Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận: - Bổ sung thêm nhân tố về “Tăng trưởng số lượng chi nhánh và sở giao dịch” mà các nghiên cứu trước đây về nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng của ngân hàng chưa đề cập đến. Sau khi phân tích thực tế bằng số liệu thực nghiệm của luận án cho thấy đây là nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê tới rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam. - Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước, luận án đã xây dựng được mô hình gồm 9 nhân tố vi mô và vĩ mô tác động đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam và lượng hóa được mối quan hệ ảnh hưởng đó. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 8 nhân tố là có ý nghĩa thống kê thể hiện sự tác động đến rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam bao gồm: tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ, tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi, tăng trưởng số lượng chi nhánh và sở giao dịch của ngân hàng, tỷ lệ chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP và 01 nhân tố là tốc độ tăng trưởng tín dụng không có ý nghĩa thống kê bị loại khỏi mô hình. - Nghiên cứu sẽ là một công trình thử nghiệm kết hợp giữa nghiên cứu hàn lâm và nghiên cứu ứng dụng, qua đó kiểm định mô hình nghiên cứu với các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu sẽ phản ánh độ tin cậy cũng như bổ sung và phát triển về mặt phương pháp luận trong việc phân tích các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng và đề xuất các giải pháp khả thi cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Những kết luận, đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu: - Trên cơ sở dữ liệu thứ cấp thu thập được từ 20 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 10 năm 2011-2020, tác giả sử dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng được thực hiện bằng việc ước lượng mô hình tác động cố định FEM, mô hình tác động ngẫu nhiên REM, mô hình dữ liệu bảng động GMM thông qua phần mềm Stata 16.0 để đưa ra phương trình hồi quy chuẩn hóa như sau: TLNXi,t = 0.859* 1.TLNX – 0.435*DPRRTDt + 0.398*CFHĐ - 0.0509*TNNL + 0.0959*TTCN - 0.0690*GDP + 0.288*LP + 0.505*SIZE - 6.157 Kết quả này cho thấy các nhân tố “Tỷ lệ nợ xấu có độ trễ 1 năm, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi, tăng trưởng số lượng chi nhánh và sở giao dịch, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP” có ảnh hưởng đáng kể tới “Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng năm hiện tại”. Trong các nhân tố này thì có nhân tố “Tỷ lệ tăng trưởng GDP”, “tỷ lệ thu nhập ngoài lãi”, “tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng” có tác động ngược chiều tới “Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng năm hiện tại”. Biến còn lại trong mô hình nghiên cứu là “Tốc độ tăng trưởng tín dụng” không có ý nghĩa thống kê bị loại khỏi mô hình. - Thông qua việc phân tích thực trạng về rủi ro tín dụng và việc lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố đến rủi ro tín dụng sẽ giúp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam nhận thức được nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng để từ đó có giải pháp phòng ngừa và hạn chế tối đa rủi ro tín dụng cho ngân hàng mình. - Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong ngành ngân hàng tại Việt Nam có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về một phương pháp tiếp cận trong đo lường và phân tích đánh giá rủi ro tín dụng. Đồng thời nhận diện được các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Đây là điều kiện để triển khai các nghiên cứu ứng dụng hoặc hoạch định các chính sách có liên quan đến ngân hàng để phòng ngừa và hạn chế tối đa rủi ro tín dụng cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian tới.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 T ổ ng quan các công trình nghiên c ứ u v ề r ủ i ro tín d ụ ng c ủ a ngân hàng th ươ ng m ạ i
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là khả năng ngân hàng chịu thua lỗ một phần hoặc toàn bộ khoản đầu tư ban đầu, bao gồm các loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro giá cả, rủi ro ngoại hối, rủi ro pháp lý và rủi ro uy tín Theo quan điểm của Basel, rủi ro ngân hàng được phân thành bốn loại chính: rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thanh khoản, trong đó rủi ro tín dụng được xem là rủi ro lớn nhất mà các ngân hàng phải đối mặt và là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu hiện nay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam định nghĩa rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.
Numerous studies, both domestic and international, have explored the credit risk of commercial banks, with a notable example being Engdawork Tadesse's research titled "Impact of Credit Risk on the Performance of Commercial Banks in Ethiopia."
Nghiên cứu của Awoke (2014) đã kiểm tra tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của 8 ngân hàng thương mại ở Ethiopia trong giai đoạn 2008-2012, sử dụng phương pháp hồi quy OLS với biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) Kết quả cho thấy tổng dư nợ, dư nợ trên tổng tài sản, chi phí trên tổng dư nợ và logarit tự nhiên của tổng tài sản đều ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tương tự, Kargi (2011) đã đánh giá tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở Nigeria, sử dụng dữ liệu từ các báo cáo thường niên của ngân hàng trong cùng giai đoạn.
