Hoạt động khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông đô (Chuyên đề ĐH Kinh tế quốc dân
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
CHƯƠNG I 3
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT 3
1.1 Lý thuyết về hoạt động khai thác trong quá trình kinh doanh bảo hiểm: 3
1.1.1 Vai trò của hoạt động khai thác: 3
1.1.2 Quy trình khai thác 4
1.1.2.1 Tìm kiếm, tiếp cận khách hàng, thu thập thông tin 4
1.1.2.2 Đánh giá rủi ro 5
1.1.2.3 Chào phí và đàm phán 5
1.1.2.4 Cấp đơn, ký kêt hợp đồng 5
1.1.2.5 Quản lý hợp đồng 5
1.2 Nội dung cơ bản về nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt 6
1.2.1 Sự cần thiêt và vai trò của bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt 6
1.2.2 Những nội dung cơ bản về nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt 7
1.2.2.1 Một số khái niệm có liên quan 7
1.2.2.2 Đối tượng tài sản được bảo hiểm 8
1.2.2.3 Người tham gia bảo hiểm 8
1.2.2.4 Rủi ro được bảo hiểm 10
1.2.2.5 Giá trị bảo hiểm 11
1.2.2.6 Số tiền bảo hiểm 12
1.2.2.7 Phí bảo hiểm 13
1.2.2.7.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm 13
1.2.2.7.2 Xác định phí bảo hiểm 14
1.2.2.8 Thời hạn bảo hiểm 15
1.2.2.9 Đánh giá rủi ro được bảo hiểm 16
CHƯƠNG II 16
HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM PVI ĐÔNG ĐÔ 16
GIAI ĐOẠN 2010 – 2014 16
2.1.Giới thiệu về công ty bảo hiểm PVI Đông Đô 16
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty bảo hiểm PVI Đông Đô 16
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty bảo hiểm PVI Đông Đô 19
2.1.3 Lĩnh vực hoạt động 21
Trang 22.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 22
2.2 Hoạt động khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 27
2.2.1 Thị trường bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt những năm gần đây 27
2.2.2 Quy trình khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô 30
2.2.2.1 Tiếp thị, nhận thông tin, yêu cầu bảo hiểm từ khách hàng 31
2.2.2.2 Chấp nhận chào phí 32
2.2.2.3 Tiến hành đàm phán/chào phí bảo hiểm cho khách hàng 33
2.2.2.4 Cấp Đơn/Hợp đồng/GCNBH 34
2.2.2.5 Quản lý Đơn/Hợp đồng/GCN bảo hiểm 35
2.2.3 Đánh giá chung về hoạt động khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 37
2.2.3.1.Kênh khai thác 37
2.2.3.1.1 Khai thác qua đại lý 37
2.2.3.1.2 Khai thác qua môi giới 38
2.2.3.1.3 Khai thác trực tiếp 39
2.2.3.2 Các hoạt động xúc tiến bán hàng 41
2.2.3.2.1.Hoạt động tuyên truyền quảng cáo 41
2.2.3.2.2.Dịch vụ chăm sóc khách hàng 42
2.2.2.3 Kết quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2010 - 2014 43
2.2.2.3.1 Về số hợp đồng ký kết 43
2.2.2.3.2 Về doanh thu đạt được 45
2.2.3.4 Hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại công ty bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 47
2.2.3.5 Những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động khai thác bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô giai đoạn 2010 - 2014 49
CHƯƠNG III 51
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM PVI ĐÔNG ĐÔ 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
YCBH/GYCBH – Yêu cầu bảo hiểm/giấy yêu cầu bảo hiểm
GCNBH – Giấy chứng nhận bảo hiểm
B QLBH/ B XCGCN – Ban Quản lý bảo hiểm/ Ban Xe cơ giới và con người
BGĐ/BTGĐ – Ban giám đốc/ Ban tổng giám đốc
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
CHƯƠNG I 3
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT 3
1.1 Lý thuyết về hoạt động khai thác trong quá trình kinh doanh bảo hiểm: 3
1.1.1 Vai trò của hoạt động khai thác: 3
1.1.2 Quy trình khai thác 4
1.1.2.1 Tìm kiếm, tiếp cận khách hàng, thu thập thông tin 4
1.1.2.2 Đánh giá rủi ro 5
1.1.2.3 Chào phí và đàm phán 5
1.1.2.4 Cấp đơn, ký kêt hợp đồng 5
1.1.2.5 Quản lý hợp đồng 5
1.2 Nội dung cơ bản về nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt 6
1.2.1 Sự cần thiêt và vai trò của bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt 6
1.2.2 Những nội dung cơ bản về nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt 7
1.2.2.1 Một số khái niệm có liên quan 7
1.2.2.2 Đối tượng tài sản được bảo hiểm 8
1.2.2.3 Người tham gia bảo hiểm 8
1.2.2.4 Rủi ro được bảo hiểm 10
1.2.2.5 Giá trị bảo hiểm 11
1.2.2.6 Số tiền bảo hiểm 12
1.2.2.7 Phí bảo hiểm 13
1.2.2.7.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm 13
1.2.2.7.2 Xác định phí bảo hiểm 14
1.2.2.8 Thời hạn bảo hiểm 15
1.2.2.9 Đánh giá rủi ro được bảo hiểm 16
CHƯƠNG II 16
HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM PVI ĐÔNG ĐÔ 16
GIAI ĐOẠN 2010 – 2014 16
2.1.Giới thiệu về công ty bảo hiểm PVI Đông Đô 16
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty bảo hiểm PVI Đông Đô 16
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty bảo hiểm PVI Đông Đô 19
2.1.3 Lĩnh vực hoạt động 21
Trang 62.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 22
2.2 Hoạt động khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 27
2.2.1 Thị trường bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt những năm gần đây 27
2.2.2 Quy trình khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô 30
2.2.2.1 Tiếp thị, nhận thông tin, yêu cầu bảo hiểm từ khách hàng 31
2.2.2.2 Chấp nhận chào phí 32
2.2.2.3 Tiến hành đàm phán/chào phí bảo hiểm cho khách hàng 33
2.2.2.4 Cấp Đơn/Hợp đồng/GCNBH 34
2.2.2.5 Quản lý Đơn/Hợp đồng/GCN bảo hiểm 35
2.2.3 Đánh giá chung về hoạt động khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 37
2.2.3.1.Kênh khai thác 37
2.2.3.1.1 Khai thác qua đại lý 37
2.2.3.1.2 Khai thác qua môi giới 38
2.2.3.1.3 Khai thác trực tiếp 39
2.2.3.2 Các hoạt động xúc tiến bán hàng 41
2.2.3.2.1.Hoạt động tuyên truyền quảng cáo 41
2.2.3.2.2.Dịch vụ chăm sóc khách hàng 42
2.2.2.3 Kết quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2010 - 2014 43
2.2.2.3.1 Về số hợp đồng ký kết 43
2.2.2.3.2 Về doanh thu đạt được 45
2.2.3.4 Hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại công ty bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 47
2.2.3.5 Những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động khai thác bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô giai đoạn 2010 - 2014 49
CHƯƠNG III 51
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM PVI ĐÔNG ĐÔ 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
CHƯƠNG I 3
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT 3
Trang 71.1 Lý thuyết về hoạt động khai thác trong quá trình kinh doanh bảo hiểm: 3
1.1.1 Vai trò của hoạt động khai thác: 3
1.1.2 Quy trình khai thác 4
1.1.2.1 Tìm kiếm, tiếp cận khách hàng, thu thập thông tin 4
1.1.2.2 Đánh giá rủi ro 5
1.1.2.3 Chào phí và đàm phán 5
1.1.2.4 Cấp đơn, ký kêt hợp đồng 5
1.1.2.5 Quản lý hợp đồng 5
1.2 Nội dung cơ bản về nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt 6
1.2.1 Sự cần thiêt và vai trò của bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt 6
1.2.2 Những nội dung cơ bản về nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt 7
1.2.2.1 Một số khái niệm có liên quan 7
1.2.2.2 Đối tượng tài sản được bảo hiểm 8
1.2.2.3 Người tham gia bảo hiểm 8
1.2.2.4 Rủi ro được bảo hiểm 10
1.2.2.5 Giá trị bảo hiểm 11
1.2.2.6 Số tiền bảo hiểm 12
1.2.2.7 Phí bảo hiểm 13
1.2.2.7.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm 13
1.2.2.7.2 Xác định phí bảo hiểm 14
1.2.2.8 Thời hạn bảo hiểm 15
1.2.2.9 Đánh giá rủi ro được bảo hiểm 16
CHƯƠNG II 16
HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM PVI ĐÔNG ĐÔ 16
GIAI ĐOẠN 2010 – 2014 16
2.1.Giới thiệu về công ty bảo hiểm PVI Đông Đô 16
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty bảo hiểm PVI Đông Đô 16
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty bảo hiểm PVI Đông Đô 19
2.1.3 Lĩnh vực hoạt động 21
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 22
2.2 Hoạt động khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 27
2.2.1 Thị trường bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt những năm gần đây 27
2.2.2 Quy trình khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô 30
