1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cơ sở pháp lý và thực tiễn kí kết, thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị tại công ty gạch ốp lát hà nội

82 663 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở pháp lý và thực tiễn ký kết, thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị tại công ty gạch ốp lát hà nội
Người hướng dẫn Nguyễn Hợp Toàn, Nguyễn Hữu Mạnh
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 450 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tế trên, sau một thời gian thực tập tại công ty gạch ốp lát Hà Nội, qua tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nói chung và lĩnh vực nhập khẩu t

Trang 1

Mục lục

Mở Đầu

Chương I : Cơ Sở Pháp Lý Hợp ĐồngXuất Nhập

Khẩu Tại Việt Nam

I Hoạt Động Xuất Nhập Khẩu Tại Việt Nam.

II Hợp Đồng Xuất Nhập Khẩu.

III Hợp Đồng Xuất Nhập Khẩu Theo Quy Định Của Công Ước

Viên và Pháp Luật Việt Nam.

IV. Quản Lý Nhà Nước Đối Với Hoạt Động Xuất Nhập Khẩu

Chương II : Thực Tiễn Ký Kết Và Thực Hiện Hợp Đồng Nhập Khẩu Thiễt Bị Tại Công Ty gạch ốp Lát Hà Nội.

I Khái Quát Về Công Ty Gạch ốp Lát Hà Nội.

II Thực Tiễn Ký Kết Thực Hiện Tại Công Ty Gạch ốp Lát Hà

Nội.

ChươngIII : Đánh giá KIến Nghị Góp Phần Nâng Cao Hiệu Quả Của Việc Ký Kết Và THực Hiện Hợp Đồng NHập Thiết Bị Tậi Công Ty gạch ốp Lát Hà Nội.

I Đánh Giá Về Pháp Luật Kinh Doanh Xuất Nhập Khẩu của

Việt Nam.

II Đánh Giá Về Hoạt Động Ký Kết Thực Hiện Hợp Đồng

Nhập Khẩu Thiết Bị Tại Công Ty Gạch Ốp Lát Hà Nội

III Kiến Nghị Đối Với Việc Ký Kết Và Thực Hiện Hợp Đồng

Nhập Khẩu Tại Việt Nam .

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 2

Kể từ khi Đảng và nhà nước thực hiện chủ trương chính sách xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh quan hệ thương mại với các nước Nền kinh tế nước ta đã có chuyển biến tích cực, vượt qua những khó khăn, thử thách để ổn định và tạo đà cho sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội.

Cùng với trào lưu phát triển của đất nước, công ty gạch ốp lát Hà Nội trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng kể Với ngành nghề đăng kí kinh doanh là sản xuất gạch ốp và lát nền tráng men cao cấp, công ty đã cung cấp cho thị trường những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã và hìng thức phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Sản phẩm của công ty đã và đang đứng vững trên thị trường trong nước cũng như quốc tế Để có được kết quả đó , hoạt động nhập khẩu thiết bị, nhập khẩu dây chuyền sản xuất gạch men hiện đại góp phần không nhỏ Trong quá trình nhập khẩu thiết bị cũng như các hoạt động mua bán ngoại thương khác, công ty gạch ốp lát Hà Nội đều phải tiến hành đàm phán, kí kết và thực hiện hợp đồng Đó là một khía cạnh pháp lí quan trọng của hoạt độnh xuất nhập khẩu

Xuất phát từ thực tế trên, sau một thời gian thực tập tại công ty gạch ốp lát

Hà Nội, qua tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nói chung và lĩnh vực nhập khẩu thiết bị nói riêng, nhằm góp phầnlàm rõ thực tiễn kí kết

và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị, em chọn đề tài :

‘‘ Cơ sở pháp lý và thực tiễn kí kết, thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết

bị tại công ty Gạch ốp lát Hà Nội ’’.

Với mục đích của đề tài là :

Nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định pháp lý của việc kí kết và thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu nói chung và hợp đồng nhập khẩu thiết bị nói riêng

Tìm hiểu thực tiễn kí kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị tại công ty Gạch ốp lát Hà Nội

Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn thực hiện hợp đồng tại doanh nghiệp để rút

ra những kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của việc kí kết và thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị tại công ty Gạch ốp lát Hà Nội

Trang 3

Đối tượng nghiên cứu của đề tài :

Đó là những vấn đề pháp lý cơ bản trong việc đàm phán, kí kết và thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu nói chung, hợp đồng nhập khẩu thiết bị tại công ty Gạch

ốp lát Hà Nội nói riêng

Phương pháp nghiên cứu :

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu biện chứng và lịch sử, gắn lí luận với thực tiễn đặc biệt là phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh

Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Hợp Toàn, thầy Nguyễn Hữu Mạnh, các thầy cô giáo trong bộ môn Luật, trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội cùng các cán bộ phòng kế hoạch sản xuất, phòng hành chính – Công ty Gạch ốp lát

Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành đề tài này

Trang 4

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ PHÁP LÝ HỢP ĐỒNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI

VIỆT NAM

I-Hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam:

Hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động buôn bán của một quốc gia này với các quốc gia khác, là việc trao đổi dưới hình thức mua bán hàng hoá và dịch vụ kèm theo như bảo hành, sửa chữa, lắp ráp máy móc thiết bị Hoạt động xuất nhập khẩu tạo ra sự lưu thông hàng hoá giữa thị; bảo hiểm hàng hoá, thanh toán quốc tế, vận chuyển hàng hoá trường trong nước với thị trường nước ngoài, là cầu nối giữa thị trường các nước với nhau

Với Việt Nam, nhiệm vụ của xuất nhập khẩu là góp phần thực hiện đường lối ,xây dựng nền kinh tế theo đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.Sự phát triển của quan hệ này trong những năm qua đã thúc đấỵ phát triển của đất nước, cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại khác của đất nước như dịch vụ tín dụng quốc tế, thông tin liên lạc, bảo hiểmvà đặc biệt có liên quan tới sự mở rộng hợp tác quốc tế về sản xuất khoa học công nghệ

1 Hoạt động xuất nhập khẩu trước 1986.

Năm 1975 nước ta hoàn toàn giải phóng , cả nước bước vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Được sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nhgiã cùng nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân chúng ta đã khắc phục được hậu quả chiến tranh và nền kinh tế dần dần đựơc phục hồi Trong những năm đó hoạt động xuất nhập khẩu thu được kết quả như sau:

Trang 5

Bảng 1: Kết quả hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1985.

1975-Đơn vị : Triệu Rup-USD

Năm Xuất khẩu Nhập khẩu Chênh lệch

và thiết bị cần thiết cho công nghiệp hàng tiêu dùng ,công nghiệp địa phương, bảo đảm một phần nhu cầu nhập khẩu cho nền kinh tế

Với chủ trương đó từ 1981-1985 kim ngạch xuất nhậo khẩu đã tăng lên đáng

kể nhưng nhập siêu vẫn lớn Từ 1983-1985 nước ta tiến hành mở rộng hợp tác hợp doanh, gia công xuất khẩu với nước ngoài ,phát triển du lịch, vận tải đường biển cùng các dịch vụ khác có liên quan để tăng nguồn thu ngoại tệ Trung ương tiến hành quản lý ngoại hối, chính sách hối đoái và vận tải xuất nhập khẩu

Từ 1975-1985 tuy hoạt động xuất nhập khẩu đã được chú trọng ,Đảng và Nhà nước có những chủ trương chính sách nâng cao hiệu quả kinh tế từ hoạt động xuất

Trang 6

nhập khẩu nhưng kết quả thực sự chưa cao Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như Việt Nam mới giải phóng bạn hàng chủ yếu là các nước xã hội chủ nghĩa,

cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã dẫn tới sự trì trệ trong sản xuất các ngành hàng xuất khẩu chưa đáp ứng được yêu cầu của các nước nhập khẩu, việc nhập khẩu chủ yếu từ các nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức nửa hỗ trợ nửa bán nên hiệu qủa của việc nhập khẩu chưa cao,các chính sách về xuất nhập khẩu còn nhiều mặt chưa hợp lý

2.Hoạt động xuất nhập khẩu từ 1986- 2000:

Sau đại hội lần thứ VI tháng 12/1986 của Đảng, cùng với sự chuyển đổi cơ chế từ tập trug quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường là chính sách mở cửa nền kinh tế để hội nhập với nền kinh tế thế giới Chính sách đó đã tạo nên bộ mặt mới cho nền kinh tế Việt Nam, tạo ra những chuyển biến tích cực trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, Liên Xô sụp đổ nhưng các hoạt động kinh tế đối ngoại đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu của ta vẫn được giữ vững

Chính sách của Đảng và Nhà nước ta là :Mở rộng đa dạng hoá đa phương hoá thị trường Hoạt động theo phương thức mở cửa, từng bước gắn kết nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, thị trường trong nước với thị trường nước ngoài trên nguyên tắc bảo đảm độc lập chủ quyền dân tộc an ninh quốc gia, bảo đảm đôi bên cùng có lợi, phát huy lợi thế so sánh từng nước từng địa phương từng khu vực

Với các doanh nghiệp được mở rộng quyền tiếp xúc với thế giới bên ngoài, được tiến hành các hoạt động xuất nhập khẩu phù hợp với đăng ký kinh doanh Xoá

bỏ cơ chế tập trung bao cấp vầ chuyển hoạt động thương mại quốc tế sang hạch toán độc lập ,Nhà nước quản lý hoạt động xuất nhập khẩu ở tầm vĩ mô với chính sách thống nhất từ trung ương đến địa phương

Chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Thị trường được

mở rộng sang các nước như Nhật Bản, Hồng Kông, các nước Châu Âu, ASEAN, với nhiều bạn hàng mới Kết quả hoạt động xuất nhập khẩu Đạt được như sau:

Trang 7

Bảng 2 : kết quả hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam Giai đoạn 1990-

Chênh lệch

- Hàng công nghiệp nặng ,khoáng sản

- Hàng nông lâm thuỷ sản

- Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp

Nguyên nhân chính của sự hạn chế trong xuất khẩu là chất lượng hàng xuất khẩu thấp và không ổn định, thiếu sức cạnh tranh do hàm lượng khoa học thấp Hàng của ta chưa có chỗ đứng trên thị trường thế giới, xuất khẩu thường phải qua trung gian nên gặp rất nhiều khó khăn Để tăng kim ngạch xuất khẩu trong thời gian tới ta cần thay đổi cơ cấu hàng xuất, nâng cao chất lượng hàng hoá đáp ứng đòi hỏi của thị trường thế giới

