Thực tiễn thế giới đã chứng tỏ rằng một quốc gia mà có dòng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài càng mạnh thì càng có nhiều khả năng mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất, tận dụng n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
K -
NGUYỄN HỮU HUY NHỰT
CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính ngân hàng
Mã số:60.31.12.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THANH TUYỀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010
Trang 2Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu, rộng vào đời sống kinh tế quốc tế, nhất là sau khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới - WTO Việc hội nhập đã giúp cho doanh nghiệp Việt Nam được đối xử bình đẳng trên sân chơi quốc tế Các nước sẽ không còn phân biệt mức thuế áp dụng cho doanh nghiệp Việt Nam như trước đây Sau một thời gian gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu nhìn thấy rất nhiều cơ hội đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và chính họ đã và đang góp phần làm thay đổi dần quan niệm về đầu tư ra nước ngoài từ phía nhà nước Việt Nam
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hình thức thâm nhập thị trường phát triển gần đây tại các doanh nghiệp Việt Nam Thực tiễn thế giới đã chứng tỏ rằng một quốc gia mà có dòng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài càng mạnh thì càng có nhiều khả năng mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất, tận dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, tăng việc làm và tăng động lực phát triển kinh tế đất nước; đồng thời, tăng cường khoa học công nghệ, nâng cao năng lực quản lý và trình độ tiếp thị với các nước trong khu vực và trên thế giới Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn là cách
để doanh nghiệp bảo toàn vốn hữu hiệu
i Đặt vấn đề
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, các doanh nghiệp có thể chọn các hình thức thâm nhập thị trường quốc tế như: xuất khẩu (Exporting), dự án trao tay (Turnkey Projects), chuyển nhượng giấy phép (Licensing), nhượng quyền thương mại (Franchising), sản xuất theo hợp đồng (Contract Manufacturing), hợp đồng quản trị (Management Contracting), liên doanh (Joint Ventures), công ty con
sở hữu toàn bộ (Wholly Owned Subsidiaries), liên minh chiến lược (Strategic Alliances)…; hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thông qua liên doanh hoặc công ty con sở hữu toàn bộ là một trong những phương cách tốt nhất giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng cao vị thế của mình trên thế giới
Song song với việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là phương thức không thể thiếu được ở một quốc gia thực hiện chính sách mở
Trang 3cửa để hội nhập kinh tế quốc tế Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thực chất
là việc chuyển các nguồn lực có lợi thế so sánh hoặc sản xuất dư thừa ở trong nước như vốn, lao động, công nghệ ra bên ngoài để tạo thế cạnh tranh, nâng cao năng lực sản xuất, tìm nguồn tài nguyên thay thế, hạn chế ô nhiễm môi trường ở trong nước và mở rộng thị trường tiêu thụ, nhằm thu được lợi ích cao nhất trong kinh tế
Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài dù còn mới mẻ đối với Việt Nam nhưng từ lâu đã không còn xa lạ với các quốc gia phát triển trên thế giới Đây chính
là một hướng đi mới, mang tính hấp dẫn cao đối với Việt Nam Mặc dù có không ít rủi ro, nhưng đó là một tiềm năng to lớn trong việc giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng vị thế của doanh nghiệp nói riêng và hình ảnh của Việt Nam nói chung trên trường quốc tế Thời gian vừa qua, các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam tuy vốn không lớn nhưng bước đầu đã đem lại những hiệu quả nhất định Trong xu thế hội nhập sâu rộng, chắc chắn, số dự án đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài của Việt Nam sẽ không chỉ dừng lại ở ba con số Do đó, cơ hội đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh thông qua đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vào thời điểm này là rất lớn và rõ ràng đang có chiều hướng thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam
Mặt khác, tuy đã có một số doanh nghiệp thành công bước đầu khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nhưng đại đa số doanh nghiệp vẫn còn lúng túng trên nhiều phương diện để thực hiện các dự án đầu tư ra ngoài Có thể nói đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là cơ hội đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp hay quốc gia; nhưng để biến cơ hội thành thực tiễn hành động là một con đường rất dài, đòi hỏi một thế và lực tương xứng để có thể đi trọn con đường “gian nan” ấy Trong xu hướng phát triển sắp tới, nhiều chuyên gia nhận định hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tại Việt Nam sẽ phát triển nhanh chóng Như vậy, Việt Nam cần phải làm gì trong giai đoạn hiện nay và sắp tới để nâng cao thế và lực cho mình, làm như thế nào để
có thể nắm bắt và biến cơ hội thành hành động hiệu quả? Ngay lúc này, nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có chiến lược đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam với những giải pháp thích hợp, nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động này từng bước phát triển như các nước trong khu vực và thế giới Xuất phát từ ý nghĩa và bối cảnh đó,
tác giả đã chọn đề tài “Chiến lược đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Trang 4trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” để nghiên cứu thực hiện luận án tiến sĩ
kinh tế của mình
ii Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là (1) Phân tích thực trạng tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua về phía cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp nhằm tìm ra những khó khăn và hạn chế đang cản trở sự phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; và (2) Nghiên cứu xây dựng các quan điểm đẩy mạnh hoạt động này, đồng thời dự báo về khả năng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong quá trình hội nhập; từ
đó, đề xuất hệ thống giải pháp (nhóm giải pháp về chiến lược, chính sách của nhà nước và nhóm giải pháp xuất phát từ doanh nghiệp) để đẩy mạnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Từ mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra bao gồm:
Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua?
Những thành công và khó khăn, hạn chế của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam?
Giải pháp nào để đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong tương lai?
iii Phương pháp, thông tin và thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: Nghiên cứu tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã xuất bản trong các tạp chí khoa học trong và ngoài nước, các bài báo, tài liệu hội thảo, hội nghị, các tài liệu nghe nhìn; kết quả từ thảo luận nhóm mục tiêu;… để làm cơ sở cho việc nghiên cứu định lượng tiếp sau Nghiên cứu định tính thông qua phỏng vấn tay đôi các doanh nghiệp đã đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Phương pháp định lượng: Thông qua tiến hành khảo sát các doanh nghiệp
dự định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Trang 5 Ngoài ra, tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp truyền thống gồm: phân tích, tổng hợp, thống kê, mô tả và so sánh
Thông tin nghiên cứu
Thông tin thứ cấp: Thu thập từ Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, báo chí, tạp chí chuyên ngành, internet và thông tin của các tổ chức nghiên cứu liên quan
Thông tin sơ cấp: Thu thập ý kiến từ các doanh nghiệp đã và chưa (dự định) đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo 2 giai đoạn chính: giai đoạn 1 nghiên cứu định tính, giai đoạn 2 nghiên cứu định lượng Dữ liệu thu thập trong nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm SPSS for Windows 15.0 để phân tích các yếu tố thống
kê cơ bản (Phụ lục IV)
Giai đoạn 1: Nghiên cứu định tính
Dựa vào các lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tác giả xây dựng và hoàn thiện thang đo lường các khái niệm nghiên cứu; nghiên cứu lý thuyết dựa trên nguồn thông tin thứ cấp thông qua các nghiên cứu đã xuất bản trong các tạp chí khoa học trong và ngoài nước, các bài báo, tài liệu hội thảo, hội nghị, các tài liệu nghe nhìn v.v…
Tác giả đã tiến hành trao đổi, thảo luận, phỏng vấn tay đôi dựa trên những câu hỏi được chuẩn bị trước (Phụ lục I) với các doanh nghiệp đã đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Ngoài ra, nghiên cứu định tính còn được thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm nhằm điều chỉnh, bổ sung thang đo các khái niệm nghiên cứu
Giai đoạn này được xem là nghiên cứu sơ bộ nhằm khám phá, điều chỉnh và
bổ sung các yếu tố trong bảng câu hỏi phù hợp với thang đo Kết quả của giai đoạn nghiên cứu này sẽ được ghi nhận, tổng hợp và là cơ sở cho việc thiết kế bảng câu hỏi sử dụng chính thức trong nghiên cứu định lượng
Trang 6 Giai đoạn 2: Nghiên cứu định lượng
Phương pháp định lượng thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn được thiết kế để trực tiếp điều tra khảo sát ý kiến của các doanh nghiệp dự định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (Phụ lục II), nhằm đánh giá thực trạng tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua cả về phía cơ quan quản lý nhà nước, lẫn phía doanh nghiệp; tìm ra những khó khăn và hạn chế mà hoạt động này đang gặp phải
Trước khi phỏng vấn chính thức sẽ tiến hành phỏng vấn thử nhằm bổ sung thêm một số tiêu chí cho phù hợp và hiệu chỉnh lại bảng câu hỏi nhằm tránh hiểu sai nội dung cần phỏng vấn
iv Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có chú trọng nghiên cứu thể chế chính sách tác động đến hoạt động này để xây dựng chiến lược phát triển
Các hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam được nghiên cứu mang tính tổng quát, không phân tích chi tiết từng ngành cụ thể
Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 1989 (năm bắt đầu có dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài) đến hết tháng 7 năm 2008 ở Việt Nam
Các thông tin và dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra các doanh nghiệp tại Việt Nam
v Những vấn đề nghiên cứu có liên quan
Ở Việt Nam từ trước đến nay hầu như rất ít sách cũng như đề tài nghiên cứu
về lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Hiện tại chỉ có duy nhất 1 quyển sách
“Thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài” của PGS.TS
