1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng triển khai bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại PJICO

66 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Triển Khai Nghiệp Vụ Bảo Hiểm Xây Dựng Và Lắp Đặt Tại Tổng Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Petrolimex
Tác giả Hoàng Thị Ngọc
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Thành Vinh
Trường học tổng công ty cổ phần bảo hiểm petrolimex
Chuyên ngành bảo hiểm
Thể loại chuyên đề thực tập
Năm xuất bản 2015
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 336,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Chuyên đề thực tập 67 GVHD Th S Nguyễn Thành Vinh MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BÀO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT 3 1 1 Sự cần thiết khách quan và tác dụng của bảo hiểm xây dựng và lắp đặt 3 1 1 1 Sự cần thiết khách quan 3 1 1 2 Tác dụng 4 1 2 Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xây dựng và lắp đặt 4 1 2 1 Ở Việt Nam 4 1 2 2 Trên Thế Giới 6 1 3 Nội dung cơ bản của bảo hiểm xây dựng và bảo hiểm lắp đặt 7 1 3 1 Nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng 7 1 3 2 Nghiệp.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DNBH : Doanh nghiệp bảo hiểm

GCNBH : Giấy chứng nhận bảo hiểm

PJICO : Tổng Công ty cổ phẩn bảo hiểm Petrolimex

STBH : Số tiền bảo hiểm

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam đã bước sang một thời

kỳ phát triển mới Việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã đem lại nhữngthành tựu kinh tế – xã hội hết sức to lớn cho đất nước Nhiều lĩnh vực về kinh tếđược đẩy mạnh, đời sống nhân dân ta cũng ngày càng được nâng cao Trong quátrình phát triển đó của đất nước, bảo hiểm đã và đang chứng minh được vai trò tíchcực đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh nói riêng cũng như đối với cuộc sốngnói chung Đồng thời, bảo hiểm cũng đã trở thành một ngành kinh doanh giàu tiềmnăng phát triển, và thu hút rất nhiều lao động

Hòa nhập với những biến đối to lớn của nền kinh tế nước ta, nghành xây dựng vàlắp đặt đã có những bước phát triển đáng kể và có những đóng góp quan trọng trongcông cuộc phát triển của đất nước Nó tạo nên những công trình xây dựng, cơ sở vậtchất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, nhà máy xí nghiệp… Đối với những công trình thì rủi

ro là vấn đề chúng ta không thể loại bỏ và không thể lường trước đc Khi có nhữngtổn thất xảy ra thì nó sẽ làm ảnh hưởng đến công trình, chất lượng công trình khôngđược đảm bảo, kéo dài thời gian thi công, và gây khó khan tài chính cho chủ đầu tư.Mặt khác công ty bảo hiểm là người bạn đồng hành quan trọng góp phần vào sự antoàn và thành công cho các dự án đầu tư xây dựng của đất nước Bởi lẽ đó việc thamgia bảo hiểm cho các công trình xây dựng và lắp đặt là không thể thiếu được Đây làmột trong những sản phẩm bảo hiểm thế mạnh trên thị trường Việt Nam trong bốicảnh đất nước đang phát triển nhanh chóng, sản phẩm bảo hiểm ra đời đã đáp ứngyêu cầu bắt buộc tham gia bảo hiểm công trình xây dựng theo hướng dẫn tại thông

tư 65-TC/ĐTPT của Bộ Tài Chính

Thực tế hiện nay nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt ở nước ta vẫn tồn tạinhững khó khăn Hệ thống các chính sách, quy tắc, nghị định…vẫn chưa được hoànthiện chính vì vậy việc nghiên cứu thực trạng bảo hiểm xây dựng lắp đặp tại TổngCông ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex sẽ góp phần tìm ra những giải pháp giúpphát triển cho công ty, cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển của nên kinh tế.Trong thời gian thực tập tại Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex em đãđược tìm hiểu về các nghiệp vụ bảo hiểm trong đó có bảo hiểm xây dựng lắp đặt.Cùng với mong muốn đánh giá thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm XD&LĐ

Trang 5

trong thời gian quâ từ năm 2010-1015 cũng như đưa ra những kiến nghị chủ quan

về việc triển khai nghiệp vụ này tại PJICO Chính vì những lý do đó em đã chọn đề

tài: “Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt Tổng Công

ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex” làm chuyên đề thực tập của mình.

Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung của chuyên đề được chia ra làm 3chương:

Chương 1: Giới thiệu chung về nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt

Chương 2: Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tạiTổng công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex giai đoạn 2010-2014

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện nghiệp vụ bảo hiểm xây dựnglắp đặt tại Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex

Việc tiếp cận tài liệu, sự tìm hiểu của bản thân còn nhiều hạn chế do đó khôngthể tránh khỏi những thiếu sót trong nội dung của bài viết Em rất mong nhận được

sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài được hoàn thiện hơn Em cũng xinchân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Bảo hiểm, thầy giáo Ths Nguyễn ThànhVinh đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BÀO

- Có thể kể đến rủi rô lớn nhất gây ra những hậu quả nặng nề mà các công trình xâydựng và lắp đặt đã phải chịiu ảnh hưởng đó là rủii ro từ thảm họa thiên nhiên, doviệc môi trường bịj ô nhiễm từ các cuộc cách mạng khóa học, nó đã làm ảnh huởnglớn đến khu hậu ở trái đất, gây nên nhiều các thiên tai: mưa, bão, lũ, lụt, sóng thần,động đấtt, núi lửa… Má hầu như là các công trình xây dựng và lắp đặt thường đượcthực hiện ở ngoài trời, không được che chắn bảo vệ và phải thực hiện xây dựngtrong thời gian dài ngày Nên nó đã phải chịu nhiều ảnh hưởng rất lớn

- Các công trình xây dựng và lắp đặt cũng có thế gặp rủi rro do lỗi sơ suất hay cố ýcủa 1 con người Có thể do cá nhân cố ý có những hành động phá hoại nàoo đó hoặc

do sự quản lý chưa tốt Hoặc cũng có thể là do sự bất cần của công nhân trong quátrình xây dựng, hoặc do sự thiếu hiểu biết và kiền thức trong việc vận hành các máymóc thiết bị hiện đại, tiên tiến Việc thiết kế saii sót trong các loại máy móc, thiết bị

tự động hóa mà không hề có sự kiiểm tra kĩ lưỡng, thử nghiệm trước khi sử dụngcũng là nguyên nhân gây ra vô số rủi ro cho các công trình xây dựng lắp đặt củachúng ta

Việc xây dựng và lắp đặt các công trìinh dù lớn hay là nhỏ thì nó cũng thườnggây thiệt hại về vật chất và con người, nó vẫn thường có sức ảnh hưởng cực kỳ lớn

Trang 7

đến kinh tế và cả xã hội Vì vậy việc chúng ta tham gia bảo hiểm xây dựng và lắpđặt là rất cần thiết và thiết thực

Khi chúng ta tham gia bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, các tổ chức, cá nhân nộpphí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm để thành lập quỹ Nên các công ty bảo hiểm cóthể có khả năng chi trả bồi thường cho các rủi ro rất lớn của các tổ chức, cá nhângặp phải những rủi ro Từ đây xẽ đảm bảo khả nang tàii chinh cho các tổ chức, cánhân đã tham gia bảo hiểm Giúp họ ann tâm sản xuất kiinh doanh và đạt được hiệuquả cao trong công việc kiinh doanh Hoặc khi có rủi ro xảy ra thì các công ty cũngnhanh chóng đền b công việc ù thiệt hại cho họ nên họ cũng không phải lo lắng, cóthể ổn định việc sản xuất kinh doanh của họ nhanh chóng nhất mà học có thể

1.1.2 Tác dụng

- Tác dụng đầu tiên và quan trong nhầt của bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là góp phấn

ồn định về tài chính cho người tham gia trườfc những tổn thất do rủii ro để lại Rủi

ro xảy rra cho dù là nguyên nhân gì đi nữa, do thiên tai, hay là do tai nạn hay … đều

có ảnh hưởng đến những vật chất và cả con người, ảnh hưởng đến quá trình sảnxuất và cả kinh doanh, ảnh hưởng đến cả những thu nhập, ảnh hưởng đến kinhf tếcủa những người tham gia bảo hiểm Những rủi ro này nếu nằm trong phạmj vi bảohiểm thì tất nhiên là sẽ nhanh chóng được các công ty bảo hiểm bồi thường cho học.Giúp người tham gia khắc đc hậu quả, phục lại công trình, ổn định sản xuất kinhdoanh nhanh nhất có thể

- Giúp người tham giia bảo hiểm có ý thừc trách nhiệm đế phòng và hạn chế tổn thấttvới côgn trình mà mình đã tham gia bảo hiểm Bởi vì khi tổ chức, cá nhân yêu cầutham gia bảo hiểm, thì người bảo hiểm sẽ kiểm tra và đánh giá mức độ rủi ro củacông trình được bảo hiểm Từ đó người bảo hiểm sẽ tư vấn cho người tham gia bảohiểm các biện pháp phòng, và hạn chế tổn thất Sẽ làm giảm khả năng xảy ra tổnthất cho người tham gia bảo hiểm

1.2.Quá trình hình thành và phát triển của bảo hiểm xây dựng và lắp đặt

1.2.1 Ở Việt Nam

Tại Việt Nam, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt chính thức được Bộ Tài Chính chophép triển khai vào ngày 07/08/1991 thong qua quyết đinh số 253/TCQĐ-91 chophép Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) triển khai nghiệp vụ bảo hiểmxây dựng và lắp đặtt Và từ đó các công ty bải hiểm địa phưong của Bảo Việt mới

