Một trong nhữngthay đổi nổi bật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm - ngân hàng tại Việt Namtrong một vài năm qua là sự xuất hiện và phát triển của các mô hình liên kết giữacác DNBH với c
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA BẢO HIỂM
- -CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Đề tài: Tình hình hoạt động Bancassurance tại công ty Bảo
hiểm Bưu điện Thăng Long
Sinh viên: Nguyễn Tuấn Anh MSV: 11120299
Lớp: Bảo hiểm 54 Giáo viên hướng dẫn: Ths Bùi Quỳnh Anh
Hà Nội, 2015
Trang 2SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 3Danh mục viết tắt
PTI Thăng Long Post and Telecomunication insurance
Thang Long companyDNBH Doanh nghiệp bảo hiểm
Trang 4Bảng 1.3.Tăng trưởng phí BH gốc của các DNBH tại Việt Nam năm 2013…… 26
Bảng 1.4 Tăng trưởng phí BH gốc của các DNBH tại Việt Nam năm 2014 …….27
Bảng 2.1 : Tên các phòng ban trong công ty ……… 37
Bảng 2.2 Kết quả hoạt động của PTI Thăng Long giai đoạn 2010-2014 ……… 40
Bảng 2.3.Doanh thu phí BH của công ty giai đoạn 2010-2014 ……… 42
Bảng 2.4 Doanh thu Bảo hiểm gốc của từng nghiệp vụ năm 2014 ……….43
Bảng 2.5: Bảng danh sách các ngân hàng liên kết với PTI Thăng Long…………45
Bảng 2.6 Các sản phẩm phân phối qua kênh Bancassurance ………50
Bảng 2.7.So sánh M-Auto với thị trường ………52
Bảng 2.8.Kết quả hoạt động Bancassurance giai đoạn 2010-2014 ……….53
Bảng 2.9 Tỷ lệ đóng góp doanh thu phí BH qua kênh Bancassurance giai đoạn 2010-2014……… 54
Bảng 2.10: Doanh thu phí BH qua kênh Bancassurance năm 2013 ………56
Biểu đồ 2.3.Tỷ trọng doanh thu phí qua kênh Bancassuarance của từng nghiệp vụ năm 2013……… 57
Bảng 2.11: Doanh thu phí BH qua kênh Bancassurance năm 2014……… 58
Danh mục các sơ đồ Sơ đồ 1.1 Mô hình liên kết phân phối……….18
Sơ đồ 1.2 Mô hình liên doanh………19
Sơ đồ 1.3.Mô hình chiến lược……… 20
Sơ đồ 1.4.Mô hình tập đoàn tài chính……….21
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long ………39
Sơ đồ 2.2 Mô hình hợp tác kênh Bancassurance ………47
4
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 5Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Tỷ trọng doanh thu BH gốc của từng nghiệp vụ năm 2014……… 44Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ đóng góp doanh thu phí qua kênh Bancassurance vào tổng doanhthu phí BH gốc giai đoạn 2010-2014 ……….55Biểu đồ 2.3.Tỷ trọng doanh thu phí qua kênh Bancassuarance của từng nghiệp vụnăm 2013……… 57Biểu đồ 2.4.Tỷ trọng doanh thu phí qua kênh Bancassuarance của từng nghiệp vụnăm 2014……….59
Trang 6Lời Mở Đầu
I.Lý do chọn đề tài
Đối với các công ty Bảo Hiểm việc phát triển các kênh phân phối là vô cùngquan trọng trong việc phát triển thị trường.Hiện nay có ba hình thức phát triểnkênh phân phối cơ bản của các doanh nghiệp bảo hiểm đó là kênh phân phối truyềnthống: qua đại lý,công ty mô giới,đại diện thương mại các kênh phân phối trựctiếp như:qua internets,qua điện thoại Các kênh phân phối mới như: qua ngânhàng,qua các tổ chức tài chính
Thị trường Việt Nam ngày một thay đổi và hội nhập do vậy dưới áp lực đổi mới
và cải tiến liên tục,các công ty Bảo hiểm đang liên tục đổi mới phương thức bánhàng của mình.Thực tế cho thấy các công ty Bảo Hiểm đang phát triển kênh phânphối qua ngân hàng gọi là Bancassurace.Bảo hiểm liên kết ngân hàng("Bancassurance") là một khái niệm khá phổ biến và hình thức này đã đạt đượcthành công tại Châu Âu, và nó cũng không còn mới tại các quốc gia Châu Á Thực
tế cho thấy, Bancassurance ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng trên thế giới,thậm chí ở nhiều nơi nó đã trở thành một trong những kênh phân phối sản phẩmbảo hiểm chính Các sản phẩm của kênh phân phối này đã và đang phát triển mạnhtại các quốc gia trên thế giới Do mức thu nhập của người dân ngày càng cao, việctriển khai trả lương qua thẻ, điều kiện hạ tầng công nghệ, trình độ nhận thức của cảngười dân về ngân hàng và ngành bảo hiểm ngày càng được nâng lên Do đóBancassurance được xem là bổ sung căn bản cho phương thức mới cung cấp dịch
vụ bảo hiểm truyền thống qua kênh đại lý và bán trực tiếp, nó chính là động lựcthôi thúc em tìm hiểu về Bancassurance
Trong quá trình thực tập và có điều kiện tiếp cận với công việc tại công ty Bảohiểm Bưu điện PTI Thăng Long cho em thấy được rất nhiều khó khăn mà công ty
đã trải qua để có được như ngày hôm nay.Càng ngày PTI Thăng Long càng thểhiện mình là công ty quan trọng trong hệ thống những công ty trực thuộc của tổngcông ty Bảo hiểm Bưu điện PTI.Sự năng động và những chiến lược đúng đắn đãgiúp PTI Thăng Long đang từng bước ghi tên mình vào bảng vàng các doanh6
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 7nghiệp Bảo hiểm.Đặc biệt với Bancassurance một lĩnh vực mới và hứa hẹn đầytiềm năng,lại là cơ hội và thách thức một PTI Thăng Long trẻ trung và năng động
vì vậy em đã chọn đề tài : “Tình hình hoạt động Bancassurance tại công ty bảohiểm Bưu điện Thăng Long giai đoạn 2010-2014”.Cho bài chuyên đề tốt nghiệpcủa mình nhằm mục đích phân tích,đánh giá thực trạng của nghiệp vụ mới này tạicông ty PTI Thăng long
II.Mục địch nghiên cứu
Nhận thức được một số vấn đề về lý luận và hoạt động khai thác qua kênhBancassurance
Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác bảo hiểm qua kênh Bancassurance củaPTI Thăng Long
Đưa ra những giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả khai thác củacông ty
III.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt độngBancassurance tại công ty PTI Thăng Long
Phạm vi của đề tài được xác định là các vấn đề liên quan tới hoạt động khai thácbảo hiểm qua kênh Bancassurance tại công ty PTI Thăng Long
IV.Nội dung nghiên cứu
Bài viết tập chung nghiên cứu về lý thuyết những lý luận cơ bản về khai thácbảo hiểm qua kênh Bancassurance của công ty PTI Thăng Long.Từ đó phát hiệnnhững khó khăn của công ty trong việc triển khai nghiệp vụ và đưa ra khuyếnnghị,giải pháp nhằm phát triển nâng cao hiệu quả trong việc triển khai nghiệp vụ
V Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh
Phương pháp tổng hợp
Và một số phương pháp
VI.Cấu trúc của bài chuyên đề
Nội dung của bài chia là 3 chương:
Trang 8- CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ BANCASSURANCE
- CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BANCASSURANCE TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN THĂNG LONG
- CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN KÊNH PHÂN PHỐI BANCASSURANCE TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN THĂNG LONG TRONG THỜI GIAN TỚI.
Do kiến thức còn hạn hẹp cũng như thời gian thực tập còn ngắn nên những kiếnthức và phạm vi tiếp cận cho đề tài còn hạn chế.Trong quá trinh làm bài còn nhiềuvấn đề còn mang tính chủ quan,một số ý kiến đong góp còn mang nặng ý kiên scánhân do đó còn rất nhiều thiếu sót.Em rất mong các quý thầy, cô thông cảm và cónhững đóng góp giúp em có thể hoàn thành tốt hơn bài chuyên đề của mình
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới Thạc sỹ Bùi Quỳnh Anh và các anh chị trọng
đơn vị thực tập là công ty PTI Thăng Long đã hướng dẫn,giúp đỡ em hoàn thànhchuyên đề
8
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 9CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ BANCASSURANCE.
1.1.Khái niệm và lợi ích của Bancassurance.
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của Bancassurance.