Đinh Trọng Thịnh, Học viện Tài chính, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, 2006 Tuy nhiên, những số liệu trong quyển sách này đã cũ Mặt khác, quyển sách không đi sâu nghiên cứu bằng phương pháp định lượng để có thể đánh giá khách quan hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, xác định nhân tố ảnh hưởng, dự báo xu hướng phát triển và đề xuất hệ thống giải pháp Từ đó, càng thôi thúc tác giả - trên cơ sở
Trang 7các nghiên cứu của chính tác giả trước đây - chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu
Có 5 bài viết của tác giả (và đồng tác giả) đã được công bố trên Tạp chí Phát triển kinh tế (tạp chí khoa học kinh tế của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục và Đào tạo) liên quan đến đề tài nghiên cứu, cụ thể gồm:
1 Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2005), “Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt
Nam: Khó khăn và thách thức”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 173, trang 16-19;
2 Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2005), “On Possibility of Investing Abroad by
Local Companies”, Economic development Review, Number 130, pp 12-13;
3 Nguyễn Đông Phong & Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2007), “Overseas
Investment from Vietnam under the Trend of International Integration”, Economic
development Review, Number 150, pp 14-16;
4 Nguyễn Đông Phong & Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2008), “Thâm nhập thị
trường thế giới bằng hoạt động nhượng quyền kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 208, trang 9-12;
5 Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2009), “Kinh nghiệm đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài của các nước Đông Á và bài học cho Việt Nam”, Tạp chí Phát triển kinh tế,
số 220, trang 45-51
Tất cả các nghiên cứu đã công bố nói trên chỉ là những lát cắt từ nhiều góc
độ về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam, chúng chưa phải là một nghiên cứu toàn diện - bằng kết quả khảo sát và các luận cứ khoa học - để đi đến xây dựng chiến lược về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho Việt Nam, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
vi Những điểm mới của luận án
Một là, chọn nghiên cứu kinh nghiệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước Đông Á - do điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có nhiều nét tương đồng - để rút ra những bài học kinh nghiệm hữu dụng cho Việt Nam;
Trang 8Hai là, trình bày một bức tranh toàn cảnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam gần 20 năm qua bằng những lát cắt: (1) phân theo thời gian, (2) phân theo ngành kinh tế và (3) phân theo đối tác;
Ba là, chỉ ra những hạn chế thuộc về chính sách, pháp luật, công tác quản lý nhà nước; và những khó khăn từ phía doanh nghiệp cần phải nhanh chóng khắc phục;
Bốn là, thông qua thảo luận với các doanh nghiệp có dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, cũng như kết quả điều tra những doanh nghiệp có dự định đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; luận án khắc họa sự sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của cộng đồng doanh nghiệp, đây cũng chính là cơ sở cho việc đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy hoạt động này;
Năm là, đề ra hệ thống giải pháp (nhóm giải pháp về chiến lược, chính sách của nhà nước và nhóm giải pháp xuất phát từ doanh nghiệp) có tính khả thi để đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong tương lai
vii Kết cấu của luận án
Kết cấu chính của luận án gồm phần mở đầu, kết luận và 3 chương Ngoài ra còn có bảng thuật ngữ viết tắt, danh mục bảng, danh mục hình, tài liệu tham khảo
và phần phụ lục Cụ thể như sau:
Phần mở đầu
Phần này trước tiên sẽ xác định vấn đề nghiên cứu từ đó hình thành mục tiêu
và câu hỏi nghiên cứu; giới thiệu phương pháp, thông tin và thiết kế nghiên cứu Phần này cũng chỉ rõ phạm vi nghiên cứu, những vấn đề nghiên cứu có liên quan, những điểm mới cũng như kết cấu của luận án
Chương 1 Cơ sở khoa học về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nội dung chính của chương 1 này đề cập đến những vấn đề mang tính lý luận liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, kinh nghiệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước Đông Á và bài học cho Việt Nam
Trang 9 Chương 2 Thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Chương 2 đề cập đến tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua về phía cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp, những thuận lợi và khó khăn, hạn chế đang cản trở sự phát triển của hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài Chương này còn phân tích kết quả khảo sát tình hình thực tế để đưa ra những cơ sở xây dựng thang đo, kiểm định các giả thuyết nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Việt Nam
Chương 3 Giải pháp đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Dựa trên kết quả phân tích từ chương 2, chương này sẽ xây dựng các quan điểm, đồng thời dự báo về khả năng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế Từ đó, đề xuất hệ thống giải pháp (nhóm giải pháp
về chiến lược, chính sách của nhà nước và nhóm giải pháp xuất phát từ doanh nghiệp) nhằm đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Kết luận
Trang 10
Hình i.i Tóm lược quy trình nghiên cứu (của tác giả)
Xác định thông tin cần thu thập
Thiết kế nghiên cứu
Xác định mục tiêu
và câu hỏi nghiên cứu
QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Nội dung chính của chương 1 này đề cập đến những vấn đề mang tính lý luận liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đồng thời, do điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có nhiều nét tương đồng nên tác giả quyết định chọn nghiên cứu kinh nghiệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước Đông Á [27], nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.1 Lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hoạt động đầu tư trên thế giới ngày càng phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều loại hình đầu tư khác nhau Bên cạnh hoạt động đầu tư từ nguồn lực trong nước, hoạt động đầu tư phát sinh từ một chủ đầu tư nằm bên ngoài phạm vi quốc gia được đầu tư ngày càng trở nên một động lực to lớn nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh
tế thế giới Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn gắn liền với sự phát triển địa bàn hoạt động của các công ty đa quốc gia
Nguyên nhân hình thành đầu tư trực tiếp nước ngoài là do các công ty đa quốc gia có những ưu thế riêng mà các đối thủ địa phương không có Các ưu thế này tập trung ở các phương pháp quản lý và công nghệ tiên tiến Do đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài đẩy mạnh sự phổ biến quốc tế các công nghệ mới và tài sản vô hình, đồng thời làm tăng hiệu quả công tác quản lý hay tổ chức sản xuất Mặt khác, khi nắm giữ chặt chẽ những ưu thế trên, các công ty đa quốc gia sẽ tác động lên các yếu tố thiên phú riêng của các quốc gia, nhờ đó làm tăng thu nhập từ mậu dịch Cuối cùng, đầu tư nước ngoài trực tiếp ở nhiều quốc gia sẽ kích thích cạnh tranh giữa các công ty
Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi công dân của một nước (nước đầu tư) nắm giữ quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế ở một nước khác (nước chủ nhà hay nước nhận đầu tư) Trong khái niệm này, thật sự không có sự đầu tư gia tăng về kinh tế hay một sự chuyển giao ròng giữa các quốc gia mà đơn thuần chỉ là một sự
di chuyển tư bản từ quốc gia này sang quốc gia khác Các công ty nắm quyền kiểm
Trang 12soát hoạt động ở nhiều quốc gia được xem như các công ty đa quốc gia, các công ty xuyên quốc gia hay các công ty toàn cầu Sự phát triển hoạt động của các công ty này chính là động lực thúc đẩy sự phát triển trong thương mại quốc tế thông qua hình thức đầu tư trực tiếp vào các quốc gia khác trên thế giới [19]
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà chủ đầu
tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyền điều hành hay tham gia điều hành đối với các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ thương mại [53]
Tổ chức Thương mại thế giới định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý
là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp,
cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”
Đầu tư trực tiếp nước ngoài phải được hiểu đủ cả hai chiều, nghĩa là bao gồm đầu tư vào và đầu tư ra ngoài biên giới một quốc gia Vì vậy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một trong hai bộ phận của đầu tư trực tiếp nước ngoài Cách hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài tức là đầu tư trực tiếp của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
là chưa đầy đủ
Theo Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định
về đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam thì đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam là việc doanh nghiệp Việt Nam đưa vốn bằng tiền, tài sản khác ra nước ngoài để đầu tư trực tiếp ở nước ngoài [23]
Kế tiếp, Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giải thích từ ngữ đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài [24]
Tóm lại, theo tác giả, đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm hai bộ phận là đầu tư trực tiếp vào trong nước do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện và đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài do các nhà đầu tư Việt Nam thực hiện Trong đó, đầu tư trực tiếp ra
Trang 13nước ngoài được xem là việc các nhà đầu tư Việt Nam đưa vốn đầu tư từ Việt Nam
ra nước ngoài để đầu tư dưới các hình thức theo quy định của pháp luật và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp số vốn tối thiểu, tùy quy định luật đầu tư từng nước Các chủ đầu tư có thể bỏ vốn 100% hoặc liên doanh để thành lập doanh nghiệp;
- Quyền điều hành quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu đóng góp 100% vốn thì doanh nghiệp hoàn toàn do chủ nước ngoài điều hành;
- Lợi nhuận của chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Lời và lỗ được chia theo tỷ lệ góp vốn pháp định sau khi đã nộp thuế lợi tức cho nước chủ nhà;
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường kèm theo chuyển giao công nghệ