Nghiên cứu từ năm 2004 đến 2008 cho thấy rủi ro tín dụng ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Nigeria, với mối quan hệ ngược chiều giữa hiệu quả hoạt động, hạn mức tín dụng và tỷ lệ nợ xấu Olawale Femi Kayode và các đồng tác giả đã khảo sát 6 ngân hàng thương mại Nigeria trong giai đoạn 2000-2013, sử dụng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên để đo lường rủi ro tín dụng qua tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Kết quả cho thấy tổng số vốn vay có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Để tăng lợi nhuận, các ngân hàng thương mại cần tăng cường huy động vốn và áp dụng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng hợp lý Kolapo và các cộng sự cũng đã nghiên cứu 5 ngân hàng thương mại trong 11 năm từ 2000, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý rủi ro tín dụng trong ngành ngân hàng Nigeria.
Nghiên cứu của Muhammad et al (2012) về các ngân hàng thương mại (NHTM) ở Nigeria trong giai đoạn 2004-2008 cho thấy tác động tiêu cực của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động Tương tự, Chen và Pan (2012) đã phân tích 34 NHTM tại Đài Loan từ 2005-2008, sử dụng phương pháp bao dữ liệu (DEA) và kết luận rằng chỉ một ngân hàng đạt hiệu quả trong tất cả các chỉ tiêu, trong khi hầu hết các ngân hàng đều chịu ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Yuga Raj Bhattarai (2016) đã nghiên cứu 14 NHTM ở Nepal từ 2010-2015, phát hiện rằng tỷ lệ nợ xấu có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động, trong khi chi phí cho mỗi tài sản vay lại có tác động tích cực Kithinji (2010) đánh giá hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Kenya và cho thấy rằng lợi nhuận của các ngân hàng này không bị ảnh hưởng đáng kể bởi hạn mức tín dụng và nợ xấu Cuối cùng, nghiên cứu của Million Gizaw et al (2015) về 8 ngân hàng thương mại ở Ethiopia từ 2003-2014 chỉ ra rằng rủi ro tín dụng tác động ngược chiều với hiệu quả hoạt động, khuyến nghị các ngân hàng cần tăng cường an toàn vốn để nâng cao hiệu quả.
Khi nghiên cứu các ngân hàng thương mại ở Châu Âu, Fan Li và Yijun Zou với công trình “The Impact of Credit Risk Management on Profitability of Commercial
Nghiên cứu “Banks: A Study of Europe” đã phân tích dữ liệu từ 47 ngân hàng thương mại ở Châu Âu trong giai đoạn 2007-2012, cho thấy rủi ro tín dụng không có tác động tích cực đến lợi nhuận, với tỷ lệ nợ xấu ảnh hưởng đáng kể đến tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE), trong khi tỷ lệ an toàn vốn (CAR) không có tác động đáng kể Tương tự, nghiên cứu của Hosna và cộng sự (2009) về 4 ngân hàng thương mại ở Thụy Điển cũng chỉ ra rằng rủi ro tín dụng tác động đáng kể đến lợi nhuận, với tỷ lệ nợ xấu có ảnh hưởng lớn hơn so với CAR Các phân tích cho thấy tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận khác nhau giữa các ngân hàng.
Nghiên cứu của Ali Sulieman Alshatti về "Tác động của quản lý rủi ro tín dụng đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Jordan" đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả tài chính, được đo bằng chỉ số ROA và ROE, trong giai đoạn 2005-2013 Tác giả khuyến nghị các ngân hàng thương mại ở Jordan cần thiết lập chính sách quản lý rủi ro tín dụng hợp lý để gia tăng lợi nhuận Tương tự, Ravi Prakash Sharma Poudel đã khảo sát 31 ngân hàng thương mại tại Nepal từ 2001-2011, phát hiện rằng tỷ lệ vỡ nợ, tỷ lệ an toàn vốn và chi phí cho mỗi tài sản đều có mối tương quan nghịch với hiệu quả tài chính Nghiên cứu của Musyoki và Kadubo về các ngân hàng thương mại ở Kenya cũng đưa ra kết luận tương tự, nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý rủi ro tín dụng trong việc nâng cao hiệu quả tài chính của ngân hàng.