Đối với các công ty Bảo Hiểm việc phát triển các kênh phân phối là vô cùng quantrọng trong việc phát triển thị trường.Hiện nay có ba hình thức phát triển kênhphân phối cơ bản của các doanh nghiệp bảo hiểm đó là kênh phân phối truyềnthống: qua đại lý,công ty mô giới,đại diện thương mại các kênh phân phối trựctiếp như: qua internets, qua điện thoại Các kênh phân phối mới như: qua ngânhàng, qua các tổ chức tài chính
Đứng trước những xu thế mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế,trước sự cạnh tranhngày càng khốc liệt, để duy trì sự tồn tại và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệpbảo hiểm, các ngân hàng thương mại phải nỗ lực nâng cao chất lượng hoạt động,không ngừng cải tiến quản lý điều hành, nâng cao trình độ nguồn nhân lực, đa dạnghóa các kênh phân phối Ðồng thời phải có những thay đổi trong chiến lược kinhdoanh, chiến lược marketing và chiến lược phân phối sản phẩm Một trong nhữngthay đổi nổi bật trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm - ngân hàng tại Việt Namtrong một vài năm qua là sự xuất hiện và phát triển của các mô hình liên kết giữacác DNBH với các NHTM trong việc phát triển và phân phối các sản phẩm bảohiểm qua ngân hàng (Bancassurance) Thực tiễn cho thấy, hoạt động liên kết giữabảo hiểm - ngân hàng đã bước đầu hình thành và phát triển ở Việt Nam, hoạt độngnày đã và đang mang lại lợi ích cho cả DNBH, ngân hàng và khách hàng
Bảo hiểm liên kết ngân hàng ("Bancassurance") là một khái niệm khá phổ biến vàhình thức này đã đạt được thành công tại Châu Âu, và nó cũng không còn mới tạicác quốc gia Châu Á Thực tế cho thấy, Bancassurance ngày càng trở nên phổ biến
và quan trọng trên thế giới, thậm chí ở nhiều nơi nó đã trở thành một trong nhữngkênh phân phối sản phẩm bảo hiểm chính Các sản phẩm của kênh phân phối này
đã và đang phát triển mạnh tại các quốc gia trên thế giới Do mức thu nhập củangười dân ngày càng cao, việc triển khai trả lương qua thẻ, điều kiện hạ tầng công
Trang 10nghệ, trình độ nhận thức của cả người dân về ngân hàng và ngành bảo hiểm ngàycàng được nâng lên
Sự phối hợp giữa hoạt động ngân hàng và các sản phẩm bảo hiểm tương ứng, cóthể tạo cơ hội bán chéo giữa chúng ví dụ:
Quản lý dòng tiền
Vay thế chấp
Các món vay độc lập
Bảo hiểm tín dụng nhân thọ
Bảo hiểm cho các tài sản dùng thế chấp
Bảo hiểm món vay cho cá nhân
Bảo hiểm tín dụng
cá nhân(Nguồn Tạp chí Bảo hiểm)Các sản phẩm bán chéo giúp đa dạng hóa các sản phẩm cũng như thay đổi cáchbán hàng truyền thống.Việc phối hợp bán sản phẩm cho nhau hiện nay đang đemlại những tín hiệu khá khả quan
Tại VN, Bancassurance còn khá mới mẻ, nhưng nó lại hứa hẹn nhiều tiềm năngphát triển: Theo khảo sát của tập đoàn tài chính Bảo Việt, số lượng ngân hàng báncác sản phẩm bảo hiểm trên thế giới đạt ở mức rất cao như ở Mỹ 50%; châu Âu từ70% đến 90%… Trong khi đó, thị trường bảo hiểm VN là một thị trường còn nhiềutiềm năng với tốc độ tăng trưởng khá cao do nhu cầu chưa được khai thác hiệu quả,tiền nhàn rỗi trong dân cư còn rất lớn Khi thị trường Bảo hiểm Việt Nam mới bắtđầu khai thác, doanh thu phí chỉ chiếm 0.55%GDP rất nhỏ so với 2-4%GDP củacác nước trong khu vực,và 10-12% GDP các nước phát triển Khi mà đời sốngnhân dân càng được nâng cao,đặc biệt người dân Việt Nam có tính lo xa do đó cácsản phẩm Bảo hiểm hỗn hợp kết hợp bảo hiểm và tiết kiệm rất được ưu chuộng
Từ những thực trạng đấy cho chúng ta thấy được,thị trường cung cấp các sản phẩmBancassurance là một thị trường rất tiềm năng cho ngân hàng và các doanh nghiệpBảo hiểm thâm nhập Theo cá nhân em nhận thấy đây có thể là đối tượng đầu tư tíndụng phù hợp,vừa nhanh chóng tạo ra lợi nhuận vừa đảm bảo hoạt động kinhdoanh ổn định
10
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 111.1.2 Lịch sử ra đời của Bancassurance.
Bancassurance chính thức xuất hiện lần đầu tiên tại Pháp, sau đó phát triển nhanhchóng ở châu Âu vào những năm đầu tiên của thế kỷ 21, và trở thành kênh phânphối chính cho rất nhiều sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và ngày càng trở nên thànhcông đối với việc phân phối các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ Hiện nay,Bancassurance ngày càng trở nên phổ biến hơn tại các nước Châu Á (Malaysia,Singapore, Thái Lan…) Chính những hữu ích do Bancassurance mang lại nên trênthế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề này như các nghiên cứu của Tậpđoàn tái bảo hiểm Munich Re, Swiss Re, tổ chức nghiên cứu marketing và bảohiểm quốc tế (LIMRA), Ngân hàng HSBC Các nội dung nghiên cứu này đã đưa
ra được những lý thuyết căn bản của hoạt động bảo hiểm liên kết ngân hàng và đãđưa ra nhiều bài học kinh nghiệm từ các nước đã triển khai hoạt động này
Bancassurance bao gồm các sản phẩm bảo hiểm có tính thương mại với hainhóm sản phẩm cơ bản đó là sản phẩm Bancassurance nhân thọ và sản phẩmBancassurance phi nhân thọ (i) Sản phẩm Bancassurance nhân thọ: các sản phẩmbảo hiểm này bảo hiểm tính mạng hoặc tuổi thọ của khách hàng nhằm bù đắp cho
họ một khoản tiền khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc khi bị chết hoặc bị thương tậttoàn bộ vĩnh viễn Sản phẩm này có thể chia thành nhiều loại như: Bảo hiểm trọnđời; Bảo hiểm sinh kỳ; Bảo hiểm tử kỳ; Bảo hiểm hỗn hợp; Bảo hiểm trả tiền địnhkỳ; Bảo hiểm liên kết đầu tư; Bảo hiểm hưu trí… (ii) Sản phẩm Bancassurance phinhân thọ: các sản phẩm bảo hiểm này bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và cácnghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ Sản phẩm này có thểchia thành nhiều loại như: Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; Bảo hiểm hànghoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đườnghàng không; Bảo hiểm hàng không; Bảo hiểm xe cơ giới; Bảo hiểm cháy, nổ; Bảohiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; Bảo hiểm trách nhiệm; Bảo hiểmtín dụng và rủi ro tài chính; Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; Bảo hiểm nôngnghiệp…
Trang 12Trước năm 1993 (khi chưa có Luật Kinh doanh bảo hiểm), ở Việt Nam chỉ
có duy nhất một DNBH đó là Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam hoạt động kinhdoanh bảo hiểm trong điều kiện bao cấp nên vai trò của hoạt động bảo hiểm trong
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế, mối liên kết giữa ngân hàng vàbảo hiểm hầu như chưa có gì đáng kể Sau khi Nghị định số 100/CP của Chính phủ
ra đời, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã đạt nhiều thành công, phát triển mạnh mẽ
cả về số lượng các doanh nghiệp cũng như quy mô của doanh thu phí bảo hiểm Vìthế, vấn đề quản lý thị trường bằng luật chuyên ngành và hệ thống các quy phạmpháp luật khác được đặt ra Do đó, tháng 12 năm 2000, Luật Kinh doanh bảo hiểm
số 24/2000/QH10 đã được ban hành thay thế Nghị định 100/CP của Chính phủ đểquản lý thị trường bảo hiểm Việt Nam Cho đến nay, hệ thống các văn bản phápluật về kinh doanh bảo hiểm đã được xây dựng và ban hành ở các cấp độ quản lý
từ Chính phủ đến Bộ Tài chính Hệ thống các văn bản pháp quy phần nào đáp ứngđược yêu cầu phát triển thị trường bảo hiểm và là công cụ cực kỳ quan trọng giúpcho việc thị trường bảo hiểm phát triển an toàn, hiệu quả Cơ sở pháp lý quantrọng để các DNBH chủ động liên kết với các ngân hàng bằng việc thỏa thuận hợptác để triển khai các sản phẩm bảo hiểm truyền thống đến các khách hàng có traođổi tín dụng với ngân hàng Luật Các tổ chức tín dụng 2004 (sửa đổi, bổ sung LuậtCác tổ chức tín dụng số 1997) và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 cho phépcác tổ chức tín dụng được cung cấp các dịch vụ bảo hiểm hoặc thành lập các công
ty độc lập để kinh doanh bảo hiểm, do vậy hoạt động liên kết giữa bảo hiểm vàngân hàng đã có cơ sở để phát triển, thêm nhiều hình thức chặt chẽ hơn
Trong thực tế, từ năm 2000 đến nay, trên thị trường Việt Nam đã xuất hiệnrất nhiều mô hình liên kết ngân hàng và bảo hiểm như sau:
Ngân hàng làm đại lý cung ứng các sản phẩm bảo hiểm: Vietinbank và BảoViệt (2001); Techcombank và Bảo Việt (năm 2006); ABBank và Công ty TNHHBảo hiểm Nhân thọ Prévoir Việt Nam (2008); ACB và Công ty TNHH Bảo hiểmNhân thọ Prévoir Việt Nam (2009); Maritime Bank và Prudential (2010); ACB đãliên kết với Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ AIA Việt Nam (2010); Sacombankphối hợp Công ty bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Việt Nam (2012)
12
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 13Ngân hàng có vốn góp thành lập DNBH dưới hình thức liên doanh hoặc cổphần: Vietinbank đã cùng Công ty bảo hiểm châu Á Singapore thành lập Công tyliên doanh bảo hiểm châu Á - Ngân hàng Công thương (gọi tắt IAI) chuyên hoạtđộng trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ (2002); Agribank đã cùng Tổng công ty
cổ phần Tái Bảo hiểm quốc gia Việt Nam và hai Công ty cho thuê Tài chính I, IIthuộc NHNo&PTNT Việt Nam góp vốn thành lập Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngânhàng Nông nghiệp (2006); Vietcombank và SeAbank cùng Cardif thành lập Công
ty liên doanh bảo hiểm VCLI (2008); cũng trong năm 2008, SHB và Tập đoàncông nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cùng một số cổ đông khác góp vốnthành lập Công ty cổ phần bảo hiểm SHB - VINACOMIN (gọi tắt là Bảo hiểmSVIC)
Ngân hàng thành lập DNBH trực thuộc hoặc Tập đoàn Bảo hiểm thành lập ngânhàng trực thuộc để hình thành tập đoàn dịch vụ tài chính: BIDV mua lại toàn bộvốn góp của công ty Bảo hiểm quốc tế QBE trong liên doanh Bảo hiểm Việt Úc đểthành lập công ty con trực thuộc BIDV chuyên hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểmPhi Nhân thọ (2005); Vietinbank mua lại phần vốn góp của Công ty bảo hiểm châu
Á Singapore, do đó Liên doanh bảo hiểm châu Á (IAI) cũng chính thức trở thànhcông ty con trực thuộc Vietinbank (2008); Tập đoàn Bảo Việt cũng chính thức ramắt Ngân hàng TMCP Bảo Việt với phần vốn chi phối của Tập đoàn Bảo Việt đểhình thành Tập đoàn Tài chính - Ngân hàng - Bảo hiểm (2008)
1.1.3 Khái niệm
Bancassurance là một thuật ngữ trong tiếng Pháp dùng để chỉ việc bán các sảnphẩm bảo hiểm qua kênh ngân hàng thương mại (tiếng Anh là Bank Assurancehay Assure Banking).Một cách tổng quát hơn, có thể hiểu Bancassurance là mộtkênh trong chiến lược phân phối sản phẩm của các công ty bảo hiểm (có thể lànhân thọ hoặc phi nhân thọ), liên kết với các ngân hàng thương mại để cung cấp cóhiệu quả các sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng của mình Một vài ví dụ đơn giản
về sự phối hợp giữa hoạt động ngân hàng và các sản phẩm bảo hiểm tương ứng:Sản phẩm của ngân hàng, sản phẩm bảo hiểm,thẻ tín dụng ,quản lý dòng tiền ,vay
Trang 14thế chấp, các món vay độc lập, cho vay cá nhân, sản phẩm bảo hiểm này nângdoanh số của mình qua việc phát triển thêm kênh phân phối sản phẩm bên cạnhnhững sản phẩm truyền thống là đại lí bảo hiểm.
