Để thích nghi và tái đàn, tái phát triển lại nền kinh tế trong tình hình hiện nay, cần chú trọng nhất là công tác vệ sinh thú y, đảm bảo hạn chế tối đa dịch bệnh và đáp ứng nhu cầu rất l
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K48 - TY - N07 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021
Giảng viên hướng dẫn: TS Đặng Thị Mai Lan
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở đến nay em đã hoàn thành hoàn thành kì Thực tập tốt nghiệp cũng như hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài sự cố gắng từ bản thân, em luôn nhận được sự động viên hướng dẫn và sự chỉ bảo tận tình của thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn: TS Đặng Thị Mai Lan đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới chú Đoàn Anh Trung - chủ trại và tập thể cán bộ nhân viên, ban lãnh đạo, cán bộ kỹ sư và các anh, chị
công nhân viên tại trại lợn công ty Cổ phần Chăn nuôi Ánh Dương - huyện Hòa
An - tỉnh Cao Bằng đã hợp tác giúp đỡ, chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm và tạo điều kiện về cơ sở vật chất, chỗ ăn, chỗ ở cho em được yên tâm học tập
Cuối cùng em xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian qua
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Vy Thị Ngọc Bích
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ lệ axit amin thích hợp cho lợn nái nuôi con 26
Bảng 2.2 Khẩu phần và chế độ ăn khu mang thai 27
Bảng 2.3 Lịch phòng vắc-xin theo tuần mang thai, tuần nuôi con 28
Bảng 2.4 Lịch phòng vắc-xin tổng đàn nái 29
Bảng 2.5 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện 30
Bảng 3.1: Nhu cầu nhiệt độ và thông gió 41
Bảng 3.2: Chế độ ăn cho lợn nái mang thai 42
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty cổ phần chăn nuôi Ánh Dương huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng từ năm năm 2019 - 2020 44
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái mang thai trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 47
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện các biện pháp an toàn sinh học 50
trong quá trình thực tập 50
Bảng 4.5 Kết quả tiêm vắc-xin phòng bệnh cho lợn nái sinh sản trong 6 tháng thực tập tại trang trại 52
Bảng 4.6 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn nái 53
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnhcho lợn nái mang thai tại trại 55
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện một số công tác khác trong 6 tháng thực tập 60
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng của trang trại 4
2.1.3 Tình hình sản xuất của trang trại 8
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn 9
2.2 Cơ sở khoa học liên quan đến chuyên đề 10
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 10
2.2.2 Những hiểu biết về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 16
2.2.4 Một số bệnh, vấn đề thường gặp trên lợn nái sinh sản 29
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 37
2.3.1 Tình hình các nghiên cứu trong nước 37
2.3.2 Tình hình các nghiên cứu ngoài nước 38
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 40
3.1 Đối tượng 40
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 40
3.3 Nội dung thực hiện 40
Trang 73.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 40
3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 40
3.4.2 Phương pháp thực hiện 40
3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 43
Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 44
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty Cổ phần Chăn nuôi Ánh Dương - huyện Hòa An - tỉnh Cao Bằng trong 2 năm từ 2019 - 2020 44
4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 45
4.3 Tình hình phối và đậu thai của lợn nái nuôi tại trại lợn 48
4.4 Kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản 49
4.4.2 Kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh bằng vắc-xin cho lợn nái sinh sản 51
4.5 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn 53
4.5.1 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái 53
4.5.2 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái tại trại 54
4.6 Kết quả thực hiện một số công tác khác trong 6 tháng thực tập 56
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA CHUYÊN ĐỀ
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Những năm gần đây, tình hình chăn nuôi lợn ở nước ta có rất nhiều biến động Nhất là vào năm 2019, một năm gặp nhiều biến cố đối với ngành chăn nuôi nói chung và đặc biệt là chăn nuôi lợn, do chịu thiệt hại nặng nề từ dịch tả lợn châu Phi Theo Cục Thú y, lũy kế từ đầu tháng 2/2019 đến ngày 11/2/2020, bệnh Dịch tả lợn châu Phi (ASF) đã xảy ra tại 8548 xã thuộc 667 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là gần 6 triệu con với tổng trọng lượng gần 350000 tấn, chiếm 9% tổng trọng lượng lợn của cả nước Nguồn cung thiếu hụt do Dịch tả lợn châu Phi và thịt lợn đến tay người tiêu dùng phải qua nhiều khâu trung gian khiến giá cao và khó giảm
Đầu năm 2020, cùng với dịch Covid-2019 và sự cách ly toàn xã hội đã
khiến nền kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn Vì vậy, năm 2020 là một năm
đầy thách thức với ngành chăn nuôi nhưng đồng thời đây cũng chính là cơ hội
để thực hiện tái cơ cấu triệt để ngành
Để thích nghi và tái đàn, tái phát triển lại nền kinh tế trong tình hình hiện nay, cần chú trọng nhất là công tác vệ sinh thú y, đảm bảo hạn chế tối đa dịch bệnh và đáp ứng nhu cầu rất lớn về con giống, chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong chăn nuôi lợn Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y và cô giáo hướng dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên
đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn
nái sinh sản tại trại lợn công ty Cổ phần Chăn nuôi Ánh Dương - huyện Hòa
An - tỉnh Cao Bằng”
Trang 91.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Hiểu biết về quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
- Biết được các loại thức ăn, khẩu phần ăn và cách cho ăn của lợn nái qua từng giai đoạn mang thai
- Nhận biết và chẩn đoán được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trang trại công ty Cổ phần Chăn
nuôi Ánh Dương
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại
- Xác định tình hình nhiễm bệnh của lợn nái trong giai đoạn sinh sản
và đưa ra được phác đồ điều trị hiệu quả
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại chăn nuôi của công ty Cổ phần Chăn nuôi Ánh Dương được thành lập vào năm 2017 Trang trại được xây dựng trên địa bàn xã Ngũ Lão - huyện Hòa An - tỉnh Cao Bằng Cách thành phố Cao Bằng khoảng 10 km
- Phía Đông giáp xã Nguyễn Huệ - Hòa An, xã Quốc Toán - Trà Lĩnh
- Phía Tây giáp xã Vĩnh Quang, Bế Triều, Đại Tiến
- Phía Bắc giáp xã Đức Xuân - Hòa An, xã Lưu Ngọc - Trà Lĩnh
- Phía Nam giáp xã Quang Trung, P Sông Bằng, P Ngọc Xuân
2.1.1.2 Đất đai
Xã Ngũ Lão - huyện Hòa An - tỉnh Cao Bằng có địa hình đồi núi, hình thành nhiều thung lũng tạo thành các khu tưới từ 10 - 30 ha Diện tích đồi núi chiếm đa số Các hộ dân cư chủ yếu sống tập trung ở các thung lũng vùng núi đất
Điều kiện địa chất nói chung rất đa dạng và phong phú Do địa hình núi cao, các sườn núi có độ dốc lớn, đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ Địa chất vùng núi là đá vôi, vùng núi đất có màu nâu nhạt
Tuyến suối chuyển dòng: Địa chất nền dọc tuyến là đất, đá nên ổn định tốt, đảm bảo lâu dài ổn định cho tuyến
2.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
Do ảnh hưởng khí hậu vùng Đông Bắc - Bắc bộ, khí hậu chia làm 2 mùa
rõ rệt Khí hậu khu vực nói chung có đặc điểm chủ yếu khô hanh, hầu như quanh năm ẩm thấp, mùa đông lạnh, mùa hè nóng và mưa nhiều
Trang 11Xã Ngũ Lão có con suối Nặm Pạng chảy qua địa phận khu vực và các khe lạch, con suối có lưu vực tương đối rộng về mùa mưa lượng nước lớn, phục vụ cho công tác tưới tiêu phục vụ sản xuất Khu vực đầu nguồn luôn được bảo quản tốt và cây cối xanh tươi, nguồn sinh thủy luôn được đảm bảo
2.1.1.4 Giao thông
Quốc lộ 3 chạy qua khu vực gần ranh giới đông nam của xã Ngũ Lão Trang trại được xây dựng tại địa bàn thôn Khuổi Quân, xã Ngũ Lão Vị trí xa khu dân cư, đường giao thông thuận tiện
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng của trang trại
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Trang trại chăn nuôi của công ty Cổ phần Chăn nuôi Ánh Dương thành lập năm 2017 với thiết kế chuồng trại khép kín và chăn nuôi theo hướng công nghiệp hiện đại Tất cả các trang thiết bị, máy móc phục vụ trong trang trại đều được nghiên cứu, tính toán để phù hợp với vật nuôi, luôn đáp ứng, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của đàn lợn và đảm bảo môi trường thuận lợi nhất trong chăn nuôi quy mô lớn Chủ trại trực tiếp tính toán sắp xếp các vị trí: Trưởng trại, kế toán, kỹ sư chăn nuôi Công nhân trước khi chính thức làm việc tại trại được trưởng trại, trưởng kỹ sư trại phỏng vấn và được chủ trại thông qua Sinh viên thực tập chủ yếu được phân công làm các công việc của trại như: Cho lợn ăn, dọn chuồng, vệ sinh trong ngoài trại
Cơ cấu của trại gồm 2 nhóm gồm 24 cán bộ công nhân viên:
- Nhóm lao động gián tiếp: gồm có 7 người:
+ Tổng giám đốc công ty: 2 người
+ Kế toán: 1 người
+ Bảo vệ: 1 người
+ Làm vườn, nấu ăn: 1 người
+ Thợ điện, nước: 2 người
Trang 12- Nhóm lao động trực tiếp: gồm có 17 người:
+ Trưởng trại: 1 người
+ Kỹ sư chăn nuôi: 3 người
+ Công nhân các khu: 10 người
+ Sinh viên thực tập: 3 sinh viên
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các khu khác nhau Mỗi khu thực hiện công việc hàng ngày nghiêm túc, đảm bảo đúng quy định của trại
2.1.2.2 Cơ sở vật chất của trang trại
7 ha là diện tích trại lợn của công ty Ánh Dương Hệ thống các công trình chuồng trại, các công trình phụ trợ được phân bổ thành từng khu vực chuyên biệt kết hợp với hệ thống camera giám sát chặt chẽ mọi hoạt động tại trang trại Ngoài ra, trại được xây dựng ở khu vực thung lũng thuộc thôn Khuổi Quân, xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng Xung quanh trại được đồi núi, rừng cây xanh bao bọc giúp điều kiện khí hậu khu vực trại luôn mát mẻ, thông thoáng, giảm thiểu ô nhiễm Để tăng yếu tố cảnh quan, xung quanh khu chăn nuôi, khu sinh hoạt có trồng thêm hoa, cây ăn trái
Trại phân ra nhiều khu liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp cho từng loại lợn Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống quạt thông gió, giàn mát, hệ thống sưởi ấm đảm bảo yêu cầu về nhiệt độ Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử
lý qua hệ thống thoát nước ngầm
Trại bố trí thành 3 khu riêng biệt đảm bảo ATSH trong chăn nuôi:
- Khu cách ly: Cách ly người vào trại trước khi vào khu sản xuất
- Khu sinh hoạt: Gồm nhà điều hành + nhà ở + nhà ăn và khu sinh hoạt chung
- Khu sản xuất gồm 5 khu chuồng: Chuồng cách ly; chuồng phối + mang thai; chuồng đẻ; chuồng cai sữa; chuồng thịt, trong đó có:
Trang 13+ Chuồng cách ly: 1 chuồng, dùng để nuôi hậu bị mới nhập về từ trại giống trong thời gian cách ly trước khi đưa vào chuồng Chuồng cách ly ở vị trí tách biệt riêng và có công nhân riêng biệt chăm sóc, vận hành các thiết bị chuồng
