1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện đan phượng – thành phố hà nội

76 731 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiệu Quả Sử Dụng Đất Canh Tác Theo Hướng Sản Xuất Hàng Hóa Trên Địa Bàn Huyện Đan Phượng – Thành Phố Hà Nội
Tác giả Trần Thị Như Trang
Người hướng dẫn PGS.TS. Hà Thị Thanh Bình
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản Lí Đất Đai
Thể loại Báo Cáo Tiến Độ Luận Văn Thạc Sĩ Nông Nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 640 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đềĐất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt khôngthể thay thế của sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọnghàng đầu của môi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

MÃ SỐ : 60.62.16

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS HÀ THỊ THANH BÌNH

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt khôngthể thay thế của sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọnghàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựngcác cơ sở hạ tầng, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng; có ý nghĩa to lớntrong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và bảo vệ Tổ Quốc.Hiến chương về đất đai được ban các Bộ trưởng Châu Âu biểu quyết tại Nghị

quyết số 19 (1972) “ Ruộng đất là một trong những của cải quý nhất của

loài người, nó tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con người trên mặt đất”.

Việt Nam là một đất nước khoảng hơn 70% dân số bằng nông nghiệp,nên ta càng thấy được tầm quan trọng của đất đai trong sản xuất nông nghiệp.Với vai trò là tư liệu sản xuất, đất đai tham gia vào quá trình sản xuất tạo racủa cải vật chất, đảm bảo nhu cầu của con người như ăn, ở, mặc Trước hếtđất canh tác cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người tồn tại Vì vậy,việc tổ chức sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả là nhiệm vụ quantrọng hang đầu đảm bảo cho nền nông nghiệp phát triển bền vững

Cùng với tiến trình Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước ta dân sốngày càng tăng, diện tích đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm sangcác mục đích khác, đặc biệt diện tích đất canh tác trên diện tích đất bằngcường độ sử dụng ngày càng tăng Vì thế để sản xuất nông nghiệp mang lạihiệu quả kinh tế và sử dụng đất bền vững thì phải tiến hành sản xuất hànghóa

Việt Nam gia nhập WTO là một trong những lợi thế của sản xuất nôngnghiệp hàng hóa, tạo đà cho sự phát triển kinh tế đất nước Trong điều kiệncác nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng

Trang 3

đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trong cả nước nói chung vàhuyện Đan Phượng nói riêng là hết sức cần thiết.

Đan phượng là huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội, địa hình bằngphẳng, có hệ thống đất phù sa sông Hồng, độ phì khá, sản xuất nông nghiệp làchủ yếu, ngoài ra nhân dân có kinh nghiệm sản xuất, đặc biệt là thị trườngtiêu thụ lớn Nên định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuấthàng hóa trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác là hết sức cần thiếttrong nền kinh tế thị trường

Được sự đồng ý của khoa Tài nguyên và Môi trường, bộ môn Thủynông canh tác và dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hà Thị Thanh Bình, tiến

hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác theo

hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Đan Phượng – thành phố Hà Nội”.

1.2 Mục tiêu

Nhằm mục đích xác định các loại hình sử dụng đất và các kiểu sử dụngđất có hiệu quả cao trên địa bàn nghiên cứu trên cơ sở sản xuất nông nghiệphàng hóa để có thể áp dụng cho những vùng có điều kiện tương tự

1.3 Yêu cầu

- Phân tích được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đếnsản xuất và tiêu thụ cây trồng nông nghiệp hàng năm;

- Tiến hành điều tra thị trường vùng nghiên cứu và vùng giáp ranh;

- Phân tích các loại hình và các kiểu sử dụng đất của vùng nghiên cứu;

- Đề xuất các loại hình và các kiểu sử dụng đất bền vững cho vùngnghiên cứu

Trang 4

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Khái quát đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và trong nước

2.1.1 Đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuấtnông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu

thí nghiệm về nông nghiệp [37], [38]

Theo điều 13 Luật đất đai Việt Nam năm 2003, đất đai được chia thành

3 nhóm lớn là: nhóm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sửdụng

Đất nông nghiệp bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng câyhàng năm, đất trồng cây lâu năm), đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đấtlàm muối và đất nông nghiệp khác Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùngquan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Đất nông nghiệptham gia vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm cần thiết nuôi sống xãhội

2.1.2.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Toàn lục địa trừ diện tích đóng băng vĩnh cửu (1.360 triệu ha) chỉ có13.340 triệu ha Trong đó phần lớn có nhiều hạn chế cho sản xuất do quálạnh, khô, dốc, nghèo dinh dưỡng, hoặc quá mặn, quá phèn, bị ô nhiễm, bịphá hoại do hoạt động sản xuất hoặc do bom đạn chiến tranh Diện tích đất cókhả năng canh tác của lục địa chỉ có 3.030 triệu ha Hiện nhân loại mới khai

thác được 1.500 triệu ha đất canh tác.[18]

Theo Ghassemi và các cộng sự (1995)[33], tổng diện tích đất cũng nhưdiện tích đất nông nghiệp ở các khu vực khác nhau trên thế giới được thểhiện:

Trang 5

Bảng 2.1 Tài nguyên đất của các khu vực trên thế giới

ĐVT: triệu ha

Khu vực Tổng diện

Đất canh tác hiện nay

Đất được tưới

Đất đồi núi trên thế giới chiếm 50,6%, riêng ở Đông Nam Á và Thái

Bình Dương diện tích đất dốc chiếm 54,5% đất nông nghiệp.[20]

Theo FAO(1993) diện tích đất canh tác chiếm 10,6% tổng diện tíchtoàn thế giới Châu Á, mặc dù chiếm ½ dân số nhưng chỉ có 20% đất nôngnghiệp toàn cầu Đất đồi núi ở châu Á chiếm khoảng 35% tổng diện tích củacác nước, tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng

407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 100triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á, phần lớndiện tích này là đất dốc, chua nhiệt đới, khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn

là rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do hoạt động của con người nênrừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại.[6]

Châu Á, nhất là khu vực Nam Á, được coi là điểm nóng của thế giớitrong vấn đề thiếu dinh dưỡng và an ninh lương thực Do dân số tăng và diệntích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp để nhường chỗ cho đô thị và côngnghiệp phát triển, nên theo dự báo diện tích đất canh tác tính trên đầu người ở

châu Á sẽ giảm từ 0,15ha xuống còn 0,08ha vào những năm 2020 Dân số

Trung Quốc mỗi năm tăng thêm hơn 17triệu người, trong khi đó đất nôngnghiệp mỗi năm giảm đi 400.000 ha vì công nghiệp hóa và đô thị hóa.[19]

Trang 6

Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện naychỉ có 0,23 ha, ở nhiều quốc gia khu vực châu Á, Thái Bình Dương là dưới0,15 ha, ở Việt Nam chỉ còn 0,11 ha Theo tính toán của Tổ chức Lương thựcthế giới (FAO), với trình độ sản xuất trung bình hiện nay trên thế giới, để có

đủ lương thực, thực phẩm, mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác.[18]

Ngày nay, vấn đề thoái hóa đất và hoang mạc hóa là một trong nhữngvấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đốimặt và giải quyết nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninhlương thực Và xói mòn là một trong những nguy cơ quan trọng nhất dẫn đếnsuy thoái các vùng đất nông nghiệp của thế giới Đất khô cằn có ở mọi khuvực, chiếm hơn 40% bề mặt Trái Đất Theo ước tính, có khoảng 10 – 20%

diện tích đất khô cằn đã bị thoái hóa.[46] Trên thế giới hiện có 2.000 triệu ha

đất đã và đang bị thoái hóa, trong đó có 1.260 triệu ha tập trung ở châu Á,Thái Bình Dương.[18]

Theo viện Nghiên cứu Thế giới (1985) [33], lượng đất mặt mất đi hàngnăm do xói mòn trên các vùng đất trồng trọt của 4 nước sản xuất lương thựcchính của thế giới (chiếm 52% đất nông nghiệp và trên ½ sản lượng lươngthực thế giới) được thể hiện:

Trang 7

Bảng 2.2 Lượng đất mặt mất đi hàng năm do xói mòn

(triệu acre)

Lượng đất xói mòn (triệu tấn)

Nguồn: Viện Nghiên cứu Thế giới,1985

2.1.3.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Việt Nam là đất nước dân số chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Trongquá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa như hiện nay đã ảnh hưởng rất sâusắc đến nền sản xuất nông nghiệp, quỹ đất nông nghiệp có xu hướng giảm đểnhường chỗ cho các khu công nghiệp, khu kinh tế

Theo số liệu kiểm kê sơ bộ năm 2007, tổng diện tích tự nhiên của cảnước là 33,121 triệu ha, diện tích đất nông nghiệp 24,696 triệu ha (chiếm0,75% diện tích tự nhiên) Khu vực đồng bằng Sông Hồng có tổng diện tích là1,486 triệu ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp 0,756 triệu ha Bình quân

diện tích đất nông nghiệp trên đầu người 0,29 ha/người.[10] Diện tích trồng

lúa năm 2007 vẫn đạt 7,2 triệu ha (quy đổi cho 3 vụ trên diện tích thực là 4,2triệu ha), tuy đã giảm từ 7,5 triệu ha của năm 2002 Năng suất cũng khá ổnđịnh do có khoảng 80% diện tích là đất trồng lúa tưới, chỉ có 20% là đất phụ

thuộc vào mưa.[51]

