1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kinh doanh bảo hiểm cháy nổ tại công ty hùng vương giai đoạn 20102014 (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)

68 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 510,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD Th S Tô Thị Thiên Hương LỜI MỞ ĐẦU Những năm gần đây, công cuộc đổi mới của Chính phủ với việc chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường đã mở ra cơ hội kinh doanh, làm ăn lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài và góp phần đẩy nhanh tiến trình tư nhân hoá tại Việt Nam Một trong những vấn đề đang được các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế quan tâm là bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng do vai trò quan trọng của chúng trong.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Những năm gần đây, công cuộc đổi mới của Chính phủ với việc chuyển nềnkinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường đã mở ra cơ hội kinh doanh,làm ăn lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài và góp phần đẩy nhanh tiến trình tư nhânhoá tại Việt Nam Một trong những vấn đề đang được các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế quan tâm là bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng dovai trò quan trọng của chúng trong việc bảo toàn vốn, hình thành tâm lý ổn định, antâm cho người được bảo hiểm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh

Đây cũng là mối quan tâm lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam,nhất là từ khi thị trường bảo hiểm đã chuyển từ "thị trường của người bán" thành

"thị trường của người mua" Vấn đề nghiên cứu, cải tiến, áp dụng và triển khai cácloại hình bảo hiểm mới đang trở thành một trong những chiến lược quan trọng màcác công ty bảo hiểm sử dụng để cạnh tranh trên thị trường

Đối với những cán bộ bảo hiểm cũng như những ai đang nghiên cứu, học tậptrên lĩnh vực này, nghiệp vụ Bảo hiểm Cháy nổ đã không còn xa lạ Mấy năm gầnđây Chính phủ và Bộ Tài chính đã đưa vào áp dụng chế độ bảo hiểm cháy nổ bắtbuộc Tuy nhiên, làm thế nào để hiểu thấu đáo, tường tận cơ sở lý luận và thực tếtriển khai loại hình này cho phù hợp với điều kiện Việt Nam mà vẫn đáp ứng đượcvới nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của các doanh nghiệp đang là câu hỏilớn đặt ra với tất cả các công ty bảo hiểm hoạt động tại Việt nam Chính vì vậy, em

đã chọn đề tài “Tình hình kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại

công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010-2014”

làm nội dung nghiên cứu

Mục đích của đề tài nhằm tập hợp, hệ thống hoá các nguyên tắc lý luậnđược áp dụng chung trong loại hình Bảo hiểm Hoả hoạn, các đặc điểm riêng biệtcủa loại hình, cũng như những công tác cần thiết trong việc triển khai nghiệp vụ.Ngoài ra, đề tài cũng dành một phần đề cập đến thực tế tình hình triển khai nghiệp

vụ tại công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương Chi nhánh Hà Nội

Trang 2

Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài này, em đã nhận được sự giúp

đỡ tận tình thiết thực của cô giáo hướng dẫn Thạc sỹ Tô Thị Thiên Hương và một sốcán bộ công tác tại Phòng Bảo hiểm cháy nổ và rủi ro hỗn hợp thuộc Công ty cổphần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội Xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn

về sự giúp đỡ quý báu đó

Bản chuyên đề này chắc chắn sẽ không thể tránh khỏi những khiếm khuyếttrong biên tập và trình bày Rất mong được sự góp ý và phê bình của Cô giáo vàcác bạn đồng nghiệp

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Anh Phương

Trang 3

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM CHÁY NỔ

1.1 Sự cần thiết của bảo hiểm cháy nổ

1.1.1 Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm cháy nổ bắt buộc

Điều 8, Luật kinh doanh bảo hiểm có ghi rõ: “ …Bảo hiểm bắt buộc chỉ ápdụng đối với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và antoàn xã hội” Theo quy định này thì chỉ những thiệt hại gây hậu quả cho lợi ích củangười khác hoặc của xã hội mới thuộc phạm vi bảo hiểm bắt buộc Do đó loại bảohiểm này chủ yếu là bảo hiểm trách nhiệm dân sự Thực hiện bắt buộc loại bảo hiểmnày giúp giải quyết tốt các tranh chấp khi xảy ra tai nạn làm thiệt hại cho ngườikhác hoặc của Nhà nước Nó đáp ứng được nhu cầu hội nhập khi văn hóa khiếu nại

sẽ là phương pháp chủ yếu giải quyết tranh chấp giữa các bên Tuy nhiên, hiện nayViệt Nam đã ban hành nghị định 130/CP-NĐ quy định các doanh nghiệp, cơ sở cónguy cơ cháy nổ bắt buộc phải tham gia bảo hiểm cháy… Vì sao lại có quy định nàykhi mà đối tượng của bảo hiểm cháy nổ là tài sản riêng của một số cá nhân, đơn vị,

và nếu họ không gây thiệt hại cho ai khác ngoài bản thân thì họ không phát sinhtrách nhiệm gì với xã hội Trên thực tế các nước chủ yếu áp dụng bảo hiểm cháy nổdưới dạng tự nguyện, nhưng đối với những cơ sở kinh tế trọng điểm, tập trung nhưnhà máy điện, lọc dầu, ciment… thường áp dụng bảo hiểm bắt buộc Bởi chẳng maygặp rủi ro và xảy ra tổn thất lớn sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế quốc dân

Do đó tham gia bảo hiểm cháy nổ như một hình thức đảm bảo an toàn xã hội Hiệnnay, các quốc gia duy trì qui trình bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại khu vực Châu Á làThái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc Ở Hong Kong, Đài Loan, Philipin,Singapore không bắt buộc Tại Việt Nam, tất cả các cơ sở được coi là có nguy cơcháy nổ, như đã quy định tại Nghị định 35/NĐ-CP của Chính Phủ về PCCC, đều làđối tượng tham gia bảo hiểm cháy nổ bắt buộc Những đối tượng này tập trung vàobắt buộc nhóm lớn :

 Nhóm có sản xuất, chế biến, vận chuyển, tang trữ, xuất nhập khí, chất nổ,khí đốt, xăng dầu…

Trang 4

 Nhóm nhà máy điện, trạm biến áp từ 110KV trở lên.

 Nhóm địa điểm công cộng, tập trung dân cư cao…( chợ, trung tâm thươngmại, nhà tập thể, chung cư, rạp hát, rạp chiếu phim, nhà ga…)

Vậy đối tượng của bảo hiểm cháy nổ không chỉ là những cơ sở có nguy cơcháy nổ cao mà còn có khả năng gây thiệt hại mang tính thảm hỏa đối với xã hội.Chính từ đặc điểm này đã giải thích phần nào về ý nghĩa của sự bắt buộc trong bảohiểm cháy nổ Cháy xảy ra tại các cơ sở sản xuất vật liệu cháy nổ, tại các cơ sở khaithác chế biến dầu mỏ, hay kho vật liệu nổ… đều có khả năng cháy rộng và cháy lớnrất cao Hơn nữa, do các cơ sở trên là những cơ sở có vai trò quan trọng hàng đầuvới các nghành kinh tế, nên rủi ro xảy ra dẫn tới sự trì trệ không chỉ của riêngnghành đó mà còn có thể ảnh hưởng đến các nghành khác có liên quan

Do đó thực hiện bảo hiểm cháy nổ bắt buộc xuất phát từ mục đích bảo hiểm vệlợi ích công cộng và an toàn cho xã hội Bởi vậy ngày nay với sự phát triển khôngngừng của nền kinh tế, cơ sở kinh doanh, trụ sở của các doanh nghiệp không ngừnglớn mạnh, hơn nữa với tốc độ đô thị hóa cao mật độ nhà cửa, dân cư trên mỗi m2ngày càng dày đặc Theo số liệu thống kê mà Tổng cục thống kê công bố vào tháng

7 năm 2002, đến năm 1995 bình quân mỗi Km2 có 6,2 cơ sở kinh tế, năm 2002 là8,8 cơ sở; đến nay con số này có thề là 11 cơ sở Vì vậy, cháy nổ xảy ra sẽ là thảmhọa chung của cả xã hội, không còn là vấn đề riêng của mỗi cá nhân doanh nghiệp.Thực hiện quy định bảo hiểm cháy nổ bắt buộc sẽ mang lại rất nhiều lợi íchđối với nhà nước, với doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng:Thứ nhất, đối với nhà nước và xã hội thực hiện cháy nổ bắt buộc tạo ra nhữnglợi ích sau:

 Quy định bảo hiểm cháy nổ bắt buộc gián tiếp nâng cao tinh thần tráchnhiệm phòng cháy chữa cháy trong xã hội Trước khi tham gia bảo hiểm cháy nổ bắtbuộc, cơ sở và doanh nghiệp buộc phải sở hữu giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩnphòng cháy chữa cháy Do vậy, đây là cơ hội để chấn chỉnh và thực hiện nghiêm túcmột lần nữa công tác PCCC

Trang 5

 Đem lại đời sống tốt đẹp, tiến tới xã hội văn minh, phát triển hạnh phúc.