2.2.2.1 Tiếp thị, nhận thông tin, yêu cầu bảo hiểm từ khách hàng 31
Trang 82.2.2.2 Chấp nhận chào phí 32
2.2.2.3 Tiến hành đàm phán/chào phí bảo hiểm cho khách hàng 33
2.2.2.4 Cấp Đơn/Hợp đồng/GCNBH 34
2.2.2.5 Quản lý Đơn/Hợp đồng/GCN bảo hiểm 35
2.2.3 Đánh giá chung về hoạt động khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 37
2.2.3.1.Kênh khai thác 37
2.2.3.1.1 Khai thác qua đại lý 37
2.2.3.1.2 Khai thác qua môi giới 38
2.2.3.1.3 Khai thác trực tiếp 39
2.2.3.2 Các hoạt động xúc tiến bán hàng 41
2.2.3.2.1.Hoạt động tuyên truyền quảng cáo 41
2.2.3.2.2.Dịch vụ chăm sóc khách hàng 42
2.2.2.3 Kết quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2010 - 2014 43
2.2.2.3.1 Về số hợp đồng ký kết 43
2.2.2.3.2 Về doanh thu đạt được 45
2.2.3.4 Hiệu quả khai thác nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại công ty bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014 47
2.2.3.5 Những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động khai thác bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt tại PVI Đông Đô giai đoạn 2010 - 2014 49
CHƯƠNG III 51
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM PVI ĐÔNG ĐÔ 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Từ lâu ngọn lửa đã nắm giữ một vai trò vô cùng quan trọng và thiêng liêngtrong đời sống con người chúng ta Thế nhưng, khi vượt ra ngoài tầm kiểm soát củacon người thì lửa lại mang đến những mối nguy hại khôn lường Thuỷ - Hoả - Đạo -Tặc, cha ông ta từ xa xưa vẫn coi hoả hoạn là kẻ thù đáng sợ thứ hai, chỉ sau thuỷthần Chỉ trong chốc lát, người ta có thể mất đi tính mạng, toàn bộ tài sản và cả giađình của mình chỉ vì hoả hoạn
Việt Nam là một nước thường xuyên xảy ra các vụ cháy nổ lớn, gây thiệt hạinặng nề về tính mạng và tài sản Theo thống kê, trong vòng 10 năm trở lại đây trên
cả nước đã xảy ra hơn 16.767 vụ cháy ở các nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, trườnghọc, bệnh viện, nhà dân và 6.109 vụ cháy rừng, làm chết 688 người, bị thương1.848 người Trung bình mỗi năm xảy ra 1.677 vụ cháy, nổ, làm chết và bị thương
254 người (số người chết khoảng 60 người mỗi năm), trung bình mỗi ngày xảy ra 5
vụ cháy, làm chết hoặc bị thương 8 người, thiệt hại về tài sản trị giá 419 tỷ đồng.Hoả hoạn hay cháy nổ dường như đang là mối đe doạ thường trực ảnh hưởngsâu sắc đến đời sống con người chúng ta Ngoài những nguyên nhân khách quankhiến tình trạng cháy nổ diễn biến phức tạp thì cần phải nhấn mạnh đến nguyênnhân chính xuất phát từ các yếu tố chủ quan Các doanh nghiệp và người dân vẫnchưa có những quan tâm cũng như nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tácphòng chống cháy nổ Bên cạnh đó trình độ nhận thức về sử dụng và quản lý cácnguồn tạo lửa còn hạn chế, các phương tiện phòng cháy còn nhiều lạc hậu cũng nhưcác biện pháp đề phòng và hạn chế rủi ro chưa đầy đủ và thiếu hiện đại
Xã hội ngày càng phát triển, các vụ hoả hoạn ngày càng nghiêm trọng hơn và
có tác động to lớn đến nhiều mặt đời sống kinh tế xã hội Để đối phó với những hậuquả đó, bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt được coi là một trong những biện pháphữu hiệu nhất Bảo hiểm này có thể giúp cho người được bảo hiểm có thể ổn địnhtài chính, vực dậy sau những tổn thất nặng nề Có thể nói, đây là một nghiệp vụ bảohiểm có ý nghĩa rất sâu sắc Người mua bảo hiểm trước tiên sẽ có sự bảo vệ chomình, bên cạnh đó việc mua bảo hiểm còn mang ý nghĩa nhân văn Dẫu biết rằngkhi tham gia mua bảo hiểm, không ai mong muốn hôm nay mình sẽ có những tàisản gặp rủi ro cháy nổ hay những rủi ro khác để ngày mai đến đòi bồi thường công
ty bảo hiểm Tuy nhiên khi tham gia mua bảo hiểm thì hành động của người mua
Trang 10bảo hiểm chính là đang đóng góp, chia sẻ với rất nhiều người khác kém may mắnhơn có thể quay trở lại hoà nhập với cuộc sống
Nhìn nhận thấy vai trò và ý nghĩa quan trọng của bảo hiểm Cháy và các rủi rođặc biệt, qua quá trình thực tập tại phòng Tài sản Kỹ thuật của Công ty bảo hiểmPVI Đông Đô là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm lớn triển khai nghiệp vụbảo hiểm này, em đã tìm hiểu nghiên cứu và lựa chọn đề tài “Hoạt động khai thácbảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt tại Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn
2010 – 2014” với mong muốn trình bày, phân tích, đánh giá về hoạt động khai thácnghiệp vụ bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt để từ đó đề xuất các giải pháp nhằmphát triển, nâng cao hiệu quả khai thác loại hình bảo hiểm này trong thời gian tới.Kết cấu của bài chuyên đề này gồm có 3 chương chính:
Chương I: Lý luận chung về hoạt động khai thác bảo hiểm cháy và các rủi rođặc biệt
Chương II: Hoạt động khai thác bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt tại Công
ty bảo hiểm PVI Đông Đô
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngkhai thác bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt tại Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô.Trong quá trình hoàn thành đề tài này, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
và tạo mọi điều kiện của các anh chị cán bộ chuyên môn Phòng Tài sản Kỹ thuậtCông ty bảo hiểm PVI Đông Đô và đặc biệt là sự quan tâm, hướng dẫn tận tình của
cô giáo hướng dẫn – Th.s Nguyễn Thị Lệ Huyền Em xin dành sự cảm ơn chânthành và sâu sắc đối với những sự giúp đỡ quý báu đó Tuy nhiên, dưới góc nhìncủa một sinh viên nên bài viết còn nhiều hạn chế và thiếu sót, chính vì vậy em rấtmong nhận được sự đánh giá, góp ý của các thầy cô để em có thể hoàn thiện vànâng cao hơn hiểu biết của mình về vấn đề này
Trang 11CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM
CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT
1.1 Lý thuyết về hoạt động khai thác trong quá trình kinh doanh bảo hiểm: 1.1.1 Vai trò của hoạt động khai thác:
Thị trường bảo hiểm đang ngày một trở nên sôi động hơn Sự canh tranh giữacác doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng trở nên gay gắt với mục tiêu thị phần caohơn Chính vì vậy doanh nghiệp nào cũng cần chú trọng đến hoạt động khai tháccũng như hiệu quả của khâu khai thác
Hoạt động khai thác bảo hiểm là khâu đầu tiên trong quy trình triển khai mộtnghiệp vụ bảo hiểm, không có khai thác thì không có các khâu tiếp theo Khai thácbảo hiểm là hoạt động tuyên truyền, quảng cáo, vận động mời chào khách hàngtham gia bảo hiểm, bán sản phầm bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm trực tiếp tiếnhành hay thông qua đại lý, cộng tác viên bảo hiểm, tổ chức môi giới bảo hiểm Như chúng ta đã biết, sản phẩm bảo hiểm là một sản phẩm vô hình, nó chỉ là
sự cam kết giữa hai bên về việc bồi thường khi xảy ra rủi ro nào đó mà hai bên thoảthuận trước, nếu không có sự giới thiệu, giải thích rõ ràng, cặn kẽ thì khách hàngkhông thể nắm bắt, hiểu và có nhu cầu tham gia Bên cạnh đó, nếu trong khâu khaithác không phân tích làm rõ những rủi ro, quyền lợi, trách nhiệm thì rất dễ xảy racác sự kiện tranh chấp khiếu nại về sau Như vậy, hoạt động khai thác không đơnthuần là việc quảng cáo tuyên truyền mà nó còn có mối quan hệ khăng khít với cáchoạt động tiếp theo trong quá trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm
Bởi vì chu kỳ kinh doanh bảo hiểm là chu kỳ kinh doanh đảo ngược cho nênkhâu khai thác các sản phẩm bảo hiểm cũng giống như khâu tiêu thụ các hàng hóathông thường khác Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nào càng bán đượcnhiều sản phẩm thì mới có thể tồn tại và phát triển được
Đây là hoạt động có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp bảohiểm nói chung và từng nghiệp vụ bảo hiểm nói riêng, đặc biệt là những nghiệp vụmới triển khai hoặc mới đưa ra thị trường Xuất phát từ nguyên tắc chung của hoạt
Trang 12động kinh doanh bảo hiểm là “số đông bù số ít”, nhằm xây dựng nguồn quỹ bảohiểm đủ lớn để dễ dàng san sẻ rủi ro, do đó doanh nghiệp bảo hiểm phải tổ chức tốtkhâu khai thác, thu hút được nhiều khách hàng tham gia thì mới đảm bảo đượcnguyên tắc trên.