Có rất nhiều các định nghĩa về Bancassurance trên thế giới, đã có khá nhiều nghiêncứu về vấn đề này như các nghiên cứu của Tập đoàn tái bảo hiểm Munich Re,Swiss Re, Tổ chức nghiên cứu marketing và bảo hiểm quốc tế (LIMRA), Ngânhàng HSBC
Theo đĩnh nghĩa của Tập đoàn tái bảo hiểm hàng đầu thế giới Munich Re địnhnghĩa:
“Bancassurance là việc phân phối các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng và bảo
hiểm thông qua một kênh phân phối chung đến cùng một cơ sở khách hàng”.
Điểm mấu chốt của khái niệm này là cả ngân hàng và bảo hiểm sử dụng chung một
dữ liệu khách hàng trong việc phân phối sản phẩm và dịch vụ
Với công ty tái Bảo hiểm Quốc gia Thụy Sỹ Swiss Re lại định nghĩa:
“Thuật ngữ bancassurance chỉ nỗ lực chung của các ngân hàng và các nhà bảo
hiểm trong việc cung cấp các dịch vụ cho các khách hàng của ngân hàng”.
Định nghĩa phản ánh bản chất của bancassurance chính là sự liên kết giữa ngânhàng và bảo hiểm nhằm cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho cùng một cơ sở kháchhàng của ngân hàng
Các khái niệm trên có một số điểm chung:
– Bancassurance là sự kết hợp giữa ngân hàng và bảo hiểm
– Bancassurance phân phối sản phẩm cho cơ sở khách hàng của ngân hàng
– Các sản phẩm gắn với đặc thù của hoạt động ngân hàng
Cùng với quá trình phát triển và dưới tác động của các yếu tố cạnh tranh, nhu cầuthị trường và yêu cầu mở rộng, các Bancassurance thường phát triển thành mộtcông ty bảo hiểm thông thường và Ngân hàng trở thành kênh phân phối chủ yếucủa bancassurance và được gọi là kênh phân phối bancassurance
Do vậy từ thực tế phát triển của Bancassurance tại các thị trường và các nghiên cứuliên quan đến Bancassurance của các nhà chuyên môn hiện nay có thể tóm lượccác thuật ngữ cơ bản liên quan đến Bancassurance như sau: “Bancassurance là sự14
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 15kết hợp giữa bảo hiểm và ngân hàng để tối đa hóa dịch vụ và lợi nhuận của cácbên”; Kênh phân phối bancassurane được xác định là “kênh phân phối các sảnphẩm bảo hiểm qua Ngân hàng, phân phối các sản phẩm bảo hiểm đến các kháchhàng của Ngân hàng”.
1.2.Lợi ích của Bancassurance.
1.2.1 Đối với doanh nghiệp.
Thứ nhất Bancassurance giúp các công ty bảo hiểm có thể tiếp cận và sử dụngnguồn dữ liệu rất lớn về khách hàng của ngân hàng, qua đó giảm chi phí phân phốisản phẩm Có thể thấy, những khách hàng của ngân hàng là những khách hàng tiềmnăng lớn đối với các công ty bảo hiểm vì họ thường có thu nhập trung bình khá trởlên và ít nhiều có thói quen sử dụng dịch vụ tài chính Theo TS Nguyễn Hữu Hiểu
- Trường Đào tạo & PTNNL, nếu so sánh với với kênh phân phối truyền thống thì
ở nhiều quốc gia trên thế giới, gần 2/3 số tiền phí bảo hiểm kinh doanh đều đượcthu qua các phân phối ngân hàng Điều đó chứng tỏ lợi ích của việc đưa bảo hiểmđến tay người mua thông qua ngân hàng còn hữu dụng hơn hẳn kênh phân phối bántrực tiếp của các đại lí bán bảo hiểm Các đại gia bảo hiểm tại VN tất nhiên cũngkhông bỏ một lợi ích to lớn như vậy
Thứ hai Bancassuracne còn giúp các doanh nghiệp bảo hiểm đa dạng hóa cáckênh phân phối, tăng cường khả năng cạnh tranh nhất là trong giai đoạn thị trườngbão hoà, đồng thời giảm bớt sự biến động lợi nhuận theo thời gian
Thứ ba các ngân hàng sẽ cung cấp cho công ty bảo hiểm hạn mức tín dụngvào từng thời điểm để hỗ trợ vốn lưu động cho công ty Ngoài ra, dựa trên hệ thốngmạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch có sẵn rộng khắp của ngân hàng, công tybảo hiểm có thể tiết kiệm được chi phí, nguồn lực trong việc mở rộng thị phần Thứ tư Bancassurance còn giúp giảm thiểu rủi ro phát sinh từ việc giao dịchbằng tiền mặt, giải quyết tốt bài toán thu phí, thanh toán quyền lợi bảo hiểm bằngtiền mặt Đối với các nước mà người dân có thói quen sử dụng tiền mặt cao như ởViệt Nam, điều này rất có ý nghĩa Thực tế cho thấy, các công ty bảo hiểm, đặc biệt
là các công ty bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam chịu rủi ro lớn trong việc quản lý tiền
Trang 16mặt trong quá trình thu phí, giải quyết quyền lợi bảo hiểm (mất cắp, tiền giả, nhầmlẫn…) và giải quyết bài toán rất lớn về tổ chức lực lượng thu phí bảo hiểm Rõràng, Bancassurance giúp giảm bớt sự lệ thuộc của công ty bảo hiểm vào hệ thốngđại lý và môi giới
Thứ năm Tăng cường thương hiệu và uy tín của mình trên thị trường trongviệc sử dụng uy tín và thương hiệu của ngân hàng, vì trên thực tế hệ thống ngânhàng thường có uy tín rất lớn trong đời sống kinh tế - xã hội
1.2.2 Đối với ngân hàng.