 Tăng thu ngân sách: Do doanh nghiệp bảo hiểm tăng doanh thu từ chi phíbảo hiểm cháy nổ, lợi nhuận tăng, kết quả là thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộpnhiều hơn

 Bảo hộ nghành kinh tế bảo hiểm trước tác động của hội nhập kinh tế quốc

tế Hiện nay, tại Luật kinh doanh bảo hiểm bắt buộc phải xin phê duyệt của cơ quanquản lý là Bộ Tài chính Luật cũng quy định các doanh nghiệp bảo hiểm và môi giớibảo hiểm nước ngoài được phép bán sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nói chung, chứkhông nói rõ là trong lĩnh vực nào Tuy nhiên, cho đến nay chưa có doanh nghiệpbảo hiểm nào trong khối này ( có vốn đầu tư nước ngoài ) được phép bán bảo hiểmbắt buộc Như vậy, rõ ràng quy định chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đã tạo ra lợithế cho các doanh nghiệp trong nước Nó tạo ra sự giới hạn sân chơi cho các doanhnghiệp bảo hiểm nước ngoài trước thị trường bảo hiểm cháy nổ đầy hấp dẫn Đây sẽ

là bước đệm để tăng cường hơn nữa nội lực của các doanh nghiệp, tạo ra vị thếvững chắc cho các doanh nghiệp trước thời điểm hiệp định thương mại Việt- Mỹ vàcác cam kết quốc tế, cam kết WTO về lĩnh vực bảo hiểm chính thức được dỡ bỏ

 Giảm chi ngân sách cho hoạt động chi PCCC Để PCCC hàng năm, ngânsách nhà nước dành cho công tác này là khá lớn Số tiền đó được chi cho các hoạtđộng như tuyên truyền, quảng bá về sự cần thiết của PCCC, hoặc tài trợ cho cơquan PCCC thực hiện các dự án xây dựng các công trình như bể chứa nước ngầm,tăng cường trạm bơm công cộng…; tăng cường trang thiết bị cho lực lượng PCCC;đầu tư cho giáo dục tại các trường đại học và cao đẳng về PCCC… Doanh nghiệpbảo hiểm khi thực hiện bảo hiểm cháy nổ cho các đối tượng có nguy cơ cháy nổ, vìlợi ích của chính mình cũng sẽ thực hiện những biện pháp trên, phần nào đó đãgiảm bớt gánh nặng cho nhà nước Ngoài ra với nghĩa vụ phải trích một quỹ khá lớncho các khoản chi PCCC, như vậy ngân sách dành cho công tác PCCC có thể cắtgiảm…

Trang 6

 Giảm nguy cơ cháy nổ, từ đó gián tiếp bảo hiểm vệ môi trường sống: Donhà bảo hiểm có những chuyên gia trong lĩnh vực tư vấn về quản trị rủi ro, nên khitham gia bảo hiểm, các cơ sở và doanh nghiệp sẽ nhận được những ý kiến hữu íchnhất cho công tác PCCC Để xảy ra tình trạng cháy sẽ gây tác hại không lường tớichủ doanh nghiệp, xã hội, và công ty bảo hiểm (do bồi thường) Do đó, vì ích lợicủa chính mình, doanh nghiệp bảo hiểm luôn luôn phải chủ động trong công tácPCCC tại các cơ sở Biện pháp mà các doanh nghiệp áp dụng ngoài tư vấn còn có

cử cán bộ thường xuyên xuống cơ sở thực hiện kiểm tra giám sát hoạt động… Hạnchế được số vụ cháy, nổ tức là hạn chế lượng khí độc hại CO2 thải ra môi trường,như vậy đã góp phần giảm bớt sự ô nhiễm

 Sự bắt buộc sẽ tạo ra một xã hội an toàn hơn, bởi tất cả các cơ sở doanhnghiệp tham gia bảo hiểm, khi bị tổn thất sẽ nhanh chóng nhận được tiền bồi thườngđầy đủ, từ đó khôi phục nhanh chóng hoạt động của chính mình Nếu không có bảohiểm cháy nổ bắt buộc, sẽ có rất nhiều người không nhận thức hết sự nghiêm trọngcủa vấn đề…

Thứ hai: Ích lợi của sự bắt buộc tham gia bảo hiểm cháy nổ đối với doanhnghiệp và cơ sở:

 Tạo ra động lực mạnh hơn khi tham gia bảo hiểm Vì bắt buộc, doanhnghiệp để tránh những phiền phức nhất định, sẽ đặt biệt chú ý đến việc tham gia bảohiểm cháy nổ Không có sự bắt buộc, chủ doanh nghiệp có thể vì những lý do khácnhau trì hoãn việc mua bảo hiểm …

 Hoàn thiện hành lang pháp lý cho công tác thực hiện nghiệp vụ bảo hiểmcháy nổ, từ đó tạo ra sự minh bạch hơn nữa trong thực hiện bảo hiểm cháy nổ…Trước khi có nghị định 130/NĐ-CP, nghiệp vụ này đã được qui định bắt buộc tạiLuật PCCC và Luật bảo hiểm, song các quy định và chế tài trong áp dụng còn rất sơsài Hiệu quả áp dụng không cao, do vậy sau văn bản quy phạm pháp luật này, hệthống các văn bản về cháy nổ, bảo hiểm cháy nổ đã đầy đủ hơn, góp phần bảo vệ tốtnhất quyền lợi cho người tham gia Có đầy đủ cơ sở cho khiếu kiện hơn…

Trang 7

 Tạo điều kiện cho DN được tiếp cần với tất cả những tác dụng của bảohiểm cháy, như đã trình bày…

Thứ ba, đối với doanh nghiệp bảo hiểm

 Tốc độ tăng doanh thu phí lớn hơn tốc độ tăng chi phí kinh doanh:Không chỉ doanh nghiệp bảo hiểm cần tới sự tham gia bảo hiểm của doanh nghiệp,

cơ sở mà chính những đối tượng này, để tránh bọ phạt hành chính, tước giấy phéphoạt động… sẽ phải tìm tới các doanh nghiệp bảo hiểm… Như vậy, khách hàngtăng, trong khi chi phí cho khai thác có thể không tăng hoặc tăng không nhiều

 Sự bắt buộc tạo ra lợi thế hơn hẳn của các doanh nghiệp bảo hiểm trongnước đối với doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài Cho đến nay, chưa có doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nào được cấp phép kinh doanh bảo hiểm bắt buộc,trong khi đó thị trường bảo hiểm cháy nổ rất tiềm năng

 Ngoài các doanh nghiệp bảo hiểm, còn có các cơ quan hữu quan kháctham gia vào thực hiện giám sát việc thực hiện bảo hiểm cháy nổ, như công an, cơquan PCCC, địa phương… Như vậy gánh nặng của doanh nghiệp bảo hiểm đã đượcchia nhỏ và san sẻ

1.1.2 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm cháy nổ

Trong cuộc sống và sinh hoạt hằng ngày, cũng như các hoạt động sản xuất,con người luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn không lường trước được,một khi rủi ro xảy ra thì việc giải quyết hậu quả là vô cùng tốn kém và khó khăn,gây ra những xáo trộn trong cuộc sống Chính vì thế, bảo hiểm ra đời như một tấtyếu khách quan nhằm san sẻ những rủi ro trong xã hội, sự san sẻ giữa con người vớicon người, giúp ổn định cuộc sống cũng như sản xuất kinh doanh khi rủi ro ập đến.Quá trình tồn tại và phát triển loài người luôn phải đối mặt với những rủi ro,thảm họa xảy ra bất ngờ trong đó cháy được coi là một trong những rủi ro nguyhiểm nhất Nó thường mang tính chất thảm họa và khi xảy ra hậu quả để lại rất nặng

nề Việc khắc phục nó đòi hỏi phải có nguồn tài chính khổng lồ

Trang 8

Theo lịch sử để lại từ thời Phục Hưng, ở Châu Âu vẫn chưa có một hệ thốngphòng cháy hữu hiệu nào hơn hệ thống sử dụng từ thời các hoàng đế La Mã trị vì Ởcác thành phố lớn và thị trấn, nhà nào cũng phải dự trữ các xô đầy nước Vào banđêm đội tuần tra đi dọc các phố hễ thấy nhà nào có nguy cơ cháy là họ báo ngay chochủ nhà Nếu có hỏa hoạn xảy ra thì thiệt hại từ cháy có thể được phường hội giúp

đỡ với điều kiện họ phải là hội viên Tuy nhiên khoản trợ giúp này chỉ mang tínhchất động viên khích lệ chứ chưa thể coi là một khoản bồi thường thực sự Phườnghội đầu tiên theo kiểu này do các nhà buôn thành phố Rowen (Pháp) thành lập năm

1374 trong nhà thờ Saint Ptree Nhưng thời bấy giờ dân chúng vẫn có tư tưởng xemhỏa hoạn là rủi ro không thể tránh khỏi cũng như nạn đói, chiến tranh và các bệnhdịch khác…