Việt Nam thuộc loại đất hẹp người đông, mật độ dân số thuộc loại caotrong các nước ASEAN và cả trên thế giới Năm 1996 mật độ dân số trungbình của các nước ASEAN là 106,7người/km2 thì Việt Nam 227,7người/km2,chỉ thấp hơn Philippin (239,3 người/km2) và Singapo (483,9người/km2).[54]

Trang 8

Trong thời gian từ 1985-2000, diện tích đất nông nghiệp tăng từ gần 7triệu ha lên hơn 9 triệu ha (từ 21% lên 28% diện tích tự nhiên) Diện tích đấtnông nghiệp tăng thêm chủ yếu thuộc các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ

và đồng bằng sông Cửu Long Diện tích đất lâm nghiệp tăng từ hơn 9 triệu hanăm 1985 lên 11 triệu ha vào năm 2000 [17]

Diện tích đất chuyên dùng tăng từ 972 nghìn ha năm 1990 lên 1,5 triệu

ha năm 2000, diện tích đất chuyên dùng tăng ở tất cả các vùng trong cả nướccho mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, khu công nghiệp.Diện tích đất chuyên dùng tăng lên đã góp phần làm giảm tốc độ tăng diệntích đất nông nghiệp[17]

Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môitrường, diện tích đất nông nghiệp tăng từ 8,793 triệu ha (năm 2000) lên 9,363triệu ha Tuy nhiên, dân số nước ta cũng tăng từ hơn 77,635 triệu người(năm2000) lên 86,408 triệu người (năm 2010) Bình quân diện tích đất nôngnghiệp trên đầu người của cả nước lại có xu hướng giảm 50m2/người [18]

Theo ông Nguyễn Hữu Nhơn, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnhĐồng Tháp, thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong 7 năm qua(2001-2007) khẳng định: có trên 500.000 ha diện tích đất nông nghiệp đã thuhồi chuyển sang đất phi nông nghiệp, chiếm 5% diện tích đất nông nghiệpđang sử dụng, bình quân mỗi năm diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi trên71.000 ha, theo tính toán trung bình cứ 1ha đất thu hồi, sẽ làm hơn 10 laođộng nông dân thất nghiệp, đặc biệt, đất nông nghiệp bị thu hồi chuyển sangmục đích đô thị hóa và công nghiệp hóa năm sau luôn tăng hơn năm trước.Chỉ tính trong năm 2007, diện tích đất trồng lúa của cả nước đã giảm 125.000

Trang 9

vụ và đa dạng hóa giống lúa Sản xuất nông nghiệp đã dần biến chuyển theohướng bền vững, biểu hiện qua việc tăng diện tích cây lâu năm có hiệu quảkinh tế cao, giảm diện tích các loại cây hàng năm trồng thuần trên đất dốc.Tuy nhiên, trong cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tỷ lệ diện tích đất cây hàngnăm vẫn còn chiếm trên 60%, mặt khác khả năng tăng diện tích đất canh tác

từ diện tích đất chưa sử dụng sẽ khó khăn trong thời gian tới.[17]

Bảng 2.3.Diễn biến tài nguyên đất qua một số năm

ĐVT: 1000 ha

Loại đất Năm 1985 Năm 1990 Năm 1995 Năm 2000

đất nông nghiệp màu mỡ bị mất đi.

Tại cuộc Hội thảo Nông dân bị thu hồi đất – thực trạng và giải pháp do

Bộ NN&PTNT tổ chức, theo thống kê 50% số đất nông nghiệp bị thu hồitrong thời gian qua nằm trong những vùng canh tác trọng điểm, khu vực đôngdân, có tốc độ phát triển nhanh, điển hình là khu vực đồng bằng sông Hồng có

tỷ lệ bị thu hồi nhiều nhất với 4,4% Trong đó, 80% diện tích này thuộc loạiđất màu mỡ Nếu làm một phép tính giản đơn với diện tích bị thu hồi thuộc

đất ruộng màu mỡ thì mỗi vụ lúa Việt Nam đã mất hàng nghìn tấn lúa.

Trang 10

Tại Bắc Ninh, tổng sản lượng lúa trong vài năm trở lại đây đã giảmmạnh do đất nông nghiệp giảm, năm 2008, diện tích đất trồng trọt còn hơn42.000 ha Tại thành phố Hà Nội bình quân một năm giải phóng mặt bằng gần1.000 ha, trong đó chiếm tới 80% là đất nông nghiệp Theo dự kiến năm 2008,

Hà Nội sẽ thu hồi 1.500 ha, trong đó 904 ha đất 2 vụ lúa.[47]

Diện tích đất canh tác của Việt Nam hiện thấp nhất thế giới, chỉ khoảng0,12 ha/người trong khi của Thái Lan là 0,3 ha/người Xét bình quân, ViệtNam chỉ hơn được các nước như Hàn Quốc, Băng-la Đét, Ai Cập…Tuynhiên, việc giữ đất lúa không dễ khi Việt Nam vẫn đang thiếu bản quy hoạch

cụ thể về đất nông nghiệp Do thiếu “cây gậy” đó nên nhiều nơi vẫn điềmnhiên xà xẻo đất lúa để làm công nghiệp, thậm chí là xây sân golf giữa đồngbằng với cái nhìn ngắn hạn “ngân sách nhiều hơn nhờ nguồn thuế” Vì thế,

mà vấn đề an sinh xã hội ở nhiều nơi bị xem nhẹ.[51]

Qua khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 cho thấy, không có giá trịsản phẩm công nghiệp nào so được với giá trị 1 tấn gạo lúa đó Hơn lúc nàohết, đất lúa “kêu cứu” là một thực trạng trong khi diễn biến khí hậu đang làmcho sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn hơn Từ đầu năm 2008, giá gạo trênthị trường thế giới liên tục tăng và đã lâu rồi, vấn đề an ninh lương thực toàncầu lại được xới lên Trên thế giới, ngay các nước giàu còn bỏ tiền ra giữ đấttrồng lúa, huống chi Việt Nam là nước truyền đời, có “phông văn hóa” gắnvới sản xuất nông nghiệp.[51]

Bên cạnh việc giảm diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa,thì vấn đề suy thoái chất lượng đất nông nghiệp cũng đang là vấn đề nhứcnhối của toàn cầu Tình trạng suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do rửatrôi, xói mòn, khô hạn và sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa, chua hóa, thoái hóa,

lý hóa học đất, ô nhiễm…Những tác động tiêu cực trên ảnh hưởng trực tiếpđến hơn 50% diện tích đã và đang sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng làthách thức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta Mặt

Trang 11

khác, việc sử dụng đất còn lãng phí, chỉ tính riêng ở 68 nông trường quốcdoanh và 33 vùng kinh tế mới và chuyên canh trước đây đã có trên 30.000 hasau khi khai hoang lại bị bỏ hóa trở lại, không đưa vào sản xuất nông nghiệp,

lâm nghiệp.[18]

Ở Việt Nam hiện có 16,7 triệu ha bị xói mòn, rửa trôi mạnh, chuanhiều, 9 triệu ha có tầng mỏng và độ phì thấp, 3 triệu ha đất thường bị khôhạn và sa mạc hóa, 1,9 triệu ha đất bị phèn hóa, mặn hóa mạnh.[18]

Theo số liệu thống kê, các địa phương trong cả nước có khoảng 9,35triệu ha đất nông nghiệp bị thoái hóa Các tỉnh thuộc khu vực Nam Trung Bộ

có đến hàng trăm ngàn ha đất khô hạn vĩnh viễn hoặc khô hạn theo mùa vàgần như trở thành hoang hóa Tại các tỉnh ven biển miền Trung có gần 500nghìn ha cát tạo thành các đồi cát di động theo sức gió trong các mùa mưabão và gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sản xuất nông lâm nghiệp[55]

Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụngđất hợp lý hoặc kiểu sử dụng đất hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hóa đấtnhư vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có hàm lượng dinh dưỡng thấplại không luân canh với cây họ đậuv[46]

Vì vậy, vấn đề sử dụng đất nông nghiệp hợp lý, hiệu quả và tiết kiệmtrở thành một trong những mục tiêu bao trùm nhất của toàn xã hội

Trang 12

2.2.Lịch sử phát triển của đất nông nghiệp và các chủ trương chính sách của Nhà nước ta về sử dụng và quản lý đất nông nghiệp

2.2.1 Lịch sử phát triển đất nông nghiệp

a) Sơ lược lịch sử phát triển nông nghiệp

Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cổ nhất, có một lịch sửcách đây ít nhất 10.000 năm, khi mà các bộ lạc nguyên thủy ở đầu thời kỳ đồ

đá mới Dân số mới chỉ có gần 1 triệu người sống rải rác trên các lục địa

Spedding (1979) đã định nghĩa nông nghiệp như sau: “Nông ngiệp làmột loại hoạt động của con người được tiến hành chủ yếu để sản xuất ralương thực, sợi, chất đốt cũng như nhiều loại nguyên liệu khác bằng sự cânnhắc kỹ lưỡng và sử dụng có điều khiển cây trồng và vật nuôi”