1.1.3 Bản chất và vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thực tế phát triển của quan hệ quốc tế trong đầu tư những thập niên qua của các nước trên thế giới cho thấy không chỉ các nước giàu đầu tư sang các nước nghèo, mà bản thân các nước giàu cũng đầu tư sang nhau với tỷ trọng khá lớn, chiếm tới ¾ vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước này Các nước giàu đầu tư sang các nước khác không chỉ vì mục tiêu kinh tế tìm lợi nhuận mà cả vì mục tiêu chính trị Các nước chậm phát triển không chỉ tiếp nhận đầu tư của các nước phát triển mà cũng đầu tư sang các nước khác, mặc dù vẫn thiếu vốn cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong nước [40] Nguồn gốc sâu xa của xu thế này là do sự tác động đồng thời của bản thân hoạt động đầu tư đối với cả nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư
1.1.3.1 Đối với nước đi đầu tư
Bằng cách đầu tư ra nước ngoài, các nước đi đầu tư này tận dụng được lợi thế về chi phí sản xuất thấp của nước nhận đầu tư (do giá lao động rẻ, chi phí khai thác nguyên vật liệu tại chỗ thấp) để hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí vận chuyển đối với việc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu của nước nhận đầu tư, nhờ đó
Trang 14mà nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho phép các công ty kéo dài chu kỳ sống của các sản phẩm mới được tạo ra trong nước, đồng thời giúp cho công ty tạo dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu dồi dào, ổn định với giá rẻ (các nước nhận đầu tư là các nước đang phát triển thường có nguồn tài nguyên phong phú, nhưng do hạn chế về vốn và công nghệ nên chưa được khai thác, tiềm năng còn rất lớn)
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho phép chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế, tăng cường ảnh hưởng của mình trên thị trường quốc tế nhờ mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm; đồng thời tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của nước nhận đầu tư khi xuất khẩu sản phẩm là máy móc thiết bị sang nước nhận đầu
tư (để góp vốn) và xuất khẩu sản phẩm sản xuất tại đây sang các nước khác (do chính sách xuất nhập khẩu ưu đãi của các nước nhận đầu tư nhằm khuyến khích FDI, chuyển giao công nghệ và sản xuất hàng xuất khẩu của các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài), nhờ đó mà giảm được giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh với hàng nhập từ các nước khác Như vậy, đối với việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để khai thác lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư, các chủ đầu tư trực tiếp sản xuất được sản phẩm với giá thành hạ hơn so với sản xuất trong nước, nhờ đó các chủ đầu
tư có được ưu thế trong việc tiêu thụ sản phẩm này trên thị trường thế giới
Xét cho cùng thì mục tiêu chủ yếu của các chủ đầu tư ra nước ngoài là làm cho đồng vốn được sử dụng với hiệu quả cao nhất Cũng chính vì thế, ngay cả khi ở quốc gia họ tình trạng thất nghiệp tăng mạnh nhưng họ vẫn tìm kiếm lao động ở nước ngoài, vẫn đem vốn đi đầu tư trong khi lại thu hút vốn đầu tư của nước ngoài
1.1.3.2 Đối với nước nhận đầu tư
Đầu tư nước ngoài giải quyết tình trạng thiếu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội do tích lũy nội bộ thấp Cùng với việc cung cấp vốn thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các công ty (chủ yếu là các công ty đa quốc gia) đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc các nước khác sang nước nhận đầu tư Mặc dù còn nhiều hạn chế do những yếu tố khách quan và chủ quan chi phối, song điều không thể phủ nhận được là chính nhờ sự chuyển giao này mà các nước chủ nhà nhận được kỹ thuật tiên tiến (trong đó có những công nghệ không thể mua được
Trang 15bằng quan hệ thương mại đơn thuần), kinh nghiệm quản lý, năng lực marketing, đội ngũ lao động được đào tạo, rèn luyện về nhiều mặt (trình độ kỹ thuật, phương pháp làm việc, kỷ luật lao động…)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào làm cho các hoạt động đầu tư trong nước phát triển, tính năng động và khả năng cạnh tranh của sản xuất trong nước ngày càng được tăng cường (để tồn tại và phát triển), các tiềm năng cho phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước có điều kiện để khai thác và được khai thác Điều đó có tác động mạnh mẽ đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ, cơ cấu sản phẩm và lao động, cơ cấu lãnh thổ theo chiều hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với xu thế chung của thời đại; nước chủ nhà có thêm điều kiện để mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, xác lập chỗ đứng trên thị trường quốc tế
1.1.4 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển của thương mại quốc tế
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những tác động to lớn đến sự phát triển thương mại quốc tế Những tác động này ảnh hưởng không chỉ đến nước nhận đầu
tư mà ngay cả những nước xuất khẩu tư bản [19] Những tác động đó bao gồm:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều kiện thu hút nguồn nhu cầu mới Các công ty đa quốc gia (MNC) thường đạt tới một giai đoạn mà sự phát triển bị hạn chế tại xứ sở của họ Điều này có thể do sự cạnh tranh mãnh liệt đối với những sản phẩm mà họ bán ra trên thị trường
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp các MNC thâm nhập vào những thị trường
có thể đạt được lợi nhuận cao Nếu những công ty khác trong cùng một lĩnh vực công nghệ đã chứng minh được rằng những nguồn thu nhập cao có thể thực hiện được ở những thị trường khác thì một MNC nào đó cũng có thể quyết định thâm nhập vào thị trường đó
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tăng năng suất Một công ty có nỗ lực muốn bán sản phẩm ban đầu của mình tại các thị trường mới có thể làm tăng mức thu nhập cổ phần của mình do tăng năng suất Điều này làm giảm chi phí bình quân
Trang 16từng đơn vị sản phẩm Công ty càng sử dụng nhiều máy móc thiết bị thì khả năng này càng có điều kiện thuận lợi để thực hiện
- Sử dụng yếu tố nước ngoài trong sản xuất Các chi phí sử dụng đất đai và lao động có thể khác biệt nhau rất xa giữa các quốc gia Các MNC thường cố gắng thiết lập việc sản xuất tại địa điểm có giá lao động và đất đai rẻ
- Sử dụng nguyên vật liệu nước ngoài Do các chi phí vận chuyển, các công
ty cố gắng tránh nhập khẩu nguyên vật liệu từ một đất nước khác, một giải pháp khả thi hơn là phát triển việc sản xuất sản phẩm tại một nước mà nguyên vật liệu có sẵn
- Sử dụng công nghệ nước ngoài Các MNC thiết lập ngày càng nhiều các nhà máy ở nước ngoài hay mua lại các nhà máy hiện hữu của nước ngoài để học hỏi thêm về công nghệ
- Khai thác các thuận lợi về độc quyền Các công ty có thể trở nên quốc tế hóa nếu như họ sở hữu các tiềm lực hay kỹ năng mà các đối thủ cạnh tranh không bao giờ có
- Đa dạng hóa ở tầm cỡ quốc tế Nếu tất cả tài sản của một công ty được tổ chức nhằm điều tiết việc kinh doanh một loại sản phẩm nào đó trong một quốc gia, nguồn tiền mặt của công ty đó rất có khả năng trở nên bất ổn định, đó là kết quả của những tình thế thay đổi trong phạm vi công nghệ của công ty hay trong phạm vi nền kinh tế Công ty có thể giảm bớt sự thay đổi nguồn tiền mặt bằng cách đa dạng hóa nguyên liệu sản xuất
- Phản ứng với giá trị thay đổi của ngoại tệ Khi một công ty cho rằng ngoại
tệ của một quốc gia nào đó bị hạ giá, công ty đó có thể tính đến khả năng đầu tư trực tiếp vào đất nước đó Do sự giảm giá ngoại tệ, mức phí tổn ban đầu có thể khá thấp Nếu đồng ngoại tệ đó mạnh lên theo thời gian, thu nhập được chuyển về công
ty mẹ sẽ tăng lên
- Phản ứng với các kiềm hãm thương mại Trong một số trường hợp, một MNC sử dụng việc đầu tư trực tiếp như là một chiến lược dự phòng hơn là tấn công
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại những thuận lợi về mặt chính trị Một
số MNC đóng tại những nước có nền chính trị không ổn định đang cố gắng phát triển sang những nước ổn định hơn
Trang 171.1.5 Hạn chế của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Chủ đầu tư nước ngoài dễ mất vốn nếu đầu tư vào môi trường bất ổn định
về kinh tế và chính trị;
- Nếu nước chủ nhà không có quy hoạch đầu tư khoa học, sẽ dẫn tới sự đầu
tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị bóc lột và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng xảy ra Hiện nay, các nước phát triển thực hiện sự kiểm soát gắt gao những dự án gây ô nhiễm môi trường, nên xu thế nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã và đang chuyển giao những công nghệ độc hại sang các nước kém phát triển;
- Hoạt động FDI cũng tạo ra điều kiện để dẫn tới sự phân hóa sự giàu nghèo,
sự di dân ồ ạt ra các trung tâm đô thị lớn; gây ra sự xáo trộn xã hội, bất bình đẳng gia tăng, cụ thể bất bình đẳng giữa các vùng kinh tế, các ngành kinh tế và giữa các tầng lớp dân cư;
- Hoạt động FDI là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự pha trộn về văn hóa và nguy cơ bản sắc dân tộc bị mai một
1.2 Các vấn đề về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1.2.1 Sự cần thiết đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Trong lịch sử đầu tư trực tiếp nước ngoài của thế giới, các nước đang phát triển thường đóng vai trò thụ động Các nước này chỉ thường tiếp nhận chứ không chủ động đầu tư ra nước ngoài Cho tới thập niên 1980, các nhà đầu tư từ nhóm nước “bốn con rồng châu Á” mới bắt đầu đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, cụ thể là đầu tư qua các nước láng giềng trong khu vực Do xu hướng toàn cầu hóa và đặc biệt là chính phủ các nước đang phát triển đã dần nhận ra được tầm quan trọng của hoạt động đầu tư ra nước ngoài nên hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển không chỉ còn giới hạn ở Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông và một số nước Mỹ Latinh như Chile, Achentina nữa mà đã lan rộng qua các nước khác như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Ấn Độ Đây không phải là hiện tượng nhất thời mà theo báo cáo về tình hình đầu tư thế giới của UNCTAD năm
2006 thì đây là một xu hướng khách quan và sẽ chi phối hoạt động đầu tư trực tiếp thế giới trong những năm tiếp theo [44]