Sự xuất hiện của bảo hiểm cháy nổ được đánh dấu bằng vụ cháy thảm khốc ởLuôn Đôn nước Anh ngày 2/9/1666 hủy diệt 13.000 căn nhà trong đó có hơn 100nhà thờ trong 4 ngày để lại một sự thiệt hại quá lớn không thể cứu trợ được, lúc nàyngười ta mới ý thức được tầm quan trọng của việc thiết lập hệ thống phòng cháy,chữa cháy và bồi thường cho người bị thiệt hại Sau đó những nhà khinh doanh ởnước Anh đã nghĩ ra việc cộng đồng chia sẻ rủi ro hỏa hoạn bằng cách đứng rathành lập những Công ty bảo hiểm hỏa hoạn như : Một số văn phòng cung cấp dịch

vụ phòng cháy, chữa cháy và bảo hiểm cháy “ Fire Office ” (năm 1667) , năm 1684công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên ra đời là công ty “ Friendly Society ” sau đóhang loạt các công ty bảo hiểm khác đã ra đời: “ Hand and Hand ” năm 1696, “Lom Bard House ” năm 1704… Nước Pháp do ảnh hưởng của vụ hỏa hoạn ở LuânĐôn, nên năm 1786 công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên mới được thành lập là “Company L’assurance Centree L’incendie” và “ Company Royade” và dần lan rộngsang các nước khác trên lục địa châu Âu Ngày nay nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạnđược tiến hành ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển

Ở Việt Nam trước năm 1945 đã có một công ty BH cháy của Pháp hoạt động.Tuy nhiên do cơ chế bao cấp, Nhà nước đứng ra bù đắp mọi thiệt hại nhằm đảm bảo

Trang 9

tài chính cho các doanh nghiệp khi họ không may gặp rủi ro Vì vậy BH nói chung

và BH cháy nói riêng không có điều kiện phát triển

Sau một thời gian thực hiện để phù hợp với tình hình thực tế, Bộ Tài Chínhban hành thêm một số quyết định khác đối với nghiệp vụ BH cháy: quyết định số142/TCQĐ về quy tắc và biểu phí mới, quyết định 212/TCQĐ ngày 12/4/1993 thaythế biểu phí quyết định 142 và mới nhất là quyết định số 28/2007/QĐ-BTC ngày24/4/2007 về quy tắc và biểu phí bảo hiểm cháy bắt buộc Việc Chính Phủ ban hànhnghị định 130/2006/NĐ- CP ngày 8/11/2006 quy định về chế độ BH cháy nổ bắtbuộc kèm theo quyết định số 28 của Bộ Tài Chính về quy tắc và biểu phí bảo hiểmcháy nổ bắt buộc đã tạo cơ sở pháp lý đầu tiên để các công ty bảo hiểm triển khainghiệp vụ cháy

Từ năm 1990, nước ta đã có 16 công ty triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháyvới giá trị tham gia bảo hiểm lên đến 6.200 tỷ đồng Đến năm 1994 bảo hiểm cháyđược thực hiện ở hầu hết 53 tỉnh thành phố, thêm nhiều công ty triển khai như :PJICO, PVI, Bảo Minh… với tổng giá trị bảo hiểm là gần 28.000 tỷ đồng Năm

2000 doanh thu phí bảo hiểm đạt 16.200.000 USD tăng 16% so với năm 1999.Ngày càng có nhiều công ty tham gia cung cấp các sản phẩm bảo hiểm hỏa hoạn,gần đây có các công ty như: AAA, BIC, bảo hiểm Hùng Vương… làm cho thịtrường bảo hiểm hỏa hoạn đa dạng và phong phú, tăng tính chất cạnh tranh từ đónâng cao được chất lượng sản phẩm

Như vậy, nghiệp vụ bảo hiểm hỏa hoạn ngày càng được triển khai rộng khắp,mọi người dân và doanh nghiệp đều có thể dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu nghiệp vụ này.Đáp ứng tốt nhu cầu cần thiết của nền kinh tế xã hội

1.2 Nội dung cơ bản của bảo hiểm cháy nổ bắt buộc

1.2.1 Cơ sở pháp lý

Luật dân sự quy định chung về hoạt động bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm

doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm … đây cũng là cơ sở của hoạt độngbảo hiểm cháy, nổ

Trang 10

Luật phòng cháy chữa cháy có hiệu lực từ ngày 29/06/2001 tại điều 9 – Bảo

hiểm cháy nổ quy định “Cơ quan, tổ chức và cá nhân có cơ sở nguy hiểm về cháy,

nổ phải thực hiện bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đối với tài sản của cơ sở đó…”

Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam ngày 09/12/có quy định “ Bảo hiểm bắt

buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về phí bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, sốtiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảohiểm có nghĩa vụ thực hiện

Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng bởi một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo

vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội

Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:

a) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệmcủa người vận chuyển hàng không đối với khách

b) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật.c) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.d) Bảo hiểm cháy nổ

Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ, Chính Phủ trình

Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác.” ( Điều 8 – LuậtBảo hiểm)

 Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 18/11/2006 quy định chi tiết thi hànhchế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc theo Luật PCCC và Luật kinh doanh Bảo hiểm

 Thông tư liên tịch số 41/2007/TTLT-BTC-BCA ngày 24/04/2007 hướngdẫn chi tiết về chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đối với tài sản của cơ sở phải muabảo hiểm cháy nổ bắt buộc, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong việc tríchlập kinh phí cho hoạt động PCCC và cơ chế quản lý, cấp phát, thanh toán quyết toánnguồn kinh phí này

 Quyết định số 28/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 ban hành Quy tắc vàBiểu phí bảo hiểm hiểm cháy nổ bắt buộc

Trang 11

1.2.2 Đối tượng bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm, cơ quan, tổ chức, và cá nhân có cơ sở nguy hiểm vềcháy, nổ có nghĩa vụ thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo quy định Chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo quy định là bảo hiểm tài sản đối vớicác rủi ro về cháy, nổ của:

a) Nhà, công trình kiến trúc và các trang thiết bị kèm theo

b) Máy móc thiết bị

c) Hàng hóa, vật tư, tài sản khác

Những tài sản này chỉ thực sự được bảo hiểm khi giá trị của chúng tính đượcthành tiền và được ghi trong Giấy chứng nhận bảo hiểm

Bên cạnh đó Nhà Nước cũng khuyến khích các cơ quan, tổ chức và các cánhân không thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo quyđịnh mua bảo hiểm cháy, nổ trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với các quy định phápluật có liên quan

1.2.3 Phạm vi bảo hiểm

Đơn bảo hiểm bồi thường cho thiệt hại của tài sản được bảo hiểm do hai rủi rođược bảo hiểm là Cháy và Nổ gây ra Doanh nghiệp bảo hiểm không có nghĩa vụbồi thường thiệt hại do một trong những nguyên nhân sau đây:

a) Động đất, núi lửa phun hay những biến động khác của thiên nhiên

b) Tài sản tự lên men hoặc tỏa nhiệt

c) Tài sản chịu tác động của tác động của một quá trình xử lý có dung nhiệt.d) Sét đánh trực tiếp vào tài sản được bảo hiểm nhưng không gây Cháy, Nổ.e) Thiệt hại xảy ra đối với máy móc, thiết bị điện hay các bộ phận của thiết

bị điện do chạy quá tải, quá áp lực, đoản mạch, tự đốt nóng, hồ quang điện hay ròđiện do bất kỳ nguyên nhân nào, kể cả do sét đánh

Trang 12

f) Những thiệt hại do hành động cố ý gây cháy nổ của người được bảo hiểmnhằm mục đích đòi bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm.

g) Những thiệt hại do cố ý vi phạm các quy định về phòng cháy và chữa cháy

để xảy ra cháy, nổ

h) Hàng hóa nhận ủy thác hay ký gửi trừ khi những hàng hóa đó được xácnhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm và Người được bảo hiểmtrả thêm phí bảo hiểm theo quy định

i) Nguyên liệu vũ khí hạt nhân gây cháy nổ

j) Tiền, kim loại quý, đá quý, chứng khoán, thư bảo lãnh, tài liệu, bản thảo,

sổ sách kinh doanh, tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử, bản mẫu, văn bằng,khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế, trừ khi những hạng mục này được xác nhậntrong Giấy chứng nhận bảo hiểm

k) Chất nổ, trừ khi được xác nhận là được bảo hiểm trong Giấy chứng nhậnbảo hiểm

l) Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất, được bảo hiểm theo đơnbảo hiểm hàng hải hoặc thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải,trừ phần thiệt hại vượt quá

m) Những thiệt hại do cháy, nổ cho bên thứ bắt buộc

n) Những thiệt hại đối với dữ liệu, phần mềm và các chương trình máy tính.o) Những thiệt hại do những biến cố chính trị, an ninh và trật tự an toàn xãhội gây ra

1.2.4 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tối thiểu là giá trị tính thành tiền theo giáthị trường của tài sản phải tham gia bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc tại thời điểm thamgia bảo hiểm Cần lưu ý là bên mua bảo hiểm liệt kê số tiền bảo hiểm riêng rẽ củatừng hạng mục tài sản bảo hiểm và tính tổng cộng số tiền bảo hiểm (gọi là Tổng Sốtiền bảo hiểm) Theo luật định, trong mọi trường hợp, trách nhiệm bồi thường của

Trang 13

công ty bảo hiểm sẽ không vượt quá Số tiền bảo hiểm của từng hạng mục và tổngcộng sẽ không vượt quá Tổng số tiền bảo hiểm.