+ Khu chuồng phối và mang thai (chuồng bầu):
2 chuồng mang thai (chuồng bầu 1, 2): Một chuồng có 134 ô và 1 chuồng
có 164 ô, chuồng chia làm 2 dãy Các lợn nái mang thai được sắp xếp theo tuần phối giống và các kỳ mang thai khác nhau thuận tiện cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý và theo dõi
1 chuồng phối (chuồng bầu 3): Gồm 108 ô nái chia làm 2 dãy chuồng, các ô nái này được chia các khu nái lên giống, nái hậu bị chờ phối, nái vấn đề, nái cai sữa ); đầu chuồng là 6 ô lớn (có 1 ô dùng để lấy tinh, 5 ô dùng để thử nái và 5 ô này cũng là chỗ nhốt con đực) Cạnh chuồng phối là phòng pha tinh của trại và được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
+ Khu chuồng đẻ:
Gồm 3 chuồng (chuồng đẻ 1, 2, 3) có thiết kế, cấu trúc như nhau Mỗi chuồng có 48 ô và được chia làm 2 dãy, mỗi ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ và có đường ống dẫn nước uống riêng biệt cho lợn con, lợn mẹ Cuối mỗi dãy, có 1 ô sàn nhựa để dành cho lợn con cai sữa sớm
+ Khu chuồng cai sữa:
1 chuồng Chia làm 3 dãy Mỗi dãy có 9 ô lớn và 1 ô nhỏ chuyên để tách riêng, điều trị lợn con có vấn đề
Các chuồng đẻ và chuồng cai sữa có sàn đan bằng nhựa cứng để tiện cho việc rửa chuồng và sát trùng sau mỗi đợt nuôi Còn chuồng phối và mang thai nền được đổ bê tông cứng và thiết kế bán hầm
Trang 14+ Chuồng thịt: 8 chuồng
2 chuồng kép, mỗi chuồng 2 dãy, mỗi dãy 8 ô chuồng, 7 ô lớn và 1 ô nhỏ
để tách lợn vấn đề
6 chuồng đơn, mỗi chuồng 1 dãy, mỗi dãy 7 ô lớn 1 ô nhỏ
- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn:
+ Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 3 quạt thông gió đối với các chuồng đẻ và chuồng nái chửa; 4 quạt thông gió đối với chuồng thịt
và chuồng cai sữa; 2 quạt đối với chuồng cách ly
+ Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính
+ Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh
+ Giữa mỗi chuồng đều được lắp đặt thiết bị cảm biến nhiệt độ, độ ẩm
và khí CO2 Khi có sự chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài chuồng nuôi, hệ thống biến tần sẽ tự động điều chỉnh tốc độ quạt gió Thông qua hệ thống cảm biến, điều chỉnh biến tần, kỹ sư và công nhân phụ trách chuồng có thể duy trì tốt tiểu khí hậu trong chuồng để phù hợp với sự phát triển của từng lứa tuổi phát triển, sinh trưởng, sinh sản của đàn lợn
+ Mỗi chuồng đều có đèn và còi báo động khi quạt gió ngừng hoặc khi mất điện và hệ thống điện chiếu sáng, bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm Riêng chuồng đẻ, chuồng bầu có thêm các lò sưởi chạy bằng khí biogas đảm bảo cho chuồng ấm áp về mùa đông
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được
đổ bê tông và có các hố sát trùng Hệ thống mương thoát nước thải luôn được thông ra bể biogas để xử lý
- Hệ thống nước trong trại chăn nuôi cho lợn uống là nước lấy từ đầu nguồn Nước tắm cho lợn, nước xả hầm, nước rửa chuồng được bơm từ ao chứa nước trong trang trại lên bể chứa theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau
Trang 15- Các công trình khác:
+ Khu cổng trại có: 1 phòng cách ly cho cá nhân từ xa tới muốn vào trại, nhà dành cho bảo vệ, nhà sát trùng, nhà tiếp khách tới mua lợn và xung quanh trại là hệ thống tường rào bảo vệ bằng bê tông và thép
+ Gần khu chăn nuôi, trại xây dựng: 1 nhà ăn, 1 phòng họp dành cho các cán bộ kỹ thuật trại làm việc, 2 dãy nhà ở, nhà vệ sinh cho cán bộ công nhân viên trong trại, 1 nhà kho UV, 1 kho cám, 1 kho thuốc, 1 kho chứa dụng cụ, 2 nhà sát trùng thay đồ và tắm cho công nhân
+ Có xây dựng 1 bể chứa riêng nước sạch để cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của cán bộ công nhân viên trong trại
+ Ngoài ra, còn có cây ăn trái, vườn rau để cải thiện bữa ăn cho công nhân trong trại
Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho toàn đàn lợn của trại là vấn đề cần thiết và chủ động của người chăn nuôi, kỹ sư cũng như chủ trang trại
2.1.3 Tình hình sản xuất của trang trại
- Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất sản phẩm thịt lợn hữu cơ cung cấp ra thị trường Với quy mô sản xuất 600 nái và thực tế đang có 410 nái đang trong giai đoạn sinh sản (tháng 2/2021) Trại thường xuyên chọn lọc, phân loại những con nái có khả năng sinh sản tốt, có kế hoạch loại thải những nái sinh sản kém, những nái hay sảy thai hoặc khô thai trong thời gian chăm sóc và nuôi dưỡng Bằng cách giữ lại nái có năng suất cao, nuôi con khéo và loại thải những
cá thể kém chất lượng trại sẽ đặt được chỉ tiêu, mục đích là giữ ổn định và tăng chất lượng đàn nái sinh sản của toàn trại
- Hiện nay, trong trại có 4 lợn đực giống (giống lợn đực là Duroc) Những lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích lợn nái động dục và khai thác tinh để phục vụ thụ tinh nhân tạo Tuy nhiên, tinh phục vụ cho việc
Trang 16phối giống cho đàn lợn nái trong trại đa phần được cung cấp từ trại giống của công ty Cổ phần Greenfeed Việt Nam, kết hợp với tinh khai thác tại trang trại Lợn nái được phối 2 - 3 lần trên một chu kỳ
- Thức ăn cho từng giai đoạn phát triển, sinh trưởng, sinh sản của lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao do công ty Cổ phần Greenfeed Hưng Yên cung cấp
- Trại lợn Ánh Dương luôn luôn áp dụng theo quy trình kỹ thuật cao do công ty Greenfeed đề ra Được áp dụng từ khâu chọn giống, lập khẩu phần ăn
và các quy trình chăm sóc lợn nái, lợn con, lợn thịt
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn
2.1.4.1 Thuận lợi