Trang 18Sự phân hóa trình độ phát triển về thu nhập bình quân đầu người, trình độ khoa học - công nghệ, mức độ công nghiệp hóa… trong nội bộ các nước đang phát triển là rất lớn Chính điều này đã tạo ra điều kiện áp dụng mô hình “đàn sếu bay” trong chuyển giao công nghệ giữa các nước đang phát triển với nhau cũng như nhu cầu tiếp cận nguồn lao động rẻ Từ đó đầu tư trực tiếp giữa nước đang phát triển có trình độ phát triển cao hơn với nước có trình độ phát triển thấp hơn được thúc đẩy Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, kinh tế thế giới đã chứng kiến sự trỗi dậy của các nền kinh tế Đông Á, Ấn Độ và một số nước Mỹ Latinh Do đó, nhiều người dự báo thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của châu Á Hiện tại, đóng góp của các nước đang phát triển Đông Á (bao gồm cả ASEAN) vào vốn FDI ra của tất cả các nước đang phát triển là 72,27% [42] Vì vậy, nếu các nước Đông Á tiếp tục duy trì được tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay và tăng cường đầu tư ra nước ngoài thì trong tương lai vốn FDI ra từ các nước đang phát triển sẽ là một trong những nguồn vốn FDI chính trong đầu tư thế giới
Hiện tại ở một số nước đang phát triển, sự cạnh tranh diễn ra rất gay gắt giữa các doanh nghiệp Các doanh nghiệp ưu thế hơn sẽ dần thu tóm thị trường trong nước Tuy nhiên, lượng cầu trong nước là giới hạn, nên các doanh nghiệp này không còn cách nào khác là phải xuất khẩu hay đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để tiếp cận thị trường nước ngoài Trong đó phương án đầu tư được lựa chọn nhiều hơn Mặt khác, các doanh nghiệp yếu thế trong cạnh tranh muốn tồn tại thì phải chuyển hướng hoạt động ra thị trường các nước phát triển kém hơn, cụ thể là ở những thị trường ngách
1.2.2 Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
- Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước: Helpman và Richard S Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên của vốn giữa các nước Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận
- Chu kỳ sản phẩm: Akamatsu Kaname cho rằng sản phẩm mới đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước
Trang 19ngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường nội địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật của nước ngoài Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI [1] Raymond Vernon lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp sẽ dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn [46]
- Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia: Stephen H Hymer, John H Dunning và Rugman A M cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai, chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên [10, 11, 17, 33]
- Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương Ví dụ, Nhật Bản hay bị Hoa Kỳ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương Để đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Hoa Kỳ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu
- Khai thác chuyên gia và công nghệ: Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Hoa Kỳ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Hoa Kỳ Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Hoa Kỳ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự Trung Quốc gần đây cũng đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Hoa Kỳ
Trang 20- Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên: Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự như vậy
1.2.3 Hình thức của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
- Loại hình quyền sở hữu: Để thực hiện FDI, một doanh nghiệp có nhiều lựa chọn quyền sở hữu, từ sở hữu 100% đến mức tối thiểu Các mức quyền sở hữu khác nhau sẽ dẫn đến mức độ linh động cho tập đoàn, khả năng thay đổi để kiểm soát kế hoạch và chiến lược kinh doanh, tạo sự khác biệt về mức độ rủi ro giả định Trong một số trường hợp, dường như các công ty chọn cấu trúc quyền sở hữu nước ngoài đặc thù, dựa trên kinh nghiệm của mình với cơ cấu tương tự trước kia Nói cách khác, những công ty này mang xu hướng duy trì sử dụng cùng một mô hình quyền
sở hữu Tuy nhiên, tốt hơn là, nên quyết định quyền chủ sở hữu có sự ứng phó chiến lược để kết hợp các khả năng và nhu cầu
- Quyền sở hữu trọn vẹn: Với nhiều công ty, ít ra ở thời kỳ đầu, quyết định FDI được xem xét ở phạm vi nắm giữ 100% quyền sở hữu Đôi khi, điều này là kết quả của xét đoán mang tính vị chủng, dựa trên niềm tin rằng, không một thực thể bên ngoài nào có tác động đối với vấn đề quản trị doanh nghiệp Ở một thời điểm khác, vấn đề còn là một nguyên tắc Ngoài áp lực từ chính phủ nước chủ nhà, sự bất
ổn chung về thị trường cũng là một nhân tố để nắm quyền sở hữu trọn vẹn của FDI
Sự bất ổn có thể đến từ rối loạn chính trị hoặc từ sự thay đổi chế độ Thông thường hơn, nó đến từ mối đe dọa về hoạt động chính trị, thủ tục hành chính phức tạp, mất thời gian và quan liêu, viễn cảnh phải đưa ra trọng tài phân xử và những thay đổi không thể lường trước về các điều lệ sau khi đã đưa ra quyết định đầu tư
- Liên doanh: Liên doanh là sự cộng tác của từ hai tổ chức trở lên trong một giai đoạn lâu dài Trong mối quan hệ hợp tác này, các bên đối tác cùng chia sẻ tài sản, rủi ro và lợi nhuận Không nhất thiết phải có sự bình đẳng giữa các đối tác Trong một số liên doanh, mỗi bên đối tác nắm giữ một lượng cổ phần như nhau Ở một số liên doanh khác, đa số cổ phần thuộc về một bên đối tác Đóng góp của các
Trang 21bên đối tác cho liên doanh có thể rất khác nhau, nó có thể bao gồm ngân quỹ, công nghệ, bí quyết, tổ chức bán hàng hoặc nhà máy và trang thiết bị
- Liên minh chiến lược: Một dạng liên doanh đặc biệt bao gồm liên minh chiến lược hoặc hợp danh Kết quả của việc gia tăng cạnh tranh toàn cầu và gia tăng nhanh chóng về đầu tư đòi hỏi tiến bộ công nghệ và rủi ro thất bại cũng tăng, thì liên minh chiến lược là sự dàn xếp chính thức hoặc không chính thức giữa hai hay nhiều công ty với một mục tiêu kinh doanh chung Chúng cao hơn mối quan hệ truyền thống giữa khách hàng và nhà cung cấp nhưng thấp hơn sự sáp nhập trực tiếp Thuận lợi to lớn của mối quan hệ liên minh như vậy là tính linh động liên tục
vì nó có thể được hình thành, điều chỉnh và giải thể nhanh chóng để ứng phó với điều kiện đổi thay Về cơ bản, liên minh chiến lược là mạng lưới các công ty cùng hợp tác để đạt được một dự án hay mục tiêu sẵn có
- Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế thực hiện những hợp đồng xây dựng-vận hành-chuyển giao Những dự án B.O.T thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện để thực hiện nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế
1.2.4 Lợi ích của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các nước đang phát triển
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một xu hướng tất yếu khi mà các nền kinh
tế hội nhập vào nền kinh tế thế giới Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không chỉ có các nước phát triển đóng vai trò là chủ đầu tư mà trong những giai đoạn gần đây đã có sự tham gia của các nước đang phát triển vào hoạt động này [6] Lợi ích của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đối với các nước đang phát triển có thể nhìn thấy sau đây:
- Một, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho nước đầu tư sử dụng có hiệu quả nguồn lực “dư thừa” tương đối trong nước, nâng cao tỷ suất đầu tư, khai thác có hiệu quả lợi thế của quốc gia Khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, các quốc gia này
sẽ đem các nguồn lực có lợi thế của mình để tiến hành đầu tư và có thể sẽ thu được lợi nhuận lớn hơn khi tiến hành đầu tư trong nước, bởi trong môi trường mới, nguồn
Trang 22lực mà nhà đầu tư đem đi đầu tư sẽ được khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn, các nguồn lực được khai thác tối đa
- Hai, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho nước đầu tư tìm kiếm và tận dụng được các nguồn lực ở nước ngoài một cách có hiệu quả hơn ở trong nước, xây dựng được thị trường cung cấp đầu vào ổn định với giá cả hợp lý Nguồn lực và khả năng khai thác các nguồn lực này tại mỗi quốc gia khác nhau là khác nhau Do vậy, mới dẫn đến tình trạng là có những nơi “thừa” tương đối và “thiếu” tương đối các nguồn lực Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, mỗi nhà quản lý đều phải luôn tìm cách tối thiểu chi phí và tối đa lợi nhuận nên họ cố gắng sử dụng các nguồn lực sao cho có hiệu quả nhất và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một giải pháp
- Ba, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp mở rộng thị trường xuất khẩu Đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài là một cách để thâm nhập vào thị trường nước ngoài Thâm nhập thị trường theo cách này sẽ giúp người tiêu dùng nước sở tại làm quen với sản phẩm của nước đầu tư do vậy góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu cho sản phẩm, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Bốn, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các nhà đầu tư tránh được hàng rào thương mại Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng thuế quan, hạn ngạch và các hình thức phi thuế quan khác để kiểm soát việc xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ Thông thường chính phủ của các nước kiểm soát thương mại quốc tế nhằm mục đích tăng thu ngân sách, bảo hộ các ngành công nghiệp và thực hiện các mục tiêu chính sách kinh tế của mình Ngoài thuế quan và hạn ngạch, chi phí vận tải cũng là một bộ phận cấu thành hàng rào thương mại Các loại sản phẩm như khoáng sản, xi măng, vật liệu xây dựng có hàm lượng giá trị tương đối thấp lại cồng kềnh nên chi phí vận chuyển chúng đã thực sự làm giảm lợi nhuận biên của nhà sản xuất
và là trở ngại thực sự cho việc xuất khẩu Trong các trường hợp như vậy, các nhà sản xuất thay vì xuất khẩu hàng hóa, họ xuất khẩu tư bản hay đầu tư trực tiếp nước ngoài để giảm chi phí và tránh được hàng rào bảo hộ thương mại của các nước
- Năm, thông qua đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sẽ giúp cho các nhà đầu tư kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, đổi mới công nghệ thông qua việc di chuyển công nghệ cũ, đã hao mòn về vô hình sang các nước nhận đầu tư
Trang 23- Sáu, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp nước đầu tư có thể nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, qua đó nâng cao được năng lực quản lý thông qua việc học tập kinh nghiệm quản lý kinh tế tiên tiến và chuyên nghiệp
- Bảy, bối cảnh nền kinh tế hiện nay là các quốc gia vừa hợp tác vừa cạnh tranh Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thể hiện rất rõ thực trạng này Khi các quốc gia tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, mỗi quốc gia đảm nhiệm một vai trò mà mình có thế mạnh và để tận dụng được tối đa lợi thế của các nước thì họ liên kết lại Và, trong quá trình phát triển, các quốc gia cũng cạnh tranh với nhau để sao cho nước mình thu được nhiều lợi ích nhất