Trường hợp không xác định được giá thị trường của tài sản thì số tiền bảohiểm cháy, nổ bắt buộc do các bên thỏa thuận

1.2.5 Phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm là số tiền mà bên tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ phải đóng chonhà bảo hiểm để hình thành một quỹ độc lập, quỹ này được dùng để chi trả bồithường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Phí bảo hiểm là yếu tố tiên quyết đến sự lựachọn của khách hàng, ảnh hưởng đến sự cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm khicùng kinh doanh một loại nghiệp vụ Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà chủ hợpđồng phải nộp cho nhà bảo hiểm để hình thành một quỹ tiền tệ độc lập, tập trung đủlớn để bồi thường thiệt hại xảy ra trong năm nghiệp vụ theo phạm vi bảo hiểm vàhạn mức trách nhiệm mà người tham gia đã ký với nhà bảo hiểm trong hợp đồngbảo hiểm Phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc là mức phí bảo hiểm được tính trên cơ sở

1 năm Trường hợp thời gian bảo hiểm khác 1 năm, phí bảo hiểm được tính tươngứng theo tỷ lệ của thời gian bảo hiểm

Việc xác định mức phí bảo hiểm nhìn chung là rất khó khăn, bởi vì phí bảohiểm là nguồn thu chủ yếu của các công ty bảo hiểm nên mức phí tối thiểu phải thỏamãn nhu cầu thanh toán bồi thường và công tác đề phòng hạn chế tổn thất đồng thờiphải đảm bảo cho công ty có được khoản lợi nhất định Cùng với sự phát triển mạnh

mẽ của thị trường bảo hiểm, ngày càng có nhiều các công ty bảo hiểm gia nhập làmcho thị trường ngày càng trở nên cạnh tranh gay gắt Chính vì vậy việc đưa ra mộtmức phí thích hợp là một vấn đề không dễ dàng đối với các công ty bảo hiểm

Phí bảo hiểm phải là một mức phí cạnh tranh, không quá cao, không quá thấp

so với mức phí của bộ tài chính quy định Mức phí này phải đảm bảo được nguyêntắc số đông bù số ít và đảm bảo được sự cân đối thu chi trong hoạt động kinh doanhcủa công ty bảo hiểm

Mức phí của hợp đồng bảo hiểm nghiệp vụ cháy nổ được xác định bằng tỉ lệ

Trang 14

phí bảo hiểm nhân với số tiền bảo hiểm Tỷ lệ phí cơ bản được xác định dựa trênphương pháp thống kê, kết quả tính toán về tần suất xảy ra tổn thất và thiệt hại bìnhquân các năm trước, cùng với các khoản chi cho việc quản lí, giám định và đềphòng tổn thất.

Đối với số tiền bảo hiểm được xác định theo giá trị tối đa thì phí bảo hiểmđược tính toán cụ thể như sau:

a) Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, phí bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trịtối đa theo thông báo của bên mua bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được thutrước 75% số phí bảo hiểm tính trên cơ sở giá trị tối đa này

b) Cuối thời hạn bảo hiểm, căn cứ các giá trị tối đa được thông báo doanhnghiệp bảo hiểm tính giá trị tài sản tối đa bình quân của cả thời hạn bảo hiểm vàtính lại phí bảo hiểm trên cơ sở giá trị tối đa bình quân này Nếu phí bảo hiểm đượctính lại nhiều hơn phí bảo hiểm đã nộp thì bên mua bảo hiểm phải trả thêm chodoanh nghiệp bảo hiểm số phí còn thiếu Nếu số phí bảo hiểm được tính lại này thấphơn số phí bảo hiểm đã nộp thì doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn trả số chênh lệchcho bên mua bảo hiểm Tuy nhiên, số phí bảo hiểm chính thức phải nộp không đượcthấp hơn 2/3 số phí bảo hiểm đã nộp

c) Nếu trong thời gian bảo hiểm đã có tổn thất dược doanh nghiệp bảo hiểmbồi thường và số tiền bồi thường vượt quá giá trị tối đa bình quân tính đến thời điểmxảy ra tổn thất thì số tiền bảo hiểm đã bồi thường được coi là số tiền bảo hiểm vàphí bảo hiểm được tính trên cơ sở số tiền bảo hiểm này

1.2.6 Quy trình triển khai bảo hiểm cháy nổ

Cũng giống như bất cứ một nghiệp vụ bảo hiểm nào, nghiệp vụ bảo hiểm Hoảhoạn gồm các bước cơ bản sau:

- Khai thác

- Giám định

- Bồi thường

Trang 15

- Đề phòng và hạn chế tổn thất

Các bước này có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau Kết quả của bước này ảnhhưởng trực tiếp tới kết quả của các bước tiếp sau nó và làm thành một chu trình hoạtđộng của một nghiệp vụ

1.2.6.1 Công tác khai thác bảo hiểm

Đây là bước đầu tiên và không thể thiếu trong nghiệp vụ bảo hiểm Công táckhai thác đóng một vai trò quyết định trong sự phát triển một công ty Khách hàng

sẽ không mua bảo hiểm nếu họ không biết rằng mua bảo hiểm họ sẽ được lợi gì Do

đó mà công việc tuyên truyền, quảng cáo trong bước này là cần thiết và nó càng trởnên đặc biệt quan trọng đồi với nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ

Sơ đồ 1: Quy trình khai thác bảo hiểm cháy nổ

Tuyên truyền, quảng cáo, chủ động tiếp cận khách hàng

Tuyên truyền, quảng cáo, chủ động tiếp cận

Trang 16

Hàng năm bảo hiểm Hùng Vương kết hợp với các cơ quan, ban ngành có liênquan như: cảnh sát PCCC, đài truyền thanh, truyền hình, báo chí, các Bộ, nghành đểtuyên truyền về ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm cháy nổ Qua đó mới có thể thuyếtphục được khách hàng mua bảo hiểm.

Mặt khác, công ty cử cán bộ xuống từng xí nghiệp, đơn vị kinh doanh để giảithích, vận động mua bảo hiểm chứ không thụ động ngồi chờ khách hàng hoặc chỉgửi các công văn, quy tắc cho họ trả lời vì khách hàng rất ngại đọc Một phần vìkhó hiểu, một phần vì không nhận thức được hết ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm.Cán bộ bảo hiểm cần chủ động đến gặp khách hàng, cùng họ đi thăm cơ sở sảnxuất, nghiên cứu quy trình sản xuất của họ , chỉ cho họ thấy những rủi ro mà họ cóthể gặp phải và những hậu quả của nó Cán bộ bảo hiểm giải thích rõ cho kháchhàng khi tham gia bảo hiểm họ được gì và mất gì, ước tính số phí mà họ phải trả,giải đáp những vấn đề mà họ còn thắc mắc, chưa hiểu rõ, gây cho họ lòng tin và nhucầu tham gia bảo hiểm Kinh nghiệm cho thấy rằng, hướng tuyên truyền vận độngnên tập trung vào những đối tượng "ăn nên làm ra ", có của ăn của để Vì thế, BảoHiểm Hùng Vương đã chú ý đến các đơn vị, doanh nghiệp lớn có khả năng tàichính khai thác như: Công ty liên doanh về các thiết bị viễn thông COMVIK đãmua bảo hiểm với số tiến bảo hiểm là 19000000 $, mức phí là 47500 $ ; công ty liêndoanh INDOCHINA CERAMIC sản xuất vật liệu xây dựng, trang thiết bị nội thất

đã mua với số tiền bảo hiểm là 12250000 $, mức phí là 20825 $

Để tìm ra các doanh nghiệp "ăn nên làm ra" không phải là khó, cán bộ khaithác nên chú ý theo dõi quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng (báochí, phát thanh, truyền hình ) đồng thời phải có sự phối hợp với các ngân hàng, cơquan khác để nắm bắt được đối tượng

Đánh giá rủi ro

Công tác đánh giá rủi ro được tiến hành sau khi khách hàng gửi giấy yêu cầubảo hiểm với mục đích giá chính xác các rủi ro có thể xảy ra với các đối tượng bảo

Trang 17

hiểm Qua đó xác định tỷ lệ phí bảo hiểm thích hợp tương ứng với các rủi ro màcông ty bảo hiểm nhận bảo hiểm.