Nhập khẩu đã tăng cả về qui mô và nhịp độ nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế,chưa bảo đảm mục tiêu kinh kế xã hội đặc biệt là nhu cầu về máy

Hàng tiêu dùng chiếm 15%

- Tư liệu sản xuất chiếm 85% trong đó :

- Nguyên nhiên vật liệu chiếm 40-45%

- Thiết bị toàn bộ 25%

- Phương tiện vận tải,dịch vụ phụ tùng và máy lẻ 10-20%

Nhập khẩu tư liệu sản xuất góp phần tác động tích cực đến việc phát triển sản xuất trong nước Tuy nhiên khâu nhập khẩu cũng còn những tồn tại như nhập khẩu

Trang 8

còn mất cân đối ,có nhiều lãng phí, máy móc nhập về chưa baỏ đảm nguyên tắc nhập thiết bị hiện đại, sản phẩm tạo ra chưa có sức cạnh tranh ở ngay thị trường trong nước Để không rơi vào tình trạng tụt hậu kỹ thuật so với các nước trong khu vực và nâng cao hiệu quả của hoạt động nhập khẩu Nhà nước cần đưa ra những qui định pháp lý để quản lý hoạt động này

3 Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu:

Xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế Nó không phải là một hoạt động buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển lâu dài mà thiếu sự phát triển của hoạt động này Đối với Việt Nam thì hoạt động này có tầm quan trọng chiến lược phục vụ cho quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân Hoạt động nhập khẩu tác động trực tiếp và quyết định đến quá trình sản xuất

và đời sống nhân dân Nhập khẩu tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho sản xuất, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá,hắc phục những mặt mất cân đối của nền kinh tế, khai thác tối đa tiềm năng của đất nước, bảo đảm sản xuất ổn định, tạo công ăn việc làm cho nền kinh

tế ,cải thiện nâng ca đời sống nhân dân Nhập khẩu góp phần nâng cao chất lượng sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Việt Nam

Xuất khẩu có vai trò tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu ,cùng hoạt động nhập khẩu tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang hướng đối ngoại, tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân Hoạt động xuất khẩu là cơ sở để mở rộng, thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta

Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên hoạt động xuất nhập khẩu cũng dễ đem lại những hậu quả nguy hại lớn nếu ta không biết khống chế quản lý tốt Nhập khẩu nếu tràn lan sẽ bóp chết những ngành sản xuất trong nước, biến nước ta thành bãi thải công nghiệp Khi nhập khẩu những máy móc lạc hậu của nước ngoài, gây lãng phí nguồn ngoại tệ còn đang khan hiếm Xuất khẩu nếu không kiểm soát sẽ tạo ra

Trang 9

tình trạng khai thác làm cạn kiệt tài nguyên, thất thu ngoại tệ, mất cân đối giữa các ngành sản xuất.

II- Hợp đồng xuất nhập khẩu :

1 Khái niệm ,đặc điểm hợp đồng xuất nhập

a,Khái niệm:

Trong thời đại ngày nay mua bán giữa các quốc gia trở thành trở thành mục tiêu hàng đầu trong bang giao quốc tế Đây là một tất yếu khách quan do sự phát triển không đồng đều giữa các quốc gia Cơ sở pháp lý của quan hệ mua bán này là hợp đồng xuất nhập khẩu Hợp đồng xuất nhập khẩu trước hết là hợp đồng mua bán nói chung nên nó mang những đặc tính của hợp đồng mua bán Ngoài ra hợp đồng này còn có những đặc tính riêng của nó

Thuật ngữ ” hợp đồng mua bán “ được hiểu là sự thoả thuận về việc chuyển quyền sở hữu đối với hàng hoá từ người bán sang người mua và người mua thực hiện nghĩa vụ đã cam kết với người bán Thuật ngữ này giúp chúng ta phân biệt hợp đồng mua bán với các loại hợp đồng khác như hợp đồng cho thuê, hợp đồng vận tải ,hợp đồng bảo hiểm Trong các hợp đồng đó không có sự chuyển quyền sở hữu hàng hoá mà chỉ có sự chuyển quyền sử dụng các hàng hoá, dịch vụ trong hợp đồng Các yếu tố cơ bản để lập nên hợp đồng một cách hợp lệ là:

Hợp đồng được hình thành trên cơ sở thoả thuận của các bên Thoả thuận này có thể bằng miệng hoặc văn bản Hợp đồng lập nên không trên cơ sở thoả thuận sẽ không có hiệu lực

Chủ thể của hợp đồng phải là người có năng lực ký kết hợp đồng Người có năng lực ký kết hợp đồng do pháp luật qui định Theo qui định của pháp luật Việt Nam

Đối tượng hàng hoá trong hợp đồng phải là đối tượng xác thực Điều này có nghĩa là đối tượng đố phải được chỉ định rõ rệt, có thể thực hiện được và hợp pháp Xét về khía cạnh pháp lý, hợp đồng mua bán là một loại hợp đồng song vụ, hợp đồng ước hẹn, hợp đồng dịch chuyển quỳên sở hữu

Trang 10

Ngoài những đặc trưng chung của hợp đồng mua bán như trên hợp đồng xuất nhập khẩu còn có đặc tính riêng là có yếu tố nước ngoài

Yếu tố nước ngoài của hợp đồng xuất nhập khẩu được xác định trên cơ sở chủ thể ký kết hợp đồng, đối tượng của hợp đồng hoặc có thể kết hợp cả chủ thể và đối tượng của hợp đồng Điều này tuỳ thuộc vào quan điểm luật pháp của từng nước

Theo quan điểm của các nước có nền kinh tế thị trường: yếu tố nước ngoài là

cơ sở kinh doanh của người bán, người mua ở các nước khác nhau Quốc tịch không phải là cơ sở phân biệt yếu tố nước ngoài của hợp đồng xuất nhập khẩu vì:

Khi người bán ,người mua thực hiện hành vi mua bán trên một quốc gia thì họ phải tuân thủ mọi qui định luật pháp của quốc gia đó dù cho họ có cùng hoặc khác quốc tịch và như vậy hợp đồng không mang tính quốc tế

Khi cá nhân ,tổ chức nước ngoài thành lập một pháp nhân trên lãnh thổ của một quốc gia nào bắt buộc họ phải tuân theo pháp luật của quốc gia đó và hợp đồng mà

họ ký kết với cá nhân tổ chức khác trên quốc gia đó không có yếu tố nước ngoài

Theo công ước Lahaye 1964 về mua bán quốc tế những bất động sản hữu hình

tại điều 1 có qui định như sau:”Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hoá trong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở những nước khác, hàng hoá được di chuyển từ nước này sang nước khác hoặc việc trao đổi ý chí ký kết hợp đồng giữa các bên ký kết được thiết lập ở các nước khác nhau

Yếu tố nước ngoài sẽ được xác lập căn cứ vào cả hai yếu tố là chủ thể ký kết hợp đồng và đối tượng của hợp đồng Về chủ thể ký kết hợp đồng là các bên có trụ

sở thương mại ở các nước khác nhau Về đối tượng là hàng hoá có sự chuyển dịch

từ nước này sang nước khác hoặc có thể dựa vào chào hàng và chấp nhận chào hàng được thiết lập ở các nước khác nhau

Theo công ước viên 1980 của liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế tại điều 1có qui định: “ áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hoá

được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại đặt tại những nước khác nhau ”

Tính chất quốc tế ở đây chỉ là các bên có trụ sở thương mại đặt tại những nước khác nhau, vấn đề quốc tịch không được xét tới khi xác địng tính chất quốc tế này Quan điểm trên rất đơn giản, rõ ràng khi xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng xuất nhập khẩu Hơn nữa nó loại trừ khó khăn do sự khác biệt giữa các quan điểm

Trang 11

trong luật pháp mỗi quốc gia, giảm bớt trở ngại khi thiết lập hợp đồng Hiện nay mọi quốc gia đều mong muốn thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc tế nên rất cần và đang cố gắng đi tới thống nhất một quan điểm chung về chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ đó tạo ra thuận lợi và nâng cao hiệu quả hoạt động này.

Công ước Viên cho đến nay đã có trên 50 quốc gia ký kết, tham gia hoặc tuyên

bố thừa nhận Điều này thể hiện tính thông dụng hiệu quả của công ước Viên trong việc ký kết, thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu

Theo quan điểm của Việt Nam:

Khái niệm hợp đồng xuất nhập khẩu có những thay đổi nhất định theo từng thời

kỳ, tuỳ thuộc vào cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ đó

Trong qui chế tạm thời của Bộ thương mại số 4794/TN-XNK ngày 31/07/1991 qui định điều kiện để một hợp đồng mua bán là hợp đồng xuất nhập khẩu khi hội tụ

đủ những điều kiện sau :

- Chủ thể của hợp đồng là những bên có quốc tịch khác nhau

- Hàng hoá được di chhuyển từ nước này sang nước khác

- Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng phải là ngoại tệ đối với một hoặc hai bên

ký kết

Quan điểm trên đã được thừa nhận trong thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trước khi ban hànhLuật thương mại Qua thực tiễn áp dụng quan điểm trên tồn tại những bất hợp lý không phù hợp với thương mại quốc tế hiện nay Điều này được thể hiện qua những điểm sau

Thứ nhất: trong phạm vi nước ta có rất nhiều cá nhân tổ chức đến Việt Nam và

tiến hành kinh doanh hình thức như doanh nghiệp liên doanh, công ty có100%vốn nước ngoài, các hợp đồng hợp tác kinh doanh Trong những trường hợp đó mặc dù không có quốc tịch Việt Nam song mọi hoạt động của họ hoàn toàn phải tuân thủ theo qui định của pháp luật Việt Nam; cá nhân, pháp nhân khác ở Việt Nam kí kết hợp đồng với các chủ thể trên thì hợp đồng đó chỉ có thể là hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng dân sự chứ không thể là hợp đồng xuất nhập khẩu

Thứ hai: việc hàng hoá chuyển qua biên giới cũng chỉ là tương đối Không

phải mọi hợp đồng xuất nhập khẩu đều có hàng hoá chuyển dịch từ nước này sang nước khác như khi cá nhân, pháp nhân ở Việt Nam mua hàng từ khu chế xuất Mặc

Trang 12

dù hàng đó không chuyển qua biên giới song trong qui định khu của khu chế xuất thì đó là hợp đồng xuất nhập khẩu.