1.2.5 Ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1.2.5.1 Từ nước nhận đầu tư
- Thuận lợi: FDI có thể đóng vai trò tích cực cho nước sở tại bằng cách cung cấp vốn, nguồn lực và đặc biệt là công nghệ mà quốc gia không sẵn có Như ta biết công nghệ có thể kích thích tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa Công nghệ có thể thực hiện theo hai hình thức và cả hai đều có giá trị, nó có thể kết hợp với quy trình sản xuất hoặc có thể kết hợp trong sản phẩm Tuy nhiên, nhiều quốc gia thiếu nguồn nghiên cứu và kỹ năng để phát triển những sản phẩm bản xứ của chính họ và
xử lý công nghệ Điều này là sự thật đối với các quốc gia đang phát triển Những quốc gia như vậy phụ thuộc vào quốc gia công nghiệp hiện đại đối với những công nghệ yêu cầu kích thích tăng trưởng kinh tế Mặt khác, kỹ năng quản lý nước ngoài mang đến thông qua FDI có thể cung cấp các lợi ích quan trọng cho nước nhận đầu
tư Tác động quay vòng lợi ích xuất hiện khi nhân viên bản địa được huấn luyện kỹ năng quản lý và duy trì kỹ thuật trong công ty con của MNC Lợi ích tương tự cũng
có thể gia tăng nếu kỹ năng của ban quản trị cấp cao của MNC nước ngoài khuyến khích nhà cung cấp phân phối và đối thủ địa phương cạnh tranh để cải thiện năng lực quản lý của họ Tỷ lệ phần trăm quản lý và lao động cấp cao cho công dân nước
sở tại có thể được thương lượng giữa MNC mong muốn thực hiện FDI và nước sở tại Trong những năm gần đây, hầu hết các MNC đã đáp ứng áp lực của chính phủ nước sở tại bằng sự đồng ý giữ lại một tỷ lệ lớn quản lý lao động kỹ thuật cao cho công dân của nước sở tại Ảnh hưởng có lợi của FDI còn là mang đến việc làm cho
Trang 24nước sở tại mà các loại hình khác không làm được Ảnh hưởng trực tiếp xuất hiện khi MNC nước ngoài trực tiếp thuê công dân của nước sở tại Tác động gián tiếp tăng khi việc làm được tạo ra cho các nhà cung cấp địa phương là kết quả của đầu
tư vì có sự gia tăng trong chi tiêu ở kinh tế địa phương từ nhân viên của MNC Tác động đến tài khoản thanh toán của quốc gia cũng là chính sách quan trọng cho hầu hết các quốc gia nhận đầu tư Thông thường thì chính phủ luôn mong muốn tài khoản vãng lai thặng dư; vì vậy, cách duy nhất mà tài khoản vãng lai thâm hụt có thể được bù đắp dài hạn là bán tài sản cho người nước ngoài Điều này có vẻ không được chờ đợi lắm FDI có thể giúp quốc gia đạt được điều này, đầu tiên nếu FDI thay thế nhập khẩu và dịch vụ, nó cải thiện tình trạng tài khoản vãng lai của một quốc gia sở tại; thứ hai, MNC sử dụng tài trợ nước ngoài để xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ đến nước khác
- Bất lợi: Tác động ngược lên cạnh tranh đôi khi chính phủ nước sở tại lo lắng vì sự hoạt động của các cơ sở nước ngoài của MNC ở quốc gia của họ có tiềm lực cạnh tranh hơn các công ty bản xứ, bởi họ là một phần của các tập đoàn đa quốc gia Như vậy công ty có thể rút quỹ từ nơi này đến nơi khác để tài trợ chi phí cho thị trường nước sở tại, có thể sẽ làm triệt tiêu các doanh nghiệp bản xứ và hình thành các công ty độc quyền nước ngoài Điều này hoàn toàn có hại cho kinh tế quốc gia Tác động bất lợi có thể của FDI lên cán cân thanh toán của nước chủ nhà hai lần Thứ nhất, so sánh với vốn thu hút FDI ban đầu phải là thu nhập chuyển ra sau này khi cơ sở nước ngoài chuyển thu nhập về cho công ty mẹ Những khoản tiền chuyển như vậy được xem như là khoản nợ trên tài khoản vãng lai Thứ hai, là khi các công
ty nước ngoài nhập khẩu một số nguyên liệu từ nước ngoài cũng tạo ra khoản nợ trên tài khoản vãng lai Về chủ quyền quốc gia và tự trị, nhiều chính phủ sở tại lo ngại FDI dẫn đến sự phụ thuộc kinh tế Yếu tố quyết định có thể ảnh hưởng đến kinh tế nước sở tại sẽ được tạo ra bởi các công ty mẹ nước ngoài mà không có sự cam kết thực sự với nước sở tại và vượt quá sự kiểm soát của nước sở tại
1.2.5.2 Từ nước đầu tư
- Thuận lợi: Những tác động tích cực của FDI đến từ 3 nguồn: (1) Tài khoản vãng lai của nước nhận đầu tư sẽ có lợi từ các khoản thu nhập đến từ nước ngoài;
Trang 25(2) Lợi ích cho nước đầu tư vốn FDI ra tăng từ tác động việc làm Cũng như với cán cân thanh toán tác động tích cực của FDI tăng lên khi cơ sở nước ngoài tạo nhu cầu cho xuất khẩu trang thiết bị sản phẩm trung gian và sản phẩm thay thế; và (3) Lợi ích tăng lên khi MNC của nước đầu tư học hỏi kỹ năng có giá trị từ nước nhận đầu
tư và chuyển ngược về nước
- Bất lợi: Nhìn chung các nước đầu tư cũng có những thiệt hại của mình Vấn
đề quan trọng nhất xoay quanh vấn đề cán cân thanh toán và việc làm do đầu tư ra nước ngoài Vị thế thương mại của quốc gia đầu tư có thể giảm sút nếu mục đích của FDI là để phục vụ cho nước nhà từ thị trường sản xuất có chi phí thấp Tài khoản cán cân có thể bị lệch nếu đầu tư trực tiếp thay thế cho xuất khẩu trực tiếp Thứ hai là những quan tâm đặc biệt về việc làm tăng khi FDI thay thế sản xuất trong nước Nếu thị trường lao động ở quốc gia đầu tư rất hẹp, điều này không là vấn đề lớn Tuy nhiên nếu quốc gia đầu tư bị thiệt hại từ thất nghiệp thì quan tâm về xuất khẩu công việc có thể gia tăng trong tương lai
1.2.6 Cơ sở cho đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu
Đa số các nước đang phát triển - trong đó có Việt Nam - đang tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường với mục tiêu hướng vào xuất khẩu Trong quá trình vận động kinh tế thị trường bản thân nó cũng đã bộc lộ khá nhiều những nhân tố không hoàn hảo, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Sự tồn tại của các yếu tố này có thể tác động lên toàn bộ hay riêng lẻ từng ngành, từng lĩnh vực trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia Có thể thấy sự khác biệt về tính không hoàn hảo giữa các thị trường khác nhau, giữa các quốc gia khác nhau Chính vì vậy, ngay trong nội tại các nước đang phát triển, các doanh nghiệp gánh chịu sự tác động của tính không hoàn hảo của thị trường sẽ tìm cách chuyển hướng đầu tư sang thị trường hoàn hảo hơn và ít bị tác động hơn
1.2.6.1 Hàng rào thương mại
Những quy định thương mại tự do được ký kết song phương hay đa phương giữa các quốc gia đang phát triển với các thị trường lớn đã tạo điều kiện cho các sản
Trang 26phẩm nước này có thể thâm nhập vào các thị trường này Tuy nhiên không phải bất
cứ sản phẩm nào, dịch vụ nào cũng có thể vào được Với lợi thế nước lớn, các quốc gia châu Âu, Hoa Kỳ và các nước công nghiệp phát triển thường xây dựng những hàng rào hữu hình lẫn vô hình nhằm bảo vệ doanh nghiệp nước họ, khu vực họ Các hàng rào kỹ thuật đánh vào chất lượng sản phẩm nhập khẩu, đánh thuế thật nặng vào các sản phẩm nhập khẩu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất trong nước Đồng thời đề ra những quy định ưu đãi cho doanh nghiệp sản xuất trong nước, trong khu vực tự do mà nước đó tham gia, tạo ra lợi thế rất lớn cho những doanh nghiệp này trong cạnh tranh ngay trên thị trường đó cũng như trên thị trường thế giới Và để vượt rào, các nước đang phát triển đã và đang thực hiện nhiều phương án đầu tư tại các cửa ngõ đi vào thị trường châu Âu (Đông Âu) và thị trường Hoa Kỳ (NAFTA)
1.2.6.2 Chia sẻ khoa học công nghệ
Chủ trương của Đảng và nhà nước là quyết tâm xây dựng nước ta thành một quốc gia công nghiệp phát triển vào năm 2030 Mục tiêu lớn này sẽ được thực thi dựa trên nền tảng công nghiệp hóa hiện đại hóa, theo nguyên tắc đi tắt đón đầu công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới Vì vậy, chính phủ đã có chính sách ưu đãi các nhà đầu tư chuyển giao công nghệ cho Việt Nam, đồng thời xây dựng một chiến lược phát triển chất xám lâu dài phục vụ cho đất nước Tuy nhiên, tuy có một số dự
án FDI vào Việt Nam có chuyển giao công nghệ mới nhưng đa số chỉ là công nghệ hạng hai so với công nghệ của thế giới, hầu hết các bí quyết công nghệ hiện đại đều không có chuyển giao (các dự án đầu tư chỉ tập trung vào khai thác nguồn lao động
rẻ, nguồn nguyên liệu tại chỗ chứ không để phục vụ cho sự phát triển công nghệ) Chiến lược phát triển con người có thể coi là vấn đề lâu dài mang tính vĩ mô, không thể giải quyết trong thời gian ngắn Trong khi đó, công nghệ khoa học kỹ thuật thế giới ngày càng phát triển như vũ bão nếu không bắt kịp sẽ khiến cho chúng ta ngày càng tụt hậu và mục tiêu của chúng ta ngày càng xa vời Cho nên ngoài việc thu hút đầu tư, xây dựng con người, hoạt động đầu tư ra nước ngoài giúp chúng ta có thể chia sẻ những công nghệ cao tại quốc gia phát triển đem về góp phần xây dựng đất nước Đầu tư ra nước ngoài không chỉ là để tìm kiếm lợi nhuận mà còn là cơ hội để
Trang 27học hỏi những cái mới, hiện đại tại các quốc gia đầu tư, nhằm chuyển chúng về nước phục vụ cho quá trình tái thiết và phát triển kinh tế của quốc gia
1.2.6.3 Cơ hội ở những thị trường “bị bỏ sót”
Hiện nay các nhà đầu tư quốc tế lớn ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển chỉ tập trung đầu tư vào một số nước, khu vực nhất định và bỏ sót rất nhiều nước nhỏ Những nước bị bỏ sót này tuy không hấp dẫn các nhà đầu tư lớn nhưng có thể là một môi trường đầu tư đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam Chẳng hạn châu Phi có nhiều thị trường đang bị bỏ sót Trong số những mặt hàng nhập khẩu chủ đạo của châu Phi, hàng tiêu dùng, đồ gỗ, đồ nhựa, thực phẩm chế biến [49, 48] là những mặt hàng Việt Nam có thể tiếp cận thị trường không chỉ bằng con đường xuất khẩu mà còn bằng đầu tư do có thể tận dụng được nguồn nguyên vật liệu tại chỗ, giảm được chi phí vận chuyển cũng như hiểu rõ về tập quán tiêu dùng hơn Một ưu điểm khác khi đầu tư vào những nước này là doanh nghiệp
có thể tận dụng cơ sở vật chất, nhân lực của mình ở các nước này để đầu tư mở rộng vào việc thu mua, khai thác những mặt hàng Việt Nam thường nhập khẩu từ khu vực này như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các loại nông sản… Tuy nhiên, xu hướng tăng mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài từ các nước đang phát triển trong thập kỷ tới sẽ làm cho dòng vốn FDI đổ nhiều vào những nước bị bỏ sót này Lúc
đó, có thể nói các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp nhiều cạnh tranh hơn khi đầu tư vào các nước này Vì vậy, ngay bây giờ là thời điểm thích hợp nhất nhằm tận dụng lợi thế của người đến trước