Thứ nhất từ phía ngân hàng, việc liên kết phân phối các sản phẩm bảo hiểmcũng góp phần làm tăng doanh thu, tăng hoa hồng Mặc dù doanh thu và hoa hồng
từ hoạt động này chưa thực sự cao nhưng trong bối cảnh khó khăn hiện nay hầu hếtcác ngân hàng đều muốn áp dụng Nguyên nhân là do việc đa dạng hóa được sảnphẩm của mình (Theo Điều 74 Luật các TCTD, các ngân hàng được phép thành lậpcông ty độc lập để kinh doanh bảo hiểm và cung ứng các dịch vụ bảo hiểm theoqui định của pháp luật ) Trong thực tế, nhiều ngân hàng đã đẩy mạnh được việccho vay tiền thông qua chính sách hỗ trợ cho vay tiền mua BĐS, DNBH cung cấpsản phẩm bảo hiểm hay huy động được tiền gửi của khách hàng thông qua chínhsách tiết kiệm hằng tháng để đóng bảo hiểm theo quý/năm
Thứ hai các NHTM có thể quãng bá rộng rãi thương hiệu trên các bảng quảngcáo của các công ty bảo hiểm cũng như các kênh phân phối của các công ty bảohiểm góp phần làm gia tăng giá trị của thương hiệu Giá trị thương hiệu của ngânhàng càng gia tăng khi đi chung với thương hiệu của các công ty bảo hiểm lớn, cónhiều uy tín
Thứ ba Bancassurance giúp các NHTM nâng cao hiệu quả của chiến lược quan
hệ khách hàng nhằm tạo lập và duy trì quan hệ với những khách hàng có thể đemlại khả năng sinh lời triển vọng, mang lại sự thành công ổn định, lâu dài cho ngânhàng Mặt khác, ngân hàng có thể thu hút thêm nhiều khách hàng của các công tybảo hiểm sử dụng sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng Điều này cũng giải thích vìsao trong những năm 2011-2012, các ngân hàng đua nhau mở ra các dịch vụ16
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 17bancassurance, khiến cùng một lúc trên thị trường xuất hiện hàng loạt nhữngthương vụ kết hợp với các DN bảo hiểm như: VIB liên kết với PTI; AnBinhBankhợp tác với Prudential (mà con số các NH hợp tác với NH này lên tới hàng chụcnhư đề cập); Maritime Bank với Bảo Việt… Các ngân hàng lớn BIDV, Agribank,VietinBank và Techcombank còn chủ động đưa ra nhiều gói sản phẩm bảo hiểmđặc thù từ các đơn vị trực thuộc của mình để mang lại doanh thu vài chục tỷ đồngđến vài trăm tỷ đồng mỗi năm cho các nhà băng trong khi đó chi phí bỏ ra để hoạtđộng lại rất nhỏ so với số thu lại,điều này làm tăng tỷ suất sinh lời ROA
Thứ tư thông qua Bancassurance ngân hàng có thể thu phí từ các dịch vụ khácliên quan đến bảo hiểm như: thu chi hộ cho các công ty bảo hiểm; chi lương hộ;thẻ thanh toán cho nhân viên công ty bảo hiểm và khách hàng, công ty bảo hiểm hỗtrợ ngân hàng trong dịch vụ tư vấn du học sinh nhằm nâng cao tỷ trọng thu vềdịch vụ trong tổng thu nhập của ngân hàng
Thứ năm đó là lợi ích mang lại cho việc ngân hàng có thể dễ dàng khai thác cơ sở
dữ liệu một cách lâu dài và hiệu quả tạo điều kiện thuận lợi để ngân hàng có thểđáp ứng được ngày càng cao các nhu cầu hợp lý của khách hàng, gần gũi và gắn bóhơn với khách hàng, đồng hành cùng khách hàng do thông qua việc tiếp xúc trựctiếp với khách hàng của các nhân viên ngân hàng cũng như của các nhân viên bảohiểm, ngân hàng có thể xây dựng một cơ sở dữ liệu tương đối đầy đủ và hoànchỉnh về khách hàng.gắn kết khách hàng với ngân hàng một cách lâu dài thông quaviệc khách hàng thực hiện các hợp đồng bảo hiểm với thời hạn trung và dài hạn tạingân hàng
Thứ sáu hoạt động Bancassurance là cơ sở để duy trì và gia tăng những khách hàngtrung thành với NHTM NHTM giúp khách hàng bảo hiểm rủi ro về nhân thọ đểđảm bảo về khả năng tài chính trong tương lai, đảm bảo hoàn trả các khoản nợ vaycủa NHTM
Trang 18- Có thêm kênh để mua sản phẩm
- Tiện lợi trong việc mua nhiều sản phẩm tại cùng một nơi
- Sử dụng kết hợp với nhiều dịch vụ tiện ích khác của ngân hàng, như nộp phí,nhận bồi thường qua tài khoản ngân hàng
Các sản phẩm Bancassurance hiện được các ngân hàng cung cấp theo dạng:
- Độc lập với sản phẩm ngân hàng: các sản phẩm bảo hiểm truyền thống.- Liên kết,tích hợp với sản phẩm ngân hàng, như: sản phẩm bảo hiểm rủi ro tài sản, bảo hiểmtính mạng và sức khỏe cho người sử dụng các dịch vụ ngân hàng
- Bán kèm với các sản phẩm ngân hàng hoặc là điều kiện đưa ra khi khách hàng cónhu cầu vay ngân hàng Ví dụ, khách vay tiền đương nhiên được sở hữu hợp đồngbảo hiểm nhân thọ (BHNT) tử kỳ mệnh giá khoảng 100 triệu đồng mà không cầnđóng phí bảo hiểm (phí bảo hiểm có thể được ngân hàng tính vào lãi suất cho vay)
Vì dạng sản phẩm bảo hiểm tích hợp / bán kèm còn khá mới, nên nhiều khách hàngmang tâm lý miễn cưỡng trước cách tư vấn không rõ ràng của nhân viên ngân hàng
do hạn chế nghiệp vụ hoặc chạy theo chỉ tiêu, nhất là trong trường hợp khách đivay buộc phải mua thêm bảo hiểm Có khách hàng nghĩ rằng trước đó mình đãmua bảo hiểm nhân thọ / tài sản rồi nên không cần thêm một hợp đồng bảo hiểmnữa
Tuy nhiên, việc mua thêm bảo hiểm là cần thiết, nhằm mục đích bảo vệ khoản vaytrong trường hợp rủi ro xảy ra phía khách hàng Điều này tốt cho cả khách hàng(yên tâm không phát sinh gánh nặng tài chính nếu gặp rủi ro) và ngân hàng (không
lo mất vốn trong trường hợp khách hàng chẳng may gặp rủi ro) Ở Mỹ, các khoảnvay mua nhà thế chấp bắt buộc phải mua bảo hiểm nếu khoản vay lớn hơn 80% giácăn nhà
Có thể thấy, những sản phẩm bảo hiểm tích hợp, bán kèm với sản phẩm ngânhàng như vậy thật sự là hữu ích Tuy nhiên, sản phẩm do từng ngân hàng cung cấp18
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 19sẽ đa dạng và tùy vào sự lựa chọn của khách hàng, chứ không có nghĩa là kháchphải mua BHNT mới được vay tín chấp.
Nhằm tránh việc hiểu lầm này, vừa qua, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước đã
có Thông tư liên tịch số 86/2014/TTLT yêu cầu các ngân hàng không được nhậpchung giấy tờ của ngân hàng và hợp đồng bảo hiểm Nhìn chung, khung pháp lýcho kênh bán bảo hiểm qua ngân hàng đối với khối bảo hiểm nhân thọ đã có,nhưng đối với khối bảo hiểm phi nhân thọ thì chưa Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
đã có kiến nghị lên Bộ Tài chính về việc phải sớm có hành lang pháp lý cho khốinày để tạo điều kiện cho sự phát triển lành mạnh, ổn định của bancassurance
Có thể tổng quát lại như sau:
Bảng 1.2 :Tóm tắt những lợi ích cơ bản của Bancassurance.
Công ty bảo hiểm Ngân hàng Khách hàng
Giảm chi phí phân
phối sản phẩm
Hưởng hoa hồng phí Mua sản phẩm BH với giá
thấp (do tiêu dùng nhiều sảnphẩm và người cung cấp sảnphẩm tiết kiệm được chi phíphân phối)
Có thêm khách hàng
mới (khách hàng của
ngân hàng)
Có thêm khách hàngmới (khách hàng củacông ty bảo hiểm)
Có thêm kênh để mua sảnphẩm
Đa dạng hoá kênh
phân phối
Mở rộng danh mụcsản phẩm
Mua nhiều sản phẩm tạicùng một nơi
Tăng hiệu quả kinh
doanh do tăng doanh
thu, giảm chi phí phân
Trang 20Tăng khả năng hiểu biết vềcông ty bảo hiểm và ngânhàng Giảm rủi ro do thông tinbất cân xứng.
(Nguồn Tạp chí BH Việt Nam)
1.3.Các mô hình Bancassurance
Các hình thức Bancassurance có thể được hình thành theo những cách sau:
-Ngân hàng ký thỏa thuận phân phối sản phẩm với các doanh nghiệp Bảo hiểm,đóng vai trò đại diện bán hàng hoặc môi giới bảo hiểm cho công ty Bảo hiểm.-NH và DNBH nắm giữ cổ phần của nhau, hai bên cùng thành lập một công tyBảo hiểm mới để cùng kinh doanh
-NH mua toàn bộ hoặc một phần Công ty BH hoặc ngược lại
-Ngân hàng thành lập một Công ty Bảo hiểm mới
Tùy theo những mức độ liên kết có thể trình bày theo mức độ tăng dần:
Thỏa thuận phân phối, đồng mình chiến lược, liên doanh và tập đoàn tài chính.Theo mức độ kết hợp:
-Ngân hàng phân phối các sản phẩm Bảo hiểm (bán riêng rẽ hoặc bán cùng vớicác sản phẩm ngân hàng) để nhận hoa hồng
-Không chia sẽ cơ sở dữ liệu của khách hàng
-Đầu tư ít vốn để có thể thực hiện được
-Có thể chia sẽ cơ sở dữ liệu
Trang 21-Các hoạt động và hệ thống kết hợp hoàn toàn.