Markov (1972) cho rằng yếu tố quyết định sự phát triển của nôngnghiệp là công cụ lao động, mà trước hết là công cụ làm đất Căn cứ vào sựtiến bộ của công cụ làm đất, tác giả đã chia lịch sử phát triển nông nghiệp rathành 5 giai đoạn:

- Chọc lỗ bỏ hạt: Con người dùng một cái gậy đầu nhọn để chọc đấtthành lỗ để gieo hạt, xung quanh lỗ, rễ cỏ còn nguyên Cây trồng ở giai đoạnnày còn hoang dại, quan hệ giữa cây trồng giống như ở đồng cỏ tự nhiên

- Cuốc đất bằng đá, bằng đồng, bằng sắt: Đất được chuẩn bị kỹ hơn, xớitơi hơn, rễ cỏ bị phá một phần, quan hệ đồng cỏ bị mất đi, bắt đầu xuất hiệncây trồng, có sự chọn lọc nhân tạo Bắt đầu có quan hệ của ruộng cây trồng

- Giai đoạn cày gỗ: Đất được xới sâu hơn, tơi xốp hơn, rễ cỏ bị phánhiều hơn Một số loại cây trồng thực sự được cải tiến, chọn lọc nhân tạochiếm ưu thế, đạt nhiều thành tựu nổi bật Quan hệ đồng ruộng được xác lập

- Giai đoạn cày sắt: Nhờ công cụ cày có lưỡi bằng sắt nên việc làm đấtđạt năng suất lao động cao hơn, kỹ thuật làm đất được cải tiến nhiều hơn,công tác chọn tạo giống được phát triển tuỳ theo yêu cầu về đất của từng loại

Trang 13

cây trồng để sử dụng từng loại công cụ làm đất thích ứng Quan hệ đồngruộng điển hình.

- Cày máy: Khâu làm đất được cơ giới hóa, năng suất lao động tăng lên

rõ rệt Công tác giống, chọn giống hiện đại được xác lập

Harrison (1964): Khởi đầu của nông nghiệp là sự săn bắn và hái lượm,sau đó đến nông nghiệp có tổ chức đi từ thấp đến cao dưới áp lực của sự giatăng dân số

Grigg (1974) cho rằng yếu tố quyết định các kiểu hệ thống nông nghiệp

là sự thay đổi về kinh tế, kỹ thuật, và xã hội Trước thế kỷ 17 dân số thế giớităng chậm, sau đó dân số bắt đầu tăng nhanh ở châu Âu đã thúc đẩy phát triểnnông nghiệp ở lục địa này Trước năm 1920, tốc độ tăng dân số ở châu Âu vàcác vùng do người châu Âu di cư đến như Bắc Mỹ, châu Úc, Nam Phi, Nam

Mỹ cao hơn ở châu Á, châu Phi Sau năm 1920, tốc độ tăng dân số ở các nướcđang phát triển mới vượt lên Sự phát triển buôn bán trong thế kỷ 19 cũng đẩymạnh sự phát triển nông nghiệp ở các vùng mới di cư đến Cuộc cách mạngnông nghiệp bắt đầu ở nước Anh và các nước châu Âu, châu Mỹ (luân canhcây trồng, bón phân hóa học, sử dụng thuốc trừ sâu bệnh, chọn giống trên cơ

sở khoa học, cơ giới hóa sản xuất )

Các tác giả Đường Hồng Dật (1980); Cao Liêm và Trần Đức Viên(1990) chia toàn lịch sử phát triển nông nghiệp ra làm 3 giai đoạn dựa trên cơ

sở sự tác động của lao động sống; vật tư, công cụ và trí tuệ của con người vàothiên nhiên

- Giai đoạn nông nghiệp thủ công;

- Giai đoạn nông nghiệp với vật tư kỹ thuật phát triển và công cụ cảitiến;

- Giai đoạn nông nghiệp phát triển cơ sở khoa học (tối ưu hóa sản xuất

nông nghiệp trên cơ sở sinh thái học, trên tư duy hệ thống).[7]

b)Diễn biến của các hệ thống canh tác qua các thời kỳ lịch sử

Trang 14

Người Việt cổ đã sớm bắt tay vào trồng trọt để tạo ra thức ăn từ nhữngngày các vua Hùng dựng nước Với các điều kiện tự nhiên và đất đai ở thời kỳ

đó họ đã tạo nên hệ thống canh tác sơ khai tại nơi mình cư trú (hệ canh tácbản địa) Hệ canh tác này lúc ban đầu được hình thành ở vùng đồi núi Câytrồng chủ yếu là lúa cạn, lúa nương Cùng với quá trình định cư trồng trọtngày càng phát triển, hệ thống canh tác lúa lúc đầu được hình thành ở cácthung lũng và ngày càng ổn định và mở rộng địa bàn lên các loại đất cao Đểsản xuất trên các sườn đồi, cư dân đã tạo nên những hệ thống ruộng bậc thang

để cấy lúa nước

Cùng với lúa nước nông dân tìm đến những nơi bằng phẳng để gieotrồng Họ tìm đến các bãi ven sông, suối, các thung lũng vùng đối núi rồi từ

đó theo các dòng sông, suối mà chuyển về các bình nguyên Hệ canh tác lúanước trên các cánh đồng bằng phẳng ở các vùng châu thổ được hình thành Từ

hệ canh tác một vụ lúa dựa chủ yếu vào nước trời trong mùa mưa dần dầnnông dân có những công trình thô sơ và biện pháp để lấy nước ở các sông,suối, ao, hồ tưới cho lúa Hệ canh tác 2 vụ lúa trong một năm được hìnhthành Hệ canh tác này phát triển dần dần và nhiều loại cây trồng từng bướcđược dựa vào cơ cấu, trong đó có nhiều loại cây trồng cạn như khoai lang,đậu đỗ

Dưới thời Bắc thuộc, quan lại phong kiến phương Bắc sang cai trị nước

ta trong thời gian dài, đến hàng nghìn năm, vì vậy họ đã đưa sang ta một sốloại cây trồng mới, một số giống lúa, ngô mới và một số kỹ thuật canh tácmới Hệ canh tác bản địa của người Việt được tiếp thu thêm những yếu tốmới: bón phân, trồng dâu nuôi tằm, tưới nước…Hệ canh tác lúa nước được

mở rộng và hình thành những cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện canh tác

ở mỗi nơi: hệ canh tác trên ruộng quanh năm ngập nước, hệ canh tác một vụlúa nước, một vụ cây trồng cạn, hệ canh tác đất màu

Trang 15

Từ thế kỷ thứ X trở đi, Việt Nam bước vào thời đại phong kiến độc lập.Đất đai được mở dần vào phía Nam, tiến dần vào đồng bằng Sông Cửu Long(thế kỷ XIV) Người nông dân Việt Nam mang theo hệ canh tác của mình đếnnhững nơi ở mới Trên con đường di chuyển về phía Nam, hệ canh tác Việtpha trộn với các hệ canh tác bản địa, với canh tác Chàm ở miền Trung và hệcanh tác Khơ Me ở đồng bằng sông cửu Long Sự pha trộn này, cùng vớinhững cây trồng mới, kỹ thuật gieo trồng cạn từ Ấn Độ đưa sang đã góp phầntạo nên hệ canh tác cạn trên vùng đất dốc gò đồi phía Đông Trường Sơn Ởcác vùng đồng bằng nhỏ ven biển miền Trung, sự pha trộn trên đã tạo nên hệcanh tác đặc trưng trồng lúa nước thích nghi với điều kiện khí hậu và địa hìnhtại chỗ phát triển cho đến ngày nay.

Ở thế kỷ XVIII, một số người buôn bán và các cha cố truyền đạo ngườinước ngoài lần lượt vào nước ta Trong quá trình giao lưu làm ăn với ngườiViệt họ đã mang theo nhiều loại cây mới, đặc biệt là các loại rau, cây cảnh,cây ăn quả vào Việt Nam Một số loại giống cây, giống gia súc đã được chọnlọc ở nước họ, một số công cụ máy móc nông nghiệp và những tập quán canhtác, cách thức làm ăn ở nước họ mang theo vào Việt Nam, nhất là cách tổchức làm ăn ở những trang trại nông nghiệp có diện tích lớn

Thời kỳ thực dân Pháp hoàn toàn chiếm Việt Nam làm thuộc địa (1884– 1945), các chủ đồn điền Pháp đã đưa một số loài cây và gia súc từ Pháp và

từ các nước thuộc địa châu Phi, châu Mỹ La tinh vào Việt Nam Nhiều loạimáy móc, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu cũng được đưa vào Cùng với cácphương tiện, máy móc, vật tư nông nghiệp mới được đưa thêm vào, trình độthâm canh nông nghiệp ở Việt Nam được đẩy lên một bước phát triển mới.Ngoài các hệ canh tác lúa nước và cây trồng cạn hàng năm của cư dân cácvùng ờ Việt Nam, thời gian này có thêm các hệ canh tác trồng cây lâu năm vàtrồng xen giữa cây hàng năm và cây lăm năm

Trang 16

Từ sau cách mạng Tháng tám (1945) thành công, trên đất nước ViệtNam hình thành nhiều vùng kinh tế sinh thái nông nghiệp khác nhau do cáccuộc kháng chiến chống ngoại xâm tạo nên Ở những vùng này nhân dân tiếnhành sản xuất nông nghiệp với các hệ canh tác lấy sản xuất lương thực làmchính để cung cấp cái ăn cho nhân dân và quân đội đánh giặc cứu nước.