Để có cơ sở đáng giá đúng rủi ro, thông thường công ty bảo hiểm sẽ gửi chokhách hàng bản phiếu điều tra các rủi ro (bảng câu hỏi) Qua phần trả lời kháchhàng trong phiếu điều tra, các công ty bảo hiểm sẽ xác định được bậc chịu lửa củacông trình, loại PCCC (các thiết bị PCCC được trang bị, đội cứu hoả, bảo vệ ),hạng sản xuất (với đơn vị sản xuất), loại kinh doanh dịch vụ (với đơn vị kinh doanhdịch vụ ), mức độ nguy hiểm với các tài sản để trong kho, cửa hàng, từ đó xác địnhmức phí thích hợp

Tuy nhiên trên thực tế, để đảm bảo sự chính xác, trung thực khi đánh giá rủi

ro, ngoài việc gửi phiếu điều tra rủi ro, các cán bộ khai thác bảo hiểm sẽ đến làmviệc trực tiếp với khách hàng, nghiên cứu và khảo sát thực tế kỹ hơn, hướng dẫnkhách hàng trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra, cùng cộng tác với cảnh sátPCCC đánh giá thực tế về công tác PCCC, phương tiện chuyên môn ( khách hàngcần những phương tiện PCCC nào, bố trí ở đâu, với số lượng là bao nhiêu ) Cuốicùng trên cơ sở đánh giá rủi ro, cán bộ khai thác sẽ thoả thuân với khách hàng về tỷ

lệ phí sẽ áp dụng

Như vậy công tác đánh giá rủi ro có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nó yêu cầucán bộ bảo hiểm không những phải giỏi chuyên môn mà còn phải có sự năng động,tận tình và cẩn thận.Trong bảo hiểm Hoả hoạn, khâu đánh giá rủi ro là khâu quyếtđịnh trong việc cấp đơn bảo hiểm cũng như việc đưa ra mức phí phù hợp

Cấp giấy chứng nhận bảo hiểm (đơn bảo hiểm)

Đối với nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ, công ty bảo hiẻm sẽ cấp giấy chứngnhận bảo hiểm cho khách hàng sau khi họ đã chấp nhận mức phí Giấy chứng nhậnbảo hiểm cháy nổ bao gồm:

- Số đơn bảo hiểm

- Tên, địa chỉ người được bảo hiểm

- Ngành sản xuất kinh doanh

Trang 18

- Những rủi ro được bảo hiểm

- Tài sản dược bảo hiểm

- Tổng giá trị tài sản

- Số tiền bảo hiểm

- Chi phí dọn dẹp hiện trường

- Mức miễn thường

- Thời hạn bảo hiểm

- Phí bảo hiểm cả năm

Thông thường tài sản được bảo hiểm của khách hàng có nhiều loại không thểhiện được chi tiết trong Giấy yêu cầu bảo hiểm Vì vậy, kèm theo Giấy chứng nhậnbảo hiểm còn có bản danh mục tài sản Bản này được coi như một bộ phận của Giấychứng nhận bảo hiểm và có giá trị pháp lý, nó thể hiện từng hạng mục tài sản, sốlượng, đơn giá, giá trị, số tiền bảo hiểm của từng loại đó:

Giấy chứng nhận bảo hiểm cần được lập thành bốn bản: Một bản trao chokhách hàng, một bản cho tài vụ, một bản lưu và một bản cho Tổng công ty.Hiện nayBảo Việt cũng quy định phạm vi mức phân cấp khai thác cho từng công ty Nếu đốitượng bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trong phạm vi đó thì công ty chỉ cần gửi mộtbản giấy chứng nhận Nếu vượt quá mức phân cấp, trước khi cấp giấy chứng nhậncho khách hàng, các công ty cần gửi hồ sơ cho Tổng công ty xem xét và quyết định

Bổ sung tài sản được bảo hiểm và theo dõi tình hình thu phí

Trên thực tế, có nhiều khách hàng yêu cầu sửa đổi, bổ sung tài sản được bảohiểm sau khi đã được cấp giấy chứng nhận bảo hiểm Các công ty cần xem xét kỹyêu cầu thay đổi như: giá trị bảo hiểm, các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ phí để từ đótính toán, điều chỉnh lại tỷ lệ phí, phí bảo hiểm cho thích hợp Bản bổ sung sửa đổicũng được lập thành bốn bản trao cho các bộ phận nói trên

Ngoài ra các cán bộ khai thác cũng cần định kỳ xuống thăm các đối tượng bảohiểm, kiểm tra các công tác PCCC, nêu ra các đề xuất để tăng cường công tác này

Trang 19

Đồng thời phải phối hợp với các bộ phận tài vụ để theo dõi việc đóng phí của kháchhàng, nhắc nhở họ tái tục bảo hiểm khi thời hạn bảo hiểm sắp hết.

Hoa hồng

Trong công tác khai thác không thể không nói đến vấn đề hoa hồng Đây làmột khoản chi được tính theo tỷ lệ phần trăm so với số phí bảo hiểm Khoản hoahồng này, công ty trả cho người trực tiếp đứng ra tham gia bảo hiểm hoặc trả chongười môi giới nhằm động viên khuyến khích họ nhiệt tình công tác, thu hút thêmnhiều khách hàng tham gia bảo hiểm Đây cũng là một hình thức tạo dựng mối quan

hệ lâu dài với khách hàng.Từ năm 1995, để tạo tính chủ động, linh hoạt trong hoạtđộng, khoản chi hoa hồng được tính vào chi quản lý nghiệp vụ

Có thể nói công tác khai thác có một vai trò quan trọng trong hoạt động kinhdoanh bảo hiểm Thực hiện tốt khâu này sẽ tạo tiền đề cho các công ty bảo hiểm mởrộng và chiếm lĩnh thị trường

1.2.6.2 Công tác giám định tổn thất

Khâu giám định tổn thất có vị trí quan trọng đối với công tác bồi thường Cácgiám định viên bảo hiểm có nhiệm vụ xác định: nguyên nhân rủi ro có thuộc phạm

vi bảo hiểm hay không, giá trị thiệt hại thực tế là bao nhiêu…

Khi xảy ra tổn thất, công ty bảo hiểm hoặc người được công ty bảo hiểm ủyquyền sẽ tiến hành giám định các tổn thất về tài sản với sự có mặt các bên có liênquan hoặc người đại diện hợp pháp của các bên có liên quan nhằm xác định nguyênnhân mức độ tổn thất Kết quả giám định phải lập thành văn bản có chữ kí của cácbên liên quan Bên công ty bảo hiểm chịu trách nhiệm về chi phí giám định

Trong trường hợp, chủ hợp đồng không thống nhất về nguyên nhân và mức độthiệt hại mà bên công ty xác định, hai bên sẽ thỏa thuận chọn cơ quan giám địnhđộc lập thực hiện việc giám định

Trường hợp kết luận của giám định độc lập khác với kết luận giám định độclập của công ty thì một trong các bên có quyền khởi kiện tại tòa án nơi xảy ra tổnthất Việc giám định của công ty bảo hiểm, doanh nghiệp phải trả chi phí giám địnhđộc lập Trường hợp kết luận của giám định độc lập trùng với kết luận giám định

Trang 20

của công ty bảo hiểm thì chủ hợp đồng phải trả chi phí giám định độc lập.

Trong trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp bảo hiểm không thể thực hiện đượcviệc giám định thì doanh nghiệp có trách nhiệm hướng dẫn chủ hợp đồng thu thậpđầy đủ thông tin chi tiết về nguyên nhân, diễn biến, mức độ thiệt hại cùng cácchứng từ, ảnh chụp thiệt hại liên quan đến làm căn cứ xác định bồi thường

Sơ đồ 2 : Quy trình giám định bảo hiểm cháy nổ

Điều tra tai nạn

Nhận được thông báo tai nạn, giám định viên bảo hiểm sẽ xuống ngay hiệntrường để nắm tình hình và điều tra tai nạn Mục đích của việc điều tra tai nạn là thunhập các bằng chứng và sự kiện Trên cơ sở đó giải đáp các câu hỏi: tai nạn đã xảy

ra như thế nào, ở đâu, khi nào, vì sao Muốn vậy trong quá trình điều tra, giám địnhviên phải thu thập hai loại thông tin: các tang vật và lời khai của nhân chứng

- Tang vật: Là bất cứ một việc gì có liên quan giúp cho việc xác định những sựviệc liên quan đến tai nạn Hầu hết các tang vật đều có thể tìm thấy ở hiện trườnghay cũng có thể tìm thấy ở nơi sửa chữa bị hư hại

Điều tra tai nạn

Xác định tổn thất

Tính toán tổn thất

Đề xuất biện pháp hạn chế tổn thất

Trang 21

- Lời khai của nhân chứng: Là những lời kể, những câu trả lời của các nhânchứng thường là những người có mặt ở nơi hiện trường khi xảy ra tai nạn Lời khaicủa nhân chứng cũng giúp cho việc xác định những vấn đề có liên quan đến tai nạn.Người bảo hiểm cần có những khả năng phân tích tìm ra những lời khai xác thực vìcác lời khai của nhân chứng thường khác nhau và có khi mâu thuẫn với nhau.