1.1.2 Quy trình khai thác
Thông thường, quy trình khai thác sản phẩm bảo hiểm thường được thực hiệntheo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình khai thác bảo hiểm
1.1.2.1 Tìm kiếm, tiếp cận khách hàng, thu thập thông tin
Tìm kiếm khách hàng dường như là công việc khó khăn nhất khi tiến hànhkinh doanh Một sản phẩm bảo hiểm dù có tốt đến mấy, hấp dẫn đến mấy mà không
có đủ số khách hàng mà doanh nghiệp cần thì cũng vô nghĩa Bời vậy bước đầu tiêntrong quy trình khai thác là việc tìm kiếm, tiếp cận với khách hàng và thu thậpthông tin Trong bước đầu tiên này thường chia nhỏ thành các công đoạn:
Đầu tiên, xây dựng chương trình khai thác khách hàng: Trong công đoạn này
có hai nhiệm vụ chính là xác định đối tượng khách hàng và nguồn khách hàng Mỗisản phẩm bảo hiểm có một đặc thù riêng do vậy phù hợp với từng đối tượng kháchhàng khác nhau Vì vậy, doanh nghiệp bảo hiểm cần phải nghiên cứu đặc điểm củacác nhóm khách hàng và lựa chọn nhóm đối tượng mục tiêu để lên kế hoạch tìmkiếm nguồn và chinh phục khách hàng
Thứ hai, tiếp nhận yêu cầu bảo hiểm của khách hàng: Sau khi đã lập ra đượcmột chương trình khai thác hợp lý, doanh nghiệp sẽ tiếp xúc với khách hàng, traođổi thông tin để giới thiệu về các sản phẩm bảo hiểm và đáp ứng các nhu cầu kháchhàng Doanh nghiệp bảo hiểm có thể khai thác, thu thập thông tin trực tiếp từ chínhkhách hàng hoặc các đại lý, môi giới bảo hiểm Khi được khách hàng chấp nhận,
Trang 13nhân viên bảo hiểm sẽ cung cấp giấy yêu cầu bảo hiểm để khách hàng tự khai cácthông tin.
1.1.2.2 Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là khâu quan trọng làm cơ sở cho việc tính phí và đề xuất cácphương án đề phòng hạn chế tổn thất một cách có hiệu quả Bên cạnh đó đây cũng
là bước ảnh hưởng đến công tác bồi thường về sau
Sau khi nhận được giấy yêu cầu bảo hiểm từ khách hàng, doanh nghiệp bảohiểm sẽ tiến hành điều tra, đánh giá các nguy cơ có thể xảy ra liên quan đến rủi rođược yêu cầu Việc đánh giá rủi ro được thực hiện theo hai phương thức là thực hiệnqua bảng đánh giá rủi ro hoặc trực tiếp giám định thực tế Tuỳ vào quy mô và giá trịcủa hợp đồng mà doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương thức phù hợp
1.1.2.3 Chào phí và đàm phán
Sau khi tiến hành đánh giá rủi ro, nếu doanh nghiệp bảo hiểm nhận thấy có thểbảo hiểm được cho đối tượng thì nhân viên bảo hiểm sẽ tính toán hiệu quả của hợpđồng để từ đó xây dựng một bản chào để gửi đến khách hàng từ những thông tinđược cung cấp Nếu phí bảo hiểm và điều kiện bảo hiểm đã chào không được kháchhàng chấp nhận, tuỳ vào từng trường hợp, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ xem xét vàđàm phán lại với khách hàng
1.1.2.4 Cấp đơn, ký kêt hợp đồng
Sau khi hai bên đã chấp thuận phương án bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm sẽsoạn thảo lại bộ hợp đồng bảo hiểm chính thức và giao cho khách hàng Nếu khôngphát sinh them vấn đề gì, cả hai bên sẽ tiến hành ký kết Hợp đồng bảo hiểm sẽ bắtđầu có hiệu lực kể từ thời điểm khách hàng nộp phí cho doanh nghiệp bảo hiểm (trừkhi có thoả thuận khác trong hợp đồng)
1.1.2.5 Quản lý hợp đồng
Sau khi ký kết, trong thời gian hợp đồng có hiệu lực, hợp đồng sẽ được quản
lý, theo dõi về việc thu phí, những điều khoản cần sửa đổi bổ sung… Điều nàynhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàng và không làm ảnh hưởng đến lợi ích củadoanh nghiệp bảo hiểm
Trang 141.2 Nội dung cơ bản về nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
1.2.1 Sự cần thiêt và vai trò của bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
Cháy nổ là một loại rủi ro rất khó lường, thường gây hậu quả thiệt hại vô cùngnghiêm trọng đối với đời sống con người Theo Luật phòng cháy chữa cháy, cháy
nổ (hoả hoạn) có nghĩa là trường hợp xảy ra cháy không kiểm soát được có thể gâythiệt hại về người, tài sản và ảnh hưởng đến môi trường Theo số liệu thống kê, trênthế giới hằng năm có khoảng 5 triệu vụ cháy nổ lớn, gây thiệt hại hàng trăm tỷ đô
la Các vụ cháy nổ không chỉ xảy ra ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển màcòn xảy ra ở các nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Pháp, Mỹ… những quốcgia có nền khoa học, công nghệ đạt đến đỉnh cao của sự hiện đại và an toàn thì cháy
nổ vẫn xảy ra ngày một tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng
Để đối phó với rủi ro cháy nổ, con người đã sử dụng nhiều biện pháp khácnhau như các biện pháp phòng cháy, chữa cháy; đào tạo nâng cao trình độ kiến thức
và ý thức, thông tin về phòng cháy chữa cháy… Tuy nhiên, rủi ro cháy nổ vẫn tiếptục diễn ra làm cho các tổ chức, doanh nghiệp, các nhân phải gánh chịu những tổnthất rất nặng nề Và bảo hiểm chính là biện pháp hữu hiệu để đối phó với những hậuquả nặng nề đó Bảo hiểm cháy nổ không chỉ bồi thường nhằm bù đắp những thiệthại về tài sản do hoả hoạn mà người được bảo hiểm còn nhận được các dịch vụ tưvấn về công tác phòng cháy chữa cháy… từ phía doanh nghiệp bảo hiểm, giúp chongười được bảo hiểm lựa chọn được các biện pháp phòng cháy, chữa cháy có hiệuquả nhất Mặt khác, trong điều kiện kinh tế thị trường, các tổ chức, doanh nghiệp, cánhân đều phải tự chủ về tài chính Các hoạt động sản xuất, xây dựng, đầu tư, khaithác… ngày một gia tăng; khối lượng hàng hoá, vật tư luân chuyển tập trung rất lớn;công nghệ sản xuất càng đa dạng và phong phú hơn Do vậy, nếu rủi ro cháy nổ xảy
ra, họ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về tài chính, thậm chí có thể dẫn đến phásản Chính vì vậy, bên cạnh ý thức trách nhiệm phòng cháy chữa cháy thì việc thamgia bảo hiểm cháy nổ thực sự là một cứu cánh hữu hiệu cho các tổ chức, doanhnghiệp, cá nhân
Hiệp hội bảo hiểm cháy đầu tiên ra đời ở Đức năm 1591 mang tên FeuerCasse Năm 1667 ở Anh, văn phòng bảo hiểm cháy đầu tiên được thành lập lấy têngọi là “The fire office” với tiền thân là những người lính cứa hỏa Luân Đôn Năm
1684, công ty bảo hiểm cháy đầu tiên (Công ty Friendly Society) ra đời, hoạt động
Trang 15trên nguyên tắc và hệ thống chi phí cố định, tức là người được bảo hiểm phải chịumột phần tổn thất khi rủi ro xảy ra và sau đó bảo hiểm cháy đã lan rộng ra các châulục khác.