1.2.6.4 Mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang dựa nhiều vào việc xuất khẩu những nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, than đá, sản phẩm lâm nghiệp… Nếu cứ theo đà khai thác và xuất khẩu như hiện nay thì những nguồn tài nguyên này sẽ trở nên khan hiếm, cạn kiệt trong tương lai gần Đây lại là những nguồn tài nguyên chiến lược đối với nền sản xuất công nghiệp của một quốc gia Trong khi đó, chiến lược phát triển trong 20 năm tới của Việt Nam là thành một nước công nghiệp, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu thuộc các ngành chế tạo giai đoạn giữa và sau như dệt,
Trang 28thép, hóa chất, hóa dầu, công nghiệp phụ trợ… cần rất nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên Trong giai đoạn phát triển tương tự như Việt Nam hiện nay, Nhật Bản và Hàn Quốc ở thập niên 70, 80 hay Trung Quốc, Malaysia những năm 1990 đã khuyến khích đầu tư ra nước ngoài vào những ngành khai thác, chế biến tạo đầu vào cho sản xuất trong nước [28] Vì vậy, có thể nói đây là thời điểm Việt Nam nên thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài nhằm bảo đảm và ổn định nguồn nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất trong nước, từ đó sẽ góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nhanh hơn, đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững
1.2.7 Điều kiện để doanh nghiệp các nước đang phát triển đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1.2.7.1 Về phía doanh nghiệp
Để có thể đầu tư trực tiếp ra nước ngoài doanh nghiệp các nước đang phát triển cần phải đáp ứng một số điều kiện sau:
- Các doanh nghiệp cần có tiềm lực tài chính đủ mạnh để tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Trong bất kỳ môi trường kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng cần phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh và đặc biệt là trong môi trường kinh doanh, đầu tư ở nước ngoài Bởi trong môi trường nước ngoài, doanh nghiệp
sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức hơn và nếu vượt qua những thách thức này thì doanh nghiệp sẽ thu được lợi ích kinh tế lớn hơn so với đầu tư ở trong nước;
- Doanh nghiệp tiến hành hoạt động đầu tư phải có thế mạnh của mình như công nghệ sản xuất, bí quyết kỹ thuật, kỹ năng sản xuất sản phẩm vượt trội Đôi khi trong môi trường khách quan như nhau nhưng doanh nghiệp nào nắm trong tay bí quyết, công nghệ sản xuất sản phẩm nào đó thì sẽ làm cho chi phí sản xuất thấp hơn mặt bằng chung, trong khi chất lượng bằng hoặc cao hơn thì doanh nghiệp đó đương nhiên sẽ đạt được lợi ích cao hơn các doanh nghiệp còn lại;
- Các doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở giá trị của sản phẩm trong hiện tại cũng như tương lai đối với người tiêu dùng Nếu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mạnh sẽ cho phép doanh nghiệp không chỉ khẳng định vị trí của doanh
Trang 29nghiệp ở trong nước mà còn tạo tiền đề cho việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp;
- Chất lượng của đội ngũ quản lý, nguồn nhân lực cũng là một yêu cầu Con người có thể sáng tạo ra sản phẩm, tổ chức quản lý kinh doanh Do vậy, nếu doanh nghiệp có nguồn nhân lực đảm bảo đủ năng lực thì việc sử dụng các nguồn lực cũng như các thế mạnh của doanh nghiệp sẽ hiệu quả và được khai thác tối đa
1.2.7.2 Về phía nhà nước
Trong hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nếu chỉ mình doanh nghiệp
cố gắng thôi thì chưa đủ, hoạt động này cũng cần sự phối hợp, tạo điều kiện từ phía nhà nước, cụ thể:
- Sự thay đổi các chính sách vĩ mô của nhà nước (chính sách tài chính tiền tệ, chính sách xuất khẩu, chính sách quản lý ngoại hối) có ảnh hưởng mạnh tới việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Bởi một khi các chính sách này có
sự thay đổi thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn, khả năng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp;
- Hoạt động thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài của nước đầu tư chủ yếu bao gồm các hiệp định đầu tư song phương và đa phương, hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, trợ giúp về tài chính trong các hoạt động xúc tiến đầu tư, bảo hiểm đầu tư, cung cấp các thông tin về môi trường đầu tư Các hoạt động này tạo ra cơ sở pháp lý, tiền đề cần thiết cho nhà đầu tư ở nước ngoài
1.2.8 Xu hướng gia tăng dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển
Lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển ngày một gia tăng trong những năm gần đây Theo số liệu báo cáo của UNTCAD năm 2006 cho biết, lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển trong tổng lượng vốn FDI toàn cầu đã tăng từ 8% lên 15% trong 25 năm qua Riêng trong năm 2005, các nước đang phát triển đã đầu tư khoảng 117 tỷ USD, tăng 4% so với năm 2004, chiếm 17% so với tổng lượng vốn FDI toàn cầu Xu hướng này ngày càng phát triển
do việc tăng cường thương mại và đầu tư trong nội bộ khu vực ngày một tăng lên
Trang 30Tuy nhiên, các nhà đầu tư đến từ các nước đang phát triển chủ yếu đầu tư vào các nước cùng khu vực địa lý và mang tính chất chuyển giao một số ngành, cơ sở kinh
tế sang các nền kinh tế kém phát triển hơn Số lượng vốn FDI đầu tư ngược trở lại các nước phát triển chiếm tỷ lệ rất nhỏ
Một số nước đang phát triển giờ đây đã trở thành những nhà đầu tư quốc tế
có uy tín như Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc Chính phủ các nước này cũng đã đưa ra nhiều chính sách khuyến khích hoạt động đầu tư
ra nước ngoài này như giảm thuế lợi tức gửi về nước, khấu trừ chi phí đầu tư dự án (Malaysia) hay miễn thuế thu nhập 3 năm đối với các nhà đầu tư địa phương khi đầu tư ra nước ngoài (Hàn Quốc) Có thể nói, đây là một trong số những động thái khuyến khích đầu tư ra nước ngoài từ phía chính phủ dành cho các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Như vậy, có thể thấy rằng, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển đang có chiều hướng gia tăng Nó thể hiện các nước đang phát triển giờ đây đã và đang nỗ lực phát triển, muốn được góp tiếng nói của mình vào lĩnh vực đầu tư quốc tế mà xưa nay vốn chỉ dành cho các nước phát triển
1.3 Lý thuyết về rủi ro quốc gia
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh
mẽ như hiện nay thì rủi ro không chỉ đơn thuần được xem xét trong phạm vi một lĩnh vực bên trong một quốc gia mà nó được mở rộng ra phạm vi một quốc gia và lớn hơn đó là phạm vi toàn cầu Chính vì vậy, cần phải xem xét rủi ro ở tầm quốc gia, tức là rủi ro quốc gia, khi tiến hành hoạt động đầu tư1
1.3.1 Định nghĩa rủi ro quốc gia
Rủi ro quốc gia đề cập đến rủi ro mà một quốc gia sẽ không thể thực hiện hay không sẵn sàng thực hiện các cam kết tài chính, nghĩa vụ nợ của mình đối với người cho vay hoặc nhà đầu tư nước ngoài Khi mà một quốc gia không hoàn thành được nhiệm vụ đề ra thì nó sẽ gây hại đến hoạt động của tất cả các công cụ tài chính
1
Bài báo khoa học “Một cách nhìn về rủi ro quốc gia” của PGS.TS Nguyễn Ngọc Định, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, trên Tạp chí Phát triển kinh tế, số ra tháng 01/2006
Trang 31khác trong quốc gia đó như cổ phiếu, trái phiếu, quỹ tương hỗ, quyền chọn và hợp đồng tương lai Loại rủi ro này hầu hết thường được thấy tại các thị trường mới nổi hay các quốc gia bị thâm hụt cán cân thương mại nghiêm trọng
Rủi ro quốc gia là một định nghĩa rộng hơn của rủi ro tín dụng và cho vay xuyên biên giới Nếu rủi ro này được xem xét từ khía cạnh một danh mục cho vay thì nó bao gồm cả các yếu tố hệ thống (rủi ro không thể đa dạng hóa) và các yếu tố phi hệ thống (rủi ro có thể đa dạng hóa) Rủi ro hệ thống cũng có thể xem như là rủi
ro không thể tránh được hay rủi ro không thể đa dạng hóa Rủi ro chính trị có thể được mô tả như là rủi ro phi hệ thống và có thể đa dạng hóa Rủi ro phi hệ thống có thể được giảm thiểu một cách đáng kể khi các chứng khoán được đa dạng hóa tốt
Như vậy, thuật ngữ rủi ro quốc gia được xem là phụ thuộc vào các hình thức đầu tư nước ngoài, là cái mà các nhà đầu tư có thể gặp phải khi đầu tư vào một quốc gia cụ thể Cùng với khả năng cân bằng giữa rủi ro và thu nhập, thì nhà đầu tư sẽ kỳ vọng cho mình một tỷ suất sinh lợi khi tiến hành đầu tư vào một quốc gia nào đó
1.3.2 Các loại rủi ro quốc gia
- Rủi ro thị trường (Market risk) là rủi ro gắn liền với hoạt động đầu tư vào từng thị trường cụ thể và không thể giảm thiểu bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư Rủi ro thị trường là loại rủi ro mà giá trị của hoạt động đầu tư sẽ biến động theo những biến động của các nhân tố thị trường và tất cả các chứng khoán sẽ chịu tác động của rủi ro này Như vậy rủi ro thị trường sẽ bao hàm những sự kiện kinh tế, chính trị, điều kiện… của từng thị trường
- Rủi ro tín dụng (Credit risk) được hiểu là rủi ro mà người đi vay không thể (hay không muốn) trả nợ gây ra những thiệt hại về mặt tài chính cho người cung cấp tín dụng Loại rủi ro này áp dụng không chỉ đối với những người đi vay cá nhân mà còn cả đối với một chính phủ Rủi ro tín dụng thường biểu hiện thông qua các khoản vay bằng trái phiếu
- Rủi ro lạm phát (Inflation risk) là rủi ro mà một hoạt động đầu tư không thể tạo ra được một tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ lệ lạm phát, tức là một phần của tỷ suất sinh lợi từ đầu tư bị mất đi do lạm phát Rủi ro này cũng được hiểu là rủi ro mà giá
cả của các hàng hóa, dịch vụ tăng lên làm giảm thu nhập từ hoạt động đầu tư
Trang 32- Rủi ro lãi suất (Interest rate risk) là rủi ro liên quan tới những biến động của lãi suất trên thị trường Rủi ro này thường đi kèm với rủi ro thị trường và tác động quan trọng đến các loại chứng khoán có thu nhập cố định như trái phiếu
- Rủi ro chính trị/chính sách của chính phủ (Political/Government policy risk) là rủi ro mà các nhà đầu tư phải đối diện do những biến động trong thành phần chính phủ; các sự kiện chính trị; những thay đổi trong luật lệ, chính sách của chính phủ; khả năng chuyển đổi của đồng nội tệ; chiến tranh, bạo loạn… Loại rủi ro này chiếm phần lớn trong các loại rủi ro mà nhà đầu tư gặp phải khi đầu tư vào các nước đang phát triển
- Rủi ro thanh khoản (Liquidity risk) là rủi ro đề cập đến khả năng không thể thực hiện việc thanh lý một hoạt động đầu tư (bán đi một tài sản nào đó) khi mong muốn hay không thể thanh toán các khoản nợ trong thời gian ngắn nhất định
1.3.3 Những yếu tố tác động đến rủi ro quốc gia
Rủi ro quốc gia chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: hệ thống chính sách và pháp luật, quy mô và cấu trúc nợ nước ngoài trong mối quan hệ với nền kinh tế, tài khoản vãng lai, vai trò của các nguồn vốn nước ngoài trong việc đáp ứng nhu cầu tài trợ vốn của một quốc gia và một số yếu tố kinh tế vĩ mô khác
