriển thương hiệu Bảo hiểm Dầu khí – PVI và là năm thứ 6 liên tiếp hoàn thành xuấtsắc nhiệm vụ kế hoạch do Tập đoàn giao với tổng doanh thu đạt 1.304 tỷ đồng, nộpngân sách nhà nước 105 tỷ đồng, lợi nhuận đạt trên 60 tỷ đồng…Tháng 9/2006, BộCông nghiệp và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã có Quyết định cổ phầnhóa PVI với mục tiêu tăng cường năng lực cạnh tranh và xây dựng PVI trở thànhmột Tổng công ty cổ phần mạnh trong định chế Bảo hiểm - Tài chính của Tập đoàn.Ngày 12/4/2007 là ngày Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam chínhthức ra mắt, đánh dấu sự chuyển mình cho những thành công rực rỡ tiếp theo

Năm 2007 là năm đầu tiên PVI chuyển đổi hoạt động từ doanh nghiệp nhà

nước sang mô hình Tổng công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp Tuy

Trang 33

nhiên PVI đã thể hiện bản lĩnh vững vàng thể hiện qua việc thích ứng nhanh chóngvới cơ chế quản lý mới, doanh thu đạt 1.997 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 250 tỷ đồng.

Năm 2008, mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của

cuộc khủng hoảng kinh tế toàn thế giới, tuy nhiên bằng nhiệt huyết và sự sáng tạo,PVI đã vượt qua khó khăn với mức doanh thu đạt 2.694 tỷ đồng, làm tiền đề chomốc ấn tượng 3.000 tỷ đồng vào tháng 12/2009

Năm 2009, PVI đã chinh phục cột mốc 3.000 tỷ đồng vào giữa tháng 11 Kết

thúc năm 2009, vượt qua mọi khó khăn từ cuộc khủng hoảng kinh tế, PVI vẫn đạtđược mức doanh thu ấn tượng là 3.566 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 220 tỷ đồng, đónggóp cho ngân sách nhà nước 240 tỷ đồng, tốc độtăng trưởng doanh thu là 30,5% sovới năm 2008, hoàn thành vượt mức kế hoạch Tập đoàn giao là 118,6% Tốc độtăng trưởng doanh thu bảo hiểm gốc cũng đạt tận 37,1%, đồng thời là doanh nghiệp

có tốc độ tăng trưởng cao nhất thị trường bảo hiểm ViệtNam

Năm 2010, khi cơn bão khủng hoảng kinh tế toàn cầu dần qua đi, nền kinh tế

Việt Nam đã có sự phục hồi nhanh chóng khi GDP đạt mức (6,78%) cao hơn so với

kế hoạch (6,5%), nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm đã đạt được những kết quả tíchcực Đây cũng là thời điểm thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tăng trưởng mạnh vớitổng doanh thu 17.072 tỷ đồng, tăng trưởng 25% so với năm 2009

Năm 2011 ghi một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử phát triển của PVI

Holdings: Đạt doanh thu cao nhất từ trước đến nay ,tái cấu trúc thành công hoạtđộng theo mô hình công ty mẹ - công ty con và được đón nhận danh hiệu Anh hùngLao động… Lần đầu tiên ,PVI đã đạt doanh thu trên 5.200 tỷ đồng ,tăng trưởng trên15% so với năm 2010 Năm 2011, PVI nộp ngân sách nhà nước trên 440 tỷ đồng,tăng 47% so với năm trước PVI tiếp tục được xem là nhà bảo hiểm công nghiệphàng đầu tại thị trường bảo hiểm Việt Nam và duy trì tốc độ phát triển cao nhất,vượt xa các công ty bảo hiểm khác trên thị trường

Năm 2012 Bảo hiểm PVI tiếp tục khẳng định sự phát triển mạnh mẽ và vững

chắc, là công ty bảo hiểm duy nhất trong nhóm 5 công ty dẫn đầu về thị phần thịtrường bảo hiểm phi nhân thọ đạt mức kế hoạch đề ra với gần 5.459 tỷ đồng tổngdoanh thu ( hoàn thành 102,5 % kế hoạch ) và 454 tỷ đồng lời nhuận ( hoàn thành116% kế hoạch ) Năm vừa qua Bảo hiểm PVI đã thành công trong công tác tư vấn,quản lý rủi ro và đảm bảo an toàn về tài sản cho các khách hàng trong lĩnh vực Dầu khí– Năng lượng thông qua xây dựng chương trình bảo hiểm trọn gói cho PVN và PVEP

Trang 34

Năm 2013 là một năm khó khăn của toàn thị trường Bảo hiểm nói chung và

của Bảo hiểm PVI nói riêng Tỷ lệ hoành thành doanh thu chỉ đạt 81%, nhiềunghiệp vụ bảo hiểm chưa phát triển tương xứng so với tiềm năng của nó Chấtlượng nhân sự và mở rộng các văn phòng đại diện tại các vùng miền còn hạn chế

Năm 2014, tổng doanh thu phí bảo hiểm của toàn thị trường ước đạt

54.718 tỷ đồng, tăng trưởng 14,9% so với năm 2013

Tuy nhiên Bảo hiểm PVI đang tích cực hoàn thiện, đưa ra các giải phápnhằm đưa PVI quy trở lại vào năm 2015

Biểu đồ 2.1: Tổng doanh thu của pvi các năm giai đoạn 2009-2013

Năm 2013 là năm thứ 4 liên tiếp PVI được Tổ chức đánh giá tín nhiệm A.M

Best xếp hạng năng lực tài chính ở mức B+ (Tốt) và World Finance trao giải thưởngDoanh nghiệp Bảo hiểm tiêu biểu của Việt Nam Tổng công ty Bảo hiểm PVI làcông ty con của PVI, ngay sau khi PVI tái cấu trúc, cũng được xếp hàng năng lựctài chính ở mức B+ (Tốt) bởi Tổ chức đánh giá tín nhiệm A.M Best