Trong phạm vi quốc gia, qui định trên đã tồn tại những điểm không phù hợp

Để khắc phục những điểm không phù hợp trong qui chế đó Quốc Hội ban hành Luật thương mại Việt Nam (10/5/1997) Tại điều 80-Luật thương mại qui định: ”Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết gữa một bên là thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài “

+ Nội dung của hợp đồng bao gồm quyền và nghĩa vụ mỗi bên phát sinh từ việc chuyển quyền sở hữu hàng hoá từ người bán sang người mua ở các nước khác nhau

+ Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng phải là ngoại tệ đối với ít nhất một bên trong quan hệ hợp đồng

2- Vai trò của hợp đồng xuất nhập khẩu trong nền kinh tế thị trường

Trong thời đại ngày nay việc mua bán giữa các quốc gia trở thành mục tiêu hàng đầu trong quan hệ quốc tế Hợp đồng xuất nhập khẩu là công cụ pháp lý trung tâm để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, bảo đảm cho hoạt động xuất nhập khẩu được thực hiện Trong hoạt động kinh tế đối ngoại hợp đồng xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với các doanh nghiệp các cơ quan nhà nước mà còn quan trọng đối với cả nền kinh tế

a Vai trò của hợp đồng xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp:

Trang 13

Với doanh nghiệp, hợp đồng xuất nhập khẩu là cơ sở để kiểm tra và thực hiẹn

kế hoạch xuất nhập khẩu của đơn vị

Trước năm 1986 mọi hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế đều được thực hiện theo kế hoạch do nhà nước đặt ra Kế hoạch này không xuất phát từ thực

tế của từng doanh nghiệp nên việc lấy hợp đồng xuất nhập khẩu làm cơ sở để thực hiện và kiểm tra kế hoạch nhập khẩu của đợn vị chỉ là hình thức

Trong cơ chế kinh tế hiện nay, mọi cá nhân tổ chức được quyền cgủ động trong sản xuất kinh doanh và được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp Hàng năm, trên cơ sở thực tế của đơn vị mình các doanh nghiệp lập ra kế hoạch xuất nhập khẩu trongnăm

và kế hoạch này được thực hiện thông qua các hợp đồng xuất nhập khẩu đã ký kết

Vì vậy, hợp đồng xuất nhập khẩu là cơ sở để thực hiện và kiểm tra kế hoạch xuất nhập khẩu từng doanh nghiệp

b Vai trò của hợp đồng xuất nhập khẩu đối với cơ quan Nhà nước quản lý hoạt động xuất nhập khẩu:

Trong cơ chế quản lý kinh tế mới, Nhà nước trao quyền tự chủ kinh doanh cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Các doanh nghiệp này được phép xuất nhập khẩu hàng hoá theo đúng ngành nghề đã đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Các doang nghiệp tự do xác lập hợp đồng xuất nhập khẩu trong khuân khổ pháp luật Nhà nước quản lý hoạt động xuất nhập khẩu ở tầm vĩ mô, không can thiệp vào hoạt động cụ thể của từng đơn vị kinh tế Để kiểm tra hoạt động xuất nhập khẩu, các cơ quan quản lý chỉ cần quản lý chặt chẽ các hợp đồng nhập khẩu thực hiện trong năm Hàng năm Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục về hàng xuất nhập khẩu, hàng xuất nhập khẩu có hạn nghạch, có giấy phép; trên cở sở

đó Bộ thương mại trực tiếpcấp giấy phép hàngxuất nhập khẩu trực tiếp cho doanh nghiệp Thông qua việc thực hiện hợp đồng, Tổng cục hải quan tổng hợp số liệu cung cấp do Bộ thượng mại và các cơ quan quản lý để theo dõi và quản lý Như vậy, hợp đồng xuất nhập khẩu trở thành công cụ để Nhà nước quản lý hoạt động xuất nhập khẩu trong nền kinh tế Với biện pháp quản lý đó các cơ quan quản lý vẫn

Trang 14

kiểm tra theo dõi chặt chẽ hoạt động xuất nhập khẩu của từng doanh nghiệp và vẫn bảo đảm quyền tự chủ của các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

c Đối với nền kinh tế:

Hoạt động xuất nhập khẩu có tầm quan trọng chiến lược phục vụ cho quá trình phát triển nền kinh tế quốc gia, là cầu nối giữa thị trường trong nước với thị trường quốc tế Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng của đất nước Các hoạt động này được thực hiện thông qua các hợp đồng xuất nhập khẩu Để thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu lại phụ thuộc vào khả năng của nền kinh tế như việc cung cấp nguồn hàng cho xuất khẩu, tiêu thụ hàng cho nhập khẩu, các tổ chức liên quan tạo điều kiện cho hợp đồng được thực hiện như hệ thống ngân hàng, bảo hiểm, vận chuyển, các cơ quan tài phán chứ không chỉ phụ thuộc vào bản thân mỗi doanh nghiệp Như vậy quan hệ giữa hợp đồng xuất nhập khẩu với nền kinh tế là mối quan hệ giữa bộ phận với tổng thể có tác động qua lại lẫn nhau để cùng phát triển Việc thực hiện hợp đồng sẽ mang lại lợi ích không chỉ cho các bên tham gia thực hiện hợp đồng mà còn mang lại lợi ích chung cho nền kinh tế Khi có ngày càng nhiều những hợp đồng xuất nhập khẩu được thực hiện thì hệ thống các cơ quan dịch vụ trong nền kinh tế cũng phát triển theo như ngân hàng, các tổ chức tín dụng, tổ chức giám định hàng hoá, bảo hiểm

Hợp đồng xuất nhập khẩu đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích các bên với lợi ích chung của nền kinh tế

3.Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng:

Hoạt động xuất nhập khẩu không phải là một hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống mua bán phức tạp Các bên khi ký kết hợp đồng khó có thể dự liệu được mọi trường hợp xảy ra trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng Để bổ sung cho những trường hợp đó các bên phải lựa chọn nguồn luật áp dụng cho hợp đồng Nguồn luật này đặc biệt quan trọng khi xảy ra mẫu thuẫn tranh chấp trong quá trìng thực hiện hợp đồng, nó làm cơ sở để cơ quan tài phán giải quyết các tranh chấp

đó Khi lựa chọn nguồn luật các bên ký kết hợp đồng phải tìm hiểu, nghiên cứu để lựa chọn nguồn luật phù hợp nhất với hoạt động của mình

Trang 15

Theo nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế trong hoạt động mua bán quốc tế các bên được tự do thoả thuận , lựa chọn nguồn luật điều chỉnh hợp đồng Nguồn luật đó có thể là điều ước quốc tế , tập quán thương mại quốc tế, luật quốc gia và các tiền lệ pháp trong thương mại.

a Điều ước quốc tế:

Điều ước quốc tế là một danh từ chung chỉ các văn kiện pháp lý ghi nhận sự thoả thuận giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các chủ thể khác của luật quốc

tế Có rất nhiều điều ước quốc tế để điều chỉnh các lĩnh vực khác nhau trong quan hệ quốc tế Khi ký kết hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu các bên có thể lựa chọn điều ước quốc tế trong lĩnh vực thương mại quốc tế có lên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh để làm nguồn luật điều chỉnh cho hợp đồng đó Có thể chia điều ước thương mại quốc tế làm hai loại sau:

Thứ nhất: Điều ước quy định những nguyên tắc chung mang tímh chỉ đạo dối

với hành vi thương mại như hiệp định của GATT/WTO quy định về quy chế tối huệ quốc, quy chế đãi ngộ quốc gia

Thứ hai: là các điều ước quốc tế quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các

bên trong quan hệ thương mại quốc tế Điển hình cho loại điều ước này là Công ước Viên 1980 của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Trong công ước quy định thủ tục ký kết quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng, trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Các điều ước thương mại quốc tế được áp dụng cho hoạt động của thương nhan một quốc gia nếu Chính Phủ quốc gia đó đã tham gia ký kết phê chuẩn hoặc dẫn chiếu tới điều ước đó Điều ước quốc tế chưa được quốc giá ký kết công nhận thì các bên cũng có thể lựa chọn bằng cách dẫn chiếu trực tiếp vào hợp đồng của mình

Theo pháp luật Việt Nam tại điều 11.6 Pháp lệnh ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (ngày 17/10/1989) và điều 51 luật phá sản doanh nghiệp (ngày 30/12/1993) có 2 phương thức áp dụng điều ướcthương mại quốc tế như sau:

Thứ nhất: Đối với điều ước quốc tế về thương mại mà Nhà nước ta đã tham

gia ký kết, phê chuẩn thì áp dụng điều ước quốc tế

Trang 16

Thứ hai: Đối với các điều ước quốc tế mà Nhà nước ta chưa tham gia hoặc

chưa công nhận thì các bên chỉ có thể áp dụng các điều khoản không trái với pháp luật Việt Nam và có quyền bảo lưu không áp dụng những quy định nào trái với pháp luật Việt Nam

Trong xu thế thương mại quốc tế hiện nay các quốc gia đều có xu hướng chọn những điều ước quốc tế làm luật áp dụng cho các hợp đồng mua bán quốc tế của mình để tạo ra một sự hiểu biết thống nhất và giải quyết hiệu quả các vấn đề phát sinh trong hợp đồng, tiết kiệm thời gian chi phí và bảo đảm quyền lợi ích của các bên tham gia

Nước ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới nên rất cần tham gia vào các điều ước quốc tế lớn như Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của ta với thương nhân nước ngoài

b Tập quán thương mại quốc tế:

Tập quán thương mại quốc tế là một trong những nguồn luật để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Tập quán thương mại quốc tế là những thói quen thương mại phổ biến được áp dụng thường xuyên trên phạm vi toàn cầu hoặc từng địa phương

Tập quán thương mại quốc tế được chia làm ba nhóm sau:

+Các tập quán có tính nguyên tắc: Đó là tập quán cơ bản, bao trùm được hình thành trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, bình đẳng giữa các dân tộc Ví dụ như tập quán ”luật quốc tịch “quy định pháp nhân thuộc quốc tịch nước nào thì địa vị pháp lý của pháp nhân do luật nước đó quy định

+ Các tập quán thương mại quốc tế: Đó là các tập quán được nhiều nơi, nhiều khu vực công nhận và áp dụng Ví dụ như Incoterms, UCP

+ Các tập quán thương mại khu vực (địa phương): Đó là các tập quán chỉ được

áp dụng ở từng nước từng địa phương và chúng có nhiều khác biệt

Giống như điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế cũng chỉ được áp dụng trong hợp đồng mua bán quốc tế khi các bên ký kết lựa chọn, các điều ước quốc tế có liên quan quy định hoặc luật quốc gia không quy định, quy định không

Trang 17

đầy đủ các chế định cần thiết để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế.

Khi lựa chọn các tập quán thương mại quốc tế các bên ký kết hợp đồng phải ghi rõ trong hợp đồng loai tập quán nào và giá trị pháp lý của tập quán đó Trên thực

tế có quy định khác nhau về giá trị pháp lý của tập quán trong luật của các quốc gia

ở các nước XHCN tập quán thương mại quốc tế trở thành nguồn luật áp dụng cho hợp đồng khi tập quán được chỉ rõ thành nguồn luật điều chỉnh hợp đồng có ghi trong văn kiện luật quốc gia hoặc được chọn cụ thể trong hợp đồng Ơ các nước kinh

tế thị trường phát triển, tập quán thương mại quốc tế được coi là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng được áp dụng như một quy phạm pháp luật

Trong số những tập quán thương mại quốc tế thì Incoterms do phòng thương mại quốc tế biên soạn và ban hành có vai trò quan trọng đối với thương mại quốc tế Incoterms là công cụ trợ giúp cho các thương nhân tiến hành các hoạt động thương mại quốc tế Khi sử dụng Incoterms cần chú ý những điểm sau:

Incoterms không có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể hợp đồng mua bán quốc tế mà nó chỉ có giá trị bổ sung cho hợp đồng, nó chỉ được áp dụng khi có sự lựa chọn cụ thể của các bên trong hợp đồng

Incoterms từ khi ban hành đến nay đã sửa đổi nhiều lần, lần đầu tiên ban hành năm 1936, các lần tiếp theo là năm 1953, 1967,1976,1980,1990.2000 Vĩ vậy khi lựa chọn phải ghi rõ là theo Incoterms nào

Incoterms không phải là cơ sở pháp lý điều chính mọi hoạt động mua bán hàng hoá giữa các bên mà chỉ giải quyết bốn vấn đề sau:

- Xác định người mua cước phí chuyên chở

- Xác định người làm thủ tục hải quan

- Xác định người mua bảo hiểm

- Xác định thời điểm chuyển rủi ro từ người bán sang người mua

Khi sử dụng Incoterms các bên có quyền lựa chọn bất kỳ điều kiện giao hàng nào trong Incoterms Trong Incoterms các điều kiện thương mại cần được sử dụng ở tất cả các ngành buôn bán và tất cả các vùng nên không thể quy định một cách chính xác tất cả các nghĩa vụ của 2 bên Vì vậy khi đàm phán ký kết hợp đồng các bên có

Trang 18

thể đưa ra những điều khoản thích hợp trong hợp đồng và điều khoản đó có giá trị hơn mọi giải thích trong Incoterms.

2 Luật quốc gia:

Cộng đồng các nhà buôn bán quốc tế đã tạo ra đời sống pháp lý riêng biệt cho công cuộc kinh doanh của họ với một quy chế biệp lập đã được hình thành và được mọi người chấp nhận Mặc dầu vậy, tính độc lập này không hoàn toàn vì mọi hoạt động buôn bán đó còn liên quan tới lợi ích pháp lý và lợi ích kinh tế của mỗi quốc gia, phải đảm bảo thực hiện đúng các chính sách kinh tế của Nhà nước Trong thực tiễn thương mại quốc tế bên cạnh điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế, luật quốc gia đóng vai trò quan trọng và trong nhiều trường hợp là nguồn luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng

Luật quốc gia điều chỉnh hợp đồng có thể là luật của nước người bán, luật nước ngươì mua, luật của nước thứ ba, luật nơi ký hợp đồng, luật quốc tịch, luật nơi thự hiện hợp đồng Luật quốc gia chỉ trở thành nguồn luật áp dụng cho hợp đồng khi: Các bên ký kết hợp đồng thoả thuận trong điều khoản luật áp dụng của hợp đồng về việc chọn luật của một quốc gia cụ thể nào đó

Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán quốc tế được quy định trong điều ước quốc tế liên quan

Việc lựa chọn luật quốc gia áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là một vấn đề phức tạp Các bên ký kết khi lựa chọn luật quốc gia nào thì có sự nghiên cứa, tìm hiểu kỹ để đảm bảo quyền lợi của mình tránh những thiệt thòi do thiếu hiểu biết gây ra KHi lựa chọn luật quốc gia phải ghi rõ trong hợp đồng để tránh tình trạng khó xác định luật khi điều chỉnh quan hệ trong hợp đồng

Nước ta đang trong quá trình hoàn chỉnh hệ thống luật Các cơ quan quản lý tiếp tục sửa đổi bổ sung và ban hành các văn bản pháp quy tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam Một số văn bản liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu như sau:

Hiến pháp 1992 là văn bản pháp lý cao nhất trong hệ thống luật quốc gia

Trang 19

Bộ luật dân sự 1995 đây là bộ luật gốc trong pháp luật Việt NAm Trong bộ luật dân sự quy định năng lực pháp luật, năng lực hành vi của cá nhân, tư cách pháp nhân của doanh nghiệp.

- Luật thương mại 1997

- Luật sửa đổi luật thuế xuất nhập khẩu 1998

- Các văn bản dưới luật khác như:

Nghị định số 57/1998/NĐ - CP( 31/7/1998)quy định chi tiết thi hành luật thương mại về họat động xuất nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài

Nghị định số 15/1999/NĐ - CP ( 27/3/1999) quy định về hải quan giám sát và

Ơ Việt Nam tiền lệ pháp không được thừa nhận là các nguồn luật điều chỉnh hợp đồng Tuy nhiên do thiếu một số qui phạm pháp luật trong các văn bản luật và dưới luật việc xét xử tranh chấp về kinh tế thương mại thường dựa vào thông tư hướng dẫn của toà án tối cao , làm cơ sở giải quyết tranh chấp

Xu thế công nhận và sử dụng các phán quyết của toà án ,cũng như vai trò tích cực của tiền lệ pháp trong thương mại quốc tế đang gia tăng tại các nước có hệ thống luật khác nhau Khi thực hiện giao dịch buôn bán với thương nhân nước ngoài , các thương nhân Việt Nam cần nhận thức được vai trò của tiền lệ pháp ,

Trang 20

trong trường hợp cơ quan xét xử hoặc bên nước ngoài có thể vận dụng án lệ thì cần phải tìm hiểu , xem xét và chấp nhận án lệ đó trên tinh thần pháp luật

III Hợp đồng suất nhập khẩu theo quy định của Công ước viên 1980 và theo pháp luật Việt Nam.

1 Nguyên tắc kí kết hợp đồng

Để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của các bên tham gia hợp đồng, việc

kí kết hợp đồng xuất nhập khẩu phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện bình đẳng

về quyền và nghĩa vụ, cùng có lợi, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình và không trái pháp luật Hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện Tự nguyện chính

là sự tự do thoả thuận dựa trên các ý kiến của các bên trong hợp đồng Các bên có quyền tự do lựa chọn thời điểm giao kết hợp đồng Mọi sự tác động làm mất tính tự nguyện của các bên trong quá trình đàm phán, kí kết như cưỡng bức, lừa đảo,áp đặt

ý chí của mình cho bạn hàng đều dẫn tới kết quả hợp đồng không phát sinh hiệu lực

Quan hệ hợp đồng chỉ được thiết lập khi có sự bình đẳng về quyền và nghĩa

vụ của mỗi bên Trên cơ sở thoả thuận hai bên sẽ đi đến thống nhất về quyền và nghĩa vụ của mình

Hợp đồng xác lập khi hai bên cùng có lợi Khi kí kết hợp đồng các bên phải

tự mình chịu trách nhiệm về tài sản, phạt hợp đồng, bồi thường thiệt hại,

Cũng như các loại hợp đồng khác,việc xác lập hợp đồng xuất nhập khẩu phải phù hợp với qui định của pháp luật Các nội dung trong hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật Các bên không được lợi dụng quyền tự do ký kết hợp đồng để thực hiện những hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại cho xã hội và các chủ thể khác của nền kinh tế

2 Ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu

a.Phương thức ký kết

Trong thương mại quốc tế hiện nay có 2 phương thức để ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu là phương pháp ký kết trực tiếp và phương pháp ký kết gián tiếp

Trang 21

+ Phương pháp ký kết trực tiếp là phương pháp hai bên trực tiếp gặp nhau để trực tiếp đàm phán, thương lượng thoả thuận các điều khoản trong hợp đồng

Trên thực tế phương pháp này được sử dụng khi các bên mới xác định quan

hệ bạn hàng với nhau, hoặc các hợp đồng có giá trị lớn và quá trình thực hiện phức tạp

+ Phương pháp kí kết gián tiếp hiện nay rất hay được sử dụng trong thương mại quốc tế vì các bên có vị trí địa lý khác nhau và hiện nay khoa học phát triển các phương tiện liên lạc đa dạng, phong phú ,có thể truyền tin nhanh và rất thuận tiện Theo phương thức này các bên sẽ gửi tài liệu giao dịch cho nhau theo hai bước

Bước 1: Một bên gửi chào hàng tới bên đối tác Theo Công ước Viên chào

hàng “đề nghị về việc ký kết hợp đồng được gửi đích danh cho một hoặc một vài người “, chào hàng đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hoá ,ấn định số lượng và giá cả một cách trực tiếp, gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định thể thức đó Theo pháp luật Việt Nam chào hàng phải đưa ra những điều khoản chủ yếu của hợp đồng

Như vậy các chủ thể khi tiến hành ký kết hợp đồng có thể sử dụng phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp như trên

b Hình thức hợp đồng

Hầu hết các nước theo hệ thống luật án lệ chấp nhận nguyên tắc tự do kí kết hợp đồng Một nguyên tắc được coi là căn bản trong luật hợp đồng Theo nguyên tắc này sự thoả hiệp ý trí của các đương sự đủ tạo hợp đồng, hình thức văn bản không phải là một điều kiện tất yếu cho việc kết lập hợp đồng Quan điểm này về phương

Trang 22

diện đạo đức phù hợp với chữ tín trong kinh doanh: đã cam kết thì phải tôn trọng , không thể từ chối thi hành bằng cách là viện lẽ sự cam kết đó không được lập thành văn bản Nhờ đó trên thực tế loại bỏ được các trường hợp hợp đồng vô hiệu về hình thức

Trong thương mại quốc tế hiện nay đa số các hợp đồng mua bán đều lập thành văn bản Hình thức văn bản của hợp đồng là một yếu tố cần thiết vì nhịp độ thương mại quốc tế buộc họ phải kí kết một cách nhanh chóng nhất nên có thể sử dụng qua điện thoại, điện tín, Fax song sự nhanh chóng có nhược điểm không để lại dấu tích, hơn nữa quan hệ thương mại quốc tế rất phức tạp, vượt ra ngoài phạm vi quốc gia Như vậy hình thức văn bản đảm bảo chắc chắn cho những thoả thuận trong hợp đồng được thực hiện