Ở các vùng tạm chiến, chính quyền dưới sự kiểm soát của người nướcngoài, tổ chức áp dụng các hệ canh tác đáp ứng một phần các nhu cầu củaquân đội viễn chinh và của ngụy quân, ngụy quyền, một phần cung cấp chocác thành phố tiêu thụ Các hệ canh tác ở các vùng này hướng vào việc sảnxuất thực phẩm và phần lớn là sản xuất hàng hóa nông sản

Ngoài ra, ở các vùng tranh chấp, sản xuất nông nghiệp thường không

ổn định, các hoạt động sản xuất nông nghiệp của vùng này thường là tranhthủ, chắp vá nên không theo một hệ canh tác nào rõ ràng

Từ ngày hoàn toàn giải phóng đất nước (30/4/1975) đến nay, nôngnghiệp có bước phát triển mới mang tính chất toàn diện trên các mặt: mở rộngdiện tích canh tác và diện tích trồng trọt, tăng vụ, tăng năng suất Các hệ canhtác được bổ sung và không ngừng phát triển.[7]

c) Các loại hệ thống nông nghiệp

- Hệ thống nông nghiệp du canh:

Nông nghiệp du canh có thể được hiểu là sự thay đổi nơi sản xuất từkhu đất này sang khu đất khác, từ vùng này sang vùng khác sau khi độ phì củađất đã bị nghèo kiệt.[4]

Từ xa xưa con người đã tiến hành trồng trọt, kiểu trồng trọt phổ biếnthời ấy là phát rẫy, làm nương Việc đốt rẫy, làm nương và di chuyển từ vùng

này sang vùng khác được gọi là hệ thống nông nghiệp du canh.

Trong hình thái nông nghiệp này, người nông dân chỉ biết lợi dụng cácđiều kiện tự nhiên và tài nguyên sẵn có để làm ra các sản phẩm mà mình

Trang 17

mong muốn Thông thường nông nghiệp du canh có 2 kiểu: thứ nhất là định

cư, du canh; kiểu thứ 2 là du cư, du canh

Hình thái nông nghiệp du canh thường xảy ra ở những nơi đất dốc,rừng núi có mật độ dân cư thưa thớt Do tình trạng du canh nên nông dân hầunhư không quan tâm đến việc bảo vệ và phục hồi dinh dưỡng của đất dẫn đếnđất canh tác bị thoái hóa, nghèo kiệt do xói mòn rửa trôi và kết quả là tạo rahàng triệu hécta đất trống, đồi núi trọc Nạn phá rừng hiện nay xảy ra phổbiến trên thế giới và nước ta có nguyên nhân chính là hậu quả của nền nôngnghiệp du canh

Ruthemberg (1971) đã tạm chia vùng nhiệt đới thành những hệ thốngsau:

+ Hệ thống thảm thực vật tự nhiên (cây bụi, rừng, đồng cỏ);

+ Hệ thống di cư ngẫu nhiên theo tuyến hoặc thay đổi theo chu kỳ;+ Hệ thống du canh quay vòng sau một số năm;

+ Hệ thống phát quang: đốt nương, làm rẫy

Okybo (1977) đã liệt kê 4 giai đoạn của sự du canh trên vùng đồi núi vàvùng ngập nước, đó là:

+ Giảm thời gian của chu kỳ bỏ hóa;

+ Tăng cường trồng các loại cây họ đậu lấy hạt và cải tạo đất;

+ Di chuyển tới những hệ thống định cư thô sơ;

+ Thiết lập trang trại hoặc vườn định cư

- Hệ thống nông nghiệp du mục

Du mục là phương thức sản xuất nông nghiệp chủ yếu gắn với các hệthống chăn nuôi được di chuyển liên tục từ vùng này sang vùng khác.Có 2loại du mục:

+ Du mục hoàn toàn: dân du mục hoàn toàn di chuyển theo đàn gia súcquanh năm từ vùng này sang vùng khác và không tiến hành các hoạt độngtrồng trọt

Trang 18

+ Du mục không hoàn toàn: Họ chỉ nuôi và chăn dắt đàn gia súc theomùa của đồng cỏ tự nhiên, hết mùa lại bán gia súc và tiếp tục công việc khác.Dân du mục loại này có kết hợp trồng trọt và làm nhà cố định.

Du mục hoàn toàn thường diễn ra ở vùng đất khô cằn nơi mà khó chấpnhận một hình thức sản xuất nào khác Có thể xem đây là giải pháp tối ưu đểkhai thác vùng thảo nguyên khô cằn, tận dụng những nguồn lợi sẵn có củathiên nhiên

Ở Việt Nam chỉ tồn tại hình thức bán du mục, đó là những người nuôivịt, ngỗng di chuyển từ cánh đồng này sang cánh đồng khác để tận dụng sảnphẩm rơi vãi khi thu hoạch Loại hình này rất phổ biến ở vùng đồng bằngchâu thổ

- Hệ thống nông nghiệp chuyên môn hóa

Đây là hệ thống nông nghiệp chuyên sản xuất một hoặc hai loại sảnphẩm nhất định, trên cơ sở của điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý hay tập quáncanh tác Ví dụ: sản xuất rau, thịt ở quanh các đô thị, cà phê, cao su ở TâyNguyên, điều ở miền Đông Nam Bộ, mía ở Tây Ninh,…

Sản xuất chuyên môn hóa dễ tạo ra mất cân bằng sinh học, dẫn đến các

vụ dịch sâu bệnh hại nguy hiểm, khó kiểm soát Loại hình sản xuất này cũnggây căng thẳng về lao động khi mùa vụ khẩn trương và dư thừa khi hết thời

Trang 19

hóa sản phẩm Hiện nay lại có xu hướng chuyên môn hóa sản phẩm để đápứng với nhu cầu của thị trường và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn,nông nghiệp.

- Hệ thống nông nghiệp kết hợp

Đây là hệ thống sản xuất đa ngành cho ra nhiều loại sản phẩm, bao gồm

cả các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản Ưu điểm của loạihình sản xuất này là cho phép ta sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn tàinguyên và lực lượng lao động sẵn có

Việc kết hợp giữa hai hệ thống trồng trọt, chăn nuôi sẽ có tác dụng thúcđẩy, hỗ trợ nhau một cách tích cực, là bước tiến quan trọng của phương thứcsản xuất tiên tiến nhằm tạo ra nhiều sản phẩm với giá thành hạ, bảo vệ đượcmôi sinh môi trường phát huy được tiềm năng sẵn có của địa phương

Nông nghiệp kết hợp thường được tiến hành ở vùng gần các đô thị nơithuận tiện về giao thông và cơ sở hạ tầng, gần nơi tiêu thụ lớn Đây cũng lànơi chịu sức ép tăng dân số lớn và cũng là nơi có điều kiện dễ dàng để đầu tưphân bón, máy móc và các tiến bộ khoa học

Do những ưu điểm nổi bật nêu trên mà ngay từ thời trung cổ, nền nôngnghiệp kết hợp đang được hình thành và phát triển mạnh cho tới ngày nay.Bất cứ nơi đâu ta đều thấy bóng dáng của nền nông nghiệp kết hợp Các môhình nổi tiếng như SALT, VACR, lúa - cá, lúa - lợn, lúa - tôm, nông lâm kếthợp… chính là sự kết hợp sáng tạo những quan điểm nông nghiệp kết hợpdựa trên những đặc thù sẵn có của địa phương

Hệ thống nông nghiệp kết hợp bao gồm:

Trang 20

+ Hệ thống trồng trọt – chăn nuôi – thủy sản.[4]

2.2.2 Chủ trương chính sách về sử dụng và quản lý đất nông nghiệp

a) Thực trạng chính sách đất đai ở Việt Nam

Ở nước ta, quan hệ đất đai có lịch sử biến động lớn, thường xuyên vàrất phức tạp

Dưới thời phong kiến, ruộng đất thuộc sở hữu Nhà nước do nhà vua đạidiện quản lý, sở hữu cộng đồng làng xã và sở hữu tư nhân

Dưới thời Pháp thuộc ruộng đất tập trung chủ yếu vào tay địa chủ vàthực dân

Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Nhà nước tiến hành cảicách ruộng đất, tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng đất của địa chủ và thựcdân chia cho nông dân, giao quyền làm chủ thực sự ruộng đất về cho nôngdân và khi tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp thì ruộng đất thuộc sở hữu Nhànước và được giao cho hợp tác xã quản lý, sử dụng Sau nhiều năm cải tạonông nghiệp theo con đường kém hiệu quả, các chính sách nông nghiệp vàchính sách ruộng đất đã có những thay đổi cơ bản theo hướng coi hộ nôngdân là đơn vị tự chủ, nông dân được quyền sử dụng và quản lý ruộng đất đượchợp tác xã giao khoán Ngày 8/1/1988 Quốc hội thông qua Luật đất đai vớicác nội dung cơ bản sau:

- Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Nhànước giao ruộng đất cho các đơn vị và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài có thờihạn hoặc tạm thời;

- Cho phép người được giao quyền sử dụng đất đai được chuyểnnhượng, bán thành quả lao động và kết quả đầu tư trên đất được giao;

- Cấm mua bán đất đai trái phép

Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp

và Hội nghị trung ương 6 (khóa VI) khẳng định hộ nông dân là đơn vị kinh tế

tự chủ đã đưa đến sự thay đổi trong chính sách ruộng đất mà cốt lõi là giao

Trang 21

cho các hộ nông dân quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và ổn định thì nhữngbất hợp lý trong Luật đất đai năm 1988 càng bộc lộ rõ rệt, gây nên tranh chấpruộng đất gay gắt và phổ biến.