Ngoài việc tiếp xúc, trao đổi, hỏi chuyện với các nhân chứng, giám định viêncần gặp gỡ, trao đổi với người được bảo hiểm, với công an PCCC Qua đó, nguyênnhân cháy nổ, đánh giá sơ bộ và khái quát mức độ thiệt hại

Xác định tổn thất

Khi nhận được thông báo tổn thất của người được bảo hiểm, trong vòng 24giờ công ty sẽ cử cán bộ tới hiện trường thực hiện giám định sơ bộ, xác nhận tổnthất Và xác nhận bằng văn bản trong vòng 72 giờ kể từ khi nhận được thông báotổn thất của người được bảo hiểm

Giám định và tính toán tổn thất.

Tùy thuộc vào mức độ tổn thất về độ lớn và tính phức tạp mà công ty vàngười được bảo hiểm sẽ thỏa thuận mời một công ty giám định chuyên nghiệptrong nước hay quốc tế tiến hành giám định tìm ra nguyên nhân và mức độ thiệthại Biên bản giám định của cơ quan này sẽ là cơ sở cho việc giải quyết bồithường

Trong trường hợp có khiếu nại trách nhiệm, công ty bảo hiểm sẽ trợ giúp toàn

bộ trong việc chuẩn bị hồ sơ và đàm phán với bên thứ ba

Đề xuất các biện pháp hạn chế tổn thất

Thông thường sau khi gặp cháy nổ, người được bảo hiểm rất hoang mang vàlúng túng không biết phải làm gì Vì vậy trên cơ sở xem xét hiện trường và songsong với việc điều tra tai nạn, giám định viên bảo hiểm phải góp ý kiến với ngườiđược bảo hiểm các biện pháp hạn chế tổn thất như sau:

- Cách ly khu vực và tài sản bị thiệt hại

Trang 22

- Rào kín những nơi mà người ngoài có thể đột nhập vào

- Bơm rút nước cứu hoả còn đọng lại ra khỏi những nơi chứa tài sản đểtránh tài sản hư hỏng thêm

- Di chuyển các mảnh đổ vỡ, tro than để cứu tài sản,

Qua quá trình điều tra, các giám định viên phải tìm ra được nguyên nhân gâycháy nổ Chú ý rằng đó phải là những nguyên nhân trực tiấp dẫn đến hoả hoạn Cuốicùng các giám định viên bảo hiểm sẽ xác định mức độ thiệt hại và lập biên bảngiám định Biên bản giám định sẽ được trình lên công ty một bản và Tổng công tymột bản

1.2.6.3 Công tác bồi thường

Một trong những yêu cầu và cũng là một trong những phẩm chất quan trọngđối với người làm công tác bảo hiểm là phải quan tâm và cảm thông sâu sắc tới cácnhu cầu và nguyện vọng của khách hàng Phẩm chất đó phải được thể hiện đặc biệt

rõ nét trong khâu trong khâu giải quyết bồi thường Giải quyết bồi thường tốt cónghĩa là giải quyết nhanh và đúng - đây là nhiệm vụ số một của người làm công tácbồi thường và là một trong những biện pháp tuyên truyền có hiệu quả nhất, làm tăng

uy tín của công ty và có ảnh hưởng tích cực tới khâu khai thác bảo hiểm

Sơ đồ 3 : Quy trình bồi thường bảo hiểm cháy nổ

Đảm bảo được mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ của công tác bồi thường, cán bộ công ty cần thực hiện tốt những bước sau:

Kiểm tra hồ sơ khiếu nại và xác định trách nhiệm bảo hiểm

Trang 23

Nhận được hồ sơ đòi bồi thường, người bảo hiểm phải kiểm tra, xem xét hồ sơ

có đầy đủ và hợp lệ không Trường hợp hồ sơ thuộc trách nhiệm bảo hiểm nhưngchưa đầy đủ thì phải yêu cầu khách hàng bổ sung kịp thời và ngày trả lời kháchhàng Sau đó, cán bộ bồi thường xem xét đối chiếu với quy tắc bảo hiểm và vănbằng hướng dẫn của Tổng công ty để xác định trách nhiệm bảo hiểm Cụ thể: khiếunại có nằm trong phạm vi thoả thuận bảo hiểm không; có điểm loại trừ nào tác động

và ảnh hưởng đến khiếu nại đó không; có điều kiện bảo hiểm nào bị vi phạm làm vôhiệu hoá hoặc thu hẹp phạm vi được bảo hiểm của khiếu nại không?

Xác định mức độ thiệt hại

Chức năng chính của công tác bảo hiểm là bồi thường những thiệt hại thực tếxảy ra cho người tham gia bảo hiểm nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh cho ngườiđược bảo hiểm Xác định đúng giá trị thiệt hại mới đảm bảo việc bồi thường thực sựđem lại hiệu quả cho người được bảo hiểm.Việc xác định giá trị thiệt hại được tiếnhành trên nguyên tắc: phải xác định ngay tại thời điểm và địa điểm xảy ra tổn thất.Trên cơ sở biên bản giám định về mức độ thiệt hại cùng các biên lai, chứng từ xácminh kèm theo các hồ sơ khiếu nại, cán bộ bồi thường sẽ xác định được mức thiệthại thực tế của từng đối tượng bảo hiểm

Xác định số tiền bồi thường

Nếu hồ sơ khiếu nại đã hợp lệ, đầy đủ, tổn thất đã được xác định là thuộcphạm vi bảo hiểm và tính toán được số tiền thiệt hại thì ta có thể tiến hành xác định

số tiền bồi thường

Số tiền bồi thường xác định dựa trên các cơ sở sau:

- Giá trị thiệt hại thực tế

- Số tiền bồi thường (là giới hạn trên của số tiền bồi thường)

- Mức miễn thường: sẽ không phải bồi thường nếu tổn thất bằng hoặc nhỏ hơnmức miễn thường Nếu tổn thất lớn hơn mức miễn thường thì phải trừ đi mức miễnthường (trong trường hợp áp dụng mức miễn thường có khấu trừ t)

Trang 24

Trước khi tính toán số tiền bồi thường, người được bảo hiểm cần xem xét sốtiền khách hàng đòi bồi thường là bao nhiêu Nếu số tiền đó bằng hoặc nhỏ hơnmức miễn thường thì không cần tính toán mà có thể trả lời ngay cho khách hàng làtổn thất không được bồi thường vì nằm trong phạm vi mức miễn thường Nếu tổnthất lớn hơn mức miễn thường thì phải tính chi tiết mức độ thiệt hại

Cụ thể:

* Đối với bảo hiểm cháy nổ:

Số tiền bảo hiểm

Số tiền bồi thường = Giá trị thiệt hại  Giá trị bảo hiểm

Lập hồ sơ bồi thường, giải quyết bồi thường và khiếu nại

Trên cơ sở tính toán được số tiền bồi thường như trên, cán bộ bồi thường sẽlập hồ sơ bồi thường và trình lên lãnh đạo Tổng công ty xét duyệt bồi thường Saukhi có quyết định của lãnh đạo, cán bộ bồi thường sẽ thông báo cho khách hàng cụthể về mức bồi thường, thời gian, địa điểm công ty bảo hiểm chi trả số tiến đó cũngnhư các giấy tờ cần thiết mà họ phải có Nếu khách hàng chấp nhận thì việc bồithường sẽ được chuyển cho phòng kế toán - tài vụ

Trong thực tế, khâu bồi thường là khâu dễ phát sinh các tranh chấp, khiếu nạikhi khách hàng cho rằng số tiền bồi thường là chưa hợp lý Bởi vậy, cần xem xétnghiên cứu các ý kiến khiếu nại một cách khách quan Cũng cần lưu ý là trước khichính thức bồi thường, trên cơ sở những thông tin nhận được và đánh giá chung,cán bộ bồi thường sớm ước tính số tiền bồi thường và thông báo cho khách hàngbiết trước để cho họ không bị bất ngờ khi công bố số tiền chính thức Cần chú ýlắng nghe nguyện vọng của khách hàng, nhẹ nhàng và kiên nhẫn giải thích kỹnhững thắc mắc của họ ngay cả khi từ chối bồi thường

1.2.6.4 Các biện pháp đề phòng cháy nổ

Trang 25

Mục tiêu của công tác phòng chống cháy nổ là đề phòng hoả hoạn phát sinh vàkhông cho đám cháy lan rộng Hiện nay có hai biện pháp phòng cháy nổ là phòngcháy nổ bằng thiết kế xây dựng và sử dụng các biện pháp quản lý.