- Trại chăn nuôi lợn của công ty Ánh Dương xây dựng ở vị trí thuận lợi: Cách xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông, nguồn nước sạch tự nhiên dồi dào
- Con giống, thức ăn, thuốc và vắc-xin dùng trong chăn nuôi có chất lượng tốt kết hợp với quy trình chăn nuôi khoa học đã đem lại năng suất, hiệu quả cho toàn trại
- Chủ trại có vốn hiểu biết sâu rộng trong chăn nuôi - kinh tế, luôn nắm bắt được tình hình xã hội (từ đó đưa ra phương hướng, đường đi mới cho toàn trại, mở rộng quy mô chăn nuôi ), luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân
- Quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững, vốn hiểu biết sâu rộng về ngành, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
- Đội ngũ công nhân có tay nghề cao, năng động, luôn nhiệt tình, tận tâm trong quá trình chăn nuôi
- Trại góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong vùng còn nhiều khó khăn trong khu vực
Trang 17- Trại xây dựng theo mô hình công nghiệp tân tiến nhất Trang thiết bị được đầu tư hiện đại nên rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp
ở Việt Nam hiện nay
- Hệ thống xử lý nước thải hiện đại, máy ép phân chuyên dụng để xử lý phân Đáp ứng nhu cầu xử lý lượng chất thải, nước thải lớn từ đàn lợn cũng như đem lại nguồn thu nhập phụ từ việc bán phân
2.1.4.2 Khó khăn
- Trại được xây dựng tại Cao Bằng với khí hậu mát mẻ vào mùa hè, giá rét và sương muối vào mùa đông nên khâu phòng trừ dịch bệnh gặp nhiều khó khăn
- Năm 2019 - 2020, một loạt vấn đề về thời tiết thất thường, cách ly
xã hội do covid 19, dịch bệnh trên lợn phức tạp Khiến chi phí dành cho việc phòng bệnh, chữa bệnh tăng lên và tiền thuốc, tiền thức ăn chăn nuôi gia tăng Từ đó, làm ảnh hưởng khả năng sinh trưởng, sinh sản và phát triển của lợn, ảnh hưởng đến giá cả khi nhập con giống cũng như khi bán
2.2 Cơ sở khoa học liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Đặc điểm của giống lợn nái trong nước và tại trang trại
* Giống lợn Landrace
Nguồn gốc xuất xứ: Chúng được tạo thành bởi quá trình lai tạo chính giữa giống lợn Youtland (Đức) với lợn Yorkshire (Anh) Hình thành vào khoảng 1924 - 1925 tại Đan Mạch Lợn được nuôi phổ biến ở châu Âu và được
Trang 18coi là giống lợn tốt nhất, tỷ lệ nạc cao nhất thời bấy giờ Giống lợn này được nhập vào Việt Nam vào khoảng 1970 qua Cuba
Đặc điểm ngoại hình: Lợn Landrace có thân và lông màu trắng tuyền Tầm vóc to, mình dài, bụng thon ngực rộng, mông đùi phát triển Đầu dài hơi hẹp, tai to, rủ xuống che cả mặt, bốn chân hơi yếu Lợn đực trưởng thành: 270
- 300 kg/con, lợn cái: 200 - 230 kg/con
Khả năng sản xuất: Landrace là giống lợn có năng suất cao Bắt đầu phối giống lúc 7 - 8 tháng tuổi Mỗi năm đẻ 2,0 - 2,2 lứa, 6 tháng tuổi đạt 100kg Số con
đẻ ra/lứa từ 10 - 12 con Khối lượng lợn sơ sinh: 1,2 - 1,3 kg/con Tỷ lệ nạc 54 - 56%
Thích nghi kém hơn so với giống lợn Yorkshire trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm Giống lợn Landrace có rất nhiều ưu điểm như sinh sản tốt, tăng trọng nhanh, tiêu tốn ít thức ăn, tỷ lệ nạc cao và chất lượng thịt tốt, chúng có khả năng thích nghi tốt, phòng bệnh tốt, nhanh lớn và được chọn một trong những giống tốt để thực hiện chương trình nạc hóa đàn lợn ở Việt Nam
* Giống lợn Yorkshire
Nguồn gốc xuất xứ: Lợn Yorkshire hay lợn trắng lớn, lợn Đại Bạch là một giống lợn nuôi có nguồn gốc ở Yorkshire (Anh) Là một trong những giống lợn nuôi được sử dụng rộng rãi trong lai tạo giống lợn nuôi khắp thế giới Hiện nay, giống lợn này đang được nuôi phổ biến nhất trên thế giới và cả ở nước ta Lợn Yorksire được nhập về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1920
Đặc điểm ngoại hình: Lợn Yorkshire có lông toàn thân màu trắng ánh vàng, tai đứng, mõm dài vừa phải, trán rộng, mặt gãy, ngực mông cao, thể chất vững chắc, có tính di truyền ổn định, nuôi con khéo, đẻ sai, chịu đựng kham khổ, khả năng chống chịu stress cao, chất lượng thịt tốt Lợn đực nặng 250 -
320 kg/con, lợn cái nặng 200 - 250 kg/con
Khả năng sản xuất: Bắt đầu phối giống lúc 8 tháng tuổi Một năm đẻ 2,0
- 2,1 lứa, mỗi lứa đẻ 10 - 13 con Tỷ lệ nạc: 52 - 55%
Trang 19* Giống lợn nái GF24 tại trang trại Ánh Dương
Trang trại của công ty Cổ phần chăn nuôi Ánh Dương hiện tại đang sử dụng dòng lợn nái GF24 Đây là giống lợn nái do công ty GreenFeed hợp tác chuyển giao công nghệ với Pig Improvement Company (PIC) - công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới về di truyền giống dựa trên công nghệ đánh dấu gen, mang đến giống lợn hậu bị và tinh lợn có năng suất vượt, thông qua lai tạo tạo đột biến gen giữa giống lợn Landrace và Yorkshire qua các dòng để tạo ra giống lợn GF24 cho năng suất tốt Số lợn con sinh ra trên một nái trung bình khoảng 14,4 con Trọng lượng sơ sinh trung bình khoảng 1,4 kg/con Số lứa đẻ của một nái trên năm trung bình là 2,4 lứa/nái/năm
Theo Đỗ Võ Anh Khoa, Nguyễn Tiến Thành (2015)[10], đã đánh giá năng suất sinh sản của 600 lợn nái giống ông bà GF24 có nguồn gốc từ Mỹ qua các lứa đẻ 1 - 5 từ 2013 đến 2014 thuộc hệ thống trang trại của công ty Cổ phần GreenFeed Việt Nam Các số liệu được thu thập từ thông tin của 2028 ổ đẻ được nhập vào phần mềm PICTraq® (thuộc bản quyền của Pig Improvement Company, PIC) và được truy xuất qua phần mềm MS Excel và Minitab ver.16
để phân tích và đánh giá Kết quả nghiên cứu cho thấy đàn lợn giống GF24 có năng suất sinh sản khá cao, cụ thể: Số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, khối lượng sơ sinh/con, số con cai sữa/ổ và khối lượng cai sữa/con dao động lần lượt trong khoảng 12,43 - 14,07 con; 11,85 - 12,73 con; 1,40 - 1,93 kg/con; 11,50 - 12,60 con và 5,89 - 6,91 kg/con qua các lứa đẻ Điều này chứng minh đàn lợn giống GF24 đã thích nghi với điều kiện chăn nuôi Việt Nam Đây là nguồn giống có tiềm năng tốt để cải tiến năng suất chăn nuôi lợn hiện nay và trong