Ngày nay, nghiệp vụ bảo hiểm cháy được tiến hành ở hầu hết các nước trênthế giới và ngày càng phát triển Bên cạnh các rủi ro chính như cháy, nổ, sét, hợpđồng bảo hiểm còn bao gồm các rủi ro đặc biệt như: động đất, lũ lụt, cháy ngầmdưới đất, máy bay và các phương tiện hàng không rơi, nổ hay thiệt hại do bạo loạn,đình công… từ đó hình thành nên nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
Ở Việt Nam đây cũng là một nghiệp vụ được triển khai sớm vào cuối nhữngnăm 1989 sau khi có quyết định 06/ TCQĐ ngày 17/01/1989 của Bộ trưởng Bộ tàichính Bảo Việt là doanh nghiệp đầu tiên triển khai nghiệp vụ bảo hiểm cháy Hiệnnay đã có rất nhiều doanh nghiệp kinh doanh loại hình bảo hiểm này và mở rộngthêm phạm vi bảo hiểm là các rủi ro đặc biệt để thuận tiện cho cả khách hàng vàcông ty bảo hiểm
Nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt có vai trò và ý nghĩa quantrọng không chỉ đối với các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân mà còn đối với toàn xãhội
1.2.2 Những nội dung cơ bản về nghiệp vụ bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc
biệt
1.2.2.1 Một số khái niệm có liên quan
Bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt là một nghiệp vụ bảo hiểm tài sản nhằmbảo hiểm cho các loại tài sản của các cá nhân và tổ chức kinh tế xã hội Đây là mộtnghiệp vụ bảo hiểm phức tạp do đó trong quá trình triển khai cần thống nhất một sốkhái niệm có liên quan sau đây:
- Cháy: Hiểu theo nghĩa thông thường, cháy là phản ứng hoá học có toảnhiệt và phát sáng
- Hoả hoạn: là cháy xảy ra không kiểm soát được ngoài nguồn lửa chuyêndùng gây thiệt hại cho tài sản và người ở xung quanh
- Đơn vị rủi ro: là nhóm tài sản tách biệt khỏi nhóm tài sản khác với khoảngcách không cho phép lửa từ nhóm này lan sang nhóm khác ( khoảng cáchgần nhất không dưới 12m)
- Tổn thất toàn bộ: tổn thất toàn bộ ở đây bao gồm 2 loại:
Trang 16+ Tổn thất toàn bộ thực tế:là tài sản được bảo hiểm bị phá huỷ hoặc hưhỏng hoàn toàn, có thể số lượng thì còn nguyên nhưng giá trị không còn gì.+ Tổn thất toàn bộ ước tính: là tài sản được bảo hiểm bị phá huỷ hoặc hưhỏng đến mức nếu sửa chữa phục hồi thì chi phí sửa chữa phục hồi bằnghoặc lớn hơn số tiền bảo hiểm.
1.2.2.2 Đối tượng tài sản được bảo hiểm
Đối tượng tài sản được bảo hiểm trong bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt
là tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý hợp pháp của các đơn vị sản xuất kinhdoanh, dịch vụ, các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong xã hội
Cụ thể như sau:
- Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dụng( trừ đất đai)
- Máy móc thiết bị, phương tiện lao động phục vụ sản xuất kinh doanh
- Sản phẩm, vật tư hàng hoá dự trữ trong kho
- Nguyên vật liệu, sản phẩm làm dở, thành phẩm, thành phẩm trên dâychuyền sản xuất
- Các loại tài sản khác( kho, bãi, chợ, cửa hàng, khách sạn )
1.2.2.3 Người tham gia bảo hiểm
Người tham gia bảo hiểm được quy đinh là:
- Các tổ chức, cá nhân Việt Nam
- Các tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam
- Các cơ quan ngoại giao,
- Các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có nguy hiểm về cháy nổ, bắtbuộc phải mua bảo hiểm cháy nổ theo Nghị định 35/2006/NĐ-CP và phải có giấychứng nhận đủ điều kiện về PCCC hoặc biên bản kết luận cơ sở đủ điều kiện vềPCCC
Theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 35/2006/NĐ-CP, các doanhnghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có nguy hiểm về cháy nổ bắt buộc tham gia bảohiểm Cháy nổ như sau:
+ Cơ sở sản xuất vật liệu nổ, cơ sở khai thác, chế biến dầu mỏ và sản phẩmdầu mỏ, khí đốt; cơ sở sản xuất, chế biến hàng hoá khác cháy được có khối tíchtừ5.000 m3 trở lên
+ Kho vật liệu nổ, kho dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, kho khí đốt hoá lỏng;cảng xuất nhập vật liệu nổ, cảng xuất nhập dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, cảng xuấtnhập khí đốt hoá lỏng
Trang 17+ Cửa hàng kinh doanh xăng dầu, khí đốt hoá lỏng.
+ Nhà máy điện; trạm biến áp từ 110 KV trở lên
+ Chợ kiên cố, bán kiên cố thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của Uỷ bannhân dân cấp huyện trở lên; các chợ kiên cố, bán kiên cố khác, trung tâm thươngmại,siêu thị, cửa hàng bách hoá có tổng diện tích các gian hàng từ 300m2trở lênhoặc có khối tích từ 1.000 m3 trở lên
+ Nhà ở tập thể, nhà chung cư, khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ cao từ 5 tầngtrởlên hoặc có khối tích từ 5.000 m3 trở lên
+ Bệnh viện tỉnh, bộ, ngành; các cơ sở y tế khám chữa bệnh khác có từ 50giường trở lên
+ Rạp hát, rạp chiếu phim, hội trường, nhà văn hoá, nhà thi đấu thể thao trongnhà có thiết kế từ 200 chỗ ngồi trở lên, vũ trường, câu lạc bộ trong nhà, cơ sởdịch
vụ vui chơi giải trí và phục vụ công cộng khác trong nhà có diện tích từ200 m2 trởlên; sân vận động 5.000 chỗ ngồi trở lên
+ Nhà ga, cảng hàng không; cảng biển, cảng sông, bến tàu thuỷ, bến xe kháchcấp tỉnh trở lên; bãi đỗ có 200 xe ôtô trở lên; nhà ga hành khách đường sắt loại1,loại 2 và loại 3; ga hàng hoá đường sắt loại 1 và loại 2
+ Cơ sở lưu trữ, thư viện, bảo tàng, di tích lịch sử, nhà hội chợ, triển lãm thuộcthẩm quyền quản lý trực tiếp của Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
+ Cơ sở phát thanh, truyền hình, cơ sở bưu chính viễn thông cấp tỉnh trở lên.+ Trung tâm chỉ huy, điều độ, điều hành, điều khiển với quy mô khu vực vàquốc gia thuộc mọi lĩnh vực
+ Kho hàng hoá, vật tư cháy được hoặc hàng hoá vật tư không cháy đựngtrong các bao bì cháy được có khối tích từ 5.000 m3 trở lên; bãi hàng hoá, vật tưcháy được có diện tích từ 500 m2 trở lên
+ Trụ sở cơ quan, văn phòng làm việc, cơ sở nghiên cứu từ 6 tầng trở lên hoặc
có khối tích từ 25.000 m3 trở lên
+ Hầm mỏ khai thác than và các khoáng sản khác cháy được; công trình giaothông ngầm có chiều dài từ 400 m trở lên; công trình trong hang hầm trong hoạtđộngcó sản xuất, bảo quản, sử dụng chất cháy, nổ và có khối tích từ 1.000 m3trởlên
+ Cơ sở và công trình có hạng mục hay bộ phận chính nếu xẩy ra cháy nổ ở đó
sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới toàn bộ cơ sở, công trình hoặc có tổng diện tích haykhối tích của hạng mục, bộ phận chiếm từ 25% tổng diện tích trở lên hoặc khối tíchcủa toàn bộ cơ sở, công trình mà các hạng mục hay bộ phận đó trong quá trình hoạt
Trang 18động thường xuyên có số lượng chất nguy hiểm cháy, nổ thuộc một trong cáctrường hợp sau đây:
a.Khí cháy với khối lượng có thể tạo thành hỗn hợp dễ nổ chiếm từ 5% thểtíchkhông khí trong phòng trở lên hoặc có từ 70 kg khí cháy trở lên;
b.Chất lỏng có nhiệt độ bùng cháy đến 610C với khối lượng có thể tạothànhhỗn hợp dễ nổ chiếm từ 5% thể tích không khí trong phòng trở lên hoặc cácchấtlỏng cháy khác có nhiệt độ bùng cháy cao hơn 610C với khối lượng từ 1.000 lít trởlên;
c.Bụi hay xơ cháy được có giới hạn nổ dưới bằng hoặc nhỏ hơn 65 g/m3vớikhối lượng có thể tạo thành hỗn hợp dễ nổ chiếm từ 5% thể tích không khítrongphòng trở lên; các chất rắn, hàng hoá, vật tư là chất rắn cháy được với khốilượngtrung bình từ 100 kg trên một mét vuông sàn trở lên;
d.Các chất có thể cháy, nổ hoặc sinh ra chất cháy, nổ khi tác dụng với nhauvớitổng khối lượng từ 1.000 kg trở lên;
đ.Các chất có thể cháy, nổ hoặc sinh ra chất cháy, nổ khi tác dụng với nướchay với ô xy trong không khí với khối lượng từ 500 kg trở lên
Đây là những doanh nghiệp có nguy hiểm về cháy nổ, nguy cơ xảy ra cháy nổ cao,trong trường hợp nếu rủi ro xảy ra cháy nổ thì thiệt hại phải đối mặt là rất lớn khôngchỉ riêng đối với các đơn vị, doanh nghiệp nêu trên Chính vì vậy việc ban hành quyđịnh về bắt buộc tham gia bảo hiểm cháy nổ của Nhà nước là một việc làm hết sứcthiết thực và ý nghĩa
1.2.2.4 Rủi ro được bảo hiểm
Rủi ro được bảo hiểm bao gồm các rủi ro chính và các rủi ro đặc biệt:
Thứ nhất, rủi ro chính, là những rủi ro: Cháy, Sét, Nổ
- Cháy: rủi ro “cháy” sẽ được bảo hiểm nếu hội tụ đủ 3 yếu tố: phải thực
sự có phát lửa, lửa đó không phải là lửa chuyên dùng, lửa đó phải là bất ngờ hayngẫu nhiên phát ra
Khi có đủ 3 yếu tố trên và có thiệt hại về vật chất do những nguyên nhân đượccho là hợp lý gây ra, những thiệt hại đó sẽ được bồi thường cho dù đó là do bị cháy,
do nhiệt hoặc do khói
- Sét: Công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường khi tài sản đượcbảo hiểm bị phá huỷ trực tiếp do sét hoặc do sét đánh gây ra cháy Nếu sét đánh mà
Trang 19không cháy hoặc không phá huỷ trực tiếp tài sản thì không thuộc phạm vi tráchnhiệm bồi thường.