Trang 8

bắt đầu triển khai nghiệp vụ này Từ đây Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt đã bắt đầu

có sự phát triển nhất định Lúc này đây, Bộ Tài Chính cho phép Bảo Việt có thể sửdụng đơn bảo hiểm, quy tắc bảo hiểm, phíi bảo hiểm của công ty Munych Re Đơnbảo hiểm đầu tiên đó chính là đơn bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt ( Eriction All Ricks –EAR ) cho trạm thu phát vệ tinh mặt đất Láng Trung Là công trình liên doanh giữatổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam và hãng Telttra của Úc Trong giaiđoạn đầu mới triển khai, vốn của công ty Bảo Việt còn nhiều hạn chế, năng lựcchuyên môn của nhân viên chưa cao, cung và cầu nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng vàlắp đặt cũng chưa có nhiều… nên số phií mà công ty Bảo Việt thu đc vẫn còn thấp.Trải qua nhiều năm, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt ngày càng phát triển hơnhiều Bên cạnh đó thì hành lang pháp lý cũng ngày càng bổ sung và đc hoàn thiệnhơn nữa, phù hợp với sự phát triển của bảo hiểm xây dựng và lắp đặt trong từngthời kì Ngày 20/10/1994 Thủ tướng Chính Phủ ban hành nghị định 177CP quyđịnh về việc ban hành điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, tại điều 52 nghị địnhnày quy định rõ về việc các tổ chức nhận thầu xây lắp, các tổ chức tư vấn phải muabảo hiểm vật tư, nhà xưởng phục vụ thi công, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểmtrách nhiệm dân sự đối với người thứ ba, bảo hiểm sản phẩm khảo sát thiết kế trongquá trình thực hiện dự án Phần này quy định bảo hiểm được mua tại một Công ty trongnước nếu như là dự án của Việt Nam, những dự án của nước ngoài thì bắt buộc phảituân thủ những quy định của luật đầu tư nước ngoài tại nước Việt Nam Ngày12/04/2004 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 33/2004/QĐ-BTC vềviệc ban hành quy tắc, biểu phí của bảo hiểm xây dựng, lắp đặt Như Thông tư số04/2010/TT-BXD hướng dẫn lập và quản lý chi phis đầu tu xây dựng công trình banhành vafp ngày 26/05/2010…

Sau khi Công ty Bảo Việt ra đời thì các công ty khác cũng lần lượt thành lập dướinhiều hình thức khác nhau: Bảo Minh, PJICO, PVI, Bảo Long, Vinare, …Và một sốcông ty bảo hiểm nước ngoài và văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam đã làmcho thị trường bảo hiểm ngày càng cạnh tranh gay gắt Các công ty đã pẫi tự ý thứcnâng cao chất lượng, nâng cao dịch vụ để có thể đứng vững và phát triển trên thịtrường Để bảo vệ cho thị trường bảo hiểm trong nước, luật đầu tư nước ngoài banhành ngày 12/11/1996 sửa đổi bổ sung một số điều khoản, nghị định 42/CP thay thếnghị định 177CP, thông tư số 663-TC/ĐT-TCNH ngày 24/6/1996 về việc ban hànhquy tắc và biểu phí, phụ phí và khấu trừ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng và lắp đặt,

Trang 9

ngày 24/1/1997 BTC ra quyết định số 10-TTC/QĐ-TCNH sửa đổi bổ sung quyếtđịnh số 663TC/QĐ-TCNH.

Từ khi ra đời đến nay, bảo hiểm xây dựng và lắp đặt đã trở thành một trongnhững loại hình mũi nhọn của các Công ty bảo hiiểm trong toàn quốc, kinh doanhnghiệp vụ bảo hiểm xây dựng và lắp đặt mang lại doanh thu lớn, tỷ lệ tăng trưởngrất là cao, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động…và như vậy vô hìnhchung đã tạo ra lợi ích chung cho toàn xã hội

1.2.2 Trên Thế Giới

Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là bộ phận của bảo hiểm kỹ thuật Sự ra đời vàphát triển cuả bảo hiểm kỹ thuật luôn gắn liền với sự ra đời của các cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật So với các loại hình bảo hiểm khác như bảo hiểm hàng hải, bảohiểm cháy thì bảo hiểm kỹ thuật đc ra đời muộn hơn rất nhiều Bảo hiểm hàng hảixuất hiện năm 1547, bảo hiểm hoả hoạn xuất hiện năm 1667 trong khi đó đơn bảohiểm kỹ thuật đầu tiên trên thế giớii là vào năm 1859 ở nước Anh công nghiệp, đó

là đơn bảo hiểm đổ vỡ máy móc (machinary breaking policy) Nhu cầu tái thiết nềnkinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ hai và sự phát triển như vũ bão của khoa họccông nghệ và kỹ thuật là động lực thúc đẩy bảo hiểm kỹ thuật phát triển mạnh mẽđồng thời nó cũng trở thành một trong những loại hình bảo hiểm quan trọng khôngthể thiếu đối với sự phát triển của bất cứ nền kiinh tế nào

Bảo hiểm kỹ thuật hiện nay đã xaam nhập vào hầu hết các lĩnh vực của hoạt độngkinh tế, xã hội trên toàn thế giới Từ việc bảo hiểm cho các máy móc trong các xýnghiệp sản xuất, các thiết bị dụng cụ tinh vi trong y tế, trong các phòng thí nghiệmcho tới việc bảo hiểm cho các công trình xây lắp khổng lồ, các hoạt động lắp rápmáy bay, tàu biển cỡ lỡn đến những con tàu vũ trụ

Công ty tái bảo hiểm MUNYCH RE đóng một vai quan trọng trong việc hìnhthành, phát triển cũng như phổ biến, giới thiệu loại hình bảo hiểm xây dựng và lắpđặt trên thị trường của bảo hiểm quốc tế Là một trong những Công ty sáng lập vàluôn luôn đi đầu trong công tác bảo hiểm xây dựng - lắp đặt, Công ty tái Bảo hiểmMUNICH RE có thể hỗ trợ và giúp đỡ những Công ty bảo hiểm khác, có quan hệvới họ trong mọi vấn đề bảo hiểm xây dựng và lắp đặt - loại hình bảo hiểm quan

Trang 10

trọng nhưng vô cùng phức tạp này Hầu hết các Công ty bảo hiểm trên thế giới thựchiện nghiệp vụ này đều áp dụng quy tắc của MUNICH RE.

1.3.Nội dung cơ bản của bảo hiểm xây dựng và bảo hiểm lắp đặt

1.3.1 Nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng

1.3.1.1 Khái niệm bảo hiểm xây dựng

Bảo hiểm xây dựng là bảo hiểm những thiệt hại phát sinh từ một rủi ro bất ngờhoac từ trách nhiệm đối với người thứ ba trong việc xây dựng một công trình, có sửdụng đến bê tông và xi măng

Mục đích của bảo hiểm xây dựng là bù đắp về tài chính cho các chủ đầu tư haychủ thầu để sửa chữa những thiệt hại bất ngờ xảy ra khi xây dựng một công trình,đây là thiệt hạiấc y ra cho chính bản thân công trình, cho các thiết bị và có thể làcho các dụng cụ của công trường hoặc bồi thường thiệt hại gây ra cho người khác(trách nhiêm dân sự)

1.3.1.2 Đối tượng bảo hiểm

Đối tượng bảo hiểm xây dựng bao gồm tất cả các công trình xây dựng dân dụng,công trình công nghiệp… mà kết cấu của nó có sử dụng xi măng và bê tông cốtthép Và với điều kiện là những đối tượng bảo hiểm này phải được ghi tên tronghợp đồng bảo hiểm Cụ thể chia ra thành các công trình sau:

• Các công trình xây dựng công cộng, nhà ở, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc,nhà hát, rạp chieu phim, các công trình văn hoá khác,…

• Nhà máy xí nghiệp, các công trình phục vụ cho việc sản xuất;

• Đường sá (bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường bang sân bay);

• Cầu cống, đê đập, công trình thoát nước, kênh đào, cảng…

• Máy móc, trang thiết bị xây dựng phục vụ cho quá trình xây dựng

• Tài sản có tên và trong phạm vi công trường thuộc quyền sở hữu, quản lý, kiểm soátcủa người được bảo hiểm

• Trách nhiệm đối với người thứ ba

Mỗi công trình xây dựng đều có sơ đồ tổng thể, bản vẽ thiet kế, các máy mócthiết bị cần thiết phục vụ công tác xây dừng cũng như các công việc có liên quantrong quá trình xây dựng Do vậy, để đơn giản cho việc tính phí cũng như giải quyếtkhiếu nại trong trường hợp tổn thất sẽ xảy ra người ta chia đối tượng bảo hiểm ralàm nhiều hạng mục, bao gồm:

Trang 11

Cấu trúc chủ yếu của công trình xây dựng: Hạng mục này bao gồm giá triị của

tất cả các hạng mục côgn trình do chủ thầu (kể cả nhà thầu phụ) tiến hành theohợpđồng xây dựng ký kết giữa chủ thầu và chủ đầu tư, nó chiếm phần lớn giá trị củacông trình Những hạng mục chủ yếu bao gồm: Công tác chuẩn bị mặt bắng, dọndẹp mặt bằng (giá trị công việc đào đắp, san nền) Giá trị xây dựng các công trìnhtạm thời phục vụ công tác thi công như: kênh dẫn nước, đê bảo vệ, nhà tạm thời.Đóng cọc, làm móng, giá trị các cấu trúc chủ yếu của công trình Chi phí chạy thửcác máy móc thiết bị được lắp đăt (nếu có yêu cầu bảo hiểm trong công trình).Thông thường khi xây dựng một công trình, trong số các công việc cần thiết phảilàm có công tác lắp đặt các máy móc, thiết bi Người được bảo hiểm cần kê khai giátrị hạng mục công trình trong phụ lục kèm theo đơn bảo hiểm Nếu muốn loại trừmột công việc nào đó thì trong đơn bảo hiểm hay trong đìểu khoản bổ sung cần phảighi rõ Ví dụ không bảo hiểm chạy thử các máy móc sau khi đã lắp đặt xong