tương lai
2.2.1.2 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục lợn nái
Cấu tạo cơ quan sinh sản của lợn nái bao gồm buồng trứng, ống dẫn trứng
và tử cung (sừng tử cung, thân tử cung, cổ tử cung), âm đạo, tiền đình âm đạo
Trang 20và âm hộ Buồng trứng là nơi hình thành trứng, sau khi trứng rụng chúng sẽ gặp tinh trùng tại ống dẫn trứng và thụ tinh tại đây Trứng sau khi được thụ tinh
sẽ phát triển ở sừng tử cung
- Buồng trứng: Dài khoảng 2,5 - 4cm; rộng 1,5 - 3cm; nặng từ 3 - 7 gram
- Ống dẫn trứng: Là ống nối giữa buồng trứng và tử cung Ống dẫn trứng chia thành hai phần, nhỏ dần về phía tử cung và rộng dần về phía buồng trứng Chiều dài ống dẫn trứng từ 15 - 30cm
- Tử cung: Gồm 1 thân và 2 sừng Hai sừng của tử cung có hình dạng chữ V, nơi tiếp xúc với thân tử cung tạo thành ngã ba Hai sừng rất dài uốn lượn như ruột non Khi có thai hai sừng dài tới 1 - 1,2m Cổ tử cung giống các cột thịt dọc xếp xen nhau, ống cổ tử cung dài khoảng 10 - 22cm phù hợp với kích thước dương vật heo đực
- Âm đạo: Có hình ống nối tiếp với tử cung, phía sau ngăn cách với âm
hộ bởi tiền đình âm đạo Âm đạo là nơi tiếp nhận dương vật con đực khi giao phối hoặc để cho thai đi ra ngoài khi đẻ
- Âm hộ: Là bộ phận cuối cùng của bộ máy sinh dục cái, nằm dưới hậu môn, bên trong có nhiều tuyến tiết ra chất nhầy khi gia súc động dục và khi có hưng phấn kích dục Trong âm hộ có âm vật tương tự như dương vật thu nhỏ là nơi tiếp nhận kích thích khi giao phối
Trang 21thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời, với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục
Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [5], sự thành thục về tính dục ngoài
sự phụ thuộc vào sự điều hòa của thần kinh, thể dịch còn phụ thuộc vào các yếu
tố ngoại cảnh khác như: Giống, dinh dưỡng, khí hậu, mùa vụ, sự tiếp xúc giữa con đực và con cái
2.2.1.4 Chu kỳ động dục và thời điểm phối giống thích hợp
Theo Văn Lệ Hằng và cs (2009) [6], chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng
Trần Thanh Vân và cs (2017) [25] cho biết: Lợn nái sau khi thành thục
về tính thì bắt đầu có biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường biểu hiện không
Trang 22rõ ràng, cách sau đó 15 - 16 ngày lại động dục, lần này biểu hiện rõ hơn và sau
đó đi vào quy luật mang tính chu kì
Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi cộm lên
bề mặt buồng trứng Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng có chu kỳ nên động dục cũng theo chu kì
Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mới thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 - 3 chu kì tiếp theo mới
ổn định Một chu kì tính của lợn nái dao động trong khoảng 18 - 22 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: Giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi
Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh (1993) [24], trứng rụng tồn tại
ở trong tử cung 2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai tính từ lúc bắt đầu động dục cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 Đối với lợn nái nội thì sớm hơn một ngày, vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ
3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém, nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm thích hợp nhất
Theo Nguyễn Thanh Sơn và Nguyễn Quế Côi (2005) [18], một trong những yếu tố quan trọng là xác định thời điểm phối giống thích hợp Nếu phối giống hay dẫn tinh quá sớm hoặc quá muộn tỷ lệ thụ thai sẽ kém và nếu có thụ thai thì lợn nái sẽ đẻ ít con
2.2.1.5 Quá trình mang thai
Sau thời gian lưu lại ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng, hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết trong cơ thể mẹ thời gian chửa như sau: progesterone
Trang 23trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất là vào ngày chửa thứ 20, sau đó nó hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục, 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức
độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng hai tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất (Trần Thanh Vân và cs., 2017) [25]
Trần Văn Phùng và cs (2004) [16] cho biết: Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (113 - 117 ngày), chia làm 2 thời kỳ:
- Thời gian chửa kỳ 1: Được tính từ ngày phối giống cho đến ngày 84
- Thời gian chửa kỳ 2: Là thời gian lợn chửa từ ngày thứ 85 đến ngày đẻ
2.2.2 Những hiểu biết về quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản
2.2.2.1 Quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn hậu bị
Lợn cái hậu bị khi chuyển về trang trại thường ở tuần tuổi thứ 18 và đạt cân nặng từ 80 - 100 kg, sau khi nhập trại được nuôi tại khu cách ly riêng biệt, sau giai đoạn 70 ngày thích nghi (04 tuần cách ly, sau đó qua 06 tuần làm quen
và tiếp xúc) mới đưa vào chuồng bầu để nhập đàn và bắt đầu được tiếp xúc đực khi đạt 110 kg (khoảng 24 tuần tuổi) Luôn theo dõi đảm bảo việc tiếp xúc bằng mũi của lợn đực với lợn cái hậu bị và không để lợn đực làm việc quá 1 giờ Tiếp xúc đực đến khi lợn hậu bị lên lên giống lần 1, lần 2 rồi mới tiến hành phối giống, có trường hợp sau khi lên giống lần 3 mới phối giống Lợn hậu bị thường được phối giống ở tuần tuổi thứ 30 và khi đã đạt cân nặng từ 135 kg Quá trình tiếp xúc của lợn hậu bị với đực ở lần đầu tiên rất quan trọng, nó quyết định thành tích sinh sản của lợn cái hậu bị sau này