Cần lưu ý rằng, khi sét đánh phá huỷ trực tiếp các thiết bị điện từ thì được bồithường, còn sét đánh làm thay đổi dòng điện dẫn đến thiệt hại cho thiết bị điện tửthì không được bồi thường
- Nổ: Nổ là hiện tượng cháy xảy ra rất nhanh tạo ra một áp lực lớn kèmtheo tiếng động mạnh, phát sinh do sự giãn nở đột ngột của chất lỏng, rắn hoặc khí
Nổ trong rủi ro chính bao gồm:
+ Nổ nồi hơi phục vụ sinh hoạt
+ Hơi đốt phục vụ sinh hoạt, thắp sáng hoặc sưởi ấm trong một ngôi nhà.+ Không phải nhà xưởng làm các công việc sử dụng hơi đốt
+ Các trường hợp nổ gây cháy đã nghiễm nhiên được bảo hiểm
Thứ hai, các rủi ro đặc biệt:
Ngoài các rủi ro chính, các công ty bảo hiểm còn mở rộng các rủi ro đặc biệtkhác Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chấp nhận bảo hiểm cho những rủi ro đặc biệt khichúng đi kèm theo các rủi ro chính Người tham gia bảo hiểm có thể lựa chọn thamgia thêm những rủi ro đặc biệt và phải trả thêm phí cho những rủi ro này Những rủi
- Động đất hoặc phun trào núi lửa
- Lửa ngầm dưới đất
- Cháy do tài sản tự lên men, toả nhiệt hay bốc cháy
- Giông, bão, lũ lụt
- Vỡ hay tràn nước từ các bể chứa, thiết bị chứa nước hay đường ống dẫn
- Đâm va bởi xe bộ hành hay súc vật không thuộc sở hữu hoặc quyền kiểmsoát của Người được bảo hiểm hoặc của người làm thuê cho họ
- Nước thoát ra hay rò rỉ từ thiết bị phòng cháy tự động tại địa điểm được bảohiểm
1.2.2.5 Giá trị bảo hiểm
Trang 20Giá trị bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt chính
là giá trị của tài sản được bảo hiểm Giá trị này được tính trên cơ sở là giá trị muamới hoặc giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm tham gia bảo hiểm Tuy nhiên, dođối tượng bảo hiềm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt khá phức tạp và thường có giá trịlớn, nên khi xác định giá trị bảo hiểm người ta chia làm các loại như sau:
- Giá trị bảo hiểm của các ngôi nhà (nhà xưởng, văn phòng, nhà ở) đượcxác định theo giá trị mới hoặc giá trị còn lại
+ Giá trị mới là giá trị mới xây của ngôi nhà bao gồm cả chi phí khảo sát thiết kế.+ Giá trị còn lại là giá trị mới trừ đi hao mòn do sử dung theo thời gian
- Giá trị bảo hiểm của máy móc thiết bị và các loại tài sản cố định khácđược xác định trên cơ sở giá mua mới (bao gồm cả chi phí vận chuyển, lắp đặt nếucó) hoặc giá trị còn lại
- Giá trị bảo hiểm của thành phẩm và bán thành phẩm được xác định trên
cơ sở giá thành sản xuất
- Giá trị bảo hiểm của vật tư, hàng hoá trong kho, cửa hàng được xác địnhtheo giá trị bình quân hoặc giá trị tối đa của các loại vật tư, hàng hoá có mặt trongthời gian bảo hiểm
1.2.2.6 Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là giới hạn bồi thường tối đa của công ty bảo hiểm trongtrường hợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ Số tiền bảo hiểm còn là căn
cứ xác định phí bảo hiểm Vì vậy, xác định chính xác số tiền bảo hiểm có ý nghĩađặc biệt quan trọng Cơ sở xác định số tiền bảo hiểm là giá trị bảo hiểm
Đối với các tài sản cố định, việc xác định số tiền bảo hiểm căn cứ vào giá trịbảo hiểm của tài sản Đối với các tài sản lưu động, do giá trị thường xuyên bị biếnđộng nên số tiền bảo hiểm có thể xác định theo giá trị trung bình hoặc giá tị tối đa.Nếu bảo hiểm theo giá trị trung bình, người được bảo hiểm ước tính và thôngbáo cho công ty bảo hiểm biết giá trị số hàng hoá trung bình có trong kho, trong cửahàng Trong thời gian bảo hiểm giá trị trung bình này được coi là số tiền bảo hiểm,phí bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị trung bình Khi tổn thất xảy ra thuộc phạm
vi bảo hiểm, công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không vượt quágiá trị trung bình đã khai báo
Trang 21Nếu bảo hiểm theo giá trị tối đa thì người được bảo hiểm ước tính và thôngbáo cho công ty bảo hiểm biết giá trị của số lượng vật tư hàng hoá tối đa có thể đạtvào một thời điểm nào đó trong thời hạn bảo hiểm Phí bảo hiểm được tính trên cơ
sở giá trị tối đa và thường được thu trước một phần Khi tổn thất xảy ra thuộc phạm
vi bảo hiểm, công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không vượt quágiá trị tối đa đã khai báo Đầu mỗi tháng hoặc quý ( tuỳ theo sự thoả thuận của haibên), người được bảo hiểm thông báo cho công ty bảo hiểm số vật tư, hàng hoá tối
đa thực có trong tháng hoặc trong quý trước đó Cuối thời hạn bảo hiểm, trên cơ sởcác giá trị được thông báo, công ty bảo hiểm tính giá trị số vật tư, hàng hoá tối đabình quân của cả thời hạn bảo hiểm và tính lại phí bảo hiểm Nếu phí bảo hiểm tínhđược trên cơ sở số giá trị tối đa bình quân nhiều hơn số phí bảo hiểm đã nộp thìngười được bảo hiểm trả nốt cho công ty bảo hiểm số phí còn thiếu Trong thời gianbảo hiểm, nếu có tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm sẽ được công ty bảo hiểm bồithường và số tiền bồi thường vượt quá giá trị tối đa bình quân thì phí bảo hiểm đượctính dựa vào số tiền bồi thường đã trả Trong trường hợp này, số tiền được bồithường được coi là số tiền bảo hiểm
Việc áp dụng bảo hiểm theo giá trị tối đa khá phức tạp đòi hỏi công ty bảohiểm pahir biết giá trị vật tư, hàng hoá đó trong suốt thời gian bảo hiểm Những tàisản có giá trị lớn, người bảo hiểm khó có thể tái bảo hiểm vì tính phức tạp và khókhăn
Ngược lại, bảo hiểm theo giá trị trung bình lại đơn giản và dễ dàng theo dõiđồng thời có lợi về công tác tính phí bảo hiểm Phương pháp này rất thuận tiện đốivới loại hàng hoá có giá trị ít biến động trên thị trường
1.2.2.7 Phí bảo hiểm
1.2.2.7.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm
Do đối tượng của bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt rất đa dạng về chủngloại, giá trị và mức độ rủi ro nên có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến phí của nghiệp
vụ bảo hiểm này Chính vì vậy, không thể áp dụng một biểu phí cố định cho tất cảcác loại công trình, tài sản cho tất cả các loại công trình và tài sản có mức độ rủi ro
và việc phòng cháy khác nhau Trên thực tế, một số yếu tố cơ bản sau sẽ ảnh hưởngđến phí bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt:
Trang 22- Vật liệu xây dựng: Tuỳ theo các yếu tố kết hợp vật liệu xây dựng có thểchịu đựng được lâu dài hay không đối với sức nóng, người ta chia làm 3 loại:
+ Vật liệu nặng có khó bắt lửa và có khả năng chịu lửa tốt như bê tong, cốtthép, đá… loại này được sử dụng để xây dựng công trình loại D