-Tạo khả năng cho việc kết hợp đầy đủ các sản phẩm
Các mô hình liên kết NH-BH khá đa dạng mỗi hình thức liên kết đều mang lạinhững hiệu quả nhất định.Đối với thị trường Việt Nam các mô hình liên kết phổbiến nhất hiện nay đó là: MH liên kết phân phối,MH liên doanh,MH liên kếtchiến lược,MH tập đoàn tài chính.Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu cụ thể các môhình
1.3.1 Mô hình liên kết phân phối.
Mô hình liên kết phân phối là việc Ngân hàng ký thỏa thuận phân phối sảnphẩm với công ty bảo hiểm, trong đó ngân hàng đóng vai trò là người đại diện bánhàng hoặc người môi giới bảo hiểm cho công ty bảo hiểm Ngân hàng phân phốicác sản phẩm bảo hiểm (bán riêng rẽ hoặc bán cùng với các sản phẩm ngân hàng)
để nhận hoa hồng.Một ngân hàng có thể liên kết phân phối bán Bảo hiểm chonhiều DNBH
Mô hình liên kết phân phối như sau:
Sơ đồ 1.1 Mô hình liên kết phân phối:
Trang 22DN Bảo hiểm 1
DN Bảo hiểm 2
DN Bảo hiểm 3
Ưu điểm của mô hình này đó là việc liên kết này giúp cho các ngân hàng có chi phí
cơ hội thấp khi thành lập một công ty bảo hiểm trực thuộc ngân hàng.Mang đếncho ngân hàng một mạng lưới hoạt động tốt hơn khi hợp tác với các công ty bảohiểm có sẵn chuyên môn và kinh nghiệm trong ngành bảo hiểm
Tuy nhiên mô hình có những nhược điểm: Sản phẩm của doanh nghiệp bảo hiểmvới ngân hàng trùng lặp với nhau.Ngân hàng và công ty bảo hiểm sẽ phải chịu áplực cạnh tranh với nhau nếu liên kết thoả thuận phân phối sản phẩm giữa đôi bênkhông đạt hiệu quả
1.3.2 Mô hình liên doanh.
Mô hình liên doanh là hình thức Ngân hàng và công ty bảo hiểm góp vốn liêndoanh cùng thành lập một công ty bảo hiểm mới - một pháp nhân thứ 3 để triểnkhai cung cấp sản phẩm bảo hiểm Theo đó ngân hàng và công ty bảo hiểm cùng
sở hữu về sản phẩm và khách hàng, cùng chia sẻ cơ sở dữ liệu khách hàng Cấp độnày đòi hỏi phải có sự cam kết mạnh mẽ và dài hạn từ hai phía về chiến lược phânphối sản phẩm, về cơ sở vật chất…
Sơ đồ 1.2 Mô hình liên doanh
22
SV Nguyễn Tuấn Anh
Ngân Hàng
Công ty LiênDoanh
Trang 23Khi triển khai mô hình này thì Ngân hàng sẽ cung cấp cho công ty liên doanh mộtlượng khách hàng tiềm năng rất lớn.Bên cạnh đó các công ty Bảo hiểm lại là ngườinắm vững nghiệp vụ và thị trường bảo hiểm giúp cho công ty liên doanh có thể tiếtkiệm được chi phí trong kinh doanh.
Song trong quá trình triển khai và vận hành mô hình thì xuất hiện một số nhượcđiểm như:
- Thứ nhất hai bên sẽ gặp phải những xung đột trong việc ra quyết định nếuhai ý tưởng của 2 bên không đồng nhất gây khó khăn trong việc ra quyết định.Nếucông ty Bảo hiểm gốc và công ty Bảo hiểm liên doanh cạnh tranh với nhau lại cànggây khó khăn trong việc kinh doanh đặc biệt là khâu chia sẻ thông tin về kháchhàng
- Thứ hai trong bối cảnh ngày càng có nhiều thương vụ M&A ngân hàng, việchợp tác phát triển Bancassurance cũng đang nảy sinh thêm nhiều vấn đề mới.Chẳng hạn, nếu công ty bảo hiểm ký kết độc quyền với một ngân hàng A trong 10năm, mà ngân hàng này lại phải M&A với ngân hàng B thì mối quan hệ này phảigiải quyết thế nào ? Đặc biệt, trong trường hợp ngân hàng B trước đó lại đã ký độcquyền với một công ty bảo hiểm khác, hoặc đang bán bảo hiểm cho công ty bảohiểm khác, hoặc bán bảo hiểm cho chính công ty bảo hiểm liên doanh của mình thìviệc giải quyết lại càng thêm phức tạp
1.3.3 Mô hình liên kết chiến lược.
Ở các mô hình khác, ngân hàng hợp tác với công ty bảo hiểm để nhận hoa hồng làchủ yếu, nhưng ở kiểu mô hình liên kết chiến lược này, ngân hàng sẽ mua lại toàn
bộ công ty bảo hiểm để làm chủ, kiểm soát và nhận toàn bộ lợi nhuận từ công tybảo hiểm này hoặc là mua lại một phần công ty bảo hiểm (mua cổ phần công tybảo hiểm) để nhận thêm lợi nhuận được chia từ công ty bảo hiểm ngoài số tiền hoahồng nhận được từ công ty đó
DN Bảo Hiểm
Trang 24Sơ đồ 1.3.Mô hình chiến lược:
Lợi thế khi triển khai mô hình này đó là các ngân hàng và công ty bảo hiểm đềuđược lợi do sử dụng uy tín, thương hiệu và nguồn lực của nhau về việc cung cấpcác dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ ngân hàng Hỗ trợ cho nhau trong việc tìm kiếmkhách hàng và tận dụng khách hàng tiềm năng hiện có Ngân hàng sẽ huy độngđược lượng vốn từ phía khách hàng bảo hiểm, có thêm hoa hồng, nhận được cổtức, còn công ty bảo hiểm sẽ tránh được rủi ro và các loại chi phí đại lý, từ đó đemlại lợi ích và thu nhập cao hơn cho cả 2 bên Với hệ thống chi nhánh lớn mạnh củangân hàng thì việc bán các sản phẩm bảo hiểm sẽ thuận lợi hơn, đem lại doanh thucho cả hai bên
Song vì hoạt động theo mô hình liên kết, nếu phía ngân hàng có vấn đề về thươnghiệu, uy tín, quản lý, sẽ ảnh hưởng đến dịch vụ, sản phẩm của công ty bảo hiểm Ngược lại, nếu công ty bảo hiểm làm ăn kém hiệu quả, gian dối sẽ ảnh hưởng tớithương hiệu của ngân hàng.Ngân hàng cần phải có một nguồn vốn đủ lớn để muamột phần hay mua lại toàn bộ công ty bảo hiểm, Ngoài ra, trình độ quản lý phảicao, danh mục đầu tư cần hợp lý, rõ ràng khi sử dụng nguồn vốn huy động quakênh bảo hiểm
1.3.4 Tập đoàn tài chính
Ở cấp độ tập đoàn tài chính thì có sự kết hợp hoàn toàn giữa hoạt động ngân hàng
và phân phối sản phẩm bảo hiểm Do công ty bảo hiểm và ngân hàng đề thuộc mộttập đoàn nên việc sử dụng cơ sở dữ liệu của nhau trở nên dễ dàng hơn và khônggặp vấn đề về bảo mật thông tin Đây là mô hình trong tương lai sẽ hình thành tậpđoàn dịch vụ tài chính ngân hàng vững mạnh
Sơ đồ 1.4.Mô hình tập đoàn tài chính:
24
SV Nguyễn Tuấn Anh
Doanh nghiệp Bảo
TậpĐoàn
Trang 25Lợi thế của mô hình là việc đầu tư đúng mức từ ngân hàng mẹ Đây là sự khác biệtvới mô hình liên kết giữa các ngân hàng và công ty bảo hiểm khác Trong cách tiếpcận Bancassurance, nếu muốn thành công ngân hàng phải chủ động được cuộcchơi để có thế nhất quán trong chiến lược kinh doanh với công ty bảo hiểm, và môhình này đáp ứng được yêu cầu đó Giảm áp lực cạnh tranh Các sản phẩm của bảohiểm và ngân hàng có nhiều điểm tương đồng, đặc biệt là trong khoản tiền gửi tiếtkiệm Ở các hình thức khác, mặc dù đã kí thỏa thuận phân phối nhưng công ty bảohiểm không thể không e ngại việc trùng lắp sản phẩm từ chính ngân hàng mìnhđang hợp tác, hoặc các nhân viên ngân hàng không dại gì tư vấn bảo hiểm cho mộtsản phẩm mà ngân hàng mình cũng đang triển khai.Vì thế, dù là 2 doanh nghiệpkhác nhau nhưng cùng thuộc một tập đoàn tài chính, sự cạnh tranh ngấm ngầm nàygiữa ngân hàng và công ty bảo hiểm sẽ được triệt tiêu Nâng cao trong chia sẻthông tin khách hàng Ngân hàng và công ty bảo hiểm có thể chia sẻ toàn bộ nhữngthông tin của nhau khi mà sự cạnh tranh ngấm ngầm giữa 2 bên đã được loại bỏ.Việc kết hợp chặt chẽ theo mô hình này loại bỏ đáng kể rủi ro cho các bên Lẽthường, khi mà hoạt động tín dụng của Việt Nam tăng trưởng nóng, các ngân hàngđạt được lợi nhuận cao từ hoạt động tín dụng, đồng thời bên phía bảo hiểm khôngthể cạnh tranh được do lãi suất VND quá cao, thì các công ty bảo hiểm chỉ có thểchấp nhận thua lỗ Nhưng ở mô hình này, khi mà ngân hàng mẹ có những hợpđồng tín dụng đầy rủi ro, ngân hàng có thể buộc khách hàng phải mua bảo hiểmcho khoản tín dụng đó, hoặc cho tài sản được hình thành từ khoản vay đó Mặtkhác, công ty bảo hiểm con cũng không phải quá lo lắng về tình trạng phá sản nếutình trạng huy động vốn khó khăn kéo dài do nhận được hỗ trợ tự ngân hàng mẹ.
ChứngKhoán
Công ty Bảo
Hiểm
Công tytài chính
Trang 26Tuy nhiên khi xuất hiện mô hình lại có hiện tượng độc quyền nhóm Kháchhàng khi sử dụng dịch vụ của ngân hàng bị buộc phải sử dụng sản phẩm từ công tybảo hiểm con mà không có được quyền thỏa thuận về phí, hoặc nếu được thỏathuận phí bảo hiểm thì lại phải chịu mức lãi suất cao hơn từ phía ngân hàng cho góisản phẩm đó Đây có thể là một thuận lợi để tạo lợi nhuận cho ngân hàng và công
ty bảo hiểm nhưng lại không tốt cho phía khách hàng Để có thể giải quyết tìnhtrạng này thì cần phải có sự cạnh tranh nhiều hơn từ đối thủ khác, như một tậpđoàn tài chính ngân hàng-bảo hiểm, hoặc một ngân hàng phải liên kết với nhiềucông ty bảo hiểm và ngược lại Thương hiệu của ngân hàng mẹ và công ty bảohiểm con gắn liền với nhau, do đó chỉ cần một trong hai bên có thông tin xấu sẽảnh hưởng không tốt đến cả hai phía Việc này có thể giải quyết bằng cách nângcao trình độ quản lí từ phía ngân hàng mẹ Khi ngân hàng và công ty bảo hiểm cóthể chia sẻ cho nhau gần như toàn bộ thông tin khách hàng, thì nguy cơ rò rỉ thôngtin tăng lên gấp đôi, nhất là khi trình độ công nghệ thông tin ở nước ta vẫn còn kháhạn chế
1.4.Các sản phẩm cơ bản của mô hình Bancassurance.