Lợn cái hậu bị được nuôi quần thể giống hình thức chăn nuôi lợn thịt, hạn chế xả nước hoặc không xả nước vào bể tắm với hậu bị trên 18 tuần tuổi Hàng ngày kiểm tra sức khoẻ, theo dõi khả năng thu nhận thức ăn, khả năng phát triển, phát hiện những trường hợp bất thường, có biện pháp can thiệp kịp
Trang 24thời Tiếp xúc với lợn hàng ngày tạo sự gần gũi thân thiện với người chăn nuôi, đây là việc làm rất quan trọng nhằm hạn chế stress giúp lợn lên giống và phối giống được tốt hơn, tách lọc lợn theo trọng lượng để tăng độ đồng đều
Khi nhập lợn hậu bị cần lưu ý:
+ Nhập hậu bị từ nguồn có cải tạo di truyền và sức khỏe tốt
+ Cách ly là để phòng tránh sự xâm nhập mầm bệnh mới vào trại
+ Thời gian cách ly và thích nghi là 70 ngày kể từ khi nhập lợn
+ Lên quy trình thuốc và vắc-xin phù hợp với điều kiện dịch tễ tại trang trại + Theo dõi các biểu hiện bệnh lý, lấy mẫu xét nghiệm kịp thời
+ Cho lợn mới nhập tiếp xúc cận với hệ vi sinh vật của trang trại (phân, nhau thai) và tiếp xúc trực tiếp với lợn trong trang trại để hậu bị làm quen với mầm bệnh trong trang trại
2.2.2.2 Quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái mang thai
Chuồng trại hàng ngày được quét dọn nhằm đảm bảo chuồng luôn sạch Kiểm tra máng ăn, núm uống, quạt, dàn mát đảm bảo mọi thiết bị luôn hoạt động tốt Lau, rửa máng hàng ngày, không để thức ăn rơi vãi và ẩm mốc
Kiểm tra lợn nái sau phối liên tục trong 7 ngày đầu, sau đó kiểm tra lại vào những ngày dự đoán chu kỳ tiếp theo, quan sát bằng mắt thường kết hợp với lùa lợn đực đi kiểm tra với lợn nái sau phối 3 tuần, lợn nái mang thai 6 tuần
và 9 tuần
Quan sát thể trạng kết hợp với đánh giá khả năng tiêu thụ thức ăn của lợn, điều chỉnh thức ăn theo giai đoạn mang thai và theo thể trạng để căn chỉnh
và chốt khối lượng thức ăn cho từng nái vào thứ 2 hàng tuần, không để lợn nái
ăn quá nhiều sẽ quá béo, trọng lượng con non sinh ra lớn gây đẻ khó Tùy theo lứa đẻ, thể trạng nái mà kỹ sư cân chỉnh khẩu phần ăn cho phù hợp Tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin theo quy trình tiêm phòng Thức ăn dùng cho lợn nái mang thai cần đảm bảo đủ cung cấp năng lượng cho nái và dinh dưỡng cho bào
Trang 25thai phát triển Trang trại Ánh Dương sử dụng toàn bộ thức ăn do công ty Cổ phần Greenfeed cung cấp, trong giai đoạn này lợn nái sẽ ăn loại thức ăn GF07 dành riêng cho lợn nái thời kỳ mang thai
Trước ngày dự kiến đẻ khoảng 1 tuần, tắm lợn bằng nước sạch Sau đó tưới nước pha thuốc sát trùng loãng, tiêm thuốc tẩy nội ngoại ký sinh trùng và chuyển lợn sang chuồng đẻ Giai đoạn mang thai rất cần môi trường sống yên tĩnh, tránh stress, hạn chế sự di chuyển trong thời gian 1 tháng đầu tiên và 30 ngày cuối cùng của thai kỳ, khi di chuyển phải nhẹ nhàng cẩn trọng
* Quy trình chăm sóc
- Vận động
Đối với lợn nái mang thai kỳ I chú ý cho lợn nái vận động, nhất là đối với những lợn nái quá béo Làm cho lợn mẹ khỏe mạnh, thai sinh trưởng và phát triển tốt, lợn con có sức sống cao
Thời gian vận động hợp lý là 1 - 2 lần/ngày với 60 - 90 phút/lần Lợn nái mang thai ở kỳ II thì hạn chế vận động, trước khi đẻ 1 tuần chỉ cho lợn đi lại trong sân
Chú ý: Khi thời tiết xấu và những nơi có địa hình không bằng phẳng, nhiều rãnh không cho lợn vận động Trước khi vận động nên cho lợn uống nước đầy đủ để tránh lợn không uống nước bẩn ở nơi vận động đó
- Tắm chải
Tắm chải cho lợn mang thai là rất cần thiết, có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, tạo cảm giác dễ chịu, lợn cảm thấy thoải mái, kích thích tăng tính thèm ăn, phòng chống bệnh ngoại
ký sinh trùng Ngoài ra, còn tạo sự gần gũi giữa người và lợn nái để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái khi đẻ
Việc tắm cho lợn nái giai đoạn mang thai cần được tiến hành hằng ngày, đặc biệt trong mùa hè nóng bức, ngoài các tác dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn nái
Trang 26Trước khi đẻ 1 tuần chuyển lợi nái mang thai lên chuồng đẻ
Yêu cầu chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô giáo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông
Cần tạo không khí yên tĩnh, thoải mái cho lợn nái nghỉ ngơi dưỡng thai Không gây tiếng ồn xáo trộn không cần thiết có ảnh hưởng đến lợn Mỗi nái mang thai có một thẻ theo dõi về tình hình mang thai như: Ngày phối, ngày đẻ dự kiến, lứa đẻ, những biến cố xảy ra trong quá trình mang thai, nguy cơ sảy thai, tỷ lệ chết thai để có biện pháp xử lý đề phòng
* Quy trình nuôi dưỡng
Giai đoạn chửa kỳ I, dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13 - 14%, năng lượng trao đổi không dưới 2900 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp Nhưng ở giai đoạn
II mức ăn cần tăng từ 15 - 20% so với giai đoạn mang thai kỳ I, bào thai chưa phát triển mạnh vì vậy nhu cầu dinh dưỡng cho lợn nái giai đoạn này là để duy trì cơ thể, một phần rất nhỏ để nuôi thai Giai đoạn chửa kỳ II, tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, vì vậy cần cung cấp chất dinh dưỡng cho bào thai ở cuối
kỳ này để lợn con sinh ra đạt khối lượng sơ sinh theo yêu cầu của từng giống Đối với lợn Landrace có khối lượng sơ sinh khoảng 1,4 kg/con; lợn Yorkshire
có khối lượng sơ sinh khoảng 1,3 kg/con; lợn Móng Cái khoảng 0,5 - 0,7 kg/con
Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái mang thai trong một ngày cần chú ý các yếu tố sau: Giống và khối lượng cơ thể lợn nái, giai đoạn mang thai,