- Hệ thống chính sách và pháp luật của quốc gia: Hệ thống này sẽ là “cột sống” cho mọi hành vi đầu tư của bất kỳ nhà đầu tư nào Yếu tố này tác động đến nhiều yếu tố khác như chế độ tỷ giá hối đoái, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu… từ
đó sẽ tác động đến rủi ro quốc gia
- Quy mô và cấu trúc của nợ nước ngoài trong mối quan hệ với nền kinh tế của một quốc gia
- Khi xem xét quy mô và cấu trúc nợ nước ngoài thì vấn đề đặt ra là quy mô vay nợ nước ngoài là bao nhiêu, tỷ lệ nợ ngắn hạn và dài hạn sẽ ra sao Để trả lời cho câu hỏi này thì cần quan tâm đến những lưu ý như: (1) Quy mô nợ ngắn hạn (trong tổng nợ nước ngoài) cao thì sẽ đưa tới khả năng tiềm tàng của khủng hoảng khả năng thanh toán, mặc dù rằng việc vay nợ ngắn hạn thì dễ dàng hơn so với nợ dài hạn; (2) Quy mô nợ nước ngoài của khu vực công (nợ của chính phủ và các
Trang 33công ty thuộc sở hữu nhà nước) sẽ đòi hỏi khả năng của chính phủ để tạo ra đủ thu nhập (từ thuế và các nguồn khác) nhằm đáp ứng các nghĩa vụ nợ
- Tài khoản vãng lai của quốc gia Tài khoản vãng lai của một quốc gia phản ánh tình hình thu chi các dòng vốn ngắn hạn của một quốc gia cho nên nó ảnh hưởng đến rủi ro quốc gia (rủi ro tài chính) Khi xem xét tài khoản vãng lai tác động thế nào đến rủi ro quốc gia thì cần xem xét các thành phần sau: (1) Mức độ dự trữ của một quốc gia thông qua chỉ tiêu mức dự trữ tính theo tuần nhập khẩu (dự trữ quốc tế của quốc gia) Yếu tố này cho thấy khả năng đối phó của chính phủ khi xảy
ra những dấu hiệu cũng như khi quốc gia rơi vào khủng hoảng tài chính - tiền tệ; (2)
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia sẽ tác động đến thu nhập của chính phủ Bằng việc xem xét cơ cấu hàng hóa xuất khẩu thì có thể đánh giá mức độ rủi ro quốc gia vì thu nhập từ xuất khẩu sẽ bị biến động khi thị trường các hàng hóa trong
cơ cấu hàng hóa xuất khẩu biến động hay là sự biến động giá cả của các hàng hóa trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu đó; (3) Sự biến động của tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá hối đoái biến động thì sẽ tác động lên giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia, điều này ảnh hưởng lên số ngoại tệ thu được hay chi ra, từ đó tác động lên khả năng tài chính của quốc gia
1.3.4 Đánh giá rủi ro quốc gia
Đánh giá rủi ro quốc gia là việc sử dụng các dữ liệu thống kê quốc gia, hay các phân tích định tính hoặc kết hợp cả hai theo một mô hình cụ thể nhằm đưa ra một xếp hạng hoặc phân loại cho từng quốc gia ứng với mức độ rủi ro quốc gia của quốc gia đó2 Đánh giá rủi ro quốc gia được dùng để dự báo các điều kiện tương lai đối với việc đầu tư vào một quốc gia Đánh giá rủi ro quốc gia đo lường các nhân tố kinh tế, tài chính, chính trị và các tác động qua lại giữa các nhân tố này nhằm xác định rủi ro gắn liền với một quốc gia cụ thể
Thông qua việc đánh giá rủi ro quốc gia (chính phủ tự đánh giá hay thông qua các cơ quan xếp hạng tín nhiệm) thì các chính phủ có thể nhận biết được thực trạng nền kinh tế, những yếu kém và triển vọng của quốc gia Từ đó, các nhà lãnh
2
Bài báo khoa học “Xếp hạng rủi ro quốc gia theo mô hình ICRG” của PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, trên Tạp chí Phát triển kinh tế, số ra tháng 5/2006
Trang 34đạo có thể đề ra các chính sách, biện pháp mang tính vĩ mô nhằm khắc phục để dần nâng cao mức tín nhiệm trên trường quốc tế, thu hút nhiều hơn vốn đầu tư quốc tế
để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế Thêm vào đó, với việc cải thiện mức độ rủi ro quốc gia của mình thì chính phủ một quốc gia sẽ giảm thiểu được chi phí vay mượn trên thị trường quốc tế vì nguyên tắc tài chính cơ bản chỉ ra rằng rủi ro càng cao thì phần bù rủi ro càng cao
Đánh giá rủi ro quốc gia được thực hiện bởi nhiều phương pháp, trong đó phương pháp xếp hạng rủi ro quốc gia được sử dụng thường xuyên vì phương pháp này dễ tạo ra ảnh hưởng trực quan tức thời đối với người sử dụng báo cáo nhất đồng thời cũng tương đối đơn giản và dễ so sánh độ rủi ro giữa các quốc gia với nhau Việc đánh giá rủi ro quốc gia thông qua xếp hạng rủi ro quốc gia đem lại những tác động rất quan trọng, cụ thể:
- Thứ nhất, xếp hạng rủi ro quốc gia ảnh hưởng đến mức lãi suất mà quốc gia phải gánh chịu để có thể đạt được một khoản tín dụng trên thị trường quốc tế: xếp hạng cao (tức là mức độ rủi ro thấp) thì lãi suất sẽ thấp và ngược lại;
- Thứ hai, xếp hạng rủi ro quốc gia cũng ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng của các ngân hàng và các công ty ở quốc gia đó, đồng thời tác động đến khả năng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài mà ảnh hưởng thông qua việc đánh giá chi phí kinh doanh Như vậy, xếp hạng rủi ro quốc gia được gọi là “điểm then chốt của tất
cả các mức xếp hạng khác của quốc gia” Tương tự, trong quá khứ các tổ chức xếp hạng luôn biểu hiện sự miễn cưỡng trong việc xếp hạng cao một công ty đa quốc gia
ở quốc gia mà công ty đó hoạt động;
- Thứ ba, các định chế đầu tư thường giới hạn mức rủi ro mà họ có thể chấp nhận, nghĩa là họ không thể đầu tư vào các khoản nợ hoặc đầu tư cổ phần bị xếp hạng thấp hơn một mức đã định
1.4 Kinh nghiệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước Đông Á 1.4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc không chỉ là một thị trường lớn đang thu hút đầu tư nước ngoài
mà còn đang nhanh chóng thành một nhà đầu tư lớn toàn cầu Từ 1979 đến nay Trung Quốc đã đầu tư vào trên 160 quốc gia khắp thế giới, với hơn 7.000 dự án, chủ
Trang 35yếu là các dự án thương mại, giao thông vận tải, thăm dò tài nguyên, du lịch và sản xuất chế tạo [22] Theo một nghiên cứu mới đây từ cơ quan chuyên môn của Liên hiệp quốc - UNCTAD3, động lực đằng sau những khoản tiền đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc là sự tiếp cận tài nguyên thiên nhiên, thị trường và tìm kiếm những tài sản chiến lược, bao gồm cả công nghệ và thương hiệu Cũng theo UNCTAD, khoảng 60% dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc là ở châu Á, kế đến là Bắc Mỹ, tiếp theo là châu Phi và Mỹ Latinh, cuối cùng là châu
Âu Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ngày càng có thể trở thành một lựa chọn thay thế
để phục vụ những thị trường mà Trung Quốc có mức thặng dư thương mại đáng kể, chẳng hạn Hoa Kỳ Điều này là bởi vì thặng dư thương mại thường là chủ đề của những cuộc tranh cãi chính trị gay gắt Như một phần của chiến lược này, các công
ty của Trung Quốc cũng đàm phán để mua những mạng lưới phân phối ở các nước khác Thêm vào đó, công suất sản xuất công nghiệp quá mức kể từ những năm 1990
ở một số ngành như cơ khí và điện tử đã khuyến khích các công ty Trung Quốc tìm kiếm cơ hội phát triển ở nước ngoài Các doanh nghiệp nhà nước hàng đầu của Trung Quốc áp dụng phương thức liên doanh hoặc mua lại những đối tác nước ngoài sẵn sàng chuyển giao kỹ thuật, nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ Tháng 02/2004, Tập đoàn Gang thép Baosteel (Bảo Cương) trở thành nhà đầu tư ở nước ngoài lớn nhất khi tham gia một dự án liên doanh gang thép 1,4 tỷ USD của Brazil Trước đó, tháng 12/2003, Tập đoàn Hóa chất Blue Star đã ký hợp đồng mua
cổ phần 1 tỷ USD của Nhà máy ô-tô Sangyong, Hàn Quốc Hai hợp đồng lớn này
đã làm cho vốn đầu tư ra nước ngoài trong hai năm 2003 và 2004 vượt mức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bình quân hàng năm là 2,3 tỷ USD của Trung Quốc trong thập kỷ 90 Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng, mặc dù có dư tiền vốn, có cơ hội đầu tư trong nước, nhưng nếu đầu tư quá nhiều trong nước sẽ làm cho nền kinh
tế quá nóng, gây thêm sức ép cho đồng nhân dân tệ và làm mất ưu thế cạnh tranh của thị trường có giá nhân công rẻ Vì vậy, tăng cường đầu tư ở nước ngoài, chú trọng vào khâu sản xuất nguyên liệu để đưa về nước cung cấp cho các ngành chế tạo, hóa dầu là một hướng đi đúng [15]
3
Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển, tổ chức lần đầu tiên (23/3 - 16/6/1964) tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ được thể chế hóa thành tên UNCTAD (United Nations Conference On Trade And Development)
Trang 36Năm 2007 Trung Quốc bắt đầu tăng tốc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để khai thác thị trường và tìm nguồn tài nguyên Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc hiện tập trung vào những nguồn mà trong nước đang thiếu như tài nguyên, quặng, xăng dầu, khí tự nhiên Đầu tư xong có sản phẩm bán ngược về Trung Quốc Ưu tiên thứ hai là hàng điện - điện tử gia dụng do hiện nay thị trường trong nước đã bảo hòa, cần phải tìm thị trường mới Ưu tiên thứ ba là nông nghiệp, Trung Quốc có thể xuất khẩu thức ăn gia súc, thuốc trừ sâu hoặc các loại giống Các doanh nghiệp Trung Quốc đã đầu tư trên 18,6 tỷ USD ra nước ngoài trong năm
2007 trong khi tổng vốn đầu tư ra bên ngoài năm 2002 chỉ là 2,5 tỷ USD Trong nửa đầu năm 2008, Trung Quốc đầu tư 25,66 tỷ USD vào lĩnh vực tài chính tại các nước, tăng 229% so với cùng kỳ năm ngoái [34] Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc được đánh giá hiện đang bước sang một giai đoạn phát triển mới Đầu
tư ra ngoài sẽ còn tăng trưởng nhanh hơn với quy mô lớn hơn trong những năm tới Tại Hội chợ Thương mại và đầu tư ở Hạ Môn, Phúc Kiến, Trung Quốc vừa qua, các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Úc đều tích cực tìm kiếm các nhà đầu tư địa phương Chính phủ Trung Quốc đã kịp thời có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp
có kế hoạch đầu tư trực tiếp ra nước ngoài khi mà số lượng các công ty địa phương tìm kiếm cơ hội mở rộng ra thị trường bên ngoài ngày càng nhiều Bộ Thương mại Trung Quốc hiện đang nghiên cứu một loạt các báo cáo về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Những báo cáo này bao hàm các cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, rủi ro đầu tư và thông tin kinh tế vĩ mô
Cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân từng nhận định rằng, toàn cầu hóa kinh tế sẽ trở thành một xu thế tất yếu và con đường phát triển tốt nhất của Trung Quốc là phải hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa này [8] Theo tinh thần đó, từ năm 2002, Trung Quốc đã khuyến khích các công ty lớn, nhỏ đầu tư ra nước ngoài Ngoài ra, các nhà kinh tế cho rằng việc Trung Quốc tăng cường đầu tư ra nước ngoài còn nhằm đa dạng hóa việc sử dụng nguồn dự trữ ngoại tệ khổng lồ mà nước này tích lũy được sau ba thập niên tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao Đầu tư ra nước ngoài còn giúp các doanh nghiệp Trung Quốc có điều kiện tiếp cận các thị trường mới và các công nghệ hiện đại Việc mua lại hay sáp nhập các công ty nước ngoài còn là một cách để các nhà sản xuất Trung Quốc xây dựng những thương hiệu quốc tế uy