+ Phòng cháy nổ bằng thiết kế xây dựng: nhằm cách ly các vật dễ cháy nổ vớinguồn lửa Các nguồn lửa có thể phát sinh từ các thiết bị toả nhiệt, bếp, lò sấy, lòsưởi, các thiết bị điện Do vậy, việc thiết kế xây dựng cần lưu ý tới việc bố trí cácphòng ban, kho, phân xưởng cũng như các thiết bị nội thất một cách hợp lý, đảmbảo độ an toàn cao

+ Các biện pháp quản lý: Thực hiện các biện pháp quản lý là trách nhiệm củangười tham gia bảo hiểm Dựa vào các quy định phòng cháy nổ và chữa cháy nổcủa Nhà nước và địa phương, các giám đốc, thủ trưởng đơn vị cần đề ra nội quy,biện pháp PCCC cho cơ sở mình đồng thời có kế hoạch giáo dục, đôn đốc, theo dõi,kiểm tra việc chấp hành nội quy, biện pháp đó Các cán bộ, công nhân phải triệt đểchấp hành các nội quy PCCC cũng như các tiêu chuẩn về an toàn trong hoạt độngcông tác, sản xuất… Cùng với cảnh sát PCCC, các công ty bảo hiểm sẽ hướng dẫnngười tham gia bảo hiểm thực hiện tốt công tác PCCC ở các khu vực dễ xảy ra rủi

ro, đề nghị họ có các biện pháp ngăn ngừa kịp thời và hợp lý

Trang 26

CHƯƠNG II : TÌNH HÌNH KINH DOANH NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY NỔ BẮT BUỘC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM HÙNG

VƯƠNG CHI NHÁNH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010-2014

2.1 Giới thiệu về công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội.

Ngày 21 tháng 12 năm 2010 Bộ trưởng bộ Tài Chính ban hành Quyết Địnhthành lập công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương Chi nhánh Hà Nội có trụ sở đặt tại

141 Lê Duẩn, Hoàn Kiếm, Hà Nội

- Cơ cấu bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội:

- Ban Giám đốc điều hành gồm có 1 Phó Tổng Giám đốc phụ trách khu vực

và 1 Phó Giám đốc phụ trách chi nhánh phụ trách trực tiếp các hoạt động của chinhánh

- Phòng hành chính nhân sự: Chịu trách nhiệm những vấn đề có liên quan

đến đội ngũ cán bộ, nhân viên của chi nhánh như cân đối lực lượng với nhu cầukinh doanh; có kế hoạch và xây dựng quy trình tuyển dụng, đào tạo, bố trí sử dụng

và đánh giá hiệu quả công tác của cán bộ nhân viên

- Phòng Kế toán - Thống kê: có nhiệm vụ thanh quyết toán các hợp đồng,

quản lý thu phí bảo hiểm gốc, chi trả tiền bồi thường, tổng hợp số liệu báo cáo tàichính

- Phòng kinh doanh số 1, 2, 3, 4, 5: Khai thác các hợp đồng bảo hiểm ở tất

cả các nghiệp vụ bảo hiểm

Trang 27

- Phòng Giải quyết khiếu nại và bồi thường: Giải quyết những tranh chấp về

quyền lợi bảo hiểm cho khách hàng, làm cho từng khách hàng hiểu rõ quyền lợi của

họ được hưởng từng vụ tổn thất của từng loại hợp đồng Phòng giải quyết tất cả cácthắc mắc của khách hàng, từ đó xác định trách nhiệm bồi thường và tiến hành bồithường theo phân cấp quản lý

- Tầm nhìn:

- + Bảo hiểm Hùng Vương mong muốn trở thành một định chế bảo hiểm năng động, được tin tưởng bậc nhất, đáp ứng tốt nhất nhu cầu về

an toàn tài chính cho các doanh nghiệp và cá nhân.

- + Bảo hiểm Hùng Vương hi vọng mở rộng được thị trường ,tăng trưởng doanh thu cao.

- + Mục tiêu trở thành một trong mười doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu tại Việt Nam vào năm 2018.

- + Tạo ra một địa chỉ tin tưởng cho khách hàng

- + Đem lại một cuộc sống ấm no ổn định cho cán bộ công nhân viên trongcông ty

- + Cố gắng hoàn thành mục tiêu đề ra

Trang 28

BAN KIỂM SOÁT

Sơ đồ 4: Sơ đồ tổ chức công ty.

Sơ đồ 5: Sơ đồ tổ chức chi nhánh Hà Nội

Phòng kế toán -

thống kê

Phòng hành chính nhân sự

Ban giám đốc điều hành

số 2

Phòng kinh doanh

số 3

Phòng kinh doanh

số 4

Phòng kinh doanh

số 5

Phòng giải quyết khiếu nại và bồi thường

Trang 29

2.2 Tình hình kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công

ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2011-2014

2.2.1 Công tác khai thác

Công tác khai thác là bước đầu trong nghiệp vụ cháy nổ, là tiền đề cho toàn bộquá trình thực hiện nghiệp vụ Dưới đây là kết quả của công ty trong những nămgần đây :

Bảng 2.1 Kết quả khai thác bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010-2014

(Nguồn Công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội)

Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm cháy nổ bắt buộc chiếm tỷ trọngkhoảng 30% trong tổng doanh thu phí bảo hiểm của công ty

Năm 2011, sau khi công ty mới được thành lập không được bao lâu nên doanhthu phí bảo hiểm gốc vẫn là con số khiêm tốn 5.750 triệu và số hợp đồng bảo hiểm

là 2.456 Sau 4 năm hoạt động doanh thu phí bảo hiểm đã tăng lên hàng năm Tuynhiên quan sát bảng trên dễ thấy doanh thu từ năm 2012 – 2013 không những khôngtăng mà còn bị giảm đi Đây là giai đoạn nền kinh tế đang gặp khó khăn, nhiềudoanh nghiệp nhỏ và vừa phải thu hẹp quy mô khai thác và hoạt động, thu nhập của

cá nhân hay tổ chức cũng không tăng cao doanh thu bảo hiểm cháy nổ bắt buộc cómột sự giảm đi nhẹ Cụ thể năm 2013, số hợp đồng bảo hiểm là 3.055 giảm 2,55%

so với năm 2012 ( có 3.135 hợp đồng)

Trang 30

Năm 2014, khi nền kinh tế đang trên đà khôi phục, doanh thu phí bảo hiểmgốc của nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đã tăng lên là 8.720 triệu, tăng gầngấp 3 lần so với năm 2010, và có tốc độ doanh thu tăng 19,13% so với năm 2013.

2.2.2 Công tác đề phòng và hạn chế.

Để thực hiện công tác đề phòng và hạn chế tổn thất, công ty cổ phần bảo hiểmHùng hương chi nhánh Hà Nội đã sử dụng phí bảo hiểm thu được để chi cho việctuyên truyền, quảng cáo, giáo dục cho người tham gia để đề phòng và hạn chế cháy

nổ Trong quá trình giám định, khai thác mỗi nhân viên đều được đào tạo, hướngdẫn cách thức để hạn chế tối đa những tổn thất có thể xảy ra Ví dụ, xuất hiện kịpthời, đúng lúc khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, hạn chế tình trạng cố ý, hoặc vô tình làmcho tổn thất nặng hơn

Bảng 2 2 Kết quả công tác đề phòng và hạn chế tổn thất nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm hùng Vương chi nhánh Hà

Nội giai đoạn 2010 – 2014

245,0343,3

330,324,5

453,045,2

3.Tốc độ tăng chi

( Nguồn: Công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội)

Trang 31

Từ bảng số liệu trên, có thể thấy rằng chi phí cho đề phòng và hạn chế tổn thấtngày càng tăng liên tục Năm 2011, con số là 144 triệu và con số này tiếp tục tăngqua các năm cho đến năm 2014 con số đã lên đến 453,04 triệu đồng Tuy chiếm tỷtrọng nhỏ trong cơ cấu doanh thu, năm 2011 là 2,5%, 2012 tăng lên là 3,3%, đến

2013 - 2014 tỷ trọng tăng đột biến lên 4,5 – 5,2 % do số hợp đồng khai thác đượcngày càng nhiều, doanh thu phí tăng nên công tác đề phòng và hạn chế tổn thất càngđược thận trọng hơn để kiểm soát tốt hơn nữa đối với những tổn thất không mongmuốn xảy ra

Tỷ lệ chi đề phòng hạn chế tổn thất trong cơ cấu chi phí bồi thường bảo hiểmliên tục tăng qua các năm cụ thể năm 2014 tỷ lệ này là 17,9% tăng gấp hơn 1,1 lần

so với năm 2011 Do còn là một công ty còn non trẻ nên chưa có được nhiều kinhnghiệm cũng như khả năng cạnh tranh so với các công ty lớn khác nên việc tăng tỷ

lệ phí đề phòng hạn chế tổn thất rất quan trọng nhằm giữ vững được sự ổn định củacông ty trong một khoảng thời gian nào đó đặc biệt là giai đoạn đầu khi mới đượcthành lập