Trang thiết bị xây dựng và công trình tạm thời: các thiết bị cố định phục vụ thi

công như các công trính phụ trợ (lán trại, trụ sở tạm thời, kho bãi, nhà xưởng,giàn giáo, hệ thốịg băng tải thiết bị cung cấp điện nước, rào chắn…) Các trang bịnày được sử dụng nhiều lần cho các công trình khác nhau Chỉ một phần giá trị haomòn của các trang bị đó được tính vào giá trị công trình Khi yêu cầu bảo hiểm chocác trang thiết bị này phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm

Máy móc thiết bị: Bao gồm các máy móc có động cơ tự hành hoặc không tự hành

phục vụ công tác thi công (máy xúc, máy ủii , cần cẩu, xe chuyên dùng…) thuộcquyền sở hữu của người được bảo hiểm hoặc do họ đi thuê Các loại máy móc nàychỉ được bảo hiểm trong thời gian sử dụng trên khu vực công trường Khi yêu cầubảo hiểm cho máy móc này phảii có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm

Các tài sản sẵn có trên và xung quanh khu vực công trường thuộc quyền sở hữu, quản lý, chăm sóc của người được bảo hiểm: Khi tiến hành bảo hiểm, người được

bảo hiểm phải kê khaii cụ thể giá trị trong phụ lục của đơn bảo hiểm (Điều khoản

bổ sung) Trong bảo hiểm xây dựng điều khoản bổ sung số 105 sẽ được áp dụngcho việc bảo hiểm các tài sản này, phí bảo hiểm sẽ được tính theo tỉ lệ phí của cácphần thi công xây dựng Hiện nay, điều khoản này đã được thay thế bằng điềukhoản bổ sung 119

Trang 12

Chi phí dọn dẹp hiện trướng: Bộ phận này bao gồm các chi phí phát sinh phải di

chuyển, dọn dẹp các phế thải xây dựng, gạch đá, … do sự cố thuộc trách nhiệm bảohiểm gây ra trên khu vực công trường, nhằm mục đích làm sạch để có thể tiếp tụccông việc thi công công trình Ví dụ khi xây dựng đướng sá, mưa lũ làm sụt đường.Các chi phí để khôi phục lại đoạn đường đó do bảo hiểm gánh chịu nếu người đượcbảo hiểm yêu cầu đã được kê khai trong đơn bảo hiểm (thuộc phạm vi bảo hiểm)

Trách nhiệm đối với người thứ ba: Thuộc phần II của đơn bảo hiểm, một trong

hai phần chủ yếu của đơn bảo hiểm Nó bao gồm trách nhiệm pháp lý mà ngườiđược bảo hiểm phải gánh chịu do tổn thất này đã ãáy ra trong thời gian bảo hiểmTuy nhiên, các tổn thất gây ra cho công nhân hay người làm thuê người được bảohiểm mà không thuộc trách nhiệm bồi thường của đơn bảo hiểm này Họ được bảohiểm bằng đơn bảo hiểm taii nạn lao động và trách nhiệm của chủ thầu đối vớingười làm thuê

1.3.1.3 Người được bảo hiểm

Trong bảo hiểm xây dựng, tất cả các bên có liên quan đến công trình xây dựng và

có quyền lợi trong công trình đax được nêu tên hay chỉ định trong bản phụ lục bảohiểm đều có thể là người được bảo hiểm Cụ thể:

- Chủ đầu tư hoặc chủ công trình ( Bên A trong hợp đồng xây dựng ) : Là chủ sở hữuvốn Chủ đầu tư có thể là nhiều tổ chức, cá nhân bỏ toàn bộ hoặc một phần vốn củamình để đầu tư theo như quy định của pháp luật.Nếu vốn đầu tư cho dự án chủ yếuthuộc sở hữu của Nhà nước thì chủ đầu tư là người được chỉ định và cấp quyết địnhđầu tư ngay từ khi lập dự án Và chủ đầu tư được giao trách nhiệm quán lý, sử dụngvốn, đứng ra chịu trách nhiệm mua sắm máy móc, thiết bị, và đưa vào sử dụng vớichi phí của mình

- Chủ thầu ( Bên B trong hợp đồng xây dựng ) : Là người tham gia kí kết hợp đồngxây dựng và lắp đặt với chủ đầu tư Chủ thầu có thể là ngươi tổ chức, cá nhân có tưcách pháp nhân Nếu có nhiều chủ thầu ta chia ra làm hai loại: Chủ thầu chính vàChủ thầu phụ

• Chủ thầu chính: Là người trực tiếp đứng ra kí kết hợp đông bảo hiểm xây dựng vàlắp đặt với chủ đầu tư, đứng raa bao thầu toàn bộ công trình chịu trách nhiệm tiếnhành lắp đặt, vận hành thử, sửa chữa và bảo hành

• Chủ thầu phụ: Chủ thầu phụ là người làm thuê từng phần phụ cho chủ thầu, chủthầu phụ đảm nhận từng hạng mục riêng Chủ thầu phụ chỉ ký kết hợp đồng với chủ

Trang 13

thầu mà không hề liên quan gìi đến chủ đầu tư Chủ thầu phụ thương là nhữngngười xây thô, hoàn thiện công trình, cung cấp nguyên vật liệu, dọn dẹp công trìnhsau khi xây dựng.

- Các kiến trúc sư, kỹ sư, nhà thiết kế, cỗ vấn chuyên môn:

Là người được làm việc theo hợp đồng cho nhà chủ thầu Mặc dù họ có liên quanđến công trình và có nằm trong mục người được bảo hiểm nhưng đơn bảo hiểm xâydựng và lắp đặt không bảo hiểm cho trách nhiệm nghề nghiệp của những người này.Trong một số trường hợp nảy sinh vấn đề là có nhiều người được bảo hiểm thìkhông hề biết trong đơn bảo hiểm sẽ ghi tên ai, và ai là người được ghi tên đầu tiên.Thì lúc này sẽ là do hai bên thỏa thuận với nhau Thông thường người đại diện chocác bên trong hợp đồng bảo hiểm XD&LĐ là người mà được đứng ra ký kết thỏathuận trong hợp đồng bảo hiểm và đóng phí Do đó, trên hợp đồng sẽ ghi tên ngườiđại diện đó và sẽ kèm theo một danh sách ghi tên những nhà thầu phụ, những người

có quyền lợi liên quan đến công trình

1.3.1.4 Phạm vi bảo hiểm

Các rủi ro được bảo hiểm thường là bảo hiểm dưới hình thức "mọi rủi ro bảohiểm", thường có phạm vi bảo hiểm rất là rộng Đó phải là những rủi ro có nguyênnhân tai nạn, bất ngờ và không thể lường trước được vì thế những rủi ro mà bị loạitrừ sẽ không được bảo hiểm

- Các rủi ro chính được bảo hiểm: Công ty bảo hiểm có trách nhiệm đối với ngườiđược bảo hiểm khi tổn thất xảy ra do các rủi ro chính sau:

 Cháy, nổ (đặc biệtt nguy hiểm đối với các toà nhà đang xây dựng, lán trại đang thicông và các vật liệu) và tổn thất khi tiến hành các biện pháp chữa cháy

 Sét đánh

 Bị các phưong tiện giao thông hay máy bay đâm vào

 Lũ lụt, mưa gió, bão, tuyết lở, tuyết rơi, sóng thấn

 Động đất, núi lửa phun, đất đá sụt lở, đất trượt

 Trộm, cắp

 Thiếu kiinh nghiệm, sơ suất, bất cẩn, hành động ác ý hay cố tình nhầm lẫn của conngười, nhưng không phải là người được bảo hiểm hay đại diện của họ

 Vụ nổ (nó có thể làm thiệt hại các ống nồi hơi của nồi Supde cũng như là các thiết

bị trao đổi nhiệt)

 Hiện tượng sập (một số công trình có thể bị sập nên cần bảo hiểm nó bằng một hợpđồng vị chế độ trách nhiệm trong 10 năm, nhất là đối với việc thi công ở nướcngoài)

Trang 14

Phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm xây dựng bao gồm cả những tổn thất củanguyên vật liiệu xây dựng, các trang thiết bị lắp đặt, trong khi vận chuyển trên khuvực công trường hay khi lắp đặt, tháo gỡ Tùy vào từng công trình xây dựng, mỗiđơn bảo hiểm đc cấp còn có các điều khoản bổ sung đối với các rủi ro phụ, để phùhợp với nội dung của công việc.

- Các điểm loại trừ:

 Các tổn thất xảy ra trực tiếp hay là hậu quả của chiến tranh hay các hành độngtương tự nhu chiến tranh, đình công, bãi công, bễ xưởng, nổi loạn, gián đoạn hayngừng công việc theu lệnh của nhà chức trách hay bất cứ cơ quan có thẩm quyềnnào

 Tổn thất do những phản ứng hạt nhân, phóng xạ hạt nhân hay ô nhiễm các phóngxạ

 Tổn thất do nhueng hành động cố ý hay vô ý của người được bảo hiểm hay đại diệncủa họ

 Các tổn thất có tính chất hậu quả, ví dụ: Tiền phạt do chậm trễ hay vi phạm hợpđồng, mất thu nhập do thời gian xây dựng kéo dài

 Những hỏng hóc về cơ khí hay vềi điện hay những trục trặc của các máy móc xâydựng (nếu đơn Bảo hiểm xây dựng bao gồm cả máy móc xây dựng), trang thiết bịxây dựng

 Tổn thất do các lỗi thiết kế sai, do nguyên vật liệu kém chất lượng hay sai chủngloại

 Hao mòn, rỉ sét, ô xy hoá, giảm giá trị do để lâu không sử dụng hay dưới điều kiệnbình thưoòng về nhiệt độ, áp suất

 Các mất mát hay thiệt hại của tài liệu, bản vẽ, biểu mẫu, chứng từ thanh toán, tiềnséc

 Các mất mát phát hiện khi kiiểm kê

 Tổn thất của xe cơ giới lưu hành trên công lộ, của các phương tiện thuỷ hay máybay

 Tổn thất về người và tài sản do việc di chuyển, tháo gỡ gây ra (không thể coi làtổn thất bất ngờ)

 Những tổn thất do tạm ngùng công việc

 Chi phí thay thế hay sửa chữa, khác phục các khuyết tật của nguyên vật liệu hay dotay nghề

 Mức khấu trừ mà người được bảo hiểm phải tự gánh chịu trong mỗi trường hợp cố

sự cố thuộc trách nhiệm bảo hiểm

Trang 15

 Khiếu nại tổn thất liên quan đến một số tai nạn được bảo hiểm hay có thể được bảohiểm trong phạm vi của phần bảo hiểm vật chất của đơn bảo hiểm xây dựng.