1.4.1.Những sản phẩm truyền thống
Nhóm các sản phẩm truyền thống: bao gồm bảo hiểm tính mạng sức khỏe conngười, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm pháp lý, nhóm sản phẩm nàyđược phân phối theo hai cách:
+ Bán độc lập với các sản phẩm ngân hàng và cung cấp cho đối tượng khách hàng
là các doanh nghiệp thông qua mối quan hệ thường xuyên với Ngân hàng Việc tậndụng các mối quan hệ gắn bó với khách hàng để phân phối sản phẩm bảo hiểm sẽ
có cơ hội thành công cao hơn các kênh phân phối khác và nhờ đó mô hìnhBancassurance sẽ mang lại thu nhập đáng kể cho chi nhánh từ hoa hồng bảo hiểm
và phí dịch vụ đi kèm hợp đồng bảo hiểm được ký kết như: phí chuyển khoản,dòng tiền phí bảo hiểm từ khách hàng đến Ngân hàng qua tài khoản thanh toán vớilãi suất tiền gửi không kỳ hạn
26
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 27+ Bán kèm với các sản phẩm ngân hàng hoặc là điều kiện để được hưởng dịch vụcủa ngân hàng khi khách hàng có nhu cầu quan hệ tín dụng với Ngân hàng Nhómsản phẩm này được cung cấp cho các khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tếnhư các doanh nghiệp, các hộ gia đình và cá nhân Mục đích của sản phẩm là ngoàicác thu nhập từ hoa hồng và phí dịch vụ còn là một trong những biện pháp để đảmbảo dòng vốn tín dụng được an toàn trước các rủi ro thiên tai khách quan gây tổnthất tới tài sản thế chấp, bảo lãnh hoặc tài sản hình thành từ nguồn vốn vay.
1.4.2.Những sản phẩm tích hợp.
Nhóm các sản phẩm liên kết, tích hợp với sản phẩm ngân hàng: chủ yếu là các sảnphẩm đơn giản để phục vụ cho khách hàng hộ gia đình và cá nhân có quan hệ tiềngửi hoặc vay tín chấp tại Ngân hàng như: bảo hiểm tính mạng và sức khỏe chongười gửi tiền, bảo hiểm tính mạng sức khỏe cho người vay tín chấp, bảo hiểm tínhmạng và sức khỏe cho người sử dụng các dịch vụ ngân hàng (sử dụng thẻ, thanhtoán, dịch vụ )
Nhóm sản phẩm này được phân phối theo cách thức đó là:
Nếu khách hàng có quan hệ tín dụng với Ngân hàng thì khách hàng sẽ được thamgia vào sản phẩm bảo hiểm được tích hợp trong gói vay.Mục đích của sản phẩm làphòng trường hợp khách hàng chẳng may gặp phải rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe
và khả năng hoàn vốn vay nợ thì DNBH có liên kết với NH mà khách hàng có vay
nợ sẽ thay mặt Người vay trả cho NH số tiền tương ứng như các khoản: Dư nợkhoản vay, phần chênh lệch giữa số tiền chi trả và đặc biệt dư nợ khoản vay (nếucó) sẽ được trả cho Người thụ hưởng còn lại
Tuy nhiên vì dạng sản phẩm bảo hiểm tích hợp / bán kèm còn khá mới, nên nhiềukhách hàng mang tâm lý miễn cưỡng trước cách tư vấn không rõ ràng của nhânviên ngân hàng do hạn chế nghiệp vụ hoặc chạy theo chỉ tiêu, nhất là trong trườnghợp khách đi vay buộc phải mua thêm bảo hiểm Có khách hàng nghĩ rằng trước đómình đã mua bảo hiểm nhân thọ / tài sản rồi nên không cần thêm một hợp đồngbảo hiểm nữa
Trang 28Việc mua thêm bảo hiểm là cần thiết, nhằm mục đích bảo vệ khoản vay trongtrường hợp rủi ro xảy ra phía khách hàng Điều này tốt cho cả khách hàng (yên tâmkhông phát sinh gánh nặng tài chính nếu gặp rủi ro) và ngân hàng (không lo mấtvốn trong trường hợp khách hàng chẳng may gặp rủi ro) Ví dụ: Ở Mỹ, các khoảnvay mua nhà thế chấp bắt buộc phải mua bảo hiểm nếu khoản vay lớn hơn 80% giácăn nhà Có thể thấy, những sản phẩm bảo hiểm tích hợp, bán kèm với sản phẩmngân hàng như vậy thật sự là hữu ích Tuy nhiên, sản phẩm do từng ngân hàngcung cấp sẽ đa dạng và tùy vào sự lựa chọn của khách hàng, chứ không có nghĩa làkhách phải mua BHNT mới được vay tín chấp.
1.5.Hoạt động Bancassurance trên thị trường BHPNT Việt Nam giai đoạn 2010-2014.
1.5.1.Thị trường BHPNT Việt Nam giai đoạn 2010-2014.
Tuy 5 năm gần đây kinh tế Việt Nam phải chịu rất nhiều biến động theo khủnghoảng kinh tế thế giới,rất nhiều các ngành ,lĩnh vực kinh tế trong nước bị suy giảm.Hàng nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ đổ vỡ hàng trăm doanh nghiệp lớn đứngtrước nguy cơ phá sản phải mua bán và sáp nhập.Nhưng trước bối cảnh đó ngànhBảo Hiểm Phi nhân thọ vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá ổn định và khả quan.Vàđặc biệt việc các Ngân hàng đang chịu ảnh hưởng rất lớn từ khủng hoảng thì việctìm kiếm,mở rộng đối tượng khách hàng ,sản phẩm mới là thật sự rất cần thiết.Mộttrong những giải pháp và chiến lược kinh doanh mới tốn ít chi phí và lợi nhuậnđem lại hấp dẫn đó chính là Bancassurance.Với những lợi thế sẵn có của mình cácngân hàng và các công ty bảo hiểm tại thị trường Việt Nam đã làm rất tốt tuy tốc
độ tăng trưởng khá cao có lúc là chiều thẳng đứng, đã góp một phần lớn vào thịphần doanh thu phí Bảo hiểm phi nhân thọ.Ta tìm hiểu qua tăng trưởng phí bảohiểm gốc của các doanh nghiệp Bảo hiểm tại Việt Nam qua bảng số liệu thống kêhai năm gần nhất là 2013 và năm 2014 của hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Bảng 1.3.Tăng trưởng phí BH gốc của các DNBH tại Việt Nam năm 2013.
Đơn vị: 1,000,000 VNĐ28
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 30(Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam)
Bảng 1.4 Tăng trưởng phí BH gốc của các DNBH tại Việt Nam năm 2014.
Trang 31(Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam) Nhìn một cách tổng thể thì có thể thấy được tốc độ tăng trưởng phí Bảo Hiểm của29DN bảo hiểm phi nhân thọ ổn định, xu hướng thay đổi cũng không lớn.Với tốc
độ tăng doanh thu phí Bh gốc trung bình cả thị trường từ 7.46% năm 2013 lên đến12.44% năm 2014.Nổi bật nhất là doanh nghiệp với thị phần nhỏ nhưng tốc độtăng doanh thu phí cao lên tới ba con số như doanh ngiệp Phú Hưng : 120% năm
2013 và 108% năm 2014.Các doanh nghiệp thị phần lớn có doanh thu phí cao vàtốc độ tăng trưởng phí BH gốc ổn định như Bảo Việt hay PVI vẫn được duy trìqua hai năm thống kê.Cho thấy được tiềm năng lớn của thị trường bảo hiểm phinhân thọ tại Việt Nam
Với tốc độ tăng dân số nhanh và đặc biệt trong thời kỳ dân số vàng như hiệnnay,lao động chất lượng cao ngày càng nhiều thu nhập cao hơn trước,nhu cầu mứcsống hiện đại cao hơn nhu cầu được hưởng thụ và bảo vệ được cải thiện do đó việcBảo hiểm phi nhân thọ sẽ phát triển trong tương lai là điều hiển nhiên.Đặc biệtmức sống cao hơn nhu cầu được bảo vệ về tài sản vật chất cũng gia tăng.Tình hìnhkinh tế ngày một khởi sắc,hàng loạt các công trinh lớn các dự án lớn được triểnkhai xây dựng và rất nhiều các công trinh khác.Chính vì vậy mà tiềm năng của bảohiểm phi nhân thọ là rất lớn.Tốc độ tăng về thu phí Bảo Hiểm luôn ở mức dươngnhư năm 2013 là 7,46% năm 2014 là hơn 12%.Mặc dù kinh tế chịu ảnh hưởngkhông ít từ khủng hoảng kinh tế,nhưng Bảo hiểm vẫn tăng trưởng ở mứcdương.Điều đó cho thấy chính sách đúng đắn của Bảo hiểm.Tăng trưởng khôngchỉ thể hiện qua tăng phí bảo hiểm mà còn rất nhiều các chỉ số gia tăng như doanhthu qua phí Bảo hiểm và về cả thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhânthọ cũng được gia tăng hơn trước
1.5.2.Hoạt động Bancassurance của một số công ty BH PNT tại Việt Nam giai đoạn 2010-2014.