Từ năm 2011 – 2014 nhờ tăng chi phí đề phòng và hạn chế tổn thất mà công ty

đã giảm được tỷ lệ chi bồi thường trên doanh thu phí bảo hiểm gốc Năm 2011 tỷ lệnày là 28 % và đến năm 2011 đã giảm xuống còn 27% cho thấy tầm quan trọng củaviệc đề phòng và hạn chế tổn thất đối với một công ty bảo hiểm Tuy nhiên, có thể

dễ dàng nhận thấy từ năm 2013 – 2014 tỷ lệ chi bồi thường trên doanh thu phí gốclại tăng mặc dù khoản chi đề phòng và hạn chế tổn thất có tăng lên, đó là do công tyđang trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế cùng với những sự kiện bảo hiểmphức tạp xảy ra ngày càng nhiều và phức tạp

2.2.3 Công tác giám định và bồi thường.

2.2.3.1 Công tác giám định

Công tác giám định là một bước vô cùng quan trọng và không thể thiếu trongnghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ.Để phục vụ khách hàng một cách nhanh và hiệu quảnhất công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương đã thực hiện đúng quy trình đề ra để

Trang 32

mang lại hiệu quả tốt nhất cho khách hàng Dưới đây là kết quả giám định :

Bảng 2 3 Kết quả giám định nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công

ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014

80,4921,1

131,6501,8

170,2501,95

3.Tốc độc tăng chi

(Nguồn Công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội)

Quan sát bảng kết quả chi phí giám định thấy rằng chi phí giám định giai đoạn

từ năm 2011 – 2014 tăng liên tục qua mỗi năm Năm 2011 chi giám định là 70,752triệu và đến 2014 chi phí này là 170,250 triệu tăng gần gấp 1,4 lần so với 2011.Mức độ phức tạp của mỗi vụ ngày càng lớn nên chi phí giám định càng cao để đảmbảo cho việc giám định được chính xác Tùy thuộc vào mỗi vụ tổn thất, có những vụbên công ty bảo hiểm không thể tự giám định được mà cần phải bỏ chi phí ra đểthuê chuyên gia giám định để xác định đúng số tiền bồi thường hợp lí, đảm bảo lợiích cho công ty

Chi phí giám định tuy chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu doanh thu và chi phínhưng đóng vai trò quan trọng giúp công ty hạn chế được việc bồi thường sai, ảnhhưởng đến kết quả kinh doanh của công ty Trong cơ cấu doanh thu phí bảo hiểmgốc , chi bồi thường chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ giao động từ 1, – 1,95 % So với khoảnchi bồi thường nghiệp vụ, chi giám định tuy chiếm tỷ lệ nhỏ giao động từ 4,4 –6,7% nhưng nhìn chung vẫn tăng lên hàng năm Bảo hiểm Hùng Vương cần có biệnpháp để hạn chế chi giám định nhằm giảm thiểu chi phí cho công ty

Trang 33

2.2.3.2 Công tác bồi thường

Bảo hiểm là sản phẩm vô hình, dễ bắt chước, dễ bị cạnh tranh về giá cả và đặcbiệt về chất lượng sản phẩm Một sản phẩm bảo hiểm tốt thì phải được thể hiện tốtqua tất cả các khâu từ khai thác đến giám định và bồi thường.Với vai trò đó, bồithường mang tính quyết định đối với việc kinh doanh sản phẩm bảo hiểm, từ đó ảnhhưởng đến kết quả kinh doanh.Vì vậy, cần thực hiện tốt, có hiệu quả trong khâunày,bảo hiểm Hùng Vương đã cho thấy kết quả trong những năm qua dưới bảngsau:

Bảng 2 4 Kết quả bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại

công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương giai đoạn 2011- 2014

(Nguồn : Công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội )

Giai đoạn 2011 – 2014 số tiền chi bồi thường nghiệp vụ của công ty tăng quacác năm Năm 2011 số tiền bồi thường là 1.610 triệu đồng, năm 2012 tăng lên là1.982 triệu , năm 2013 là 2.057 triệu và đến năm 2014 chi bồi thường nghiệp vụ đãtăng lên đến 2.535 triệu Nếu quan sát trên bảng kết quả thì có vẻ mâu thuẫn vì số

vụ bồi thường ngày càng giảm đi ( năm 2014 số vụ bồi thường là 86 vụ trên 4.850hợp đồng bảo hiểm, giảm 44 vụ so với năm 2011) mà số tiền bồi thường ngày cànglớn Nguyên nhân là bởi vì trong giai đoạn đầu mới thành lập, số hợp đồng khai

Trang 34

thác được ít, giá trị bảo hiểm nhỏ hơn vậy nên giai đoạn sau khi khai thác đượcnhiều hợp đồng có giá trị lớn, doanh thu phí cao nên dù số vụ thiệt hại xảy ra ít hơnnhưng giá trị bảo hiểm cao hơn làm cho chi phí bồi thường cũng cao hơn.

Số vụ phải bồi thường ngày càng được giảm đi, tuy con số không đáng kể sovới các công ty lớn khác nhưng đối với một công ty nhỏ, còn hạn chế về kinhnghiệm và khả năng cạnh tranh thì con số cũng thể hiện được sự cố gắng của công

ty Số vụ bồi thường giảm cũng chứng tỏ công ty đã có những phương pháp tích cựctrong việc đề phòng và hạn chế tổn thất

2.2.4 Tình hình trục lợi bảo hiểm.

Trục lợi bảo hiểm luôn là vấn đề đặt ra đối với mỗi công ty Việc tìm ranguyện nhân và giải quyết vấn đề này ngày càng phức tạp và khó khăn Có rất nhiềunguyên nhân gây ra tình trang trục lợi bảo hiểm, có thể do chủ ý của người thamgia, hoặc cũng có thể do sự thông đồng giữa người tham gia và nhân viên giámđịnh Thị trường bảo hiểm phát triển ngày càng sôi động, cạnh tranh khốc liệt sẽtạo ra những khe hở để những hành vi gian lận nhằm mục đích trục lợi có thể xenvào Việc các doanh nghiệp luôn giữ bí mật thông tin, sự trao đổi cần thiết về kháchhàng với nhau dường như không có Đó là một bất lợi dễ khiến hành vi một đốitượng tài sản nào đó có thể tham gia ở nhiều doanh nghiệp để nhận được tiền bồithường từ cả hai doanh nghiệp Trục lợi bảo hiểm ảnh hưởng trực tiếp đến doanhthu, lợi nhuận của công ty, ngoài ra nó còn tác động đến uy tín của một doanhnghiệp bảo hiểm Vì vây, mỗi công ty phải đề xuất ra những phương án để phòngchống trục lợi có hiệu quả

Là một công ty mới thành lập chưa được bao lâu so với các công ty bảo hiểmkhác, trong quá trình hoạt động công ty cổ phần Bảo Hiểm Hùng Vương chi nhánh

Hà Nội cũng không thể tránh khỏi vấn đề trục lợi bảo hiểm Dưới đây là kết quảtình hình trục lợi bảo hiểm của công ty trong thời gian qua

Ngày đăng: 21/04/2022, 13:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2. Tình hình kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2011-2014 - Thực trạng kinh doanh bảo hiểm cháy nổ tại công ty hùng vương giai đoạn 20102014 (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)
2.2. Tình hình kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2011-2014 (Trang 29)
Bảng 2.2. Kết quả công tác đề phòng và hạn chế tổn thất nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm hùng Vương chi nhánh Hà - Thực trạng kinh doanh bảo hiểm cháy nổ tại công ty hùng vương giai đoạn 20102014 (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)
Bảng 2.2. Kết quả công tác đề phòng và hạn chế tổn thất nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm hùng Vương chi nhánh Hà (Trang 30)
Bảng 2.3. Kết quả giám định nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 - Thực trạng kinh doanh bảo hiểm cháy nổ tại công ty hùng vương giai đoạn 20102014 (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)
Bảng 2.3. Kết quả giám định nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014 (Trang 32)
Bảo hiểm là sản phẩm vô hình, dễ bắt chước, dễ bị cạnh tranh về giá cả và đặc biệt về chất lượng sản phẩm - Thực trạng kinh doanh bảo hiểm cháy nổ tại công ty hùng vương giai đoạn 20102014 (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)
o hiểm là sản phẩm vô hình, dễ bắt chước, dễ bị cạnh tranh về giá cả và đặc biệt về chất lượng sản phẩm (Trang 33)
Bảng 2.5. Kết quả tình hình trục lợi bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2011- 2014 - Thực trạng kinh doanh bảo hiểm cháy nổ tại công ty hùng vương giai đoạn 20102014 (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)
Bảng 2.5. Kết quả tình hình trục lợi bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2011- 2014 (Trang 35)
Bảng 2.6. Kết quả và hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn - Thực trạng kinh doanh bảo hiểm cháy nổ tại công ty hùng vương giai đoạn 20102014 (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)
Bảng 2.6. Kết quả và hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc tại công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương chi nhánh Hà Nội giai đoạn (Trang 36)
Loại hình sản xuất, kinh doanh: - Thực trạng kinh doanh bảo hiểm cháy nổ tại công ty hùng vương giai đoạn 20102014 (Chuyên đề ĐH Kinh tế Quốc dân)
o ại hình sản xuất, kinh doanh: (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w