Thực hiện kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm, tiến hành hoạt động đầu tư vàcác hoạt động khác liên quan đến bảo hiểm như: giám định, phân bổ tổn thất, phùhợp với luật kinh doanh bảo hiểm

Bảng 2.1 : Tình hình doanh thu của Tổng Công Ty PVI từ năm 2009 đến năm 2014

Trang 35

Năm Doanh thu

Kinh doanh bảo hiểm

 Bảo hiểm dầu khí

 Bảo hiểm hàng hải

 Bảo hiểm kỹ thuật

 Bảo hiểm tài sản

 Bảo hiểm trách nhiệm

 Bảo hiểm hàng không

 Bảo hiểm con người

 Bảo hiểm xe cơ giới

 Bảo hiểm y tế tự nguyện

 Bảo hiểm chi phí y tế và vận chuyển cấp cứu

 Bảo hiểm nông nghiệp

 Bảo hiểm khác

Kinh doanh tái bảo hiểm

 Nhượng tái bảo hiểm

 Nhận tái bảo hiểm

Dịch vụ bảo hiểm khác

 Tư vấn bảo hiểm và quản lý rủi ro

Trang 36

 Giám định, tính toán phân bổ tổn thất

 Giải quyết bồi thường và đòi người thứ ba

Đầu tư

 Kinh doanh giấy tờ có giá

 Kinh doanh bất động sản

 Góp vốn vào các doanh nghiệp khác

 Uỷ thác cho vay vốn

b, Sơ lược về doanh nghiệp Bảo hiểm PVI Đông Đô

Tháng 4 năm 2007, Công ty Bảo Hiểm PVI Đông Đô được thành lập vàchính thức đi vào hoạt động với hình thức là công ty con của Tổng Công Ty BảoHiểm Dầu PVI Thông tin về công ty như sau:

Tên giao dịch: Công ty Bảo hiểm PVI Đông Đô

Địa chỉ trụ sở: Số 52 Bà Triệu – Hai Bà Trưng – Hà Nội

Điện Thoại: +84 439 725 875/76/77

Fax: +84 439 725 300

Email: info@pvidongdo.com.vn

Website: www.pvi.com.vn

Người đại diện theo pháp luật: Tổng Giám Đốc: Lại Trung Kiên

Công Ty Bảo hiểm PVI Đông Đô vẫn là một công ty thành viên trựcthuộc Tổng Công Ty Bảo Hiểm PVI – Thuộc Tập Đoàn Dầu Khí Quốc Gia ViệtNam có chức năng kinh doanh các loại hình dịch vụ bảo hiểm phục vụ nhu cầucủa thị trường, nghiên cứu và tổ chức hợp tác về lĩnh vực bảo hiểm mang bảnquyền của mình

Kinh doanh đúng ngành nghề được giao trong giấy phép kinh doanh

Tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của thị trường, nâng caonăng suất lao động, tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định và chăm lo cho tinh thầnđời sống người lao động

Tích cực nghieen cứu, nắm bắt nhu cầu thị trường, nâng cao khả năng pháttriển thương hiệu, mang lại hiệu quả kinh tế cho công ty và cho xã hội Thực hiện

Ngày đăng: 21/04/2022, 13:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Nguyễn Văn Định (2004), giáo trình Bảo hiểm – Đại học Kinh tế Quốc Dân, Nhà xuất bản thống kê Khác
2. TS. Nguyễn Văn Định, giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm- Đại học Kinh tế Quốc dân, Nhà xuất bản thống kê (2009) Khác
3. Dr. David Bland, Bảo hiểm nguyên tắc và thực hành, Học viện Bảo hiểm Hoàng gia Anh Khác
4. Hiệp hội bảo hiểm ( 2013), báo cáo thống kê thị trường Bảo hiểm Khác
5. Bộ tài chính (2010) Luật kinh doanh Bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội Khác
6. Thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2013, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, 2013 Khác
7. Luận văn khóa trước, các website và báo điện tử Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở ViệtNam từ năm 2009 đến năm 2014 - Thực trạng và giải pháp hạn chế trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PVI đông đô (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)
Bảng 1.1. Tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở ViệtNam từ năm 2009 đến năm 2014 (Trang 9)
Bảng 2.1: Tình hình doanh thu của Tổng Công Ty PVI từ năm 2009 đến năm 2014 - Thực trạng và giải pháp hạn chế trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PVI đông đô (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)
Bảng 2.1 Tình hình doanh thu của Tổng Công Ty PVI từ năm 2009 đến năm 2014 (Trang 34)
Sơ đồ 2.1: Mô hình cơ cấu tổ chức tại Công ty Bảo hiểm PVI Đông Đô - Thực trạng và giải pháp hạn chế trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PVI đông đô (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)
Sơ đồ 2.1 Mô hình cơ cấu tổ chức tại Công ty Bảo hiểm PVI Đông Đô (Trang 37)
Cụ thể, ta có tình hình chi bồi thường các nghiệp vụ bảo hiểm XCG tại công Bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2009-2013 như sau: - Thực trạng và giải pháp hạn chế trục lợi bảo hiểm xe cơ giới tại công ty bảo hiểm PVI đông đô (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)
th ể, ta có tình hình chi bồi thường các nghiệp vụ bảo hiểm XCG tại công Bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2009-2013 như sau: (Trang 43)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w