Trước yêu cầu của đổi mới quản lý nhằm chuyển sang nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần và sự bất cập của Luật đất đai năm 1988, năm 1993Quốc hội đã thông qua Luật đất đai sửa đổi Luật đất đai năm 1993 có nhiềuđổi mới cơ bản, đã chú ý đến quan hệ kinh tế và mục tiêu hiệu quả trong sửdụng và quản lý đất đai

Trên cơ sở chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

và Luật đất đai năm 1993, Chính phủ và các bộ đã có nhiều Nghị định vàThông tư hướng dẫn sửa đổi chính sách đất đai nhằm đảm bảo điều chỉnhquan hệ đất đai phù hợp với quyền tự chủ của hộ nông dân trong cơ chế thịtrường.[54]

b) Cơ sở lý luận về chính sách đất nông nghiệp

* Khái niệm về chính sách và chính sách đất nông nghiệp:

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì chính sách được hiểu là nhữngchuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.[13]

Theo TS.Lê Chi Mai, chính sách là chương trình, hành động do các nhàlãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vithẩm quyền của họ.[13]

Chính sách là một khái niệm phức tạp, bao hàm trong nó cả giác độ lýluận, cả giác độ hành động thực tế, cả giác độ kinh tế, cả giác độ khoa học –

kỹ thuật, cả giác độ xã hội… Do đó, tùy theo mục đích xem xét của các nhànghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách mà chính sách được xác địnhkhác nhau

Như vậy, chính sách đất nông nghiệp là tổng thể các quan điểm, chủtrương, đường lối, phương pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động

Trang 22

lĩnh vực đất nông nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu mà Nhà nước mong

Từ một nền nông nghiệp tự nhiên, tự cung tự cấp chuyển sang nền kinh

tế hàng hóa để hòa nhập vào nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhànước, chính sách nông nghiệp nông thôn có ảnh hưởng mạnh mẽ nhằm tạođiều kiện và tiền đề cho việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng đacanh chuyên môn hóa và ứng dụng ngày càng rộng rãi tiến bộ khoa học kỹthuật, hướng nền nông nghiệp phát triển đạt đến trình độ năng suất lao độngcao, không chỉ đủ nuôi sống dân cư nông thôn mà còn có dư thừa nông sảnbản đảm tiêu dùng cho toàn xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp và xuấtkhẩu.[14]

Chính sách nông nghiệp, nông thôn tạo điều kiện cho sự phát triển sảnxuất hàng hóa, phát triển các thành phần kinh tế và xây dựng nông thôn mới,góp phần cải thiện đời sống của bộ phận dân cư nông thôn.[14]

*Nội dung của chính sách đất nông nghiệp:

Chính sách đất nông nghiệp bao hàm trong nó chủ định của Nhà nước,mục tiêu của Nhà nước mong muốn đạt tới trong lĩnh vực đất đai nói riêng,nông nghiệp nói chung, bối cảnh cụ thể của các quan hệ đất đai hiện có cũngnhư hệ quan điểm lý thuyết mà Nhà nước tin tưởng Chính vì thế chính sáchđất nông nghiệp của các quốc gia khác nhau thì khác nhau, cũng như yêu cầuthực tế của các giai đoạn lịch sử khác nhau cũng đòi hỏi các nội dung củachính sách đất nông nghiệp khác nhau Một số nội dung của chính sách đấtnông nghiệp như sau:

- Xác lập và bảo hộ chế độ sở hữu đất đai nông nghiệp;

Trang 23

- Chương trình điều tiết của Nhà nước đối với việc sử dụng đất nôngnghiệp và thị trường đất nông nghiệp hướng đến công bằng và hiệu quả;

- Nhà nước tạo môi trường thể chế hướng tới khuyến khích nông dân sửdụng đất hiệu quả và công bằng;

- Sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm tạo dựng nền nông nghiệp hiện đại,hiệu quả và bảo vệ môi trường;

- Xác lập chế độ quản lý thường xuyên của Nhà nước đối với đất đainói chung và đất nông nghiệp nói riêng

Nhìn chung, chính sách đất nông nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ đếnchính sách tài chính và lập trường, thái độ của Nhà nước đối với nông dân,nhất là nông dân nghèo Chính vì thế, nhiều nhà nghiên cứu chính sáchkhuyến nghị các chính phủ nên đặt chính sách đất nông nghiệp trong tổng thểphát triển kinh tế - xã hội mới có thể giải quyết có kết quả các nội dung vàvấn đề của chính sách đất nông nghiệp.[13]

c) Vai trò của chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam

Ở Việt Nam vai trò của chính sách đất nông nghiệp rất quan trọng vìcho đến nay nông thôn Việt Nam vẫn là nơi sinh sống của hơn 70% dân sốViệt Nam và nông nghiệp vẫn là ngành cung cấp tỷ trọng khá lớn trong GDP

- Nhà nước tham gia khuyến khích nông nghiệp phát triển hiệu quả;

- Tạo môi trường thể chế cho kinh doanh nông nghiệp hướng tới tăngtrưởng và hiệu quả;

- Thiết lập sự công bằng có thể trong phân phối và sử dụng đất nôngnghiệp

Ngoài ra, việc hoạch định và thực hiện tốt chính sách đất nông nghiệpcòn giúp Nhà nước thực thi được các chính sách phát triển kinh tế khác nhưchính sách công nghiệp hóa đất nước, chính sách xóa đói, giảm nghèo, chínhsách phát triển nông thôn hiện đại… Thông qua việc quy hoạch và bảo vệ quỹ

Trang 24

đất nông nghiệp, cũng như nhờ khuyến khích nông dân sử dụng đất hiệu quả,Nhà nước có thể chuyển một phần đất này làm nhà ở và xây dựng các cơ sởkinh tế phi nông nghiệp Ngoài ra, chính sách đất nông nghiệp đúng đắn còngóp phần bản vệ môi trường, gìn giữ vốn rừng và tạo cảnh quan sống có chất

để thực hiện vấn đề công bằng xã hội Tuy nhiên, do yêu cầu của quá trình đôthị hóa nông thôn, đất nông nghiệp ngày một giảm đi, cộng thêm đó là tìnhtrạng gia tăng dân số nhanh chóng ở khu vực nông thôn làm cho diện tích đấtnông nghiệp bình quân trên một đầu người ngày càng giảm xuống Đó là mộtthách thức mà mọi chính phủ phải đứng đầu khi đưa ra chính sách đất đai

Trong bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, đất đaikhông chỉ là yếu tố cơ bản hàng đầu của sản xuất nông nghiệp nói chung màcòn là nơi đặt chân của tất cả các loại doanh nghiệp, không chỉ là tư liệu sảnxuất mà còn là vốn của doanh nghiệp và được chuyển dịch theo cơ chế thịtrường

Nhận thức được vai trò của đất đai đối với nông nghiệp, ngay từ đầuĐảng ta đã chủ trương thực hiện “người cày có ruộng” và trong từng thời kỳphát triển kinh tế xã hội của đất nước, Đảng ta đã có những chủ trương cụ thểnhằm hoàn thiện chính sách đất đai

Chính sác đất nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới 1981 đến nay:

* Chính sách khoán sản phẩm tới hộ nông dân trong các hợp tác xãnông nghiệp

Trang 25

Hội nghị lần thứ VI của Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 9 –

1979 đã đưa ra chủ trương nới lỏng quản lý trong các hợp tác xã nông nghiệp,cho phép xã viên mượn đất để sản xuất, thừa nhận kinh tế hộ gia đình xã viênnhư là một bộ phận của kinh tế xã hội chủ nghĩa Chính sách đất nông nghiệpcủa Hội nghị lần thứ VI này, cùng với chủ trương tự do hóa một phần nông sảnhàng hóa đã thổi luống sinh lực mới, tuy còn yếu ớt cho các hộ gia đình nôngdân Sau một thời gian ngắn sản xuất của các hộ gia đình đã phát triển rất tốt,góp phần khá lớn trong cải thiện năng suất đất và đời sống của nông dân

Ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100 về Cảitiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm” đến nhóm lao động và ngườilao động” trong hợp tác xã nông nghiệp Chủ trương đổi mới bắt đầu bằngviệc trao quyền quản lý và sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ xã viên hợptác xã theo cơ chế khoán sản phẩm trên cơ sở khoán sử dụng đất nông nghiệpmột số vụ sản xuất tiến tới khoán sử dụng đất nhiều vụ

Chỉ thị số 38 – CT/TW ngày 18/1/1984 về phát triển kinh tế gia đìnhnông dân, trong đó cho phép gia đình hộ nông dân tận dụng mọi nguồn đất đai

mà hợp tác xã nông nghiệp và nông, lâm trường quốc doanh chưa sử dụng đểđưa vào sản xuất, không đánh thuế kinh doanh đối với kinh tế hộ gia đình, hộnông dân được tiêu thụ sản phẩm làm ra

Chỉ thị số 29 – CT/TW ngày 21/11/1983 và chỉ thị số 56 – CT/TWngày 29/1/1985 về giao đất, giao rừng cho hộ nông dân, trong đó nêu rõ nôngdân được quyền thừa kế tài sản trên đất trồng rừng và cây công nghiệp dàingày

Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 – NQ/TW ngày 5/4/1988 về đổi mớiquản lý kinh tế nông nghiệp (được gọi là khoán 10) Theo cơ chế khoán 10,diện tích ruộng đất được giao ổn định đến hộ xã viên trong khoảng 15 năm,sản lượng khoán ổn định trong 5 năm và bảo đảm cho các hộ xã viên nhận đấtkhoán được hưởng khoảng trên, dưới 40% sản lượng khoán

Trang 26

Tiếp theo khoán 10, Đảng và Nhà nước ta đề ra chính sách giao quyền

sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân Theo chính sách này người sống bằngnghề nông đã được giao ruộng đất, có các quyền sử dụng lâu dài và đượchưởng các lợi ích chính đáng từ ruộng

* Quan hệ giữa Nhà nước và nông dân trong lĩnh vực sở hữu và sửdụng đất đai theo tinh thần đổi mới từ năm 1993

Luật đất đai 1993 là bước tiếp đổi mới quan trọng trong hệ thống cácchính sách quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta Luật đất đai năm 1993

đã lần đầu tiên đưa ra nguyên tắc tách quyền sở hữu toàn dân về đất đai doNhà nước đại diện với quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình

và cá nhân người nông dân Trên cơ sở phân định đó, Luật đất đai năm 1993

đã phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của nông dân, của Nhà nước trongquan hệ với đất nông nghiệp

Sau 10 năm thực hiện với nhiều lần chỉnh lý, Luật đất đai năm 1993 đãđược sửa đổi căn bản vào năm 2003, trong đó phân định rõ hơn quyền vànghĩa vụ của cả Nhà nước và nông dân sử dụng đất nông nghiệp Về quyền vànghĩa vụ của Nhà nước, Luật đất đai năm 2003 xác định khá chi tiết trongnhiều lĩnh vực: Nhà nước thống nhất quản lý đất đai trong cả nước; Nhà nước

có trách nhiệm lập, quản lý hồ sơ địa giới hành chính và các loại bản đồ vềđất đai; xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chothuê, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất; cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất; xác định giá đất

Ngoài ra, Luật Đất đai năm 2003 cũng cụ thể hóa hơn Luật đất đai năm

1993 về các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa

kế, tặng, cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bão lãnh, góp vốn bằngquyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Nghĩa vụ của người sử dụng đất cũng được làm rõ hơn trên các mặt: sửdụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đăng ký quyền sử dụng đất,

Trang 27

giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn sửdụng đất…

* Chính sách giao đất nông nghiệp theo tinh thần Luật đất đai của Đảng

và Nhà nước ta từ năm 1993 đến nay

Luật đất đai năm 1993 quy định đất đai thuộc sỡ hữu toàn dân, do Nhànước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, hộ giađình và cá nhân sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồngthủy sản và làm muối theo phương thức không phải trả tiền Luật cũng quyđịnh thời gian giao đất được ổn định trong 50 năm với đất trồng cây lâu năm

và 20 năm với đất nông nghiệp còn lại Hết thời hạn giao đất nông dân có thểđược gia hạn sử dụng tiếp nếu có nhu cầu và chấp hành tốt các quy định quản

lý đất đai khác của Nhà nước

Luật Đất đai 1993 cũng quy định hạn mức giao đất tới 3ha áp dụng cho

16 tỉnh, thành phố ở miền Nam, hạn mức 2 ha đối với các tỉnh, thành phốkhác

So với Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 có những điểmmới về chế độ giao đất nông nghiệp như: đất nông nghiệp được xác định rõhơn, gồm đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân, sử dụng được Nhà nướcgiao, cho thuê,…;ngoài phần giao cho hộ gia đình, còn có quy định giao chocộng đồng dân cư sử dụng để bảo tồn bản sắc dân tộc, gắn với phong tục tậpquán của các dân tộc thiểu số…

* Chính sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai sửa đổi năm 1998 và Luật đất đaimới 2003 đều quy định chế độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nôngnghiệp được giao cho các hộ, cá nhân sử dụng theo tinh thần: tất cả những hộgia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng dân

cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài có quyền sử dụng đất đều được Nhànước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trong điều kiện đặc thù của

Trang 28

Việt Nam, việc hoàn thành công việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtcho nông dân có ý nghĩa như một cuộc cải cách ruộng đất lần thứ hai, do việccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đem lại cho người sử dụng đất sựthừa nhận và bảo hộ của Nhà nước đối với lợi ích của họ có từ sử dụng đấtđai, giúp họ giảm chi phí bảo vệ đất, tăng sự tự tin khi đầu tư vào đất.

* Chính sách tích tụ và tập trung ruộng đất nông nghiệp

Nét chung của Luật đất đai năm 1993 cũng như các luật sửa đổi sau này

là mới chú trọng đến vấn đề giao đất và tạo cơ sở pháp lý cho nông dân sửdụng đất để kinh doanh nông nghiệp mà chưa chú trọng đúng mức đến việctích tụ, tập trung đất cho sản xuất nông nghiệp theo quy mô hiệu quả Do diệntích đất nông nghiệp của nước ta nhỏ, cách giao đất lại theo kiểu bình quân,

có tốt, có xấu, có gần, có xa dẫn đến tình trạng đất nông nghiệp được phânchia rất manh mún Tình trạng các hộ chỉ có 0,2 ha – 0,3 ha đất canh tác nằmrải rác ở nhiều xứ đồng rất phổ biến, nhất là ở miền Bắc Các quy định củaLuật là cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện bước đầu cho tích tụ ruộng đất,nhưng chưa khắc phục tình trạng manh mún, nhỏ lẻ đó Do đó, “dồn điền đổithửa” được coi là một trong những việc cần thiết của chính sách đất nôngnghiệp của Nhà nước ta trong vài năm trở lại đây

Năm 2000, Nhà nước đã ban hành Quyết định 132/2000/QD-CP về một

số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn Chính sách này

đã khuyến khích một bộ phận lao động nông nghiệp chuyển sang lĩnh vực phinông nghiệp, nhờ đó có thể tích tụ ruộng đất vào các hộ gia đình khác

Một trong những khả năng tích tụ ruộng đất khác mà gần đây Nhà nước

ta khuyến khích là chuyển nhượng ruộng đất của một bộ phận nông dânkhông có khả năng kinh doanh nông nghiệp hiệu quả cho những hộ có khảnăng về đầu tư, kỹ thuật sản xuất và lao động Hành vi chuyển nhượng này cóthể diễn ra đối với những hộ nông dân ở các vùng ven đô, vùng đang đô thịhóa, xung quanh các làng nghề hoặc các khu công nghiệp nhờ đã chuyển sang

Trang 29

làm dịch vụ, buôn bán hoặc làm ở các doanh nghiệp Tuy nhiên, trường hợpchuyển nhượng này vẫn vấp phải vấn đề tâm lý lo ngại “mất ruộng” Vì vậy,trên thực tế chuyển nhượng của nhóm hộ, cá nhân này vẫn chỉ mang tính tạmthời.

* Chính sách giá đất của Nhà nước

Điều 12, Luật đất đai năm 1993 quy định: “Nhà nước xác định giá cácloại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc chothuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồiđất Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng và theo từngthời gian”

Đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp, tại khoản 1, Thông tư 94/TT/LBquy định: “hạng đất để xác định giá đất áp dụng theo hạng đất tính thuế sửdụng đất nông nghiệp ở địa phương được cấp có thẩm quyền phê chuẩn theoquy định của Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp”

Nghị định 87/CP (khoản 1, Điều 2) ngày 17/8/1994 đã xác định khunggiá cho từng hạng đất, đối với từng loại cây để phục vụ cho việc tính thuế sửdụng đất nông nghiệp cho các vùng đồng bằng, trung du, miền núi

Đổi mới quan trọng thứ hai trong chính sách quản lý giá đất đai là đấtđược tham gia thị trường bất động sản Điểm này được quy định tại Điều 61,Luật đất đai năm 2003 Theo Luật đất đai năm 2003, quyền sử dụng đất có hailoại giá: giá Nhà nước và giá thị trường Nhà nước quy định giá quyền sửdụng đất nông nghiệp trong các trường hợp: giá quyền sử dụng khi giao đấthoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất nông nghiệp; giá thị trường do người sửdụng đất thỏa thuận với những người có liên quan khi thực hiện các quyềnchuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằngquyền sử dụng đất

* Chính sách bồi thường khi thu hồi đất

Trang 30

Nhà nước giữ quyền thu hồi đất nông nghiệp khi tổ chức sử dụng đấtgiải thể hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; khi người sử dụng đất bị chết

mà không có người thừa kế; khi người sử dụng đất không làm đủ nghĩa vụ vớiNhà nước hoặc không sử dụng đất đúng mục đích Ngoài ra, khi thật cần thiết,Nhà nước có thể thu hồi đất nông nghiệp của người sử dụng để sử dụng vàomục đích khác, nhưng Nhà nước sẽ phải đền bù thiệt hại cho người đang sửdụng đó cũng như việc thu hồi phải đúng thẩm quyền (cơ quan nào giao, cơquan đó có quyền thu hồi), đúng quy hoạch, trước khi thu hồi phải báo chongười đang sử dụng biết về mục đích, thời gian, kế hoạch, phương án thu hồi

và đền bù thiệt hại

Những năm gần đây khi đất nông nghiệp ngày càng có giá, nhất là đấtnông nghiệp vùng ven đô thị thì việc thu hồi đất gặp khá nhiều khó khăn.Nhằm tạo cơ sở pháp lý tháo gỡ những khó khăn này, Luật Đất đai năm 2003

đã quy định rõ ràng hơn chế độ thu hồi đất

Điều 42, Luật đất đai 2003 quy định đất bị thu hồi thuộc loại đất nào thìđược bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng loại đất đó tại thời điểm có quyếtđịnh thu hồi

* Chính sách thuế đất nông nghiệp

Nhà nước sử dụng thuế để điều chỉnh các quan hệ đất nông nghiệp theohai chiều: khuyến khích và hạn chế

Nhà nước thu từ đất nông nghiệp các khoản: tiền sử dụng đất, tiền thuêđất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất và một số lệphí quản lý đất đai

Xét tổng thể, chính sách thuế đất nông nghiệp của nước ta chưa hoànchỉnh, biểu hiện là mới thu thuế thu nhập khi chuyển quyền sử dụng đất, chưa

có thuế giá trị gia tăng của đất không do chủ sử dụng đất đem lại

Năm 1993, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phêchuẩn Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, theo đó đã chuyển thuế nông

Trang 31

nghiệp thu theo sản lượng thóc hàng năm thành thuế sử dụng đất nông nghiệp.Theo Luật này, thuế sử dụng đất nông nghiệp được tính theo hạng đất, đối vớitất cả các loại đất trồng cây hàng năm và cây lâu năm, được áp dụng cho 6hạng đất đối với đất trồng cây hàng năm và 5 hạng đất đối với đất trồng câylâu năm.

Thuế tính bằng thóc, thu bằng tiền và chỉ thu đối với các cây vụ chính ởcác địa phương Chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta khôngchỉ góp phần nâng cao tính trách nhiệm, sự gắn bó của người sử dụng đất màcòn góp phần tăng ngân thu nhà nước

Ngoài ra, để khuyến khích nông dân khai hoang phục hóa, Nhà nước cóchính sách miễn giảm thuế có thời hạn đối với đất khai hoang, phục hóa, đất ởvùng cao, miền núi, vùng sâu, vùng xa; giảm thuế, miễn thuế do thiên tai,miễn giảm thuế cho đồng bào dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách.[13]

Trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường mở cửa thì Nhànước ta cũng có những chính sách về phát triển nông nghiệp như:

- Nghị định 64/ND – CP 1996 của Chính phủ về việc giao đất cho hộgia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nôngnghiệp

- Quyết định 391/QD- TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 18/4 yêu cầu

rà soát, kiểm tra đất đai trên toàn quốc Trong đó, chú trọng việc quản lý chặtchẽ đất nông nghiệp nói chung, đất trồng lúa nước nói riêng

- Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn số66/2006/CT – BNN ngày 25/8/2006 về việc tăng cường công tác quản lý,nâng cao chất lượng nông, lâm sản, vật tư nông nghiệp và đảm bảo vệ sinh, antoàn thực phẩm

- Quyết định số 394/QD – TTg ngày 13/3/2006 của Thủ tướng Chínhphủ về khuyến khích đầu tư xây dựng mới, mở rộng cơ sở giết mổ, bảo quảnchế biến gia súc, gia cầm và cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp

Trang 32

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X về nông nghiệp,nông dân, nông thôn.

- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 25/2008/CT – TTg ngày25/08/2008 về việc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng

2.2.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững

2.2.3.1 Sử dụng đất bền vững

Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thànhchiến lược quan trọng có tính toàn cầu Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồntại và phát triển của nhân loại.[18]

Khái niệm bền vững được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trongnước nêu ra hướng vào 3 yêu cầu:

- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thịtrường chấp nhận;

- Bền vững về môi trường: Loại sử dụng đất phải bảo vệ được đất đai,ngăn chặn sự thoái hóa đất, bảo vệ được môi trường tự nhiên;

- Bền vững về xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội.

[5]

Điều hòa giữa áp lực tăng dân số và tăng trưởng về kinh tế nhằm đápứng yêu cầu sử dụng đất bền vững Quản lý hệ thống nông nghiệp nhằm đảmbảo có sản phẩm tối đa về lâu dài, đồng thời duy trì độ phì nhiêu đất Bảo đảmphát triển tài nguyên rừng nhằm thỏa mãn nhu cầu về thương mại, chất đốt,xây dựng và dân dụng mà không làm mất đi nguồn nước và thoái hóa đất Sửdụng đất trên cơ sở quy hoạch bảo đảm lợi ích trước mắt cũng như lâu dài củangười sử dụng đất và cộng đồng.[18]

Theo Smyth và Dumanski [58] xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến

sử dụng đất bền vững:

- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất);

- Giảm mức rủi ro đối với sản xuất (an toàn);

Trang 33

- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên chống lại sự thoáihóa đối với chất lượng đất và nước (bảo vệ);

- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi);

- Được sự chấp nhận của xã hội (sự chấp nhận)

2.2.3.2 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Từ xa xưa ta đã thấy được tầm quan trọng của tài nguyên đất nói chung

và đất nông nghiệp nói riêng, nhưng do tiến trình công nghiệp hóa – hiện đạihóa đất nước mà đất nông nghiệp ngày càng có xu hướng giảm do chuyểnsang mục đích phi nông nghiệp Vì thế, sử dụng đất nông nghiệp ở nước tavới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở bảo đảm an ninhlương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và xuấtkhẩu Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cânnhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế sosánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường lànhững nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụngbền vững tài nguyên đất đai Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theonguyên tắc “đầy đủ và hợp lý” Mặt khác, phải có những quan điểm đúng đắntheo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sởthực hiện sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế xã hội cao

2.2.3.3 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp: về kinh tế, đảm bảođược hiệu quả cao và lâu bền; về xã hội, không tạo khoảng cách lớn giữa giàunghèo, không làm bần cùng hóa nông dân và gây ra những tệ nạn xã hộinghiêm trọng; về tài nguyên môi trường, không làm cạn kiệt tài nguyên,không làm suy thoái và hủy hoại môi trường; về văn hóa, quan tâm đến việc

bảo tồn và phát huy bản sắc nền văn hóa dân tộc (2)[15]

Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư.[56]

Trang 34

Fetry [57] cho rằng phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệpchính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật không bị suy thoái,

kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội

Theo tổ chức nông lương thế giới, FAO (1989, 1991), hệ thống nôngnghiệp bền vững là hệ thống quản lý thành công các nguồn lợi phục vụ chosản xuất nông nghiệp, để thõa mãn những nhu cầu của con người, trong khiduy trì hoặc nâng cao chất lượng môi trường và bảo vệ các nguồn lợi thiênnhiên Hệ thống đó bao gồm sự quản lý, bảo vệ các nguồn lợi thiên nhiên mộtcách hợp lý nhất và phải có phương hướng thay đổi công nghệ và thể chế đểđảm bảo duy trì và thõa mãn liên tục những nhu cầu của con người ở hiện tại

và trong tương lai Sự phát triển như vậy phải gắn liền với việc bảo vệ đất,nước, các nguồn gen cây trồng, vật nuôi và đảm bảo lợi ích kinh tế và sự chấpnhận xã hội.[33]

Eckert và Breitchuh (1994) cho rằng, nông nghiệp bền vững là sự quản

lý và sử dụng hệ sinh thái nông nghiệp bằng cách duy trì tính đa dạng sinhhọc, năng suất, khả năng tái sinh và hoạt động của nó, để nó có thể hoànthành những chức năng kinh tế, xã hội và sinh thái ở hiện tại và trong tươnglai trên phạm vi địa phương, quốc gia và toàn cầu, mà không làm tổn hại đến

Trang 35

- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh vềkhoa học, kỹ thuật, đất đai, lao động, để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉsuất hàng hóa cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất xuất khẩu [11]

- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “đadạng hóa” hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hóacây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái bảo

vệ môi trường.[11]

- Trên quan điểm phát triển hệ thống, thực hiện sử dụng đất nôngnghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hóa, sản xuất hàng hóa theo hướngngành hàng, nhóm sảm phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục.[26]

- Nâng cao hiệu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền

với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.[46]

- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch

cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và quá trình tích tụ ruộng đất.[49]

Quan điểm sử dụng và nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác ởngoại thành:

- Đảm bảo khai thác triệt để quỹ đất vào sản xuất nông nghiệp hàng hóavới chất lượng và hiệu quả cao;

- Đảm bảo khai thác tối đa lợi thế so sánh, các tiềm năng bằng việc kếthợp chuyên môn hóa với đa dạng hóa sản xuất;

- Thực hiện tăng vụ và tăng cường thâm canh một cách hợp lý;

- Gắn sử dụng đất canh tác với phát triển nông nghiệp đa dạng và dịch

vụ du lịch cận đô thị;

- Đảm bảo cho sự phát triển nông nghiệp sinh thái và bền vững.[11]2.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

2.3.1 Lý thuyết về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại [49] Khi

đánh giá hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà

Trang 36

còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sảnphẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dungđánh giá của hiệu quả.

Ngày nay nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bảnchất hiệu quả sử dụng phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và nhữngnhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xét trên

3 khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường.[11]

Sử dụng đất nông nghiêp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấucây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hếtcác nước trên thế giới [27]

Hiệu quả kinh tế: Theo các nhà khoa học kinh tế Samuel – Norhuas:

“Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xétđến chi phí cơ hội “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sốlượng một loại hàng hóa này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hóakhác”

Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nềnsản xuất hàng hóa và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vìthế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:

- Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thờigian”;

- Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệthống;

- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của cáchoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ lợiích của con người.[11]

Hiệu quả kinh tế là tiêu chí được quan tâm hàng đầu, là khâu trung tâm

để đạt được các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hóabằng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính.[46]

Trang 37

Hiệu quả xã hội: Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất

sâu sắc [7] Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [30] hiệu quả về mặt xã hội sử

dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trênmột đơn vị diện tích đất nông nghiệp

Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm

đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội như: giảiquyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn

Hiệu quả môi trường: Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh

do tác động của hóa học, sinh học, lý học…, chịu ảnh hưởng tổng hợp của các

yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi

trường là vấn đề đang được cả nhân loại quan tâm

*Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:

Tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đápứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên,

sự ổn định lâu dài của hiệu quả.[11]

Tiêu chuẩn đánh giá được xem xét trên các mặt:

- Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hóa chi phí các yếu tố đầu vào vàtheo nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định vàcác yếu tố đầu vào khác

- Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt đượccác mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suấtcây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thõa mãn nhucầu nông sản cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêucầu bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên 1đơn vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất được những kết quả cao nhấtvới chi phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng ít nhất tới môi trường

Ngày đăng: 19/02/2014, 13:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Mạnh, Dương Ngọc Trí, Phát triển nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở vùng trung du miền núi phía bắc Việt. Nxb Nông nghiệp. Năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở vùng trung du miền núi phía bắc Việt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp. Năm 1996
2. Vũ Anh Hùng, Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình. Luận văn thạc sĩ. Năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyệnHoa Lư tỉnh Ninh Bình
3. Vũ Thị Ngọc Trân, Phát triển kinh tế nông hộ sản xuất hàng hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng. Nxb Nông nghiệp. Năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế nông hộ sản xuất hàng hóa ởvùng đồng bằng sông Hồng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp. Năm 1997
4. Trần Ngọc Ngoạn, Nguyễn Hữu Hồng, Đặng Văn Minh. G.trình Hệ thống nông nghiệp. Nxb Nông nghiệp. Năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: G.trình Hệthống nông nghiệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp. Năm 1999
5. Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, G.trình Đánh giá đất. Nxb Nông nghiệp. Năm 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: G.trình Đánh giá đất
Nhà XB: Nxb Nôngnghiệp. Năm 1998
6. Lờ Xuõn Cao, ô Đỏnh giỏ hiệu quả sử dụng đất nụng nghiệp và đề xuất một số biện pháp sử dụng đất thích hợp ở nông trường quốc doanh sao vàng thanh húa ằ. Luận văn thạc sĩ. Năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỏnh giỏ hiệu quả sử dụng đất nụng nghiệp và đềxuất một số biện pháp sử dụng đất thích hợp ở nông trường quốc doanh saovàng thanh húa ằ
7. Đường Hồng Dật, Lịch sử nông nghiệp Việt Nam, Nxb Nông nghiệp.Năm 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nông nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp.Năm 1994
8. Trần An Phong, Báo cáo khoa học hội thảo lần thứ nhất quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội. Năm 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học hội thảo lần thứ nhất quy hoạchtổng thể kinh tế - xã hội
9. Nguyễn Xuân Quát, Sử dụng đất tổng hợp và bền vững. Nxb Nông nghiệp. Năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đất tổng hợp và bền vững. Nxb Nôngnghiệp
Nhà XB: Nxb Nôngnghiệp". Năm 1996
11. Đỗ Văn Viện, Vũ Thị Phương Thụy, Nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trong điều kiện đô thị hóa ở ngoại thành hà nội. Kỷ yếu hội thảo khoa học năm 1999. Nxb Nông nghiệp. Năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả kinh tế sửdụng đất canh tác trong điều kiện đô thị hóa ở ngoại thành hà nội
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp. Năm 2000
12. Phạm Văn Khôi, Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội. Nxb Nông nghiệp. Năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp ngoại thành Hà Nội
Nhà XB: NxbNông nghiệp. Năm 2004
13. Trần Thị Minh Châu, Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay. Nxb Chính trị quốc gia. Năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiệnnay
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. Năm 2007
18. Sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững, http : www.tapchicongsan.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững
19. Thế Nghĩa, Tình hình bón phân mất cân đối và thiếu hụt kali cho cây trồng ở châu Á hiện nay, Asia Fab 1999, Trung tâm KHKT hóa chất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bón phân mất cân đối và thiếu hụt kali chocây trồng ở châu Á hiện nay
20. Nguyễn Thị Kim Anh, Phạm Thị Mỹ Dung, ô Một số đỏnh giỏ về sử dụng đất vườn đồi của Thành Phố Thỏi Nguyờn ằ, Kỷ yếu hội thảo khoa học – Thái Nguyên 17-18/12/1999, Nxb Nông Nghiệp, năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đỏnh giỏ vềsử dụng đất vườn đồi của Thành Phố Thỏi Nguyờn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
26. Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh (2001), ô Định hướng và tổ chức phỏt triển nền nụng nghiệp hàng húa ằ, Tạp chớ nghiờn cứu kinh tế, (273), trang 21 – 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng và tổ chứcphỏt triển nền nụng nghiệp hàng húa
Tác giả: Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh
Năm: 2001
27. Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự (2001), Nghiên cứu và xây dựng quy trình công nghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất thông qua chuyển đổi cơ cấu cây trồng, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và xây dựngquy trình công nghệ đánh giá hiệu quả sử dụng đất thông qua chuyển đổi cơcấu cây trồng
Tác giả: Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự
Năm: 2001
28.Lê Huệ, Quy hoạch sử đụng đất nông nghiệp còn nhiều bất cập(11/10/2008), http : www.nhadattphcm.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử đụng đất nông nghiệp còn nhiều bấtcập(11/10/2008)
29. Bựi Văn Ten (2000), ô Chỉ tiờu đỏnh giỏ hiệu quả kinh tế sản xuất, kinh doanh của cỏc doanh nghiệp nụng nghiệp Nhà nước ằ, Tạp chớ nụng nghiệp và phát triển nông thôn, (4), trang 187 -188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ tiờu đỏnh giỏ hiệu quả kinh tế sản xuất,kinh doanh của cỏc doanh nghiệp nụng nghiệp Nhà nước
Tác giả: Bựi Văn Ten
Năm: 2000
30. Nguyễn Duy Tính (1995), Nghiên cứu hệ thống cây trồng vùng ĐBSH và Bắc Trung Bộ, Nxb NN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hệ thống cây trồng vùngĐBSH và Bắc Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Duy Tính
Nhà XB: Nxb NN
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tài nguyờn đất của cỏc khu vực trờn thế giới - đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện đan phượng – thành phố hà nội
Bảng 2.1. Tài nguyờn đất của cỏc khu vực trờn thế giới (Trang 5)
Bảng 2.2. Lượng đất mặt mất đi hàng năm do xúi mũn - đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện đan phượng – thành phố hà nội
Bảng 2.2. Lượng đất mặt mất đi hàng năm do xúi mũn (Trang 7)
Bảng 3.1: Cỏc loại đất của huyện Đan Phượng - đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện đan phượng – thành phố hà nội
Bảng 3.1 Cỏc loại đất của huyện Đan Phượng (Trang 52)
Bảng 3.5: Tỡnh hỡnh chăn nuụi trong giai đoạn 2003-2008 - đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện đan phượng – thành phố hà nội
Bảng 3.5 Tỡnh hỡnh chăn nuụi trong giai đoạn 2003-2008 (Trang 60)
Bảng 3.6: Dõn số và tốc độ tăng dõn số giai đoạn 2003-2008 - đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện đan phượng – thành phố hà nội
Bảng 3.6 Dõn số và tốc độ tăng dõn số giai đoạn 2003-2008 (Trang 62)
Bảng 3.7. Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 - đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện đan phượng – thành phố hà nội
Bảng 3.7. Hiện trạng sử dụng đất năm 2008 (Trang 66)
Bảng 3.8. Hiện trạng sử dụng đất NN năm 2008 huyện Đan Phượng - đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện đan phượng – thành phố hà nội
Bảng 3.8. Hiện trạng sử dụng đất NN năm 2008 huyện Đan Phượng (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w