Trang 37tín Cuối cùng, đầu tư ra nước ngoài còn là con đường ngắn nhất để Trung Quốc thực hiện chính sách “ngoại giao tiền bạc”, xây dựng ảnh hưởng không chỉ kinh tế
mà cả chính trị, quân sự, nhằm nâng cao vị trí của Trung Quốc như một siêu cường mới trên vũ đài quốc tế
Trong quá trình tìm kiếm cơ hội đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, những bài học thành công và thất bại của các công ty Trung Quốc là những bài học kinh nghiệm quý báu để nhiều nước trong đó có Việt Nam tham khảo Về tổng thể, kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy: (1) để đầu tư ra nước ngoài hiệu quả, nhà nước phải có một chiến lược dài hạn rõ ràng trong đó định rõ mục tiêu, bước đi, các giải pháp đồng bộ trong từng giai đoạn, có sự chỉ đạo, điều hành, kiểm tra nhất quán và liên tục của chính phủ chứ không phải là một hành động tự phát của một công ty, một tập đoàn lẻ loi hoặc là một biện pháp tình thế; (2) phải có nguồn tài chính tối thiểu, có kỹ thuật cao hoặc có khả năng thuê hoặc mua kỹ thuật cao và có nguồn nhân lực tương ứng với công nghệ hiện đại; (3) phải có đầy đủ thông tin về địa điểm đầu tư để phân tích rủi ro tối đa có thể chấp nhận nhằm tránh những hậu quả bi đát;
và (4) nhà nước phải đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại tạo điều kiện và môi trường cho việc triển khai đầu tư ra nước ngoài sau khi đề án đã được thẩm định
Mặt khác, Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng bởi cùng là những nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, thành phần kinh tế chủ đạo là kinh tế nhà nước Vì vậy chúng ta có thể học hỏi Trung Quốc trong việc xây dựng các công
ty nhà nước thành tập đoàn xuyên quốc gia Ban đầu chính phủ lựa chọn những công ty nhà nước hoạt động tốt chủ yếu trong các lĩnh vực chiến lược mà Trung Quốc có lợi thế như năng lượng, điện tử…để hỗ trợ phát triển thành tập đoàn, đồng thời đóng cửa các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ để tập trung vào những doanh nghiệp được chọn Sau khi đã phát triển thị trường trong nước đến một mức độ nhất định, các tập đoàn này tiến hành đầu tư qua các nước khác Chiến lược đầu tư lúc này phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động Những tập đoàn dầu khí thì đầu tư để tiếp cận nguồn nguyên liệu ở châu Mỹ Latinh, châu Phi; những tập đoàn sản xuất hàng điện tử thì đầu tư vào những nước lân cận có thị trường tiêu thụ rộng lớn Lúc này, các tập đoàn của Trung Quốc cạnh tranh về giá là chủ yếu
Trang 38Điểm đáng lưu ý là các công ty Trung Quốc mở rộng ra bên ngoài để phát triển, chứ không phải là phát triển rồi mới đầu tư ra bên ngoài như các nước châu
Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản trước đây [50] Một bài học khác có thể được rút ra từ Trung Quốc là việc quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Do quản lý lỏng lẻo nên một số doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bằng những công nghệ quá lạc hậu, thậm chí sản xuất hàng giả, kém chất lượng… nhằm thu lợi trước mắt Việc này đã tạo ra ấn tượng xấu đối hàng hóa của Trung Quốc trên thế giới, cản trở các doanh nghiệp chân chính khác khi thâm nhập vào thị trường nước ngoài
1.4.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Giữa thập kỷ 80 thế kỷ XX nền kinh tế Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất lớn của quá trình quốc tế hóa Trong quá trình này, nhiều ngành có tốc độ tăng trưởng giảm sút trong nước như ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp vật liệu4 mà trước đó đã được chuyển dần sang các nước NIEs, lúc này tiếp tục được chuyển ra nước ngoài, chủ yếu là các nước ASEAN và Trung Quốc thông qua đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đa số những ngành này đều có hàm lượng công nghệ thấp, giá trị gia tăng thấp và cần nhiều lao động
Vì thế, nền kinh tế Nhật Bản ở thập kỷ 90 chủ yếu bao gồm các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng cao và cần ít lao động Sự thay đổi này trong cơ cấu nền kinh tế Nhật Bản đã tạo nền móng cho sự phát triển mới trong phân công lao động giữa Nhật Bản và các nước đang phát triển châu Á và từ
đó, để lại những dấu ấn nhất định lên quan hệ thương mại giữa Nhật Bản với các nước đối tác nói chung và với các nước châu Á nói riêng trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX [32] Trong thời gian trên, các nước phát triển đã gây sức ép lớn đối với Nhật Bản, đòi nước này phải mở cửa thị trường nội địa của mình Trước tình hình đó, việc tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản trong điều kiện các nước ASEAN tăng cường thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu và Trung Quốc bắt đầu mở cửa thị trường không những làm cho đầu tư
4
Các ngành công nghiệp nhẹ bao gồm thực phẩm, dệt, giấy, hóa chất, sản phẩm dầu mỏ và than đá, gốm sứ, kim loại cơ bản và kim loại chế biến; các ngành công nghiệp vật liệu bao gồm thiết bị thông dụng, thiết bị vận tải, thiết bị điện và thiết bị chính xác
Trang 39của Nhật Bản được chào đón nhiệt tình ở các nước nhận, mà còn giúp nước này tiếp cận với thị trường của các nước phát triển, đồng thời giúp các nước ASEAN và Trung Quốc mở rộng xuất khẩu sang các nước thứ ba
Một trong những yếu tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ra nước ngoài
là việc các công ty trong lĩnh vực chế tạo của Nhật Bản tích cực triển khai hoạt động sản xuất và kinh doanh ra bên ngoài, trong bối cảnh xu hướng toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ Theo Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản - JETRO5, trong thời kỳ kinh tế phát triển “bong bóng”, đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản chủ yếu vào lĩnh vực phi chế tạo như bất động sản, tài chính, nhưng nay đầu tư tập trung vào lĩnh vực chế tạo Đến cuối 2006, các ngành chế tạo như ô-tô, linh kiện điện và điện
tử đã chiếm tới 68% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản Sau khi chiếm tới 73% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài những năm 1989-1990, lĩnh vực phi chế tạo đang bị thu hẹp nhanh chóng
Địa điểm đầu tư cũng có nhiều thay đổi Năm 2006, đầu tư của Nhật Bản vào Liên minh châu Âu (EU) tăng 87% và vào các nước Đông Nam Á tăng 39% Trong
đó, nhiều dự án của các công ty Nhật Bản thu mua các công ty lớn tại các nước sở tại như Anh, Malaysia đã được thực hiện Trong khi đó, những địa điểm thu hút nhiều đầu tư trực tiếp chủ yếu của Nhật Bản trong những năm trước như Hoa Kỳ giảm 23%, Trung Quốc giảm 6% Đặc biệt đối với Trung Quốc, các doanh nghiệp Nhật Bản không còn hào hứng đầu tư như trước, do chi phí sản xuất tăng xuất phát
từ việc mức lương tối thiểu và giá đất đều tăng so với thời gian trước Theo báo cáo của Bộ Tài chính Nhật Bản, tổng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các công ty Nhật Bản năm 2006 đã tăng 10,6% lên 50,2 tỷ USD, vượt cả thời kỳ kinh tế phát triển “bong bóng” hồi năm 1990 và là mức cao nhất từ trước tới nay Hiện tại các công ty Nhật Bản đang hoàn tất kế hoạch mua các công ty lớn, chẳng hạn công ty Thuốc lá Nhật Bản (JT) mua công ty thuốc lá lớn thứ 5 thế giới của Anh với số tiền lên tới 18,8 tỷ USD, công ty Marubeni mua công ty điện lực của Philippine với giá 3,4 tỷ USD [52]
5
Hàng năm, cơ quan này đều tiến hành các điều tra và từ đó công bố các xuất bản phẩm quan trọng về tình hình và triển vọng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản Địa chỉ trụ sở chính của JETRO tại Nhật Bản: Ark Mori Building, 6F 12-32, Akasaka 1-chome, Minato-ku, Tokyo; mã bưu chính: 107-6006; website: www.jetro.go.jp Địa chỉ Văn phòng JETRO tại Việt Nam: 63 Lý Thái Tổ, Hà Nội
Trang 40Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật Bản theo hướng “tri thức hóa” đã thúc đẩy Nhật Bản chuyển giao công nghệ kỹ thuật và công nghệ quản lý thông qua đầu tư trực tiếp trong những ngành đòi hỏi nhiều lao động và nguyên liệu Vì vậy các quốc gia đang ở trong quá trình công nghiệp hóa đất nước, đang thiếu vốn và công nghệ là ưu tiên đầu tư của Nhật Bản nhằm tận dụng những lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư Tuy nhiên, cơ cấu và dung lượng vốn đầu tư của Nhật Bản chỉ tập trung chủ yếu ở những nước có môi trường thu hút đầu tư ưu đãi và có vị trí chiến lược trong chính sách toàn cầu hóa của Nhật Bản Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất vào châu Á, đồng thời Nhật Bản là nước có nguồn vốn viện trợ phát triển lớn nhất trên thế giới và trong khu vực châu Á Viện trợ của Nhật Bản thường ưu tiên dành cho các nước châu Á có thu nhập thấp, trình độ phát triển kinh tế trung bình và kém như Lào, Campuchia, Myanma, Việt Nam, Indonesia, Ấn Độ Sự giúp đỡ về mặt tài chính cho các nước thông qua viện trợ ODA là nhằm phục vụ cho những tính toán kinh tế của chính phủ Nhật Bản như mở cửa thị trường mới, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và thu lợi nhuận từ các nguồn tài nguyên của các nước khác ở châu Á Trong tương lai vai trò của Nhật Bản sẽ càng được khẳng định thông qua việc thay đổi chính sách viện trợ để tham dự ngày càng sâu hơn vào hầu hết các lĩnh vực kinh tế của các nước đang phát triển
Dự báo từ nay đến năm 2020, nền kinh tế Nhật Bản sẽ có nhu cầu chuyển các ngành công nghiệp truyền thống có công nghệ trung bình và bị Trung Quốc cùng Hàn Quốc cạnh tranh sang các nước khác, trong đó có châu Á Nhật Bản sẽ tiếp tục tăng cường đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trên phạm vi toàn cầu, phù hợp với thế mạnh và chiến lược kinh doanh toàn cầu của Nhật Bản, ngoài ra còn nhằm mục đích tránh rủi ro Đầu tư vào thị trường Bắc Mỹ và châu Á sẽ giảm thị phần, trong khi đầu tư vào các nước đang phát triển khác ở châu Phi và Mỹ Latinh sẽ tăng lên về quy mô và tỷ lệ Mức tăng đầu tư sang thị trường các nước đang phát triển khác ngoài châu Á trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI sẽ cao hơn nhiều so với hiện nay
do sự phục hồi kinh tế của Nhật Bản và chiến lược bành trướng toàn cầu của các công ty Nhật Bản Quan hệ thương mại của Nhật Bản với các nước châu Á phát triển theo hướng chặt chẽ, đa dạng và sâu rộng hơn Rất có thể, trong bối cảnh tự do hóa thương mại khu vực được đẩy mạnh, một “Khối mậu dịch tự do toàn châu Á”