 Khiếu nại phát sinh do dịch chuyển, rung động hay suy yếu của cột chống

Tuy nhiên cần lưu ý rằng: Các rủi ro được loại trừ nêu đều có thể được bảo hiểmbởi các điều khoản bổ sung, ví dụ:

+ Rủi ro đình công, chiến tranh (S.R C) ĐKBS 001

1.3.1.5 Giá trị bảo hiểm và Số tiền bảo hiểm

 Giá trị bảo hiểm:

Trong bảo hiểm xây dựng, giá trị bảo hiểm là vấn đề quan trọng và xác địnhchính xác giá trị bảo hiểm là vô cùng phức tạp Xác định được chính xác giá trị bảohiểm sẽ giúp cho cả người bảo hiểm và những người được bảo hiểm tránh được cáctranh chấp không cần thiết khi có tổn thất xảy ra Các giá triị phải xác định trongbảo hiểm xây dựng bao gồm:

- Giá trị bảo hiểm của phần công tác thi công xây dựng: Giá trị này thường là giá trị

đc ước tính và Người được bảo hiểm có thể sẽ dùng một trong các giá trị sau đâylàm giá trị bảo hiểm cho phần này:

+ Tổng giá trị khôi phục của công trình, nghĩa là giá trị khôi phục công trìnhtrong trường hợp tổn thất toàn bộ xảy ra và phải xây dựng lại công trình

+ Giá trị dự toán của công trình tuân theo hợp đồng xây dựng

+ Giá trị bằng hoặc nhỏ hơn tổn thất lớn nhất mà có thể xảy ra

Trường hợp chọn giá trị khôi phục làm giá trị bảo hiểm của hạng mục "Công việcthi công xây dựng" sẽ phải giải quyết 1 số vấn đề như: phải dự đoán được mức tangcác chi phí lập công trình, tang chi phí về nguyên liệu, chi phí lương công nhân tăng

do biến động của giá cả, phí sử dụng máy móc, nhà xưởng thiết bị và các công trình

Trang 16

tạm thời Những thay đổi đó tác động vào giá công trình Như vậy việc xác địnhchính xác giá trị khôi phục cũng là rất khó.

Nếu chọn các giá trị bảo hiểm tương đưong hay nhỏ hơn tổn thất lớn nhất cóthể xảy ra thì trong trường hợp có sự cố: sẽ khó mà tính toán và giải quyết bồithường (bảo hiểm dưới giá trị và bảo hiểm trên giá trị), đặc biệt khi có tổn thất bộphận

Thông thường lấy giá trị ghi trung hợp đồng xây dựng làm giá trị bảo hiểm làhợp lý nhất Khi kết thúc công trình đó, giá trị này được điều chỉnh theo thực tế, lúc

đó phí bảo hiểm cũng được điều chỉnh cho phù hợp Đặc biệt với những nước cólạm phát cao thì giá cả sẽ có nhiều biến động nên cần thiết phải điều chỉnh giá trịbảo hiểm sau khi công trình hoàn thành (vấn đề quan trọng là ở chỗ người bảo hiểmphải thu được phí bổ sung sau khi công trình đã hoàn thành)

Trong thời gian xây dựng, nếu có sự thay đổi lớn về giá trị cả dẫn tới việc giá trịbảo hiểm thay đổi thì người được bảo hiểm thông báo ngay cho người bảo hiểm biết(điểm này đã nói tới trong đơn bảo hiểm) Trường hợp giá trị bảo hiểm sẽ phải đượcđiều chỉnh ngay, không cần chờ đến khi công trình hoàn thành Người bảo hiểm cónhiệm vụ thuyết phục người được bảo hiểm khai đúng giá của công trình để tránhxảy ra tranh chấp sau này trong trường hợp xảy ra tổn thất thuộc trách nhiệm bồithường

- Giá trị bảo hiểm của máy móc xây dựng: là giá trị thay thế tương đương mục mới

của máy đó (New Replacement Value) tức là giá của một máy móc tương đương cóthể mua tạii thời điểm đó để thay thế máy bị tổn thất, bao gồm cả chi phí vậnchuyển và lắp ráp

- Giá trị bảo hiểm của trang thiết bị xây dựng:

Giá trị bảo hiểm đối với trang bị xây dựng là tương đối khó xác định vì trang bịxây dựng rất nhiều hạng mục với giá trị khác nhau Có những hạng mục sử dụngtrong khoảng thời gian nhất định tại công trường sau đây lại di chuyển tới côngtrình khác Chỉ một phần giá trị được đưa vào giá thành của công trình

Cách tốt nhất để xác định giá trị bảo hiểm của trang bị xây dựng là dự kiến giá trịcủa trang bị ở thời điểm tập trung cao nhất trong quá trình xây dựng Còn một cáchkhác là xác định trang bị theo tùng giai đoạn của công việc hay bảo hiểm toàn bộgiá trị của trang bị xây dựng cần dùng cho cả công trìhn

Trang 17

- Giá trị bảo hiểm đối với chi phí dọn dẹp: Cần dự kiến số chi phí cần thiết để di

chuyển chất phế thải xây dựgn, đất đá, nếu xảy ra tổn thất lớn nhất Thông thườngcác công ty bảo hiểm xác định giá trị này bằng 5-10% giá trị hợp đồng xây dựng

- Giá trị bảo hiểm của tài sản có sẵn và xung quanh công trình thuộc quyền sở hữu của người được bảo hiểm: Đó là trị giá các tài sản thuộc quyền quản lý, sở hữu

chăm nom, coi sóc của người được bảo hiểm Giá trị bảo hiểm là giá trị của các tàisản đó ở thời điểm bảo hiểm Người được bảo hiểm cần kê khai đúng giá trị thựccủa các tài sản đó để có cơ sở chính xác cho người bảo hiểm bồii thường trongtrường hợp xảy ra các tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm

- Mức trách nhiệm bảo hiểm cho trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với bên thứ ba do việc thi công công trình: Thường được xác định trên cơ sở giá trị

tổn thất tối đa có thể Đây là giới hạn thỏa thuận cho mỗi tia nạn nhưng không giớihạn cho suốt thời hạn bảo hiểm

Thông thường, công ty bảo hiểm thường thuyết phục người được bảo hiểm tham giabảo hiểm ngang giá trị Trong trườgn hợp người được bảo hiểm tham gia bảo hiểmdưới giá trị sẽ áp dụng phuơng pháp bảo hiểm theo tỷ lệ với các thiệt hại xảy ra

 Số tiền bảo hiểm:

Số tiền bảo hiểm là cơ sở để xác định phí bảo hiểm cũng như trách nhiệm bồithường của người bảo hiểm Trong hợp đòng bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, số tiền bảohiểm chia làm hai phần đảm bảo cho phần tổn thất vật chất và trách nhiệm dân sự

- Số tiền bảo hiểm cho phần vật chất

Số tiền bảo hiểm được xác định dựa trên gié trị các hạng mục đã nêu

Thường thì trong bảo hiểm xây dựng và lắp đặt Số tiền bảo hiểm = Giá trị bảohiểm

Trong trường hợp Số tiền bảo hiểm < Giá trị bảo hiểm người ta sẽ xác định việcbồi thường theo phương phấp tỷ lệ giữa Số tiến bào hiểm/ Gía trị bảo hiểm

Lưu ý: Trường hợp bảo hiểm theo giá trị thay thế mới, việc bồi thường cụ thểnhư sau:

+ Trường hợp giá trị thay thế mới một bộ phận nào đó của đối tượng bảo hiểm(thường thấy ở các máy móc trang thiết bị xây lắp) làm cho giá trị bảo hiểm mới >

số tiền bảo hiểm thì người bảo hiểm sẽ bồi thường theo phương pháp tỷ lệ

Trang 18

+ Trường hợp giá trị thay thế mới làm Gía trị bảo hiểm mới < Số tiến bào hiểmthì Người bảo hiểm sẽ bồi thườg theo giá trị thiệt hại

- Số tiền bảo hiểm cho các phần trách nhiệm dân sự đốii với người thứ ba

Phần này số tiền bảo hiểm do sự thoả thuận giữa các bên mà không có giá trị bảohiểm để căn cứ Số tiền bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự đới với Ngườithứ ba là giới hạn trách nhiệm bồi thường của người bảo hiểm khi phát sinh tráchnhiệm bồi thường

Trong bảo hiểm xây dựng và lắp đặt số tiền bảo hiểm cho hàng mục này thườngđược xác định bằng một tỷ lệ nhất định của giá trị bảo hiểm phần bảo hiểm vật chất

ở trên, nhưng tỷ lệ tối đa là 10%

1.3.1.6 Thời hạn bảo hiểm

Thời hạn bảo hiểm là những khoảng thời gian được bảo hiểm,được xác định căn

cứ vào thời điểm đầu bảo hiểm và thời điểm kết bảo hiểm, được ghi trong hợp đồngbảo hiểm