Với những biến động tích cực của Bảo Hiểm nhân thọ hiện nay,đã tạo điều kiệncho Bancassurance phát triển hơn,tức là khả năng bảo hiểm của các doanh nghiệpBảo hiểm được đảm bảo hơn,khách hàng tin dùng các sản phẩm bảo hiểm hơn.Với
Trang 32bản chất của mình Bancassurance tác động mạnh mẽ vào thị trường bảo hiểm nhânthọ.Bản thân các ngân hàng đã có lượng khách hàng rộng lớn,do vậy khiBancassurance đi vào hoạt động nó mang vào cho thị trường bảo hiểm nhân thọnguồn khách hàng đa dạng.Trên thế giới hoạt động Bancassurance cũng đã hoạtđộng rất phát triển và tại Việt Nam nó chỉ là manh nha hoạt động từ 1993 khi đóchỉ dừng lại ở việc các công ty bảo hiểm mở tài khoản tại ngân hàng còn ngânhàng là nhà quản lý vốn nhàn rỗi đối với các công ty bảo hiểm.Đến năm 1994-
1996 mối quan hệ ngân hàng và bảo hiểm dừng lại ở mối quan hệ vay nợ.Năm1997-2000 bắt đầu xuất hiện các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có quỹ dự phòngnghiệp vụ lớn nguồn tiền nhàn rỗi lớn,nên đã lập lên mối quan hệ giữa ngân hàng
và bảo hiểm.Từ năm 2001 đến nay,các công ty bảo hiểm và ngân hàng đã có nhữngbước tiến vượt bậc,các công ty bảo hiểm đã có hợp đồng hợp tác với ngân hàngdưới dạng các hợp đồng cộng tác viên,hoặc hợp đồng thoả thuận dịch vụ ngânhàng và mở tài khoản giao dịch chứng khoán Và thêm vào đó là các quy định cụthể về kinh doanh bảo hiểm khuyến khích và bắt buộc các doanh nghiệp bảo hiểm
về hoạt động này:
Với những quy định pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng:Theo Luật các tổ chứctín dụng năm 2010, các tổ chức tín dụng được phép hoạt động đại lý kinh doanhbảo hiểm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Thông tư số 86/2014/TTLT-BTC-NHNNVN ngày 02/7/2014 mới đây quy định điều kiện để tổ chức tín dụngđược làm đại lý bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là được Ngân hàngNhà nước cho phép tại Giấy phép thành lập và hoạt động
- Quy định pháp lý trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm:Về mặt luật pháp, để đảmbảo cho kênh phân phối này phát triển và bảo vệ được quyền lợi của khách hàngtham gia bảo hiểm, các nước Châu Á đều có những quy định riêng, cụ thể liênquan đến việc hợp tác giữa ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm, bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng và bảo mật thông tin khách hàng (Hàn Quốc, Malaysia, Phillipine,Indonesia….).Mặc dù vậy, tại Việt Nam cho đến trước tháng 7/2014, Luật Kinhdoanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định riêng dành32
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 33cho kênh phân phối này Việc triển khai bancassurance tuân thủ theo quy địnhchung liên quan đến khai thác bảo hiểm và đại lý bảo hiểm, cụ thể như sau:
+ Đối với đại lý bảo hiểm cá nhân hoặc tổ chức (Điều 86, Điều 87 Luật Kinhdoanh bảo hiểm)
+ Chương III Nghị định 45/2007/NĐ-CP quy định nguyên tắc hoạt động đại lý, cácquyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm
Tại Việt Nam, đối với lĩnh vực phi nhân thọ, kênh phân phối bảo hiểm qua ngânhàng được coi là kênh phân phối chuyên nghiệp thứ hai sau kênh phân phối truyềnthống là đại lý Kênh phân phối này hiện chiếm khoảng 2% tổng doanh thu phíbảo hiểm nhân thọ của toàn thị trường Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhânthọ phát triển sản phẩm, cán bộ ngân hàng giới thiệu sản phẩm và thực hiện cáchoạt động khác theo hợp đồng uỷ quyền của doanh nghiệp bảo hiểm hoặc các tưvấn viên của doanh nghiệp bảo hiểm ngồi tại ngân hàng thực hiện tư vấn, bán sảnphẩm bảo hiểm cho khách hàng Ngoài hoa hồng đại lý, tuỳ theo sự thoả thuậntrong hợp đồng hợp tác giữa doanh nghiệp với từng ngân hàng, ngân hàng có thểnhận được các khoản thưởng định kỳ, các khoản hỗ trợ đào tạo, marketing bánhàng và chia sẻ lợi nhuận với doanh nghiệp bảo hiểm nếu hoạt động kinh doanhđạt kết quả tốt
Ngân hàng góp vốn thành lập DNBH dưới hình thức liên doanh hoặc cổ phần:Vietinbank đã cùng Công ty bảo hiểm châu Á Singapore thành lập Công ty liêndoanh bảo hiểm châu Á - Ngân hàng Công thương (gọi tắt IAI) chuyên hoạt độngtrong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ (2002); Agribank đã cùng Tổng công ty cổphần Tái Bảo hiểm quốc gia Việt Nam và hai Công ty cho thuê Tài chính I, II thuộcNHNo&PTNT Việt Nam góp vốn thành lập Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàngNông nghiệp (2006); Vietcombank và SeAbank cùng Cardif thành lập Công ty liêndoanh bảo hiểm VCLI (2008); cũng trong năm 2008, SHB và Tập đoàn côngnghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cùng một số cổ đông khác góp vốn thành lậpCông ty cổ phần bảo hiểm SHB - VINACOMIN (gọi tắt là Bảo hiểm SVIC).Và
Trang 34Kết quả hoạt động Bancassurance trong những năm qua chưa xứng với tiềm năngnhưng đang có dấu hiệu khởi sắc trong thời gian gần đây Bên cạnh đó, hoạt độngBancassurance trong khối ngân hàng nước ngoài và thương mại cổ phần có phầnsôi động hơn Phần lớn các ngân hàng trong 2 khối này đều đã liên kết với cáccông ty bảo hiểm nhân thọ và/hoặc phi nhân thọ để phân phối sản phẩm.
Agribank thì thành lập Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp(ABCI) năm 2007; Vietcombank góp vốn (45%) thành lập Công ty Bảo hiểm Nhânthọ Vietcombank Cardif (VCLI) năm 2008 Trong khi đó, VietinBank mua lại phầnvốn góp của Công ty Bảo hiểm châu Á Singapore để thành lập VBI vào năm 2008.Đến năm 2011, ngân hàng này còn góp vốn với Tập đoàn Bảo hiểm Aviva (HànQuốc) để thành lập liên doanh nhằm phục vụ riêng cho mảng bán bảo hiểm thôngqua kênh ngân hàng Ngân hàng Công thương ViệtNam (VietinBank) mua lại toàn
bộ vốn góp của Công ty bảo hiểm Châu Á (liên doanh ở Singapore)ngày17/12/2008
BIDV đã mua lại toàn bộ phần vốn góp của công ty Bảo hiểm quốc tế QBEtrong liên doanh Bảo hiểm Việt Úc để thành lập công ty con trực thuộc BIDVchuyên hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm Phi Nhân thọ (2005); Vietinbank mualại phần vốn góp của Công ty bảo hiểm châu Á Singapore, do đó Liên doanh bảohiểm châu Á IAI cũng chính thức trở thành công ty con trực thuộc Vietinbank(2008); Tập đoàn Bảo Việt cũng chính thức ra mắt Ngân hàng TMCP Bảo Việt vớiphần vốn chi phối của Tập đoàn Bảo Việt để hình thành Tập đoàn Tài chính - Ngânhàng - Bảo hiểm (2008)
Qua đây chúng ta có thể thấy được rằng : Chiến lược dài hạn của các doanhnghiệp Bảo Hiểm hiện nay đó là hợp tác với các ngân hàng hay nói ngắn gọn hơn
đó là phát triển lĩnh vực Bancassurance.Sau hơn 10 năm áp dụng hoạt độngBancassurance các doanh nghiệp Bảo hiểm không hề cho biết về tình hình củanghiệp vụ này.Các số liệu và thông tin kinh doanh là rất kín với mỗi doanhnghiệp.Nhưng chắc chắn một điều rằng doanh thu về hoạt động này tăng rất nhanh34
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 35có thể là theo chiều thằng đứng.Tuy nhiên trên thị trường Bảo hiểm Việt Namdoanh thu về Bancassurance chỉ chiếm 3% toàn ngành
Bảo Việt được biết đến như một trong những đơn vị đầu tầu trong hợptácbancassurance trong cả lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ với cácngânhàng uy tín như HSBC, Techcombank, Maritime Bank…và đã đạt đượcnhiều thànhcông nổi bật Năm 2014, Bảo hiểm Bảo Việt đã thu về 180tỷ đồng doanh thu phíbảo hiểm gốc từ bancassurance so với năm 2013, và dựkiến năm 2015, Bảo hiểmBảo Việt sẽ đạt khoảng 220 tỷ đồng doanh thu, vớimức tăng trưởng tương đương22,5% so với năm 2014 Như Prudential công bố họ chiếm 35% trong thị phầnnày,và góp tới hơn 70% doanh thu phí bảo hiểm, Prudential Việt Nam còn cho biết,Công ty đang hợp tác với 7 ngân hàng (gồm Maritime Bank, Eximbank, Agribank,
MB, Standard Chartered, Hong Leong Bank ) Dai-ichi Life Việt Nam đang hợptác với 4 ngân hàng là Eximbank, Sacombank, ACB, OCB để triển khaibancassurance Đã triển khai bancassurance thành công với hơn 70 mối quan hệhợp tác ở 12 quốc gia châu Á, Prudential áp dụng nhiều hình thức hợp tácbancassurance tại Việt Nam, trong đó có hình thức bảo hiểm nhân thọ tín dụng chokhách hàng vay tại ngân hàng, hình thức nhân viên Prudential bán bảo hiểm tại chinhánh ngân hàng và hình thức nhân viên ngân hàng được Prudential đào tạo đểtrực tiếp bán sản phẩm bảo hiểm Các ngân hàng đối tác hiện nay của Prudential là
An Bình, Standard Chartered, Agribank, VP Bank và Quân đội Prudential vừa tiếptục hợp tác với Maritime Bank Theo đó, trong năm 2010, khách hàng khi đượcMaritime Bank cấp khoản cho vay tiêu dùng sẽ được Prudential Việt Nam bảohiểm cho khoản vay đến khi khoản vay đó được tất toán
BIC tiếp tục dẫn đầu về mạng lưới ngân hàng liên kết khi thiết lập và đẩymạnhquan hệ hợp tác với trên 30 ngân hàng/chi nhánh ngân hàng ngoài BIDV trêntoànquốc Kênh Bancassurance trực tuyến, ứng dụng phần mềm bán bảo hiểmtrựctuyến tại các điểm giao dịch của Ngân hàng BIDV cũng tiếp tục thu đượcnhững kếtquả ấn tượng Doanh thu qua kênh này đạt 23,5 tỷ đồng, hoàn thành146% kế hoạch năm 2014 và tăng trưởng 52% so với 2013 Tổng số lượng khách
Trang 36hàng BIC đang phục vụ qua kênh đã vượt qua con số 85.000 lượt người, tăngtrưởng 41% so với năm 2013 Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triểnViệt Nam (BIC) có nhiều lợi thế để phát triển bancassurance Năm 2009 là nămtăng trưởng ấn tượng của kênh bancassurance với tổng doanh thu qua kênh này đạt37,49 tỷ đồng, chiếm 8% trong tổng doanh thu phí bảo hiểm của BIC Năm 2010,BIC dự kiến doanh thu qua kênh bancassuanrance đạt 56 tỷ đồng, chiếm khoảng10% tổng doanh thu toàn Công ty, trong đó kênh bán bảo hiểm trực tuyến đónggóp hơn 6 tỷ đồng.