+ Vật liệu trung gian: là vật liệu nhiều chất hoá học trộn với vật liệu thiênnhiên, khả năng chịu lửa không tốt bằng vật liệu nặng, loại này được sử dụng để xâydựng công tình loại N
+ Vật liệu nhẹ: loại này dễ bắt lửa và không có sức chịu lửa, thường được sửdụng để xây dựng công trình loại L
- Ảnh hường của các tầng nhà: Khi xảy ra hoả hoạn, lửa hoặc hơi nóng sẽđược truyền lên qua các tầng nhà, qua các cầu thang lên xuống, qua lỗ hổng hoặccủa sổ làm cho các tầng nhà có thể bị sập kéo theo các thiệt hại bên trong Do đósức chịu đựng của các tầng nhà cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm
- Phòng cháy, chữa cháy: Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phíbảo hiểm Căn cứ vào công tác này để công ty bảo hiểm điều chỉnh phí bảo hiểm.Nếu công tác phòng cháy, chữa cháy được trang bị tốt, hạn chế thấp nhất rủi ro xảy
ra thì phí bảo hiểm sẽ được tính thấp hơn Vị trí gần hay xa nguồn nước, đội cứuhoả…cũng ảnh hưởng đến phí bảo hiểm
- Cách phân chia đơn vị rủi ro: Khoảng cách phân chia hoặc tường chốngcháy cũng ảnh hưởng tới phí bảo hiểm Các đơn vị rủi ro càng gần nhau, phí bảohiểm càng cao và ngược lại
- Bao bì đóng gói, chủng loại hàng hoá, cách thức xếp đặt: Tuỳ từng loạihàng hoá, bao gói hay cách thức xếp đặt hàng hoá mà phí bảo hiểm phải căn cứ vào
đó mà xác định
1.2.2.7.2 Xác định phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm Cháy và các rủi ro đặc biệt được xác định theo công thức:
P=Sbx RTrong đó: Sb: STBH
R: Tỷ lệ phí bảo hiểm
P: Phí bảo hiểm
Tỷ lệ phí bảo hiểm thường được chia thành 2 bộ phận là tỷ lệ phí thuần và tỷ
lệ phụ phí
Trang 23R= R1+R2
Trong đó, R1: Tỷ lệ phí thuần
R2: Tỷ lệ phụ phí
Khi xác định tỷ lệ phí thuần thường phải căn cứ vào số liệu thống kê trong một
số năm trước đó như : tổng số đơn vị rủi ro tham gia bảo hiểm cháy nổ và các rủi rođặc biệt; số đpưn vị rủi ro tham gia bảo hiểm bị cháy nổ; tổng số tiền bảo hiểm; sốtiền bồi thường
Có 2 phương pháp xác định tỷ lệ phí thuần: theo phân loại và theo danh mục
- Xác định tỷ lệ phí thuần theo phân loại
Đây là cách kết hợp các đơn vị có thể so sánh với nhau cùng một loại, sau đó,tính tỷ lệ mỗi loại phản ánh số tổn thất và các chi phí khác của loại đó Phương phápnày phù hợp với những tài sản tương đối đồng nhất với nhau như nhà ở của dân cư,các nhà thờ… Nhưng khi xác định tỷ lệ theo phân loại, cần xét các yếu tố ảnhhưởng đến tỷ lệ phí như:
+ Loại vật liệu xây dựng
+ Khả năng phòng cháy, chữa cháy
+ Người sử dụng (chủ ở hay cho thuê)
+ Những vật bố trí xung quanh, bên ngoài
- Xác định tỷ lệ phí thuần theo danh mục
Theo phương pháp này, các bước xác định tỷ lệ phí bảo hiểm bao gồm:
Bước 1: Rà soát lại các danh mục tài sản tham gia bảo hiểm, sau đó phân loạitừng loại tài sản theo danh mục nhau
Bước 2: Căn cứ vào ngành nghề sản xuất kinh doanh để chọn một tỷ lệ phíthích hợp trong bảng tỷ lệ phí có sẵn
Bước 3: Điều chỉnh tỷ lệ phí đã chọn theo các yếu tố tăng (giảm)
Việc điều chỉnh này phải căn cứ vào các yếu tố: vật liệu xây dựng, công tácphòng cháy chữa cháy… Tất cả những yếu tố này đều có thể làm tăng hoặc giảm tỷ
lệ phí bảo hiểm
1.2.2.8 Thời hạn bảo hiểm
Tuỳ theo yêu cầu của Người được bảo hiểm, các công ty bảo hiểm thườngnhận bảo hiểm cho nghiệp vụ này trong thời hạn 1 năm hoặc ngắn hạn (dưới 1tháng, từ 1 đến 3 tháng, từ 3 đến 6 tháng, từ 6 đến 9 tháng ) Sau khi kết thúc thờihạn bảo hiểm, người được bảo hiểm có thể tiếp tục đóng phí bảo hiểm và yêu cầu
Trang 24tái tục cho dịch vụ đó Thời hạn bảo hiểm được ghi trong giấy chứng nhận bảohiểm Bảo hiểm chỉ thực sự có hiệu lực khi người được bảo hiểm tuân thủ theo đúngquy định thanh toán phí bảo hiểm như thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm
1.2.2.9 Đánh giá rủi ro được bảo hiểm
Đánh giá rủi ro là việc đánh giá chất lượng ký thuật của một đơn vị về khảnăng xảy ra cháy nổ Chất lượng rủi ro là một trong những yếu tố quan trọng ảnhhưởng đến việc bảo hiểm Ngoài ra còn có các nhân tố khác cũng góp phần ảnhhưởng đến toàn bộ chất lượng rủi ro như động đất, lụt, bão, rủi ro liên quan đến vấn
đề đạo đức và gián đoạn kinh doanh
Đánh giá rủi ro được xây dựng trêm kết quả giám định một nhà máy hoặc cơ
sở sản xuất/dịch vụ do một giám định viên có kinh nghiệm thực hiện hoặc do cấcchuyên viên đánh giá rủi ro của nhà bảo hiểm hoặc tổ chức giám định độc lập đượcnhà bảo hiểm thuê thực hiện
Cơ sở xem xét, đánh giá rủi ro là Bản câu hỏi đánh giá rủi ro và Danh mục tàisản được bảo hiểm
CHƯƠNG II HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM PVI ĐÔNG ĐÔ
GIAI ĐOẠN 2010 – 2014
2.1.Giới thiệu về công ty bảo hiểm PVI Đông Đô
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty bảo hiểm PVI Đông Đô
Tổng Công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) tiền thân là Tổng Công ty Cổphần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam (PVI) được thành lập theo quyết định số3484/QĐ-BCN ngày 05/12/1996 của Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp trên cơ sở chuyểnđổi từ Doanh nghiệp nhà nước một thành viên - Công ty Bảo hiểm Dầu khí và được
Bộ Tài chính cấp Giấy phép hoạt động số 42GP/KDBH ngày 12/03/2007 Bảo hiểmPVI là công ty đại chúng do Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam chiếm cổ phầnchi phối (gần 60%) và đang niêm yết trên sàn chứng khoán HNX với mã cổ phiếuPVI từ năm 2007 Năm 2008, Bảo hiểm PVI được Standard & Poor’s – hãng xếphạng tín nhiệm danh tiếng thế giới lựa chọn vào danh sách Top 10 cổ phiếu có tínhthanh khoản tốt nhất tại thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 25Tổng Công ty Bảo hiểm PVI đã vinh dự được Chủ tịch nước CHXHCN ViệtNam tặng Huân chương lao động hạng Nhất năm 2011, hạng Nhì năm 2009, hạng
Ba năm 2008 và danh hiệu Anh hùng lao động năm 2011
Kể từ ngày 01 tháng 08 năm 2011, Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khíViệt Nam chuyển đổi mô hình tổ chức thành Công ty Cổ phần PVI Công ty Cổphần PVI thành lập Tổng công ty Bảo hiểm PVI (Bảo hiểm PVI) theo Giấy phépthành lập và hoạt động số 63 GP/KDBH ngày 28/06/2011 do Bộ Tài Chính cấp.Bảo hiểm PVI được thừa kế toàn bộ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầukhí Việt Nam
Hiện tại, Bảo hiểm PVI có mạng lưới kinh doanh rộng khắp bao gồm 25 Công