Trách nhiệm của Người bảo hiểm được tính từ lúc khởi công công trình hoặc saukhi dỡ xong các hạng mục có tên trong phụ lục xuống công trường, bao gồm cảthời gian lưu kho nhưng không vượt quá của 3 tháng, cho dù ngày quy định có thểkhác thời điểm kết thúc bảo hiểm là khi công trình được hoàn thành, bàn giao và đivào sử dụng nhưng không đc muộn hơn thời điểm ghi trong đơn bảo hiểm Nếucông trình hoàn thành trước thời hạn thì hiệu lực của hợp đồng cũng sẽ chấm dứtngay sau khi công trình được bàn giao và đi vào sử dụng Trong trường hợp thờigian thi công kéo dài và đã vượt quá thời hạn quy định thì người được bảo hiểmphải có yêu cầu gia hạn them đối với hợp đồng bảo hiểm và phải thanh toán thêmphí bảo hiểm cho thời gian vượt quá này

1.3.1.7 Phí bảo hiểm

Phí bảo hiểm là gíá của bảo hiểm Đó là số tiền mà người được bảo hiểm phải trảcho người bảo hiểm để đổii lấy rủi ro mà anh ta đã chuyển trách nhiệm cho ngườibảo hiểm khi mua bảo hiểm Có mối quan hệ qua và lại giữa phí bảo hiểm và rủi robởi vì trong tất cả các Công ty bảo hiểm, chính các khoản đóng góp của người bảohiểm được sử dụng để thanh toán các tổn thất Do vậy phí bảo hiểm cần phải biểuhiện giá trị rủi ro mà rủi ro được xác định nhờ vào các con số thống kê được tập

Trang 19

hợp từ một cộng đồng Vì thế việc xác định tỷ lệ phí như nào cho hợp ý đểđảm bảo cho tính công bằng người được bảo hiểm và xây dựng nên quỹ bảo hiểm

đủ lớn để thực hiện tốt cho việc triển khai nghiệp vụ là rất quan trọng Nếu tỷ lệphí hợp lý, bảo vệ quyền lợi cho các bên thì bản thân Công ty bảo hiểm trở nên có

uy tín tạo được thế cạnh tranh

Biểu phí bảo hiểm xây dựng và lắp đặt của Việt Nam về cơ bản là theo quy địnhcủa quyết định 663TC/QĐ-TCNH ngày 24 tháng 5 năm 1995 Thực tế, người takhông thể đặt ra một biểu phí với tỷ lệ cố định cho loại hình bảo hiểm này vì mỗicông trình đều có một thông số kỹ thuật riêng, chịu ảnh hưởng của những trạng thái

và điều kiện của tự nhiên khác nhau ở từng khu vực Người bảo hiểm xem xét giátrị công trình, giá trị hạng mục từng công trình trong đơn bảo hiểm, sơ đồ hay bản

vẽ thiết kế công trình, trạng thái đất đai, khí hậu địa chất, thuỷ văn, tiến độ cungứng nguyên vật liệu xây dựng và lắp đặt để từ đó tính phí bảo hiểm Nói chung, phíbảo hiểm được xác định theo các rủi ro thông thưòng, đó là những rủi ro mà bất kỳmột công trình xây lắp nào cũng có khả năng gặp phải, ngoài ra còn có rủi ro đặcbiệt như tổn thất như động đất, núi lửa, sóng thần,…mà không phải bất cứ côngtrình nào cũng gặp phải

1.3.1.8 Hợp đồng bảo hiểm

Kết cấu một đơn bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng - lắp đặt Thông thường, một đơnbảo hiểm mọi rủi ro xây dựng, lắp đặt gồm những thành phần sau:

- Mở đầu đưa ra lời cam kết bảo hiểm

- Những điểm loại trừ chung: áp dụng cho tất cả các phần trong đơn bảo hiểm

- Thời hạn bảo hiểm

- Những qui định chung: Qui định về quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên khi cótổn thất xảy ra, bảo hiểm trùng, khiếu kiện…

Phần 1 Bảo hiểm tổn thất vật chất Phần này cung cấp sự bảo vệ về mặt tài chínhcho các bên có quyền liên quan đến công trình đầu tư xây lắp đối với các tổn thấtxảy ra cho chính công trình lắp đặt đó

Phần 2 Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba Mục đích của phần 2 là cungcấp bảo vệ về mặt tài chính cho người được bảo hiểm đối với trách nhiệm pháp lýtheo luật định mà người được bảo hiểm phải chịu đối với các thiệt hại về thân thể vàvật chất của bên thứ ba mà hậu quả trực tiếp việc thi công xây lắp công trình gây ra.Phần 3 Hiện nay một số đơn bảo hiểm bao gồm phần 3 bảo hiểm cho tổn thất lợinhuận ước tính

Trang 20

- Phục lục đơn bảo hiểm: Phần này tóm tắt nội dung của đơn bảo hiểm, bao gồm:Tênđịa chỉ người được bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, phí bảo hiểm,các điều khoản mởrộng…

- Bản câu hỏi và giấy yêu cầu bảo hiểm

- Các sửa đổi bổ sung (nếu có)

1.3.2 Nghiệp vụ bảo hiểm lắp đặt

1.3.2.1 Khái niệm bảo hiểm lắp đặt

Bảo hiểm lắp đặt là một bảo đảm về thiệt hại do một sự cố bất ngờ gây ra hoặcphát sinh từ trách nhiệm của chủ công trình trong quá trình lắp đặt máy móc, thiết

bị cho một công trình nào đó

Bảo hiểm xây dựng và bảo hiểm lắp đặt là hai loại hình bảo hiểm kỹ thuật Từkhi tiến hành khởi công xây dựng công trình, nhà máy mới nào đó, cho tới khi cácmáy móc thiết bị được đưa vào sản xuất thì các giai đoạn đều gắn với các loại hìnhbảo hiểm rất khác nhau trong bảo hiểm kỹ thuật

1.3.2.2 Đối tượng bảo hiểm

Đối tượng của bảo hiểm lắp đặt là các máy móc lắp đặt, các trang thiết bị phục vụcho công tác lắp đặtt và một số cong việc, hạng mục liên quan tới công việc lắp đặt

Nó liên quan đến các thiệt hại về mặt vật chất đối với máy móc, các dây chuyềnđồng bộ trong một xí nghiệp hây thậm chí đối với tổng thể một xí nghiệp trong khitiến hành lắp ráp Cụ thể những đối tượng được bảo hiểm đuọc phân loại như sau:

- Công việc lắp đặt

- Các máy móc, trang thiết bị, dụng cụ, dây chuyền đồng bộ phục vụ cho lắp đặt Vídụ: máy nâng, cần cẩu, trục ghép…

- Các fần việc xây dựng phục vụ cho công tác lắp đặt

- Trách nhiệm dân sự đối với bên thứ 3

- Chi phí dọn dẹp vệ sinh

Cần lưu ý rằng trách nhiệm theo các hợp đồng giữa những người được bảo hiểm

và người thứ ba không được bồi thường theo đơn bảo hiểm xây dựng và lắp đặt.Đơn bảo hiểm xây dựng và lắp đặt chỉ bảo đảm trách nhiệm đối với bên thứ batrong thời gian xây dựng lắp đặt, không phải chịu trách nhiệm trong thời gian bảohành và bảo hiểm này chỉ tiến hành khi cả phần "Tổn thất vật chất" của đơn bảohiểm cũng nằm trong phạm vi của đơn bảo hiểm, không bảo hiểm cho riêng phầntrách nhiệm đối với bên thứ ba

Trang 21

Trong thực tế, một công trình xây dựng thường bao gồm cả công việc lắp đặttrang thiết bị hoặc ngược lại Do đó, mà với một công trình xây lắp, người ta chỉ sửdụng một loại đơn bảo hiểm sử dụng đơn bảo hiểm loại nào là cũng phụ thuộc vàotrị giá phần công việc xây dựng và lắp đặt Tuy nhiên, bảo hiểm xây dựng khôngbảo hiểm cho việc chạy thử các máy móc thiết bị, còn bảo hiểm lắp đặt thì có bảohiểm nên khi sử dụng đơn bảo hiểm xây dựng mà muốn bảo hiểm chạy thử thì cầnphải dùng điều khoản bổ sung

1.3.2.3 Người được bảo hiểm

Người được bảo hiểm trong bảo hiểm lắp đặt là các nhà xây dựng hoặc lắp đặt

cơ sở vật chất, một phần hoặc toàn bộ, đã được chỉ rõ trong hợp đồng bảo hiểm,cũng có thể là nhà công nghiệp hoặc thực hiện hoặc cho thực hiện theo danh nghĩacủa mình những công việc lắp ráp hoạt động trên cơ sở vật chất đã được chao phócho nó về mục đích này

Người được bảo hiểm trong đơn bảo hiểm xây dựng và lắp đặtt bao gồm: chủ đầuttư, chủ thầu chính, các kỹ sư, cố vấn chuyên môn, nhà thầu phụ và các bên có liênquan đến công trính xây và lắp

 Các trường hợp loại trừ:

Các trường hợp loại trừ chung trong các đơn bảo hiểm như: chiến tranh, các hànhđộng khủng bố, phá hoại ngầm Các hậu quá của hạt nhân, phóng xạ Hành vi có

Trang 22

tính vi phạm của người được bảo hiểm, việc đi ăn cắp do nhân viên của bên đượcbảo hiểm hoặc thiệt hại do từ lỗi chú ý của bên được bảo hiểm.