Theo Công ước Viên 1980 chấp nhận một giải pháp thoáng về hợp đồng Hợp đồng không cần phải thiết lập hoặc ghi nhận bằng văn bản và không bị chi phối bởi một điều kiện hình thức nào khác Nó có thể chứng minh bằng mọi cách kể cả nhân chứng

Hình thức của hợp đồng có sự khác nhau theo quan điểm luật pháp của mỗi quốc gia và nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng Tuy nhiên Việt Nam chưa tham gia Công ước Viên 1980 vì vậy khi thương nhân Việt Nam thực hiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá với nước ngoài, cần phải tuân thủ theo pháp luật Việt Nam hợp đồng phải lập thành văn bản

c Chủ thể của hợp đồng

Chủ thể hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là các thương nhân Thương nhân là các bên tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế để hưởng quyền và thực hiện những nghĩa vụ nhất định

Theo luật thương mại Pháp , thương nhân là những người thực hiện những hành vi thương mại và đó là nghề nghiệp thường xuyêncủa họ

Theo luật thương mại Hoa Kì thương nhân chủ thể tiến hành các hoạt động thương mại

Theo luật thương mại Việt Nam thì thương nhân có thể là các cá nhân, pháp nhân,tổ hợp tác hộ gia đình có đăng kí kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên

Trang 23

Trong thương mại quốc tế thương nhân gồm có hai nhóm chính là cá nhân và các công ty thương mại

+ Cá nhân muốn trở thành thương nhân phải thoả mãn những điều kiện nhất định

Mỗi nước có quy định khác nhau song điều kiện chung là cá nhân phải có năng lực pháp luật, năng lực hành vi và thực hiện các giao dịch thương mại thường xuyên

Theo luật thương mại Việt Nam quy định cá nhân đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có yêu cầu hoạt động thương mại , đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

+ Các công ty thương mại :

Các công ty thương mại là chủ thể quan trọng trong hoạt động thương mại

Ơ các nước tư bản các công ty thương mại được chia làm hai nhóm công ty đối nhân và công ty đối vốn

Các công ty đối nhân có sự liên kết dựa trên sự tin cậy giữa các cá nhân thành lập công ty và sự góp vốn là thứ yếu Các công ty này không phải là pháp nhân

Các công ty đối vốn được hình thành trên cơ sở góp vốn của các thành viên

Ơ Việt Nam có các loại hình doanh nghiệp cụ thể sau: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh, công ty hợp danh Trong luật thương mại thương nhân là các pháp nhân, nên không bao gồm công ty hợp danh Trong nghị định 57/1998/NĐ-CP của chính phủ ban hành 31/7/98 quy định Thương nhân là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập theo các quy định của pháp luật, được phép xuất khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã đăng kí trong giấy đăng kí kinh doanh thì công ty hợp danh cũng có thể là thương nhân

c Đối tượng của hợp đồng.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam đối tượng của hợp đồng là hàng hoá, được phép mua bán theo pháp luật, nước bên mua và nước bên bán

d Những nội dung chủ yếu củ hợp đồng

+ Tên hàng: hàng hoá trong hợp đồng thương mại quốc tế rất đa dạng và ngôn ngữ sử dụng ở mỗi nước khác nhau Vì vậy trong thực tiễn kí kết hợp đồng phải đưa

Trang 24

ra điều khoản tên hàng một cách cụ thể Tên hàng phải ghi rõ tên thông dụng, tên thương mại và tên khoa học (nếucó )

+ Số lượng: cần ghi số lượng hàng hoá chính xác hoạc quy định số lượng hàng hoá kèm theo độ dung sai Trong thương mại quốc tế hệ hống đo lường rất phức tạp, do đó cần ghi rõ đơn vị đo lường được hai bên lựa chọn

+ Phẩm chất: Tuỳ theo loại hàng mà các bên thoả thuận lựa chọn tiêu chuẩn xác định phẩm chất hàng hoá, các tiêu chuẩn như Iso 9000 TCVN hợp đồng phải ghi

rõ tiêu chuẩn để quy định phẩm chất của hàng hoá, có thể căn cứ vào mẫu hàng hay tiêu chuẩn đựơc công nhận trong tập quán thương mại quốc tế Đối với những hàng hoá theo catologue thì cotologue được giữ làm cơ sở để so sánh chất lượng

Hàng hoá theo mẫu thì các mẫu được chọn sẽ được niêm phong để làm tiêu chuẩn so sánh khi giao nhận hàng

+ Giá cả: phải ghi rõ đồng tiền tính giá, đồng tiền thanh toán trong hợp đồng Xác định cụ thể cách tính giá trong hợp đồng biểu thị rõ đơn giá , tổng giá hợp đồng Hiện nay đồng tiền có thể lên giá, xuống giá trong thời gian ngắn vì vậy cần đề phòng sự mất giá của đồng tiền thanh toán cần phải quy định điều khoản đẩm bảo đồng tiền, trong thời hạn giao hàng nhất định

+ Phương thức thanh toán

Các bên có thể lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp để bảo vệ quyền lợi của mình có thể là: phương thức nhờ thu trả chậm, trả tiền trước, tín dụng chứng

từ

+ Địa điểm và thời gian giao nhận hàng:

Trong thương mại quốc tế ,thời gian giao nhận hàng rất quan trọng, các bên thường đưa ra một thời hạn nhất định để tiến hành giao nhận hàng, có thể giao ngay một lần trong một thời hạn xác định, giao theo từng chuyến, thời hạn giao hàng chậm nhất là vào ngày nào thời gian giao nhận hai bên sẽ thoả thuận để đi đến kết luận cụ thể Địa điểm giao nhận hàng được xác định rõ và nó tuỳ thuộc vào điều kiện cở sở như FOB, CIF,DDU để xác định được thời điểm chuyển giao hàng, tránh rủi ro

Trang 25

Bất kì một hợp đồng xuất nhập khẩu nào cũng phải có những nội dung chủ yếu trên nếu thiếu một trong những nội dung đó thì hợp đồng sẽ không phát sinh hiệu lực.

Xin giấy phép xuất nhập khẩu

Tuỳ theo việc lựa chọn điều kiện cơ sở mà xác định ai phải xin giấy phép xuất nhập khẩu cho hàng hoá VD Theo điều kiện EXW (Incoterms 90) thì người mua phải xin giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá Theo điều kiện FOB thì người bán phải xin giấy phép nhập khẩu Theo điều kiện DDP người bán phải làm thủ tục xin giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá đó Người nào phải xin giấy phép thì phải tiến hành thủ tục để có được giấy phép đó trước ngày giao hàng

+ Nếu lựa chọn phương thức thanh toán tín dụng thì bên mua phải mở L/C trong thời hạn nhất định theo thoả thuận của hai bên trong hợp đồng tại ngân hàng

đã chọn

+ Thuê tàu mua bảo hiểm : trên cơ sở hợp đồng bên nào có nghĩa vụ thuê tàu, mua bảo hiểm thì phải thực hiện cam kết đó Tàu loại nào ,thuê theo phương thức gì đều phải dựa trên hợp đồng và phải có mặt tại cảng theo đúng thời gian quy định Mua bảo hiểm cũng phải đúng như hợp đồng theo điều kiện A,B,C với giá 110% theo hợp đồng Hợp đồng bảo hiểm phải giao cho người mua hàng, cùng với quá trình giao nhận hàng hoá

+ Giao nhận hàng hoá : tại thời điểm và thời gian xác định Người bán tiến hành giao hàng hoá cho người mua và hàng hoá giao phải đảm bảo theo đúng quy định trong hợp đồng Người bán phải giao hàng đúng hẹn đúng địa điểm và người mua cũng phải tiến hành nhận hàng hoá tại địa điểm và thời gian đó

+ Thủ tục hải quan: trên các điều kiện cơ sở như EXW, FDB, DDU như xin giấy phép xuất nhập khẩu thì việc làm thủ tục hải quan và nhập hàng qua biên giới, cũng quy định rõ ai có

Trang 26

+ Kiểm tra hàng: Khi nhận hàng người mua sẽ tiến hành kiểm tra hàng hoá và nếu thấy có vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng, số lượng thì phải thông báo ngay cho người bán

+Thanh toán: sau khi nhận và kiểm tra hàng người mua sẽ tiến hành thanh toán, đúng với cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng

4.Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng

Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng là hậu quả pháp lý bất lợi mà bên

vi phạm hợp đồng phải gánh chịu , khi vi phạm hợp đồng đã cam kết

Theo Công ước Viên 1980 có các hình thức trách nhiệm sau:

Thực hiện thực sự: khi một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nếu bên bị vi phạm vẫn yêu cầu phải thực hiện đúng theo nghia vụ đó, thì bên vi phạm vẩn phải tiếp tục thực hiện, như người bán giao chậm hàng, giao hàng thiếu, không phù hợp với hợp đồng thì người mua yêu cầu giao hàng theo hợp đồng quy định hoặc khi người mua chậm thanh toán, không nhận hàng khi người bán yêu cầu thanh toán, yêu cầu nhận hàng đúng như cam kết

Bồi thường thiệt hại : bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại phát sinh bao gồm tổn thất mà bên bị vi phạm phải gánh chịu và thu nhập bị bỏ lỡ do hành vi

vi phạm hợp đồng

Huỷ hợp đồng: là hình thức trách nhiệm pháp lý cao nhất áp dụng khi có vi phạm hợp đồng Huỷ hợp đồng trong các trường hợp: người bán không giao hàng trong thời hạn gia hạn, thêm cho người mua chỉ định hoặc người bán tuyên bố không giao hàng trong thời hạn đó Người mua không trả tiền, không nhận hàng hoặc tuyên bbó không trả tiền, không nhận hàng trong thời gian gia hạn thêm

Một bên vi phạm nghĩa vụ nào đó của hợp đồng được coi là vi phạm chủ yếu Theo pháp luật việt nam thì bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm pháp lý do

vi pham hợp đồng Khi phải có đủ các yếu tố cấu thành trách nhiệm sau :

Có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng Thiệt hại xẩy ra phải

là hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm.Bên vi phạm cũng có lỗi, cũng như Công ước Viên ngoài ba hình thức trách nhiệm là : Thực hiện thực sự, bồi thường thiệt hại, huỷ hợp đồng thì luật Việt Nam còn có hình thức thứ tư là phạt vi phạm hợp đồng

Trang 27

Bên có quyền lợi bị vi phạm, yêu cầu bên vi phạm phải phải trả mộtkhoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồng Nếu trong hợp đồng có thoả thuận hoặc pháp luật quy định ( điều 226 luật thương mại Việt Nam)