Nghiên cứu gần đây của Jane Gathigia Muriithi và cộng sự về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại ở Kenya cho thấy rủi ro tín dụng ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tài chính của ngân hàng trong cả ngắn hạn và dài hạn, được đo bằng các chỉ số như tỷ trọng tài sản rủi ro và tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) (Muriithi, J.G et al, 2016) Trong khi đó, nghiên cứu của Ogilo Fredrick (2012) sử dụng mô hình CAMEL để phân tích tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả tài chính, cho thấy mối tương quan mạnh mẽ giữa các chỉ tiêu trong mô hình này và hiệu quả tài chính của ngân hàng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khả năng sinh lời có mối quan hệ mạnh với hiệu quả tài chính, trong khi các chỉ tiêu khác như an toàn vốn và chất lượng tài sản có mối quan hệ yếu hơn Một nghiên cứu khác của Ogbol Charles và Unuafe Okaro Kenneth về các ngân hàng thương mại ở Nigeria cho thấy rủi ro tín dụng và an toàn vốn tác động tích cực đến hiệu quả tài chính, ngoại trừ cho vay và ứng trước có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận Các tác giả đã khuyến cáo các ngân hàng thương mại cần chú trọng đến quản lý rủi ro tín dụng để nâng cao hiệu quả tài chính.
Nigeria phải có chiến lược quản trị rủi ro tín dụng phù hợp để giảm thiểu rủi ro tín dụng cho ngân hàng mình (Ogboi, Ch & Unuafe, O.K.,2013)
Chủ đề "rủi ro tín dụng" của ngân hàng thương mại đã được nghiên cứu rộng rãi cả trong và ngoài nước với nhiều phương hướng khác nhau Các tác giả thường sử dụng các chỉ tiêu như ROA, ROE, CAR, NPL, LLP, LA, CR-TE, CR-AE, CR-CE và các chỉ tiêu trong mô hình CAMEL Bên cạnh đó, họ áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như OLS, DEA, GMM, Proxy, và dữ liệu bảng tĩnh, phù hợp với từng thời kỳ và đặc trưng của ngân hàng thương mại ở các khu vực hoặc quốc gia khác nhau.
1.1.2 T ổ ng quan các công trình nghiên c ứ u v ề phân tích các nhân t ố tác độ ng đế n r ủ i ro tín d ụ ng c ủ a Ngân hàng th ươ ng m ạ i
Khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng, có nhiều trường phái khác nhau đưa ra các nhóm yếu tố tùy thuộc vào phương pháp đo lường rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại.
1.1.2.1 Rủi ro tín dụng được đo lường bằng tỷ lệ nợ xấu
Nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại có thể được đánh giá qua tỷ lệ nợ xấu, được tính bằng tổng nợ xấu chia cho tổng dư nợ cho vay Các tác giả như Jin-Li Hu, Yang Li và Yung-Ho Chiu (2004) cùng với Fadzlan Sufian & Royfaizal đã chỉ ra mối liên hệ này.
R Chong (2008), Nguyễn Thị Thái Hưng (2012), Rasidah M Said và Mohd H Tumin
Nghiên cứu của Tobias Olweny và Themba M Shipho (2011) cùng Abhiman Das và Saibal Ghosh (2007) về các ngân hàng thương mại Nhà nước ở Ấn Độ trong giai đoạn 1994-2005 đã chỉ ra rằng có nhiều yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng, bao gồm: (i) sự tăng trưởng GDP; (ii) quy mô của ngân hàng; (iii) tăng trưởng tín dụng thực tế của ngân hàng; và (iv) chi phí hoạt động của ngân hàng Đặc biệt, các tác giả đã áp dụng phương pháp GMM (The Generalized Method of Moments) của Lars Peter Hansen (1982) để phân tích độ trễ của các biến vi mô, nhằm khắc phục hiện tượng tự tương quan bậc nhất giữa các sai số và hiện tượng biến nội sinh, đảm bảo rằng các ước lượng thu được là vững và hiệu quả.
(2014) thì chỉ dựa trên các yếu tố vĩ mô bao gồm: tỷ lệ lạm phát, lãi suất, chỉ số ISE-
100, tỷ giá ngoại tệ, tốc độ tăng trưởng GDP, cung tiền M2, tỷ lệ thất nghiệp
Berger và DeYoung (1997) đã nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến rủi ro tín dụng dựa trên ba giả thuyết về mối quan hệ giữa hiệu quả chi phí và nợ xấu.
Giả thiết đầu tiên về nợ xấu là “vận đen”, cho rằng nợ xấu có thể phát sinh do các biến động vĩ mô nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng Khi ngân hàng phải đầu tư nhiều nguồn lực hơn để giải quyết các khoản vay gặp vấn đề, hiệu quả chi phí sẽ giảm sút.
Giả thiết thứ hai chỉ ra rằng sự yếu kém trong quản lý, đặc biệt là hiệu quả chi phí thấp, là dấu hiệu của vấn đề quản lý Việc thiếu sót trong quy trình thẩm định tín dụng trước, trong và sau khi cho vay có thể dẫn đến lựa chọn đối nghịch của ngân hàng, rủi ro đạo đức từ phía khách hàng, và gia tăng nợ xấu cho ngân hàng.
Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.2.1 R ủ i ro trong ho ạ t độ ng kinh doanh c ủ a Ngân hàng th ươ ng m ạ i
1.2.1.1 Quan niệm về rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, luôn tồn tại nhiều rủi ro liên quan đến các lĩnh vực như cho vay, tiền gửi, đầu tư và kinh doanh ngoại tệ Những rủi ro này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu và lợi nhuận, đồng thời gây khó khăn về thanh khoản cho ngân hàng Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng, nhưng hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất nào về rủi ro ngân hàng.
Theo Bessis (2002), rủi ro ngân hàng được định nghĩa là khả năng xảy ra các sự kiện không lường trước, dẫn đến những bất trắc có thể gây ra thua lỗ hoặc giảm lợi nhuận, khiến kết quả thực tế khác xa so với kỳ vọng của ngân hàng.
Theo Kealhofer (2003), rủi ro là một yếu tố không thể tách rời trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Ngân hàng luôn phải đối mặt với rủi ro do khả năng trả nợ của khách hàng trong tương lai không thể dự đoán một cách chính xác, điều này khiến cho việc tránh né rủi ro trở nên khó khăn.
Theo Bohn và Stein (2009), rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại được định nghĩa là khả năng mất mát giá trị tài sản trong một khoảng thời gian nhất định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng có quan điểm tương tự về vấn đề này.
“Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất”
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại được hiểu là khả năng xảy ra những tổn thất không lường trước, dẫn đến thiệt hại về tài sản và giảm sút lợi nhuận Quan niệm này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận diện và quản lý rủi ro để bảo vệ lợi ích của ngân hàng.
1.2.1.2 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại mang tính chất đặc thù và luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro Các rủi ro mà ngân hàng thương mại phải đối mặt bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, ảnh hưởng đến sự ổn định và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng gặp tổn thất khi khách hàng không thanh toán nợ đúng hạn, không trả hoặc trả không đầy đủ cả vốn lẫn lãi Rủi ro tín dụng có thể được nhìn nhận từ hai khía cạnh chính: rủi ro phát sinh từ huy động vốn và rủi ro trong hoạt động cho vay (Bessis, 2002).
Rủi ro tín dụng, theo Nguyễn Văn Tiến (2015), là nguy cơ mà bên nhận tín dụng không thực hiện nghĩa vụ cam kết, có thể là một phần hoặc toàn bộ Tín dụng bao gồm nhiều hình thức như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các hình thức tín dụng khác.
Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng phải đối mặt với tổn thất khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá khả năng dự kiến, dẫn đến việc tăng chi phí huy động vốn với lãi suất cao hơn hoặc có thể gây ra tình trạng mất khả năng thanh toán.
Rủi ro thanh khoản, theo Nguyễn Văn Tiến (2015), là tình trạng ngân hàng không thể đáp ứng kịp thời các nghĩa vụ tài chính, dẫn đến việc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc bán tài sản với giá thấp.
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất khi lãi suất biến đổi ngoài dự kiến của ngân hàng (Bessis, 2002) Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), rủi ro này phát sinh khi thời hạn đáo hạn của tài sản có không đồng nhất với thời hạn đáo hạn của tài sản nợ Biến động lãi suất của ngân hàng, bao gồm cả lãi suất huy động và cho vay, có thể dẫn đến tổn thất đáng kể Hơn nữa, rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Rủi ro hối đoái đề cập đến khả năng ngân hàng phải gánh chịu tổn thất do sự biến động của tỷ giá hối đoái vượt quá mức dự đoán.
Tỷ giá hối đoái liên tục biến động, và sự thay đổi này, kết hợp với trạng thái hối đoái của ngân hàng, có thể tạo ra thu nhập thặng dư hoặc thâm hụt tạm thời Tuy nhiên, những biến động tỷ giá không lường trước có thể gây ra tổn thất cho ngân hàng.
Rủi ro hoạt động, theo Nguyễn Văn Tiến (2015), là rủi ro phát sinh từ các quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc sai sót, do con người, hệ thống hoặc yếu tố bên ngoài Rủi ro này có mối quan hệ chặt chẽ với rủi ro công nghệ và có thể xảy ra bất cứ lúc nào khi hệ thống công nghệ gặp trục trặc hoặc khi các hệ thống hỗ trợ bên ngoài ngừng hoạt động.
Trong hoạt động ngân hàng, có nhiều loại rủi ro khác nhau, bao gồm rủi ro thị trường, rủi ro lệch hạn và rủi ro tính thanh khoản thị trường (Bessis, 2002) Ngoài ra, còn có rủi ro danh mục đầu tư, rủi ro tài chính phái sinh, cũng như rủi ro chính trị và pháp lý (Angelopoulos và Mourdoukoutas, 2001) Các rủi ro này cũng bao gồm rủi ro pháp lý, rủi ro danh tiếng và rủi ro ngoại bảng (Nguyễn Văn Tiến, 2015).