Một vài ngoại trừ đặc biệt như: thiệt hại do thiếu sót có trước mà những người cótrách nhiệm đã biết, do hao mòn từ nguồn gốc vốn có hoặc do tiếp tục chạy thử cáccông cụ đã bị hỏng trước khui sửa chữa Các phí tổn được trang trải nhằm xoá bỏcác thiếu sót; để sửa chữa nhưng sai sót về kế hoạch; để đưa cơ sở vật chất phùhợp với chỉ định về những tiêu chuẩn của giao kèo hoặc điều kiện đấu thầu; đểđem lại cho tài sản một sự sửa đổi hoặc hoàn thiện nào đó… cũng được loại trừ.Sau cùng, các thiệt hại gián tiếp (phạt theo hợp đồng, khong đủ năng suất, mất mát

do chậm chế ) đều được loại trừ

Các điều khoản bổ sung có thể cho phép bảo hiểm các ngoại trừ khác được dựkiến một cách bình thườgn như các thiệt hại do một lỗi lầm về quan niệm, về tínhtoán, hoặc về kế hoạch, do một thiếu sót về nguyên vật liệu hoặc do một khuyết tật

về xây dựng, các thiệt hại gây nên do động đất hoặc là do gió xoáy; các thiệt hạixảy ra bất ngờ trong quá trình thao tác bốc xếp, vận chuyển và xếp dỡ để đưa dụng

cụ đến công trường lắp ráp Loại trừ các khoản miến thường, mọi tổn thất hậu quả,Lỗi thiết kế, khuyết tật nguyen vật liệu, hao mòn và sé dách, các tổn thất về hồ sơ,bản vẽ, tài liệu Các tổn thất phát hiện vào thời điểm kiểm kê

1.3.2.5 Giá trị bảo hiểm và Số tiền bảo hiểm

 Giá trị bảo hiểm:

- Giá trị bảo hiểm đối với chi phí lắp đặt:

Phần này được tính bằng giá trị thay thế mới của bất kỳ một máy móc hay thiết bịmới tương đương, bao gồm: Giá mua + Cước phí vận chuyển + Phí bảo hiểm + Phíkho bãi + Thuế quan + Chi phí lắp đặt

Giá trị này phải được điều chỉnh trước khi kết thúc thời hạn bảo hiểm theo sựbiến động của giá cả Trong trường hợp số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị thực tế củamáy móc thiết bị thì khi tổn thất xảy ra, sẽ bồi thường theo nguyên tắc “Bảo hiểmdưới giá trị” như các loại bảo hiểm khác

- Giá trị bảo hiểm của việc xây dựng

Ví dụ như giá trị của việc xây dựng nhà xưởng để lưu kho, bệ máy…và việc xâydựng này thường được hoàn tất trước khi lắp ráp máy móc thiết bị

- Giá trị bảo hiểm đối với chi phí dọn dẹp vệ sinh

Trang 23

Thông thường giá trị này được xác định trong khoảng 5 - 10% giá trị của tổng sốthiệt hại

- Giá trị bảo hiểm đối với tài sản trên và xung quanh công trường (tương tự nhưtrong bảo hiểm xây dựng)

 Số tiền bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm là cơ sở để xác định phí bảo hiểm cũng như trách nhiệm bồithường của người bảo hiểm Trong hợp đồng bảo hiểm xây dựng và lắp đặt, số tiền bảohiểm chia làm hai phần đảm bảo cho phần tổn tíat vật chất và trách nhiệm dân sự

- Số tiền bảo hiểm cho phần vật chất

Số tiền bảo hiểm được xác định dựa trên giá trị các hạng mục đã nêu Thường thìtrong bảo hiểm xây dựng và lắp đặt Số tiền bảo hiểm = Giá trị bảo hiểm

Trong trường hợp Số tiền bảo hiểm < Giá trị bảo hiểm người ta sẽ xác định việcbồi thường theo phương pháp tỉ lệ giữa Số tiền bảo hiểm / Giá trị bảo hiểm

Lưu ý: Trường hợp bảo hiểm theo giá trị thay thế mới, việc bồi thường cụ thểnhư sau:

+ Trường hợp giá trị thay thế mới một bộ phận nào đó của đối tượng bảo hiểm(thường thấy ở các máy móc trang thiết bị xây lắp) làm cho giá trị bảo hiểm mới >

số tiền bảo hiểm thì người bảo hiểm sẽ bồi thường theo phương pháp tỷ lệ

+ Trường hợp giá trị thay mới làm Gía trị bảo hiểm mới < Số tiền bảo hiểm thìNgười bảo hiểm sẽ bồi thường theo giá trị thiệt hại

- Số tiền bảo hiểm cho phần trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba

Phần này số tiền bảo hiểm do sự thoả thuận giữa các bên mà không có giá trị bảohiểm để căn cứ Số tiền bảo hiểm trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với Ngườithứ ba là giới hạn trách nhiệm bồi thường của người bảo hiểm khi phát sinh tráchnhiệm bồi thường

Trong bảo hiểm xây dựng và lắp đặt số tiền bảo hiểm cho hạng mục này thườngxác định bằng một tỉ lệ nhất định của giá trịi bảo hiểm phần bảo hiểm vật chất ởtrên, nhưng tỷ lệ tối đa là 10%

Trang 24

1.3.2.6 Thời hạn bảo hiểm

Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian được bảo hiểm, nó được xác định căn cứvào thời điểm bắt đầu bảo hiểm và thời điểm kết thúc bảo hiểm, được ghi trong hợpđồng bảo hiểm

Trách nhiệm của Người bảo hiểm được tính từ lúc khởi công công trình hoặc saukhi dỡ xong các hạng mục có trong phụ lục xuống công trường, bao gồm cả thờigian lưu kho nhưng không vượt quá 3 tháng, cho dù ngày quy định có thể khác.Thời hạn bảo hiểm kết thúc khi các thiết bị máy móc được bàn giao hay ngay saukhi kết thúc thời gian chạy thử (mức chạy thử cao nhất là 1 tháng), trong hai thờiđiểm này thời điểm nào xong trước thì thời hạn bảo hiểm kết thúc tại đó.Tuy nhiên,trong quá trình láp ráp, nếu một bộ phận của máy hay một số cỗ máy đã được chạythử hoặc vận hành hay bàn giao thì việc bảo hiểm cho phần đó hay các thiết bị hoặcmáy móc và mọi trách nhiệm phát sinhsẽ chấm dứt, mặc dù bảo hiểm này vẫn cóhiệu lực vớiphần còn lại đối với máy móc, thiết bị đã cũ (đã sử dụng rồi) thì tráchnhiệm của người bảo hiểm sẽ chấm dứt ngay khi lắp đặt xong và bàn giao xong(không bảo hiểm cho quá trình chạy thử máy móc này)

Thời hạn chậm nhất kết thúc bảo hiểm theo đơn bảo hiểm xây dựng và lắp đặtđược ghi trong phụ lục kèm đơn bảo hiểm Thời gian bảo hiểm cũng có thể kéo dàibằng các điều khoản bổ sung hay có sự chấp nhận của người bảo hiểm sau khiNgười được bảo hiểm trả them khoản phụ phí Ví dụ, điều khoản bổ sung 003 hay

004 “Bảo hiểm cho công tác bảo hành”, Điều khoản bổ sung 201 “Bảo hiểm chothời gian bảo hành của các nhà chế tạo máy móc thiết bị” (Bảo hiểm lắp đặt)

Trang 25

- Mở đầu đưa lời cam kết bảo hiểm.

- Những điểm lọại trừ chung: áp dụng cho tất cả các phần trong đơn bảo hiểm

- Thời hạn bảo hiểm

- Những quy định chung: Qui định về quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên khi cótổn thất xảy ra, bảo hiểm trùng, khiếu kiện…

Phần 1 Bảo hiểm tổn thất vật chất Phần này cung cấp sự bảo vệ về mặt tài chínhcho các bên có quyến lợi liên quan đến công trình đầu tư xây lắp đối với các tổn thấtxảy ra cho công trình lắp đặt đó

Phần 2 Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba Mục đích của phần 2 là cungcấp sự bảo vệ về tài chính cho người được bảo hiểm đối với trách nhiệm pháp lýtheo luật đã quy định mà người được bảo hiểm phải gánh chịu đối với các thiệt hại

về thân thể và vật chất của bên thứ ba mà hậu quả trực tiếp của việc thi công xây lắpcông trình gây ra

Phần 3 Hiện nay một số đơn bảo hiểm còn bao gồm phần 3 bảo hiểm cho tổnthất lợi nhuận ước tính

- Phục lục đơn bảo hiểm: Phần này tóm tắt nội dung của đơn bảo hiểm, bao gồm: Tên

và địa chỉ người đc bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, phí bảo hiểm, các điều khoản mởrộng…

- Bản câu hỏi & giấy yêu cầu bảo hiểm

- Các sửa đổi bổ sung (nếu có)

1.3.3 Đề phòng và hạn chế tổn thất

Đề phòng và hạn chế tổn thất là những hoạt động thực hiện nhằm mục đích ngănngừa và giảm thiểu tổn thất thêm cho những rủi ro có thể xảy ra hoặc đã xảy ra vìvậy người tham gia sẽ đồng ý phối hợp cùng với người bảo hiểm để thực hiệnnhững biện pháp để đề phòng và hạn chế tổn thất

Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất bao gồm các hoạt động thực hiện trướckhi tổn thất xảy ra và các hoạt động tiến hành ngay sau khi tổn thất vừa mới xảy ra

- Trước khi tổn thất xảy ra: Trước khi chấp nhận hoặc tái tục đơn bảo hiểm hoặctrước khi bắt đầu giai đoạn chủ chốt của quá trình xâydựng và lắp đặt công trình,các cán bộ của Tổng công ty bảo hiểm kết hợp với kỹ sư của Công ty giám định,Công ty tái bảo hiểm cùng khách hàng tới địa điểm hoạt động hoặc xây dựng đểgiám định rủi ro, cùng nhau làm rõ những vấn đề quan trọng để đưa ra những kiếnnghị và biện pháp hữu hiệu cần thực hiện để ngăn ngừa và hạn chế tổn thất đối vớicông trình Người bảo hiểm dự báo rủi ro và mức độ tổn thất có thể xảy ra từ đóđóng góp kịp thời cho người được bảo hiểm các biện pháp cần thiết để bảo vệ đối