5 Giải quyết tranh chấp.

Trong quá trình kí kết thực hiện hợp đồng những mâu thuẫn bất đồng, tranh chấp xẩy ra là điều khó tránh khỏi Để giải quyết các bất đồng, tranh chấp các bên thường lựa chọn những phương thức sau đây:

a Thương lượng trực tiếp giữa các bên:

Khi bắt đầu phát sinh tranh chấp, các bên tự nguyện và nhanh chóng liên hệ gặp gỡ nhau để thương lượng tìm cách tháo gỡ bất đồng Theo luật thương mại Việt Nam tại điều 239.1 khi xẩy ra tranh chấp trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng Quá trình tiến hành thương lượng được chia làm bốn giai đoạn:

- Định hướng để hình thành quan điểm thương lượng

- Tranh luận , thuyết phục

- Tìm ra mâu thuẫn

- Thoả thuận giải quyết mâu thuẫn hoặc thất bại Thương lượng có thể được tiến hành độc lập hoặc tiến hành cùng với quá trình tố tụng tại toà án, trọng tài Thương lượng độc lập đạt được thoả thuận mới về tranh chấp các bên phải tự nguyện thực hiện thoả thuận đó theo quy định luật áp dụng về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng Nếu thương lượng tiến hành cùng với quá trình tố tụng tại toà án hay trọng tài các bên có thể yêu cầu ra văn bản công nhận kết quả thương lượng và kết quả đó có giá trị như quyết định của trọng tài, toà án

b.Hoà giải

Hiện nay hoà giải được nhiều nhà kinh doanh và luật gia sử dụng trong thực tiễn, thị trường quốc tế đặc biệt là trong hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế Hoà giải là việc hai bên mời hoà giải viên là người thứ 3 giúp các bên tranh chấp đạt được sự thoả thuận

Khi hoà giải phải tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định Hoà giải phải dựa trên tự do ý chí của các bên, phải đảm bảo khách quan công bằng và hợp lý.Hoà giải

sẽ chấm dứt khi hai bên không muốn tiếp tục hoà giải, ngoài ra trong quá trình hoà giải phải bảo toàn bí mật về tài liệu chứng cứ, ý kiến của các bên

Trang 28

Hiệu lực cao nhất của thoả thuận giải quyết bằng hoà giải chỉ giống như một điều khoản hợp đồng ràng buộc giữa các bên do hoà giải mang tính chất tự nguyện Trên thực tế hiệu lực của hoà giải chưa cao, do thoả thuận giải quyết hoà giải không được bắt buộc thi hành Hiện nay phương thức tốt nhất được lựa chọn là hoà giải kết hợp với các phương thức giải quyết tranh chấp như hoà giải kết hợp với trọng tài hoặc toà án.

c Giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài

Giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài là quá trình giải quyết tranh chấp

do các bên tự nguyện lựa chọn, trong đó bên thứ ba trung lập, sau khi nghe các bên trình bày sẽ ra quyết định có tính chất bắt buộc đối với các bên Giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài giống hoà giải là phải có sự thoả thuận giữa các bên về việc đưa tranh chấp ra xét sử bằng trọng tài và cũng mời bên thứ ba Phương thức này khác hoà giải ở chỗ người thứ ba có quyền đưa ra quyết định sau khi cân nhắc chứng cứ và lập luận của các bên Quyết định đó có thể đựơc toà án công nhận và cho thi hành

Thủ tục tố tụng trọng tài các bên tranh chấp có thể thoả thuận với nhau hoặc

có thể chọn quy tắc của trọng tài có uy tín quốc tế Thông thường trình tự tố tụng như sau:

- Một bên gửi đơn kiện tới trung tâm trọng tài mà hai bên đã lựa chọn, mỗi bên trong hợp đồng có thể chọn trọng tài cho mình, sau đó đến bước chuẩn bị xét xử ,tổ chức phiên họp xét xử và chuẩn bị phán trọng tài Khi nhận được phán quyết trọng tài các bên thường tự nguyện thi hành

Nếu một bên không đồng ý có thể đưa đơn lên toà án yêu cầu sửa đổi đình chỉ phán quyết của trọng tài và ngược lại bên được cũng có thể làm đơn đến toà án để khẳng định phán quyết đó Hiện nay phương thức giải quyết tranh chấp theo thủ tục trọng tài được đa số các thương nhân lựa chọn vì thủ tục trọng tài nhanh gọn, chi phí ít và giữ được bí mật kinh doanh, các phán quyết của trọng tài thường có hiệu lực thi hành cao, có rất ít khả năng để toà án có thể xem xét thay đổi quyết định trọng tài

d.Giải quyết tranh chấp theo thủ tục tư pháp tại toà án:

Trang 29

Phương thức giải quyết tranh chấp này thực chất là phương thức giải quyết tranh chấp tại toà án của một đó nước nào đó.Việc một bên gửi đơn kiện lên toà để giải quyết tranh chấp, không phụ thuộc vào sự đồng ý của bên kia nếu hai bên chưa chọn thủ tục trọng tài Khi gửi đơn kiện nguyên đơn phải xác định toà án để xét xử

vụ kiệnlà toà áncó thẩm quyền giải quyết và hiệu lực của bản án đối với nước có liên quan đến vụ kiện

Theo luật thương mại Việt Nam đối với các tranh chấp thương mại với thương nhân nước ngoài,nếu các bên không có thoả thuận hoặc điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ký kết, tham gia không có quy định tranh chấp thì tranh chấp được giải quyết tại toà án Việt Nam

Toà án chỉ chấp nhận hồ sơ kiện nếu hồ sơ kiện được gửi tới trong thời hiệu kiện Thời hiệu kiện có thể cho hai bên thoả thuận, nếu không thoả thuận thì căn cứ vào quy định của luật áp dụng để xác định Thủ tục tố tụng tại toà án ở các nước khác nhau có sự khác nhau nhất định và việc công nhận, thi hành bản án là bước tố tụng cuối cùng Do chưa có điều ước quốc tế chung về công nhận và thi hành bản án của toà án nước ngoài nên các nước đều áp dụng nguyên tắc có đi có lại

Phương thức giải quyết tranh chấp theo thủ tục tư pháp tại toà án ít được lựa chọn trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng do thủ tục phức tạp, thời gian dài và chi phí cao khó giữ được bí mật kinh doanh Hơn nữa việc thi hành bản án của toà án lại phù thuộc vào quốc gia giữa hai bên đã kí kết hiệp định chung về vấn

đề đó chưa

Như vậy có rất nhiều phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng Mỗi phương thức đều có ưu và nhược điểm nhất định, khi lựa chọn phương thức mỗi bên phải tính đến ưu nhược điểm của từng phương thức giải quyết tranh chấp để lựa chọn được cách giải quyết có hiệu quả nhất

IV Quản lý nhà nước với hoạt động kinh doanh Nhập Khẩu

1 Chế độ quản lí kinh doanh hàng nhập khẩu :

Trang 30

Nhà nước thực hiện việc quản lý bằng pháp luật đối với hoạt động nhập khẩu được thể hiện qua các quy định pháp lý về nhập khẩu Căn cứ vào chế độ quản

lý của Nhà Nước, các doanh nghiệp sẽ thực hiện các công việc cần thiết để nhập khẩu các mặt hàng theo quy định của pháp luật

Nhà nước quản lý hoạt động nhập khẩu bằng biện pháp thúê quan và phí thuế quan Theo biện pháp thuế quan tất cả các mặt hàng nhập khẩu đều chịu sự điều tiết bằng thuế, theo luật thuế xuất nhập khẩu Thuế xuất nhập khẩu được coi như là một chiếc cầu nối quan trọng giữ kinh tế trong nước và quốc tế Thuế xuất nhập khẩu được coi như bộ lọc để phân loại hàng hoá nhập khẩu, hàng nào cần thiết cho sản xuất và tiêu dùng hàng ngày, hàng nào thuộc loai xa xỉ, độc hại cho đời sống văn hoá của người dân Thông qua thuế nhà nước quản lý hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam Thuế Nhập khẩu là một loại thuế gián thu đánh vào các mặt hàng mậu dịch ,phi mậu dịch được phép nhập khẩu qua biên giới Việt Nam Chế độ thuế nhập khẩu bao gồm các quy định về đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế và đối tượng không thuộc diện nhập thuế nhập khẩu, biểu thuế nhập khẩu , phương pháp tính thuế (dựa trên số lượng hàng nhập khẩu ,giá tính thuế ,thuế xuất ), các trường hợp giảm, thuế hoàn lại thuế, truy thu thuế nhập khẩu

Thuế là một công cụ để cho nhà nước quản lý ,điều tiết hoạt động nhập khẩu

và chế độ thuế có tác dụng trực tiếp đến hợp đồng xuất nhập khẩu Do vậy các chủ thể tham gia kí kết hợp đồng cần phải quy định rõ bên nào phải có nghĩa vụ nộp thuế cho hàng nhập khâu

Biện pháp phi thuế quan là biện pháp hỗ trợ bổ xung cho biện pháp thuế quan

để quản lý hàng nhập khẩu Theo biện pháp này Nhà nước chia làm ba loại là: Hàng cấm nhập khẩu, hàng nhập khẩu có hạn nghạch và hàng nhập khẩu có giấy phép

Hàng năm, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định điều hành hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng năm và ban hành danh mục hàng cấm nhập, hàng nhập khẩu có hạn ngạch hàng nhập khẩu có giấy phép

Hàng cấm nhập khẩu : căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội hàng năm chính phủ ban hàng danh mục hàng cấm nhập cho năm đó Hàng hoá cấm nhập khẩu năm 2000 theo quyết định số 242/1999/QĐ-TTg ngày 30/12/1999 về điều hành xuất nhập khẩu hàng hoá 2000 là vũ khí , đạn dược, vật liệu nổ, các loại ma tuý, hoá chất

Trang 31

độc hại các văn hoá phẩm đồi truỵ phản động, các loại đồ chơi trẻ em có ảnh hưởng xấu đến giáo dục nhân cách, đến trật tự an toàn xã hội, thuốc lá điếu, ôtô có tay lái nghịch, phụ tùng ôtô đã qua sử dụng, sản phẩm vật liệu có chứa amiăng thuộc nhóm amphibole.

Doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu không được nhập bất kì một hàng hoá nào thuộc một trong các mặt hàng kể trên.