ty bảo hiểm thành viên và trên 150 phòng kinh doanh trên toàn quốc với hơn 1.300nhân viên năng động, nhiệt tình, được đào tạo chuyên nghiệp đảm bảo luôn phục vụ
và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng
Với phương châm “Trung thành, tận tụy với khách hàng”, các dịch vụ của Bảohiểm PVI luôn được khách hàng đánh giá là có chất lượng tốt, độ an toàn cao, phíbảo hiểm cạnh tranh Là một trong những nhà bảo hiểm chuyên nghiệp, Bảo hiểmPVI luôn tích cực hỗ trợ khách hàng trong công tác tư vấn và xây dựng chươngtrình quản lý rủi ro, đề phòng hạn chế tổn thất Bảo hiểm PVI đã và đang thu xếpbảo hiểm cho các tài sản, công trình xây dựng lớn của ngành Dầu khí với giá trịnhiều tỷ đô la Mỹ như: Xí nghiệp liên doanh Dầu khí Việt Xô; Nhà máy Lọc dầuDung Quất; Nhà máy Đạm Phú Mỹ; Dự án cụm Khí- Điện- Đạm Cà Mau; Các dự
án Dầu khí của Nhà thầu BP (Anh); UNOCAL (Mỹ); Petronas (Malaysia)
Không những thế, Bảo hiểm PVI còn là Doanh nghiệp Bảo hiểm tiên phongtrong việc cung cấp chương trình bảo hiểm ra thị trường nước ngoài như các dự ánđóng giàn khai thác tại Hàn Quốc, bảo hiểm cho các hoạt động khai thác ở vùngchồng lấn PM3 giữa Malaysia - Việt Nam, bảo hiểm cho các dự án tìm kiếm, khaithác dầu khí tại Algeria, Nga, Cuba, Trung Quốc… mang lại nguồn ngoại tệ lớn chođất nước
Trong lĩnh vực kinh doanh Bảo hiểm cho ngành Dầu khí, Bảo hiểm PVI đãtiến hành cung cấp các dịch vụ bảo hiểm như: Bảo hiểm san lấp mặt bằng Nhà máy
Trang 26giai đoạn hoàn thiện – Dự án liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn, Bảo hiểm XDLĐ choNhà máy lọc dầu Dung Quất, Bảo hiểm XDLĐ cho Nhà máy sản xuất xơ sợi tổnghợp Polyester Đình Vũ, Bảo hiểm XDLĐ Nhà máy điện Nhơn trạch 2, Bảo hiểmXDLĐ Nhà máy điện Nhơn Trạch 1, Bảo hiểm XDLĐ Nhà máy Điện Cà Mau…Bảo hiểm PVI cũng bảo hiểm vận hành cho các Nhà máy khi hoàn thiện và đưa vàohoạt động
Nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng như đadạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng phục vụ, Bảo hiểm PVI đã duy trì vàthường xuyên tăng cường quan hệ hợp tác chặt chẽ với các nhà bảo hiểm, các nhàmôi giới tái bảo hiểm hàng đầu thế giới: Munich Re, Swiss Re, Zurich, Lloyd’sSyndicates, Willis, Marsh, JLT, AON Hiện tại, các đối tác này coi Bảo hiểm PVI
là một đối tác chiến lược tại Việt Nam thông qua việc thành lập và duy trì hợp đồngtái bảo hiểm trong lĩnh vực năng lượng với giới hạn 500 triệu USD và hợp đồng táibảo hiểm trong lĩnh vực bảo hiểm các dự án, công trình xây dựng lắp đặt, tài sản vớigiá trị bảo hiểm 1,5 tỷ USD - duy nhất tại Việt Nam
Thực hiện đúng cam kết của mình với khách hàng, khi xảy ra sự kiện bảohiểm, Bảo hiểm PVI luôn phối hợp cùng các bên có liên quan kịp thời xác địnhnguyên nhân tổn thất, tiến hành bồi thường nhanh chóng và thỏa đáng cho kháchhàng Bảo hiểm PVI đã giải quyết nhiều vụ tổn thất lớn với số tiền bồi thường lêntới hàng trăm tỷ đồng như: tổn thất giếng CNV1P 450 tỷ đồng, tổn thất đường ốngJVPC 200 tỷ đồng, tổn thất hàng hóa của Tổng công ty thương mại Sài Gòn 150 tỷđồng…
Hiện tại, Bảo hiểm PVI là Nhà bảo hiểm có thị phần đứng đầu trong số 29doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam, đồng thời cũng đứng đầu về một
số chỉ tiêu tài chính cơ bản như vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản
Bằng sức trẻ và niềm tin mạnh mẽ, Bảo hiểm PVI quyết tâm phấn đấu trởthành một định chế Bảo hiểm – Tài chính đứng đầu thị trường bảo hiểm Việt Namtrong giai đoạn 2010-2015
Cùng với việc phát triển mạng lưới hoạt động rộng khắp của doanh nghiệp, PVIcũng đã tổ chức thành lập các đơn vị thành viên trực thuộc Tổng công ty bảo hiểmDầu khí Việt Nam Với việc thông qua chiến lược kinh doanh của Tổng công ty, ngày
Trang 2708/02/2007, Đại hội cổ đông lần thứ nhất đã thông qua việc thành lập thêm các công
ty thành viên, trong đó có Công ty bảo hiểm dầu khí Đông Đô - PVI Đông Đô
Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô được thành lập theo Quyết định số PVI ngày 02/04/2007
66/QĐ-Là một công ty thành viên của Tổng công ty bảo hiểm PVI, với năng lực tàichính vững mạnh cùng với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, tận tụy, PVI Đông Đô
đã hoàn thành các công trình, dự án của Tổng công ty Đặc biệt, PVI Đông Đô đãtừng bước dành được niềm tin của khách hàng và rất xứng đáng với niềm tin ấy khicung cấp các sản phẩm bảo hiểm với chất lượng tốt, độ an toàn cao và mức phí cạnhtranh Song hành cùng Tổng công ty, PVI Đông Đô đã tham gia bảo hiểm cho toàn
bộ đội tàu của PTSC, VPS, phần lớn tàu VÓC, BIEN DONG, FALLING,VITRANSCHAST… Bên cạnh đó, PVI Đông Đô cũng đang ngày càng mở rộngsản phẩm, hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm mang đến cho kháchhàng sự hài lòng nhất
Với đường lối chỉ đạo của Tổng công ty, PVI Đông Đô cam kết luôn phối hợpcùng với các giám định viên kịp thời xác định nguyên nhân tổn thất, tiến hành bồithường nhanh chóng, kịp thời cho khách hàng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Xác định
rõ tầm quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực đối với sự phát triển của toàn doanhnghiệp nên PVI Đông Đô không ngừng mở ra các lớp bồi dưỡng cho nhân viên nhữngkiến thức nghiệp vụ cũng như các kỹ năng sử dụng các phần mềm hỗ trợ
Trước kia với mạng lưới văn phòng kinh doanh khu vực trải khắp Hà Nội,hiện nay công ty đã tập trung các văn phòng kinh doanh về một địa điểm tại tầng 7
và tầng 8, số 52 phố Bà Triệu, để thuận lợi cho việc điều hành, quản lý, hỗ trợ đàotạo nhân viên trong văn phòng khu vực, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty bảo hiểm PVI Đông Đô
Hiện nay, cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô gồm 1ban giám đốc và 14 phòng ban với 109 cán bộ nhân viên Ngoài ra, Công ty bảohiểm PVI Đông Đô còn có 22 đại lý bảo hiểm chính thức và hơn 200 công tác viêntham gia khai thác bảo hiểm
Trang 28Sơ đồ 2.1 Mô hình cơ cấu tổ chức tại Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô
(Nguồn: Phòng Hành chính – tổng hợp, Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô)Năm 2012, thực hiện chiến lược tái cấu trúc doanh nghiệp của Tổng Công tybảo hiểm PVI, Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô đã có những chuyển biến lớn về cơcấu tổ chức nhân sự