Trang 26

tượng được bảo hiểm, ngăn ngừa khả năng có rủi ro giành cho chúng Công ty đãthiết lập quỹ đề phòng hạn chế các tổn thất theo tỷ lệ 2% doanh thu để chi chocông tác này sẽ bao gồm:

+ Chi trợ giúp đề phòng hạn chế tổn thất: Khoản chi này dùng để phối hợp thêmvới các nhà đầu tư mua sắm các trang thiết bị như: vật liệu, công cụ để làm rào chắnxung quanh công trình, lắp đặt các biển báo, mua các trang thiết bị bảo hộ lao động,mua các trang thiết bị phòng cháy chữa cháy…

+ Chi cho viêc tuyên truyền quảng cáo về các khả năng có thể xảy ra tổn thất,mức độ nguy hiểm của nó vfà các phương pháp phòng tránh rủi ro

+ Chi động viên khen thưởng cho những cán bộ, nhân viên hoặc đơn vị thực hiệntốt công tác đề phòng hạn chế tổn thất

- Sau khi tổn thất xảy ra: Người bảo hiểm hướng dẫn và yêu cầu người được bảohiểm thực hiện một số biện pháp cụ thể để tối thiểu hoá giá trị thiệt hại có thể xảy

ra sau những tổn thất Từ đó giảm được số tiền bồi thường

Chi đề phòng hạn chế rủi ro tổn thấ là khoản chi quan trọng đối với nghiệp vụnày, nó sẽ giúp Công ty bảo hiểm mua các biện pháp, kiến thức trang bị cho quản lýrủi ro, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm với các chuyên gia nước ngoài nhằm hạn chếnhững tổn thất, cũng như là có thể thuê mua các trang thiết bị cần thiết để đềphòng hạn chế tổn thất

Trích lập dự phòng là một khoản chi bắt buộc, mục đích của nó là để dự trữ tiềncủa trong trường hợp đối tượng bảo hiểm bị tổn thất hay xảy ra sự kiện bảo hiểm.Theo quy định của Bộ tài chính, tỷ lệ trích lập cho chi đề phòng hạn chế rủi rotổn thất chỉ được tối đa ở mức 5% Điều này nói lên rằng PJICO đã thực sự quantâm nhiều hơn đến các vấn đề quản lý rủi ro Trong ngành kinh doanh bảo hiểm nóichung, quy luật số đông bù số ít là trung tâm bí quyết của ngành kinh doanh này.Tuy nhiên, bảo hiểm là ngành chuyên kinh doanh rủi ro, nếu như không hoặc chútrọng ít tớii các rủi ro, thì tổn thất sẽ tăng lên, nhẹ thì là các lãi ít, mà nặng thì phásản Tỷ lệ chi mà Bộ tài chính quy định thực ra cũng là hơi thấp, nhưng vì còn cócác khoản chi khác quan trọng hơn, phát huy tác dụng tốt hơn, như khoản Trích lập

dự phòng, nên tỷ lệ này cũng có thể chấp nhận được

1.3.4 Phòng chống trục lợi

Tuân thủ các quy trình khai thác, quy trình đánh giá rủi ro đến quy trình giámđịnh bồi thường

Trang 27

- Kiểm tra hồ sơ và đối chiếu giấy tờ kỹ càng để loại bỏ những gì không hợp lý.

- Xử lý nghiêm cán bộ có hành vi tiếp tay cho trục lợi bảo hiểm

- Khi phát hiện có trục lợi bảo hiểm thì cần có những biện pháp thật mạnh như từchối trả tiền bảo hiểm, cần truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo…

1.3.5 Giám định và bồi thường

 Quy trình giám định:

- Nhận thông báo tổn thất: Khi nhận được thông báo tổn thất, GĐV/NĐPC có tráchnhiệm:

+ Thu thập thông tin sơ bộ ban đầu về vụ tổn thất như sau: Họ và tên, địa chỉ và

số điện thoại người phụ trách bảo hiểm của khách hàng; hạng mục tổn thất, địađiểm, và thời gian xảy ra tổn thất; sơ bộ diễn biến và nguyên nhân tổn thất; Mức độ

và thiệt hại ước tính; hướng phát triển của tổn thất, và biện pháp hạn chế tổn thất đã

áp dụng; Những công việc mà người được bảo hiểm đang tiến hành và sẽ tiến hành.+ Hướng dẫn người được bảo hiểm cung cấp thông báo tổn thất bằng văn bảntheo mẫu

+ Cập nhật thông tin vào sổ theo dõi tổn thất theo mẫu

- Xử lý thông tin tổn thất:

+ GĐV/NĐPC kiểm tra các thông tin tổn thất đã nhận được và thu nhập các tàiliệu liên quan đối tượng tổn thất như: Giấy chứng nhận bảo hiểm/ Đơn bảo hiểm đãđược cấp hay chưa; đối tượng tổn thất tham gia bảo hiểm hay không; tổn thất cónằm trong địa điểm và thời hạn bảo hiểm; mức độ và giá trị tổn thất ước tính cónằm dưới mức khấu trừ; kiểm tra nộp phí bảo hiểm của khách hàng; quy định vềphối hợp và hướng dẫn thông báo tái bảo hiểm; các thỏa thuận thông báo và phốihợp giải quyết khác nếu có

+ GĐV/NĐPC phải báo cáo ngay cho Truoerng BPGĐ/GĐ đơn vị đề xuấtphương án xử lý; đối với các tổn thất có ước tính thiệt hại vượt trên phân cấp hoặcthông báo choi tái bảo hiểm, Trưởng BPGĐ/GĐ đơn vị phải báo cáo ngay về công

ty bằng văn bản theo mẫu BM.25.2-03 để công ty phối hợp giải quyết hoặc hướngdẫn khi cần thiết

- Tiến hành giám định:

+ Khi nhận được thông báo tổn thất xảy ra trên địa bàn thuộc đơn vị quản lý ( kể

cả trường hợp vượt trên phân cấp), Trưởng BPGĐ/GĐ đơn vị có trách nhiệm cửBPGĐ/GĐ đến ngay hiện trường vụ tổn thất

Trang 28

+ GĐV/NĐPC khi đến hiện trường phải thực hiện một số công việc cụ thể sau:Thu thập thông tin và tài liệu tổn thất; chụp ảnh và mô tả hiện trường thể hiện đượcdiễn biến, nguyên nhân và mức độ của tổn thất; đánh giá sơ bộ về diễn biến và mức

độ tổn thất; dựa trên cơ sở những thông số và hình ảnh tại hiện trường tiến hành xácđịnh và ước tính mức độ tổn thất; đề xuất cũng với sự phối hợp với người được bảohiểm cũng như các có quan có liên quan có mặt tại hiện trường như: cảnh sát phòngcháy chữa cháy, đơn vị xảy ra tổn thất,…; lập biên bản hiện trường mô tả chi tiếthiện trạng, nêu sơ bộ diễn biến và nguyên nhân tổn thất, ước tính mức độ thiệt hại, ýkiến của các bên có liên quan theo mẫu

- Lập báo cáo giám định:

+GĐV/NĐBH có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lý và sự đầy đủ của hồ sơ tài liệunhận được, nếu thiếu sót hoặc sai sót thì phải có văn bản yêu cầu người được bảohiểm bổ sung chứng từ hoặc giải trình rõ rang hơn

+ Khi nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, GĐV/NĐPC phải tiến hành xem xét chứng

từ, tài liệu kết hợp với những thông tin và hình ảnh hiện trường tổn thất để đưa ranhững kết luận chính xác về thiệt hại Từ đó lập báo cáo giám định cuối cùng tổnthất nêu rõ diễn biến và, nguyên nhân và mức độ tổn thất theo mẫu

- Hoàn chỉnh hồ sơ bồi thường:

+ GĐV phải lập phiếu giao nhận hồ sơ chuyển cho BPBT theo mẫu và chuyển hồ

sơ sang bộ phận xét bồi thừng nếu có

- GĐV có trách nhiệm thu thập, hoàn thiện và chuyển giao tài liệu có liên quan đến

vụ tổn thất cho bộ phận bồi thường đề nghị giám định hộ

 Giải quyết khiếu nại và bồi thường

Hồ sơ khiếu nại yêu cầu bồi thường bao gồm:

- Giấy chứng nhận bảo hiểm

- Các loại hóa đơn đóng phí bảo hiểm

- Giấy yêu cầu bồi thường

- Biên bản giám định

- Báo cáo của công an (nếu cần)

- Lời khai của nạn nhân, nhân chứng

Trách nhiệm buồi thường của công ty bảo hiểm căn cứ vào thời hạn bảo hiểm, phạm

vi bảo hiểm Giới hạn trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm căn cứ vào:

Trang 29

- GTBH, STBH.

- Mức giới hạn trách nhiệm đối với bên thứ ba

- Giới hạn trách nhiệm đối với các tổn thất do các rủi ro bổ sung

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÂY DỰNG VÀ LẮP ĐẶT TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX GIAI ĐOẠN 2010-2014

2.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Trong những nănm vừa qua, chúng ta chứng kiến những bước phát triển vượt bậccủa nền kinh tế Việt Nam với chính sách mở cửa và phát triển nền kinh tế thị trường

có sự quản lý Nhà nước Đặc biệt là chủ trương cổ phần hóa và phát triển các Công

ty cổ phần theo Luật Công ty 1990 Theo nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 củaChính phủ, Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (tên giao dịch là PJICO) đãđược thành lập theo giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện kinh doanh bảohiểm số 06-TC/GCN ngày 27/5/1995 của Bộ Tài chính, giấy phép thành lập số1976/GP-UB ngày 8/9/1995 của ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và giấychứng nhận đăng ký kinh doanh số 060256 ngày 15/6/1995 củu ủy ban kế hoạc

(nay là Sở kế hoạch – đầu tư) thành phố Hà Nội Và Là công ty cổ phần bảo

hiểm đầu tiên được thành lập tại Việt Nam, là sự tập hợp sức mạnh kinh tế và uy tín

của các tổng công ty lớn của nhà nước

Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex tên gọi tiếng Anh là PETROLIMEXJOINT-STOCK INSURANCE CORPORATION và viết tắt là PJICO PJICO làCông ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân, tự chủ về tài chính,hạch toán kinh tế

Tên tiếng Việt TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM PETROLIMEX

Tên tiếng Anh Petrolimex join-stock Insurance Corporation

Tên giao dịch Tổng Công ty Bảo hiểm PJICO

Ngày thành lập 15 tháng 06 năm 1995

Vốn điều lệ 710 tỷ đồng

Doanh thu 2014 2.132 tỷ đồng

Trang 30

Số lượng nhân viên trên 1.690 người

Số lượng Đại lý trên 3.420 đại lý

Công ty thành viên 57 công ty

Địa chỉ: Tâng 21-22, Tòa nhà MIPEC, Số 229 Tây Sơn, Đống Đa, Hà NộiTổng Công ty Cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) la doanh nghiệp cổ phầnđầu tiên được thành lập trong lĩnh vực bảo hiểm với các cổ đông sáng lập là cácTổng Công ty lớn của nhà nước như: Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (Petrolimex),Tổng Công ty Thép Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam(Vietcombank), Công ty Vật tư và thiết bị toàn bộ (Matexim), Tổng công ty tái bảohiểm Quốc gia Việt Nam… Kể từ khi hoạt động đến nay, đã có những bước tiếnvượt bậc về quy mô kinh doanh, mạng lưới kênh phân phối Cho đến nay, PJICO đã

có 57 Công ty thành viên cùng các văn phòng kinh doanh trực thuộc các Công tythanh viên phủ kín các địa bàn trên toàn quốc, củng cố vững chắc vị trí là một trongbốn công ty bảo hiểm phi nhân thọ lớn nhất thị trường bảo hiểm Việt Nam

Với 20 năm kinh nghiệm, PJICO ngày càng khẳng định vị hế của mình trên thịtrường bảo hiểm Việt Nam Chúng tôi đã tiến hành bảo hiểm xây dựng lắp đặt chorất nhiều công trình lớn: Quốc lộ , Đường Xuyên Á, Quốc lộ 5, Cao tốc Hà Nội –Lào Cai, Cao tốc Hà Nội – Hải Phòg, Cầu Thanh Trì, Bãi Cháy, Câu Nhật Tân,Thủy điện Sê Sen , Thủy điện Đồng Nai 3, Nhiệt điện Quảng Ninh, Đường dây tảiđiện Hàm Thuận –Đa mi, Đường dây 500kv Pleiku – Thường Tín, các nhà máy ximăng Hoàng Mai, Tam Điệp, Hải Phòng, Cảng Vũng Áng, Tiên Xa, Các tòa nhà lớntại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh như: Ha Noi Daewoo, Vietcombank Tower, EverFortune Hotel, Diamond Plaza, … và nhiều công trình công ngiệp, dân dụng lớntrên phạm vi toàn quốc Bên cạnh đó, nhằm thực hiện công tác bồi thường nhanhchóng và đảm bảo quyền lợi cho khách hàng khi xảy ra tổn thất, PJICO có quan hệchặt chẽ với các công ty giám định tổn thất chuyên nghiệp như: Crawford, McLarens, United Asia, Vietadjust… Và đã nhận được sự cộng tác hiệu quả của cáccông ty này trong việc đánh giá tổn thất, giám định và giải quyết khiếu nại PJICOluônvluôn coi nhiệm vụ bồi thường là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong hoạt độngkinh doanh, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng cũng chính là đảm bảo uy tín củaPJICO trên thị trường bảo hiểm Việt Nam

Trang 31

Bảng 2.1: Tỷ lệ góp vốn của Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex

đồng)

Cơ cấu vốn góp (%)

Ngân hàng Ngoại Thương Việt

Nguồn: Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex

Tổng vốn góp của PJICO là 55 tỷ tổng Việt Nam Trong đó, vốn điều lệ là 53 tỷđồng Việt Nam, tiền ký quỹ là 2 tỷ đồng Việt Nam Tổng vốn được chia làm

27500 cổ phần, với mệnh giá cổ phiếu là 2.000.000 đồng Việt Nam

Bảy cổ đông sang lập PJICO nhìn chung đều là các đơn vị kinh doanh lớn vàcùng nhau nắm giữ 80,5% tổng số vốn góp khi thành lập Trong đó đặc biệt là Tổngcông ty xăng dầu Việt Nam chiểm 51% tổng số vốn góp và là cổ đông lớn nhất Thểnhân chiếm 19,5% tổng vốn góp chính là các cá thể và các cán bộ công nhân viêncủa các cổ đông sáng lập

Trang 32

Đầu tư P TChính- KToánP TTrường và QLNV

ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG

Ban kiểm soát

Sau đây là sơ đồ tổ chức bộ máy của PJICO:

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của PJICO

Chức năng của các phòng ban trong công ty:

Trang 33

Phòng Tổng hợp: có chức năng hành chíng quản trị và nhiệm vụ quản lýtài sảngcủa ty Phòng Tổng hợp mua các thiết bị tài sản, thiết bị văn phòng cho Tổng công

ty, in ấn các loại tờ rơi tuyên truyền quảng cáo, tổ chức phục vụ cho các cuộc họp,hội nghị

Phòng bảo hiểm hàng hải: có nhiệm vụ khai thác các dịch vụ bảo hiểm về xuấtnhập khẩu hàng hóa, dịch vụ bảo hiểm thân tàu, bảo hiểm trách nhiện dân sự củachủ tàu (P&I), bảo hiểm nhà thầu đóng tàu, bảo hiểm tàu sông, tàu cá…

Phòng tổ chức cán bộ: có chức năng quản lý nhân sự trong Công ty quản lý laođộng, tiền lưog, điều động cán bộ, tuyển cán bộ nhân viên cho Công ty

Phòng đầu tự và thị trường chứng khoán: có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, liêndoanh ký kết, thực hiện các dự án đầu tư…

Phòng kế toán: thanh quyết toán các hợp đồng, quản lý phí bảo hiểm gốc, chi trảtiền bồi thườg, tổng hợp số liệu, lập báo cáo tài chính, thực hiện nghĩa vụ nộp thuếvới Nhà nước

Phòng quản lý nghiệp vụ và thị trườgn: quản lý tất cả hoạt động của các nghiệp

vụ bảo hiểm hiện có của Tổng công ty, hướng dẫn và chỉ đạo đơn vị thực hiện.Phòng bảo hiểm phi hàng hải: khai thác các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, bảohiểm kết hợp con người, bảo hiểm học sinh, giáo viên, bảo hiểm bồi thường chongười lao động, bảo hiểm hành khách, bảo hiểm du lịch

Phòng bảo hiểm tài sản và hỏa hoạn: nhiệm vụ khai thác các nghiệp vụ rủi ro vềxây dựng, lắp đặt, bảo hiểm rủi ro công nghiệp, bảo hiểm máy móc, bảo hiểm hỗnhợp tài sản cho thuê

Ban thanh tra, kiểm tra và pháp chế: có nhiệm vụ nghiên cứu các văn bản phápquy của Nhà nước liên quan hoạt động bảo hiểm, kiểm tra tính pháp lý của hợpđồng bảo hiểm cũng như hồ sơ bồi thường

Phòng tái bảo hiểm: thực hiện nhiệm vụ nhận và nhượng tái bảo hiểm các nghiệp

vụ bảo hiểm

Phòng giám định bồi thường: có nhiệm vụ thực hiện giám định các tổn thất đượcbảo hiểm, đánh giá, xac định thiệt hại tổn thất từ đó quyết định mức bồi thường

Ngày đăng: 21/04/2022, 13:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hoạt động của GV Hoạt động của HS Ghi bảng - Thực trạng triển khai bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại PJICO
o ạt động của GV Hoạt động của HS Ghi bảng (Trang 17)
GV đa bảng tóm tắt các kiến thức cần - Thực trạng triển khai bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại PJICO
a bảng tóm tắt các kiến thức cần (Trang 23)
Bảng 2.1: Tỷ lệ góp vốn của Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex - Thực trạng triển khai bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại PJICO
Bảng 2.1 Tỷ lệ góp vốn của Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (Trang 31)
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của PJICO - Thực trạng triển khai bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại PJICO
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của PJICO (Trang 32)
Bảng 2.2: Tổng doanh thu phí bảo hiểm–thị phần phí bảo hiểm gốc- tổng số tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểm năm 2013- 2014 - Thực trạng triển khai bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại PJICO
Bảng 2.2 Tổng doanh thu phí bảo hiểm–thị phần phí bảo hiểm gốc- tổng số tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểm năm 2013- 2014 (Trang 39)
2.3. Đánh giá tình hình kinh doanh bảo hiểm xâydựng lắp đặt tại PJICO - Thực trạng triển khai bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại PJICO
2.3. Đánh giá tình hình kinh doanh bảo hiểm xâydựng lắp đặt tại PJICO (Trang 48)
Từ bảng trên ta thấy: - Thực trạng triển khai bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại PJICO
b ảng trên ta thấy: (Trang 52)
Bảng 2.6: Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm xâydựng và lắp đặt - Thực trạng triển khai bảo hiểm xây dựng và lắp đặt tại PJICO
Bảng 2.6 Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm xâydựng và lắp đặt (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w