Hạn ngạch xuất khẩu : là quy định của nhà nước về số lượng hoạc

giá trị của một hay một nhóm mặt hàng được phép nhập khẩu vào Việt Nam trong một thời gian nhất định Biện pháp quản lý hàng nhập khẩu bằng hạn ngạch sẽ hạn chế số lượng, giá trị một mặt hàng nào đó, bảo vệ sản xuất trong nước, bảo vệ môi trường hoặc bảo đảm cho hiệu quả xuất nhập khẩu và bảo đảm chính sách điều tiết của nhà nước trên thị trường.

Để đưa ra hạn ngạch nhập khẩu cho từng mặt hàng cụ thể, bộ kế hoạch và đầu tư dựa vào tình hình kinh tế trong nước, khả năng ngoại tệ dành cho nhập khẩu, điều kiện môi trường, hiệu quả xuất nhập khẩu trong năm vừa qua và lập danh mục hàng nhập khẩu có hạn ngạch đưa trình thủ tướng chính phủ phê duyệt Sau đó Bộ thương mại sẽ trực tiếp phân bổ hạn ngạch cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và hướng dẫn thi hành

Hàng nhập khẩu có giấy phép : Trước đây, đối với mỗi một mặt hàng nhập

khẩu doanh nghiệp đều phải xin giấy phép nhập khẩu từ cơ quan có thẩm quyền Quy định này gây ra khó khăn cho doanh nghiệp và hạn chế hàng nhập khẩu cần thiết cho sản xuất, kinh doanh Để khắc phục tình trạng đó, thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số 89/CP (15/12/1995) bãi bỏ thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu từng chuyến, có hiệu lực từ ngày 01/02/1996 Theo quy định này, chỉ một số mặt hàng cần thiết có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước thì phải xin giấy phép của bộ Thương Mại trước khi nhận hàng

Ví dụ như: Hàng quản lý bằng hạn ngạch, hàng tiêu dùng nhập khẩu theo kế hoạch hàng năm bằng luật hay bằng giá trị kim ngạch được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, hàng phục vụ thăm dò, khai thác dầu khí theo giấy phép liên doanh, đầu

tư, hàng gia công, hàng tạm nhập tái xuất

Trang 32

Bên cạnh đó, hàng năm thủ tướng chính phủ ban hành danh mục hàng nhập khẩu có giấy phép để quản lý hoạt động nhập khẩu.

2 Quản lý Nhà Nước đối với doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu

Trong từng thời kì, điều kiện để thương nhân Việt Nam được phép kinh doanh xuất nhập khẩu cũng khác nhau :

Theo điều 6, nghị định 83/CP của chính phủ ngày 19/4/1994, điều kiện để thương nhân Việt Nam được cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu như sau:

- Doanh nghiệp phải có mức vốn tối thiểu tính bằng tiền Việt Nam tương đương 200.000 USD tại thời điểm đăng kí kinh doanh xuất nhập khẩu

- Hoạt động theo đúng nghành nghề đã đăng kí khi thành lập doanh nghiệp

Có đội ngũ cán bộ đủ trình độ kinh doanh, kí kết và thực hiện các hợp đồng ngoại thương

Với điều kiện này, giống như thủ tục giấy phép nhập khẩu hàng hoá từng chuyến đã hạn chế hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp Để khắc phục điều này

và mở rộng quyền hoạt động nhập khẩu của từng đơn vị kinh tế trong Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/98 qui định chi tiết việc thi hành luật thương mại về hoạt động xuất nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài qui định: Thương nhân là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đựơc thành lập theo qui định của pháp luật được phép xuất nhập khẩu hàng hoá theo nghành nghề đã đăng kí trong giấy phép kinh doanh

Các chi nhánh tổng công ty, công ty được nhập khẩu hàng hoá theo uỷ quyền của tổng giám đốc công ty, giám đốc công ty, phù hợp với các nội dung giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh của tổng công ty

Trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, doanh nghiệp phảI đăng kí mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh, thành phố

Với sự đổi mới trong quản lý Nhà nước đối với hoạt động nhập khẩu đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động trong việc thực hiện nhập khẩu mà vẫn bảo đảm được sự quản lý của Nhà nước

3/ Chế độ quản lý của hải quan.

Trang 33

Chế độ quản lý của hải quan bao gồm qui định về thủ tục hải quan, giám sát hải quan và lệ phí hải quan Trong đó, thủ tục và lệ phí hải quan có ảnh hưởng trục tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của doang nghiệp Hiện nay nhà nước đang thực hiện cải cách thủ tục hải quan Ngày 27/03/1999 chính phủ ra Nghị định số 15/1999/NĐCP qui định về thủ tục hải quan, giám sát hải quan và lệ phí hải quan Ngày 10/05/1999 tổng cục hải quan ra thông tư số 01/1999/TT-TCHQ hướng dẫn về thr tục hải quan Nghị định và thông tư đó đã giúp cho các doanh nghiệp nắm được các bước để làm thủ tục hải quan Bên cạnh đó, tổng cục hải quan cũng chấn chỉnh lại đội ngũ cán bộ hải quan, có biện pháp xử lý kịp thời đối với những cán bộ tha hoá biến chất Do vậy, những phiền hà, sách nhiễu cho doanh nghiệp trong khi làm thủ tục hải quan ngày một giảm và hiệu quả của công tác quản lý của Nhà nước đối với hàng hoá xuất nhập khẩu thông qua kiểm soát hải quan đã cao hơn trước đây rất nhiều.

4/ Chế độ kiểm tra, giám sát chất lượng hàng hoá nhập khẩu.

Tất cả các hàng hoá nhập khẩu thuộc danh mục hàng nhập khẩu đều phải qua kiểm tra Nhà nước về chất lượng do Bộ khoa học công nghệ và môi trường công bố hàng năm

Trang 34

Chương 2:

THỰC TIỄN KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU THIẾT

BỊ TẠI CÔNG TY GẠCH ỐP LÁT HÀ NỘI.

I-Khái quát về công ty gạch ốp lát hà nội:

2.1.Sự hình thành và phát triển công ty:

Nhu cầu về nhà ở tăng mạnh kéo theo hàng loạt các dự án về đô thị hoá ,xây dựng khu đô thị mới dẫn đến nhu cầu về vật liệu xây dựng trên thị trường tăng mạnh Trên thực tế đó,được sự đồng ý của văn phòng Chính phủ,Bộ trưởng Bộ xây dựng đã ra quyết định số 094A/BXD-TCLĐ ngày 24/03/1993 về việc thành lập doanh nghiêpNhà nước với tên gọi "xí nghiệp gạch ngói Hữu Hưng ".Là đơn vị trực thuộc liên hiệp các xí nghiệp thuỷ tinh và gốm xây dựng-Bộ xây dựng.Xí ngiệp gạch hữu hưng tiến hành hạch toán kinh tế độc lập với ngành nghề kinh doanh chủ yếu là công nghiệp sản xuất gạch ngói

Trong cơ chế mới ,các doanh nghiệp Nhà nước không còn được bao cấp về mọi mặt mà trên cơ sở nguồn vốn do Nhà nước cấp doanh nghiệp phải tự mình đứng vững trong cơ chế thị trường ,phải bảo toànvà phát triển nguồn vốn đó

Xuất phát từ nhu cầu thị trường , năm 1996 xí nghiệp đã bổ sung ngành nghề kinh doanh là sản xuất ,kinh doanh gạch ốp và lát nền tráng men(ceramic).Để tên doanh nghiệp gắn với tên sản phẩm gạch ốp lát ceramic cao cấp,Bộ trưởng Bộ xây dựng đã ra quyết định số 280/QĐ-BXD ngày 19/05/1998 về việc đổi tên doanh nghiệp thành:

"Công ty gạch ốp lát hà nội"

Khi thành lập công ty gạch ốp lát Hà Nội có tổng số vốn kinh doanh là 861.000.000 đồng trong đó vốn cố định là 473.200.000 đồng ,vốn lưu động là 347.800.000 đồng.Trong tổng vốn kinh doanh của công ty ngân sách Nhà nứơc cấp là 627.000.000 đồng còn lại 234.000.000 đồng là vốn doanh nghiệp tự bổ sung

Sau 7 năm thành lập , hoạt động của doanh nghiệp đã ổn định và đang trong quá trình phát triển .Năm 1999 qui mô vốn kinh doanh của công ty đã lên tới123.226.892.000 đồng (vốn cố định là 118.934.447.000 đồng và vốn lưu động

Trang 35

2.2: Cơ cấu tổ chức của công ty:

Các phòng ban phân xưởng trong công ty được tổ chức dưới hình thức trực tuyến chức năng theo sơ đồ dưới đây:

Giám đốc công ty có quyền qui định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của từng phòng ban phân xưởng trong công ty

Các phó giám đốc và kế toán trưởng do Tổng giám đốc tổng công ty quyết định điều động bổ nhiệm miễn nhiệm và khen thưởng kỷ luật theo đề nghị của giam đốc công ty; giúp giám đốc công ty điều hành sản xuất kinh doanh và thực hiện các công tác kế toán thống kê của công ty

P.G.Đ KINH DOANH

TÀI CHÍNH KẾ TOÁN

TỔ CHỨC LAO ĐỘNG

KẾ HOẠCH SẢN XUẤT

KỸ THUẬT KCS

HÀNH CHÍNH

Trang 36

Các phòng ban phân xưởng có chức năng như sau:

Phòng tài chính kế toán:

Lập kế hoạch tài chính và tổ chức thực hiện kế hoạch đó theo tháng quý năm Phòng cung cấp những chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết cho giám đốc công ty Thực hiện hạch toán kế toán theo qui địmh của nhà nước và theo điều lệ hoạt động của tổng công ty Lập báo cáo tài chính phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của công ty theo từng tháng, quí, năm

Phòng kế hoạch sản xuất:

Lập kế hoạch sản xuất và kế hoạch giá thành theo tháng quí và năm Lên

kế hoạch, tổ chức cung cấp đầy đủ kịp thời đúng số lượng chất lượng các loại vật tư, nguyên nhiênn liệu, phụ tùng thiết bị cho sản xuất Lập kế hoạch cho đầu

tư xây dựng cơ bản Phân tích đánh giá tổng kết việc thực hiện kế hoạch sản xuất, cvung cấp vật tư nguyên nhiên liệu và báo cáo trước bna giám đốc và đơn

vị có liên quan Thực hiện công tác điều độ sản xuất và công tác bảo hộ lao động, quản lý tổ sơ chế nguyên liệu

Phòng kỹ thuật KCS:

Chức năng kỹ thuật bao gồm: Xây dựng hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất và tiêu chuẩn chất lượng cho vật tư nguyên nhiên liệu sản xuất, sản phẩm công ty Nghiên cứu cải tiến và áp dụng công nghệ mới; sản xuất sản phẩm mớí Xác định các thông số kỹ thuật của nguyên liệu, thành phẩm, bán thành phẩm Xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật cho sản phảm công ty

Chức năng KCS bao gồm: Kiểm tra đánh giá, giám sát chất lượng vật tư nguyên nhiên liệu nhập và việc thực hiện qui trình công nghệ Phân loại sản phẩm Tham gia thành viên nhập kho và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm nhập kho và cùng phòng kinh doanh làm công tác dịch vụ bán hàng

Phòng kinh doanh:

Trang 37

Thực hiện các công việc về thương mại để tiêu thụ hết sản phảm của công

ty sản xuất ra Tiến hành nghiên cứu thị trường và đề ra các chiến lược kinh doanh để sinh lời và công việc dịch vụ sau bán hàng Phòng kinh doanh phối hợp vfới các phòng ban phyân xưởng lập ra kế hoạch sản xuất sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường

Phòng tổ chức lao đông:

Phòng có chức năng quản lý số lượng lao động trong công ty, lên kế hoạch

sử dụng lao dộng và kế hoạch phân phối quĩ lương, thưởng trong công ty Đảm bảo lao động phục vụ sản xuất; trên cơ sở số liệu phòng kế hoạch cung cấp lên

kế hoạch về bảo hộ lao động trong công ty Lập kế hoạch và tổ chức đào tạo công nhân, công tác nâng lương cho cán bộ công nhân viên hàng năm; công tác thi đua khen thưởng kỷ luật; công tác đối nội đối ngoại khi giám đốc yêu cầu Phòng tổ chức lao động còn thực hiện chức năng xây dựng tiêu chuẩn chức danh, chuyên môn nghiệp vụ đối với viên chức trong công ty, chủ trì trong việc xây dựng đơn giá tièn lương và qui chế trả lương thưởng để trình trước giám đốc

Phòng hành chính:

Quản lý và thực hiện toàn bộ công tác hành chính trong công ty theo qui định chung về pháp lý hành chínhhiện hành của Nhà nước Theo dõi việc sử dụng tài sản của công ty như nhà cửa, đất đai, phương tiện, dụng cụ , thiết bị văn phòng phục vụ cho hoạt động củ công ty THực hiện công tác đối nội, đối ngoại, giao dịch hàng ngày, phục vụ hội họp ăn ca đảm bảo an ninh trật tự , thực hiện chính sách, qui định của các cơ quan chính quyền địc phương trên địa bàn đóng Thực hiện công tác y tế cơ sở

Phân xưởng cơ điện:

Là bộ phận quản lý kỹ thuật về máy móc thiết bị của công ty như bảo quản hồ sơ, thiết bị, lập hồ sơ lý lịch theo dõi tình trạng hoạt động thiết bị

Trang 38

Tổ chức thực hiện các công việc cụ thể để đảm bảo thiết bị dây chuyền hoạt động ổn định lâu dài Cụ thể là theo dõi hoạt động, giám sát việc vận hành máy móc theo qui trình và bảo dưỡng sửa chữa hoàn thiện các máy móc theo qui trình và bảo dưỡng sửa chữa hoàn thiện các máy móc thiết bị đó Bảo đảm an toàn cho người và thiết bị.

Phân xưởng sản xuất:

Chức năng của phân xưởng này là tổ chức sản xuất có hiệu quả gạch ốp tường, lát nền theo kế hoạch của công ty giao cho đảm bảo về cả số lượng và chất lượng

Chịu trách nhiệm quản lý, bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sảmn cố định, vật tư nguyên nhiên liệu và công cụ lao động

Quản lý lao động, công tác bảo hộ lao động và vệ sinh lao động Phân xưởng phải giữ bí mật về côngnghệ, số liệu chủng loại trong quá trình sản xuất Tham gia vào phong trào và công tác xã hội trong công ty

2 Quyền và nghĩa vụ củ công ty:

Thuộc loại hình doanh nghiệp nhà nước, là đơn vị thành viên của tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng

Công ty gạch ốp lát Hà Nội cũng có những quyền và nghiã vụ chung như các doanh nghiệp Nhà nước khác theo qui định của luật doanh nghiệp nhà nước Bên cạnh đó công ty còn có những quyền và nghĩa vụ nhất định phù hợp với lĩnh vực hoạt động và vị trío của mình

Quyền hạn của công ty :

Công ty được quản lý sử dụng vốn đất đai tài nghuyên và các nguồn lực khác của nhà nước do tổng công ty giao cho theo qui định của pháp luật để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ sản xuất kinh doanh do Tổng công ty giao Công ty có quyền giao lại cho các đơn vị trực thuộc sử dụng quản lý các nguồn lực đó và điều chính quyền lực giữa đơn vị trực thuộc khi cần thiết

Trang 39

Công ty được đầu tư phát triển sản xuất theo định hướng của tổng công ty; được liên doanh, liên kết, góp vốn, mua tài sản của doanh nghiệp khác theo qui định của tổng công ty và pháp luật.

Công ty được tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh như sau:

Đề nghị tổng công ty xem xét quyết định hoặc được uỷ quyền quyết định về việc thành lập, tổ chức laị,giải thể các đơn vị trực thuộc và bộ máy công ty Đổi mới công nghệ trang thiết bị theo định hướng của công ty Được đặt văn phòng đại diện, chi nhánh, đại lý, cửa hàng giới thiẹu sản phẩm trong và ngoài nước Được tiến hành kinh doanh những ngành nghề phù hợp với mục tiêu nhiệm vụ được giao, mở rộng qui mô theo khả năng và nhu cầu thị trường,được mở rộng thị trường trong và ngoài nước Có quyền quyết định giá bán sản phẩm công ty ( Không được thấp hơn giá bán do tổng công ty quyết định) Xây dựng định mức lao động, đơn giá lương phù hợp với qui định của Tổng công ty và pháp luật Công ty có quyền quản lý tài chính như sử dụng vốn quĩ để phục vụ cho sản xuất kinh doanh trên nguyên tắc bảo toàn và hiệu quả Tiến hành huy động các nguồn vốn , tín dụng để tổ chức sản xuất kinh doanh, đầu tư, hình thành quỹ phát triển sản xuất, khen thưởng theo quy chế tài chính Sử dụng lợi nhuận sau thuế để lập quỹ và chia cho người lao động Công ty được hưởng trợ cấp trợ giá, chế độ ưu đãi khi thực hiện những nhiệm vụ sản xuất cung ứng dịch vụ quốc phòng, an ninh, chống thiên tai, hoạt động công ích, cung cấp sản phẩm theo chính sách giá của Nhà nước

Công ty có quền từ chối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định của bất ký các nhân tổ chức nào trừ khoản tự nguyện đóng góp vì mục đích nhân ddạo, công ích

2.3.2 Nghĩa vụ của Công ty:

Đi song song với các quyền trên Công ty phải thực hiện những nghiã vụ sau:

Công ty có nghĩa vụ nhận và sử dụng có hiệu quả, bảo tồn và phát triển nguồn vốn cùng tài sản khác do Tổng công ty giao Phải thực hiện các khoản

Trang 40

phải thu phải trả trong bản cân đối tài sản của Công ty tại thời điểm thành lập trả các khoản tín dụng do trực tiếp hoặc do Tổng công ty bảo lãnh cho vay Công ty

có nghĩa vụ quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng ngành nghề đăng

ký chịu tráchnhiệm trước khách và pháp luật về sản phẩm của mình , thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi quyền hạn đã giao

Công ty chịu trách nhiệm và thực hiện quy định về quản lý vốn tài sản theo chế độ của Tổng công ty, của Nhà nước, các hoạt động tài chính của Công

ty phải đảm bảo tính chính xác và hợp pháp Công ty phải công khai các báo cáo tài chính hàng năm thực hiện các nghĩa vụ nộp thuế và các khoản nộp ngân sách Nhà nước theo qui định của pháp luật

3.Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 2000 - mục tiêu phấn đấu năm 2001:

3.1 Hoạt động chung của toàn Công ty:

Năm 2000 kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng và đời sống nhân dân cả nước cũng tăng lên đáng kể Hoạt động xây dựng phát triển, nhu cầu về các loại gạch ốp lát ngày càng tăng, Công ty gạch ốp lát Hà Nội nhờ thế có thể tận dụng

cơ hội để mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường

Công ty đã và đang đứng trước sự cạnh tranh gay gắt của các đơn vị sản xuất khác như: Đồng Tâm, Huecera, Hudera, Vĩnh phúc, CMC, Hồng Hà, Mỹ Đức, Thanh Thanh, Long Hầu, American Home, Vitaly, Taicera, Shijar song nhờ có những biện pháp phối hợp hài hoà giữa sản xuất kinh doanh Công ty đã dứng vứng và ngày càng phát triển

Bảng 3: Kết quả năm 2000 được thể hiện qua một số chỉ tiêu sau:

Ngày đăng: 19/02/2014, 13:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo nghị định số 88/1999/NĐ_CP ngày 1/9/1999và nghị định số 14/2000/NĐCP (5/5/2000)của chính phủ Khác
6. Nghị định số 57 / 1998 /NĐCP ngày 31/7/1998 quy định chi tiết thi hành luật thương mại về hoạt động xuât nhập khẩu gia công và đại lý mua bán hàng hoá với nước ngoài . Công báo số 1/1999 Khác
7. Nghị định số94/1998-NĐ-CP (17/11/1998) quy định chi tiết thi hành luật sửa đổi bbổ xung một số vấn đề của luật thuế xuất nhập 4/1998/QH10(25/5/98) công báo số 1/99 Khác
8. Nghị định số 15/1999/NĐ_CP quy định về thủ tục hải quan giám sát hải quan và lệ phí hải quan (27/3/99) công báo số 17/99 Khác
9. Quyết định số 242/99/QĐ-TTg ngày 30/12/99về diều hành xuất nhập khẩu năm 2000 Công báo số 5/2000 Khác
10.Thông tư số 01/1999/TT_TCHQ( 10/5/99) hướng dẫn về thủ tục hải quan quy dịnh tại nghị định số 15 /1999/NĐ_CP(27/3/99) công báo số 27/99.Sách tham khảo Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết quả hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1975- 1975-1985. - cơ sở pháp lý và thực tiễn kí kết, thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị tại công ty gạch ốp lát hà nội
Bảng 1 Kết quả hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1975- 1975-1985 (Trang 5)
Bảng 3: Kết quả năm 2000 được thể  hiện qua một số chỉ tiêu sau: - cơ sở pháp lý và thực tiễn kí kết, thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị tại công ty gạch ốp lát hà nội
Bảng 3 Kết quả năm 2000 được thể hiện qua một số chỉ tiêu sau: (Trang 40)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w