Theo ông Phạm Quang Tùng, Giám đốc BIC, trong năm 2015, Công ty sẽchuẩn hoá các sản phẩm bancassurance hướng tới mở rộng cung cấp cho các kháchhàng bán lẻ của các ngân hàng ngoài BIDV, đặc biệt là các ngân hàng thương mại
cổ phần
Chương 2: Tình hình hoạt động Bancassurance tại công ty Bảo hiểm Bưu điện
Thăng Long giai đoạn 2010-2014.
2.1 Giới thiệu về công ty PTI Thăng Long.
2.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển.
THÔNG TIN CHUNG
Tên đơn vị : Công Ty Bảo Hiểm Bưu Điện Thăng Long
36
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 37Tên tiếng anh : Post and Telecomunication insurance Thang Long company(PTI Thang Long)
Địa chỉ : Tòa nhà Hoa Đăng, số 290 Nguyễn Trãi, Trung Văn, Từ Liêm, Hà Nội.Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long là một trong 30 công ty nhỏ trực thuộcTổng công ty Cổ Phần Bảo hiểm Bưu diện (PTI)
Được thành lập ngày 12/08/1998,Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện làtập hợp của các doanh nghiệp lớn thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau tạo nên
sự đa dạng vè ngành nghề cũng như có sự vững chắc về tài chính.Cổ đông sáng lập
và chi phối là Tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT),nay là tậpđoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam và các cổ đông sáng lập khác là Tổng Công
ty Cổ phần Bảo Minh,Tổng công ty xây dựng Hà Nội (HACC),Tổng công ty xuấtnhập khẩu Xây dựng Việt Nam (Vinaconex),Ngân hàng thương mại Cổ phần Quốc
Để thích nghi với sự phát triển của thị trường và khách hàng ngày càng mạnhmẽ,bên cạnh các Chi nhánh đã đi vào hoạt động,được phép của bộ tài chính ( theo
TB số 4522/TC/BH ngày 18/04/2005 của Bộ TC) PTI đã thành lập Hội sở giaodịch Hà Nội có trụ sở 290 Nguyễn Trãi, Trung Văn, Từ Liêm, Hà Nội Ngày 01Tháng 07 năm 2005,Hội sở giao dịch chính thức đi vào hoạt động.Hội sở Giao dịchcông ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện được thành lập trên cơ sở kế thừa toàn bộ hoạtđộng kinh doanh và các phòng kinh doanh bảo hiểm của PTI trước đây.PTI đã táchtoàn bộ khối trực tiếp khai thác kinh doanh bảo hiểm và khối quản lí vĩ mô trợ giúp
Trang 38cho các đơn vị trực thuộc trong kinh doanh và nhận nhượng tái bảo hiểm,giải quyếtcác vụ việc trên phân cấp của các đơn vị.Đến tháng 9/2010 do cơ chế thay đổitrong chính sách của hội đồng quản trị của công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện đã
có quyết định đổi công ty cổ phần bảo hiểm thành Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểmBưu điện,Hội sở giao dịch Hà Nội Thành Công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long
và 23 chi nhánh trong cả nước thành 23 công ty con,đến năm 2014 đã là 30 công tycon
PTI Thăng Long đã và đang dần khẳng định mình,từng bước phát triển mạnh
mẽ để có thể khẳng định mình là công ty Bảo hiểm đứng đầu trong tồng công ty về
doanh thu hàng năm
2.1.2 Mô hình tổ chức của công ty.
Cơ cấu hiện nay của công ty được thể hiện như sau:
Giám đốc: Điều hành,chịu trách nhiệm tất cả các hoạt động chung của côngty,có trách nhiệm báo cáo với ban lãnh đạo của công ty tình hình hoạt động củacông ty
Phó giám đốc1,2 : Phụ trách ký kết hợp đồng Bảo hiểm,có trách nhiệm báo cáogiám đốc những nội dung công việc quan trọng,những công việc liên quan tới phầnmình đàm phán thay mặt giám đốc điều hành khi giám đốc vắng mặt
Và các phòng ban trong công ty:
Bảng 2.1 : Tên các phòng ban trong công ty:
Phòng kế toán Phòng Phi Hàng hảiPhòng tổng hợp Phòng BH dự án38
SV Nguyễn Tuấn Anh
Trang 39Phòng giám định Phòng BH Con ngườiPhòng văn thư Tài sản kĩ thuậtPhòng kinh doanh1 Phòng Hàng hải
Phòng kinh doanh 2 Phòng BH Điện Biên
Phòng kinh doanh 3 Phòng BH Hòa Bình
Phòng kinh doanh 4,5,6 Phòng BH Hà Đông
(Nguồn PTI Thăng long) Phòng kế toán : Thu thập xử lý thông tin,số liệu kế tóan theo từng nội dungcông việc:khách hàng nhân viên,doanh thu ,bồi thường Kiểm tra giám sát các hoạtđộng thu chi thanh toán nợ quản lý và sử dụng tài sản và các nguồn vốn.Phân tíchthông tin,số liệu kế toán theo yêu cầu của giám đốc,quyết tóan kinh doanh lỗ lãi vàthực hiện công việc nộp thuế với nhà nước
Phòng tổng hợp: Thu thập thông tin,hồ sơ khách hàng tổng hợp tình hình hoạtđộng kinh doanh cảu doanh nghiệp,báo cáo giám đốc,quản lí và giải quyết côngviệc hàng ngày tiếp nhận công văn đi đến,có chức năng là phòng tham mưu chogiám đốc
Phòng Bảo hiểm Phi hàng hải: Xử lí tất cả các công việc liên quan đến cácnghiệp vụ như xe cơ giới,con người,lưu trữ các hồ sơ liên quan đến các nghiệp vụnày như giải quyết bồi thường Ngoài ra có thể khai thác các hợp đồng bảo hiểmphi hàng hải và tài sản kĩ thuật
Phòng con người: thực thi chính sách nhân sự ( cơ cấu tổ chức tuyển dụng,đàotạo đánh giá KQCV,trả lương).Thực hiện các nghĩa vụ và chế độ chính sách người
là động
Trang 40Phòng văn thư: Dịch vụ hậu cần,vận chuyển,văn thư lưu trữ ,lễ tân,thi đua khenthưởng,hành chính quản trị,hệ thống thông tin.Quản lí về hiện vật tài sản,dụngcụ,văn phòng phẩm,tài sản thu hồi sau bồi thường.
Trung tâm dịch vụ khách hàng khu vực: Cung cấp thông tin sản phẩm,chínhsách cho khách hàng.Nhận phản hồi và thông tin tổn thất,giải đáp thắc mắc kháchhàng.Thực hiện hoạt động chăm sóc khách hàng,điều tra nhu cầu khách hàng.Khaithác nghiệp vụ và thực hiện công tác bồi thường
Phòng tài sản kĩ thuật: Giống như hai phòng nghiệp vụ trên,ngoài khai thác,lưutrữ thông tin chăm sóc khách hàng và bồi thường cho các hợp đồng bảo hiểm tàisản kĩ thuật thì phòng này cũng làm các nghiệp vụ khác
Phòng kinh doanh 1,2,3,4,5,6,Hà Đông…: Thực hiện kinh doanh,khai thác cácnghiệp vụ Bảo hiểm,chịu trách nhiệm nghiên cứu,nắm bắt thị trường,kinh doanhsản phẩm,kí kết hợp đồng
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của công ty Bảo hiểm Bưu điện Thăng Long
40
SV Nguyễn Tuấn Anh
Giám đốc
Phó giám đốc 2Phó giám đốc 1