Sau một thời gian phát triển mạng lưới kinh doanh theo bề rộng bằng việc mởmột loạt các văn phòng khu vực tại các quận, huyện trên địa bàn, PVI Đông Đônhận thấy hiệu quả chưa như mong đợi Chính vì vậy, năm 2012 Công ty bảo hiểmPVI Đông Đô đã thực hiện tái cấu trúc mạnh mẽ
Thứ nhất, Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô thực hiện tập trung các văn phòngkhu vực về trụ sở chính của Công ty và thành lập các phòng kinh doanh Lúc này,Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô chỉ còn 1 văn phòng kinh doanh khu vực ĐôngAnh không ở tại trụ sở chính của Công ty Nguyên nhân chính là do địa bàn kinhdoanh của văn phòng kinh doanh khu vực Đông Anh ở các xa nội thành, nếu về tậptrung tại trụ sở chính sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của văn phòng.Hơn nữa do Ban giám đốc Công ty nhận thấy tiềm năng to lớn,cũng như Công ty cólượng khách hàng chiến lược tại huyện Đông Anh nên cần có một văn phòng kinhdoanh tại đây
Thứ hai, do tập trung các văn phòng kinh doanh khu vực về hoạt động tại trụ
sở chính nên trụ sở cũ không còn phù hợp Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô đã
Trang 29chuyển trụ sở chính từ địa chỉ 402 Trần Khát Trân về tại địa điểm mới là tầng 7&8,tòa nhà P-Tower, 52 Bà Triệu, Hà Nội
Thứ ba, Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô là công ty thành viên của Tổng Công
ty bảo hiểm PVI nên chiến lược tái cấu trúc doanh nghiệp của Tổng Công ty bảohiểm PVI cũng ảnh hưởng đến Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô Công ty bảo hiểmPVI Đông Đô đã tiếp nhận một bộ phận tách ra của Công ty bảo hiểm PVI ThăngLong gồm 13 cán bộ và thành lập Phòng Xe cơ giới và quản lý đại lý Lúc này,Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô tồn tại hai phòng là: Phòng Xe cơ giới và Conngười và Phòng Xe cơ giới và quản lý đại lý từ Công ty bảo hiểm PVI Thăng Longchuyển sang
2.1.3 Lĩnh vực hoạt động
Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô hoạt động kinh doanh bảo hiểm chủ yếu trênđịa bàn Hà Nội Ngoài ra trong tình hình cạnh tranh và thực tế kinh doanh trên thịtrường bảo hiểm thì Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô còn mở rộng phạm vi hoạtđộng kinh doanh trên toàn quốc đặc biệt là các tỉnh, thành phố ở khu vực phía Bắc
và Đồng Bằng Sông Hồng
• Hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc:
- Bảo hiểm năng lượng
- Bảo hiểm cháy-tài sản
- Bảo hiểm kỹ thuật, xây dựng lắp đặt
- Bảo hiểm hàng hải
- Bảo hiểm xe cơ giới
- Bảo hiểm con người phi nhân thọ
- Các loại hình bảo hiểm khác
• Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm
• Hoạt động đầu tư tài chính
Trang 30Mặc dù có phạm vi hoạt động kinh doanh khá rộng lớn như trên nhưng thực tếCông ty bảo hiểm PVI Đông Đô mới chỉ tập trung khai thác bảo hiểm gốc trong đócũng chỉ mới triển khai hoạt động kinh doanh bảo hiểm BH cháy-tài sản, BH kỹthuật, xây dựng lắp đặt, BH hàng hải, BH xe cơ giới, BH con người phi nhân thọ.Các hoạt động kinh doanh khác như kinh doanh bảo hiểm năng lượng, kinh doanhtái bảo hiểm, đầu tư tài chính thì do điều kiện khách quan cũng như điều kiện chủquan chưa cho phép nên Công ty bảo hiểm PVI Đông Đô cũng chưa triển khai kinhdoanh.
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của PVI Đông Đô giai đoạn 2010 – 2014
Hoạt động kinh doanh của PVI Đông Đô trong giai đoạn 2010-2014 đạt kếtquả khá cao
Biểu 2.1 Doanh thu phí bảo hiểm gốc tại Công ty PVI Đông Đô giai đoạn
Trang 31Năm 2010 là năm đầu tiên doanh thu phí bảo hiểm có sự sụt giảm từ khi thànhlập, (cụ thể doanh thu giảm 6,30% so với năm 2009, từ 80.020 triệu đồng năm 2009xuống 74.980 năm 2010) Điều này có thể được giải thích bởi các nguyên nhânkhách quan và chủ quan Năm 2010 là năm nền kinh tế Việt Nam nói riêng gặp rấtnhiều khó khăn Nhà nước ta đã đưa ra các chính sách kinh tế để điều chỉnh phù hợpvới thực tại Mặt khác, các biện pháp khai thác, tiếp thị thị trường của công ty chưathực sự phù hợp với sự chuyển biến của nền kinh tế và nhu cầu của khách hàng.Năm 2011, với những sự thay đổi mạnh mẽ theo chiều hướng tích cực đãkhiến hoạt động kinh doanh PVI Đông Đô đạt được nhiều thành công lớn Trong đó,doanh thu tăng 14,59% so với năm 2010 và đã vượt mức doanh thu năm 2009 lên85.920 triệu đồng
Năm 2012, nền kinh tế vẫn gặp nhiều khó khăn nhưng PVI Đông Đô lại cóbước tăng trưởng mới khi doanh thu vượt mốc 100.000 triệu đồng lên đến 156.740triệu đồng tăng 82.43% so với năm 2011 Trong năm này, PVI Đông Đô đã khaithác được các dự án lớn mang lại doanh thu cao như: khai thác thành công gói thầubảo hiểm Xây dựng lắp đặt cho công trình xây dựng tuyến đường sắt đô thị số 1 TP
Hồ Chí Minh tuyến Bến Thành – Suối Tiên với phí bảo hiểm trên 40.000 triệu đồng,dịch vụ bảo hiểm cho cán bộ nhân viên (Energy Care) cho Công ty cổ phần đầu tưQuốc tế Viettel với mức phí bảo hiểm trên 10.000 triệu đồng, tham gia đồng bảohiểm phi hàng không cho Tổng công ty hàng không Việt Nam (VNA) giai đoạn2013-2015 với mức phí giải ngân 2012 trên 6.000 triệu đồng,… Bên cạnh đó, PVIĐông Đô cũng tiến hành tái cấu trúc lại, tập trung các văn phòng kinh doanh khuvực tại trụ sở, tiếp nhận một bộ phận cán bộ của Công ty bảo hiểm PVI Thăng Longchuyến sang,…
Năm 2013, doanh thu bảo hiểm gốc của PVI Đông Đô đạt 180.157 triệu đồng.Trong khi lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ phải đối mặt với khó khăn chung của toànngành khi bị ảnh hưởng nặng nề từ khủng hoảng kinh tế, nhưng PVI Đông Đô vẫn
nỗ lực thực hiện tốt các chương trình bảo hiểm cho hầu hết các dự án lớn trong vàngoài lĩnh vực dầu khí Năm 2013 cũng là năm thành công của PVI Đông Đô nóiriêng và toàn Tổng công ty PVI nói chung trong việc phát triển lĩnh vực bán lẻ.Năm 2014, doanh thu phí bảo hiểm gốc đã tăng trưởng 27,1% so với năm
2013, đạt 228.892 triệu đồng Trong đó phải kể đến sự tăng trưởng khá cao của các
Trang 32nghiệp vụ bán lẻ như xe cơ giới và con người Đây cũng là năm thành công lớn đốivới Tổng công ty bảo hiểm PVI khi đã dẫn đầu thị trường về doanh thu phí bảohiểm gốc với doanh thu ước đạt 5.722 tỷ đồng, chiếm 20,89% thị phần Để đạt đượcthành công này là nhờ những nỗ lực và giải pháp đột phá trong bối cảnh kinh tế ViệtNam tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi nền kinh tế toàn cầuchưa có những bước hồi phục đáng kể.
Trang 33Bảng 2.1 Doanh thu phí bảo hiểm gốc theo nghiệp vụ bảo hiểm tại Công ty
bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2010-2014