Trang 27thể trạng nái, tình trạng sức khỏe của lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn Ví dụ: Lợn nái mang thai kỳ II cho ăn nhiều hơn nái mang thai kỳ I, nái mang thai gầy cho ăn nhiều hơn so với nái bình thường, vào mùa đông khi nhiệt độ dưới 15⁰C thì cho lợn ăn nhiều hơn từ 0,3 - 0,5 kg thức ăn so với nhiệt
độ chuồng là 25 - 30⁰C để tăng khả năng chống rét cho lợn
Đối với lợn nái mang thai lần đầu, có thể cho ăn tăng từ 10 - 15% vì ngoài dinh dưỡng nuôi thai cần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho phát triển cơ thể con nái
Đối với lợn nái sau khi tách con, cần tăng thức ăn để tăng số trứng rụng
sẽ làm tăng số con đẻ ra trên lứa Thời gian cho ăn tăng phụ thuộc vào tuổi cai sữa cho lợn con, nếu cai sữa từ 21 - 28 ngày cho ăn tăng từ 8 - 10 ngày, nếu cai sữa lúc 35 ngày thì cho ăn tăng khoảng 3 - 7 ngày Lượng thức ăn cho ăn còn phụ thuộc vào thể trạng con mẹ, nếu thể trạng gầy cho ăn nhiều hơn, nếu béo cho ăn như lợn có thể trạng bình thường
Đối với lợn nái nội có khối lượng khoảng 65 - 80 kg/con, trong một ngày nái mang thai kỳ I cho ăn 1,1 - 1,2 kg/con thức ăn tinh và 1 - 2 kg/con thức ăn xanh Giai đoạn chửa kỳ II cho ăn tăng thêm khoảng 20 - 25% so với lợn nái chửa kỳ I, mức cho ăn từ 1,4 - 1,5 kg thức ăn tinh Trước khi đẻ 1 tuần cần giảm thức ăn đạm để phòng tránh bệnh sưng vú do căng sữa sau đẻ
Số bữa cho ăn trong ngày: Cho ăn ngày 2 bữa sáng - chiều, cần cung cấp
đủ nước uống sạch cho lợn nái đang mang thai
2.2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản
* Phòng bệnh
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2006) [17], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn
Trang 28thường do nhiều nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [19], vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là
vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bị nhiễm vi khuẩn,
điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bị cảm nhiễm E coli,
vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 - 30⁰C đối với lợn sơ sinh và 28 - 30⁰C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh, ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất
15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng,
xử lý chuồng trại theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa sạch sẽ Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học;
Trang 29chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng,
ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
- Phòng bệnh bằng vắc-xin
Là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [7] cho biết: xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, vi rút, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay
Vắc-vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc-xin thế hệ mới - vắc-xin công nghệ gen) Lúc đó, chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
Trang 30rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
- Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh
là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
- Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
- Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên, sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh
Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây: Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh
Trang 31mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh
mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tích tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, truyền nước sinh lý…
2.2.3 Những hiểu biết về quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản
2.2.3.1 Kỹ thuật phối lợn nái
* Kiểm tra lợn cái lên giống
Cho lợn đực thí tình đi phát hiện con cái động dục vào buổi sáng sớm hay đầu giờ chiều, kiểm tra âm hộ lợn cái khi lên giống thấy âm hộ sưng lên;
có dịch nhiều, loãng; niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng; niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều Sau 2 - 3 ngày dịch keo đặc hơn Con vật có biểu hiện tính hưng phấn cao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng; ăn uống giảm hoặc bỏ ăn; thích nhảy lên lưng con khác và sau đó đến thời điểm chịu đực thì nó để con khác nhảy lên lưng mình hoặc khi người ngồi lên lưng lợn cái chịu đực sẽ đứng yên Ở giai đoạn này, khi gần đực thì luôn ở tư thế sẵn sàng chịu đực: 2 tai dựng đứng; đuôi cong lên và lệch sang một bên; 2 chân sau dạng ra và hơi khuỵ xuống sẵn sàng chịu đực Sau khi lợn cái chịu đực thì ghi thẻ tai, ô, chuồng
* Phối lợn nái
Đối với tất cả các giống lợn, không nên phối giống ngay ở lần động dục đầu tiên Do cơ thể lợn chưa phát triển hoàn chỉnh (sự thành thục về tính thường sớm hơn sự thành thục về vóc); số trứng rụng lần đầu động dục ít… Nên phối
Trang 32giống cho lợn cái hậu bị đã qua 2 - 3 chu kỳ động dục
Có 2 phương pháp phối giống cho lợn
- Phương pháp phối giống trực tiếp
+ Ưu điểm: Dễ thực hiện Không cần phải đầu tư kỹ thuật, dụng cụ và trang thiết bị phối giống mà tỷ lệ thụ thai vẫn cao Nếu chất lượng đực giống tốt và khai thác với cường độ phù hợp thì sẽ sinh được nhiều lợn con
+ Nhược điểm: Lợn nái sẽ dễ bị lây lan bệnh qua tiếp xúc với đực giống
bị nhiễm bệnh, đặc biệt bệnh lây qua đường sinh dục (các bệnh leptospira, sảy
thai, truyền nhiễm) Một đực giống không phối giống được cho nhiều lợn cái cùng một lúc và có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng giống
- Phương pháp truyền tinh nhân tạo
+ Ưu điểm: Hạn chế được khả năng lây lan bệnh qua tiếp xúc trực tiếp nếu lợn đực bị bệnh Đồng thời, một lần khai thác tinh có thể phối được nhiều lợn (20 - 30 lợn nái) nên đem lại hiệu quả cho đàn lợn sinh nhiều hơn rất nhiều lần so với việc phối giống trực tiếp Hạn chế chi phí cho việc vận chuyển lợn đực tới chuồng lợn cái
+ Hạn chế: Yêu cầu người phối giống phải có kỹ thuật Cần phải có đầu
tư về dụng cụ, thiết bị bảo quản và vận chuyển tinh trong môi trường thích hợp nhất Nếu quá trình bảo quản tinh không tốt, việc xác định thời điểm phối giống cũng không chuẩn xác hoặc thao tác phối giống không đúng kỹ thuật thì cũng dẫn đến tỷ lệ đậu thai kém, lợn cái sẽ đẻ ít con
2.2.3.2 Kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái mang thai
* Đặc điểm thức ăn lợn nái
Dinh dưỡng là một trong những thành phần quan trọng để chắc chắn rằng lợn nái có được những tiềm năng di truyền cho sinh sản Cung cấp chất dinh
Trang 33dưỡng (chất đạm năng lượng, axit amin và các nhân tố vi mô) là rất cần thiết
để cho kết quả kỹ thuật tốt Không chỉ thành phần thức ăn đóng vai trò quan trọng mà nó còn tùy thuộc vào mức độ cho ăn
Ưu điểm của việc cho lợn nái mang thai ăn đúng cách
- Lợn nái phục hồi nhanh chóng sau khi cho con bú
- Số lượng lợn con sinh ra cao hơn
- Trọng lượng và sức sống của lợn con mới sinh ra cao hơn
- Lượng sữa cho lợn con bú nhiều và tốt hơn
Theo trang điện tử của công ty Cổ phần Greenfeed [32]: “Mục tiêu giai đoạn nuôi lợn nái là chăm lợn không bị táo bón, giữ được thể trạng, năng suất sinh sản tốt, trọng lượng lợn sơ sinh hợp lý để đảm bảo lợn con có khả năng sống và phát triển Lợn mẹ sau sinh tiết sữa nhiều và không gặp trở ngại trong quá trình sinh sản cũng như mau động dục lại sau khi cai sữa
Bảng 2.1 Tỷ lệ axit amin thích hợp cho lợn nái nuôi con
Loại axit amin Lợn nái chửa Lợn nái nuôi con
Trang 34* Khẩu phần và chế độ ăn khu mang thai
Chú ý:
- Thể trạng lợn ở mức 3 điểm (Tương đương độ dày mỡ lưng 16 - 18mm)
- Lợn mang thai cho ăn 2 lần/ngày
- Đánh giá và chỉnh thức ăn hàng tuần
Bảng 2.2 Khẩu phần và chế độ ăn khu mang thai
Loại lợn
Điểm thể trạng
Thể hình
Lượng thức ăn (kg/ngày)
Nái chửa giai
(Nguồn: Greenfeed)
Trang 35* Lịch phòng vắc-xin cho lợn khu mang thai
Bảng 2.3 Lịch phòng vắc-xin theo tuần mang thai, tuần nuôi con
Áp dụng cho nái lứa
Vắc-xin phòng bệnh Mục đích sử dụng
09 63 ngày
mang thai
P0 (Hậu bị đang mang thai)
Autovaccine (*) lần 1 (cho ăn) Phòng bệnh do vi khuẩn
12 84 ngày
mang thai
P0 (Hậu bị đang mang thai)
Autovaccine (*) lần 2 (cho ăn) Phòng bệnh do vi khuẩn
P0 (Hậu bị đang mang thai) E coli lần 2
Phòng bệnh do vi
khuẩn E coli và giải độc tố Clostridium
98 ngày mang thai Tất cả các lứa Sổ giun (Tiêm)
Phòng bệnh nội ngoại ký sinh trùng
02
14 ngày nuôi con Tất cả các lứa (Parvo + CSF)
-Phòng bệnh Parvo (Sử dụng vắc-xin phòng 3 trong 1: Parvo, Lepto và Ery) -Phòng bệnh dịch tả lợn cổ điển
(Nguồn: Greenfeed) Autovacccine (*): Chỉ dùng cho hậu bị đang mang thai (Lứa 0)
- Lấy bộ ruột lợn con ≤10 ngày tuổi có triệu chứng lâm sàng tiêu chảy, chưa điều trị kháng sinh Xay hoặc cắt nhỏ bộ ruột, dùng dung dịch này bổ sung vào thức ăn
- Một bộ ruột dùng cho nái lứa P0 từ 20 - 35 nái Một tuần cho ăn 2 lần
Trang 36Bảng 2.4 Lịch phòng vắc-xin tổng đàn nái
(Nguồn: Greenfeed) Chú ý: Chương trình vắc-xin có thể thay đổi theo tình hình dịch tễ
2.2.4 Một số bệnh, vấn đề thường gặp trên lợn nái sinh sản
2.2.4.1 Viêm tử cung
Lợn là động vật đa thai, khả năng sinh sản cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh dễ xảy xa
Trong chăn nuôi lợn sinh sản thậm chí cả nuôi lợn thịt, năng suất chăn nuôi phụ thuộc phần lớn vào khả năng sinh sản, trong đó hai yếu tố chính là số con trên một lứa đẻ và số lứa đẻ của một nái trên một năm Do vậy ưu tiên hàng đầu và liên tục trong chăn nuôi lợn sinh sản là tạo ra nhiều lợn con sinh ra và sống sót sau cai sữa và đồng thời giảm chí phí trong sản xuất nhất là do không thụ thai Mục tiêu trên, đòi hỏi sự làm việc cường độ cao ở lợn nái và nhất là
cơ quan sinh sản Do vậy các cơ quan sinh sản đóng vai trò quan trọng trong chăn nuôi, quyết định đến năng suất chăn nuôi Những bất thường trong cơ quan sinh sản, nói rõ hơn là các kiểu rối loạn như viêm tử cung, làm năng suất chăn nuôi lợn nái bị ảnh hưởng Viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt vài giờ khi đẻ, chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài 48 đến 72 giờ (Madec, 1995 [27])
STT Thời gian Vắc-xin phòng bệnh Mục đích sử dụng
Trang 37* Nguyên nhân
Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [3], nguyên nhân gây ra
bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgaris,
Klebriella, vi khuẩn E coli, còn có thể do trùng roi (Trichomonas foetus) và do
nấm Candida albicans
Theo Nguyễn Văn Thanh (2010) [20], có nhiều nguyên nhân gây viêm
tử cung như: Dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc và quản
lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn có trong các trường hợp là do vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển để gây nên các triệu chứng
Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mắc các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo
Bảng 2.5 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện
1 - 4 ngày sau khi đẻ Bình thường
>5 ngày sau khi phối Bình thường
14 - 21 ngày sau khi phối giống Viêm
* Triệu chứng
Theo Nguyễn Văn Thanh (2010)[20], khi lợn nái bị viêm tử cung: thân nhiệt, tần số hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,5⁰C, chiều sốt cao 40 - 41 ⁰C Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật