Họ thường đồng nhất vật chất với khối lượng, coi những định luật cơ học nhưnhững chân lý không thể thêm bớt và giải thích mọi hiện tượng của thế giới theonhững chuẩn mực thuần túy cơ học
Trang 1TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Bộ môn: Những NLCB của CNMLN
-
-TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài 3 : Vật chất và ý thức Liên hệ trách nhiệm của sinh viên trong giai đoạn
hiện nay ở nước ta
GVHD: TS.Nguyễn Thị Thúy Cường
TP HCM, 1-2022
Nhóm tiểu luận: 1 Thạch Thị Hoàng Duy - 21136118
2 Nguyễn Lê Trí Hữu - 21136159
3 Trương Việt Hà - 21136144
4 Trịnh Sơn Giang - 21136023
5 Nguyễn Ngọc Yến Vy - 21136113
Trang 2Mục lục
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 2
1.1 Phạm trù vật chất 2
1.1.1 Quan điểm triết Mác về phạm trù vật chất 2
1.1.2 Quan điểm của triết học Mác-Lênin về phạm trù vật chất 2
1.1.3 Các đặc tính của vật chất 3
1.1.4 Tính thống nhất vật chất của thế giới 4
1.2 Phạm trù ý thức 5
1.2.1 Quan điểm của triết học Mác-Lênin về phạm trù ý thức 5
1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức 9
1.3.1 Vật chất là cái có trước quyết định ý thức 9
1.3.2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất 10
1.4 Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ vật chất và ý thức 11
II TRÁCH NHIỆM CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC NÂNG CAO Ý THỨC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Ở NƯỚC TA 13
2.1 Xác định đúng động lực, mục đích học tập 13
2.1.1 Động lực học tập 13
2.1.2 Mục đích học tập 14
2.1.3 Xác định đúng trách nhiệm để thể hiện đúng giá trị của bản thân 14
2.2 Nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông cho sinh viên 15
Trang 32.3 Trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc hiện nay 17
2.4 Sinh viên nâng cao ý thức trách nhiệm trong phòng chống dịch COVID 19
2.5 Nâng cao ý thức chính trị cho sinh viên trong giáo dục và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng hiện nay 20
2.6 Những giải pháp chủ yếu để nâng cao trách nhiệm sinh viên 21
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 4A MỞ ĐẦU
Ngày nay, thế giới đã bước vào thế kỷ được mệnh danh là kỷ nguyên của toàncầu hoá, hội nhập hóa Trong xu thế toàn cầu hóa, con người có nhiều cơ hội tiếpxúc với những thành tựu, tư tưởng dưới nhiều hình thức khác nhau Đặc biệt, giớitrẻ nhất là sinh viên- một lực lượng xã hội năng động, nguồn nhân lực có trình độchịu tác động mạnh mẽ nhất Họ có thể tiếp thu những giá trị mới, tích cực do toàncầu hóa mang lại Song, họ cũng dễ bị mất phương hướng do tác động từ mặt tráicủa nó
Thực trạng đó đặt ra yêu cầu khách quan là phải nghiên cứu một cách đầy đủ,đúng đắn những diễn biến phức tạp trong đời sống tư tưởng chính trị của sinh viên,cần có những định hướng đúng đắn trong nhận thức chính trị cho sinh viên ngay từkhi còn ngồi trên ghế nhà trường Việc giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ nhất là sinhviên trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa, có khả năng đảm đương nhữngnhiệm vụ của cách mạng là việc làm có ý nghĩa quyết định Do đó, phải đặc biệtquan tâm tới việc tìm ra các giải pháp giáo dục và nâng cao ý thức chính trị chosinh viên bởi họ là lực lượng quan trọng góp phần quyết định hướng đi của đấtnước trong tương lai
Với ý nghĩa đó, nhóm chúng em chọn đề tài: “Vật chất và ý thức Liên hệ và nâng cao ý thức trách nhiệm của sinh viên trong giai đoạn ở nước ta.”
1
Trang 5B NỘI DUNG
I QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1.1 Phạm trù vật chất
1.1.1 Quan điểm triết Mác về phạm trù vật chất
Do chưa thoát khỏi phương pháp tư duy siêu hình nên nhìn chung các nhà triếthọc duy vật thời kỳ cận đại đã không đưa ra được những khái quát triết học đúngđắn Họ thường đồng nhất vật chất với khối lượng, coi những định luật cơ học nhưnhững chân lý không thể thêm bớt và giải thích mọi hiện tượng của thế giới theonhững chuẩn mực thuần túy cơ học, xem vật chất, vận động, không gian, thời giannhư những thực thể khác nhau, không có mối liên hệ nội tại với nhau Cũng cómột số nhà triết học thời kỳ này cố gắng vạch ra những sai lầm của thuyết nguyên
tử (chẳng hạn như Descartes, Kant ) nhưng không nhiều và không thể làm thayđổi căn bản cái nhìn cơ học về thế giới, không đủ đưa đến một định nghĩa hoàntoàn mới về phạm trù vật chất
1.1.2 Quan điểm của triết học Mác-Lênin về phạm trù vật chất
- Theo Ph Ăngghen: vật chất với tính cách là vật chất không có sự tồn tại cảmtính, nghĩa là cần phân biệt vật chất với tính cách là một phạm trù của triết học,một sáng tạo của tư duy con người trong quá trình phản ánh hiện thực với các sựvật, hiện tượng cụ thể của thế giới vật chất
- Kế thừa tư tưởng của Ph Ăngghen, V.I Lênin đã đưa ra định nghĩa về phạm trùvật chất, trong đó bao hàm các nội dung cơ bản sau đây:
+ Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ýthức
+ Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó tác động lêngiác quan của con người một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
2
Trang 6+ Ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ýthức phản ánh
1.1.3 Các đặc tính của vật chất
* Vận động
- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất
Vận động là thuộc tính cố hữu và là phương thức tồn tại của vật chất Nó tồntại vĩnh viễn, không thể tạo ra và không bị tiêu diệt Theo quy luật này, vận độngcủa vật chất được bảo toàn cả về số lượng và chất lượng Bảo toàn về lượng củavận động có nghĩa là tổng số vận động của vũ trụ là không thay đổi, lượng vậnđộng của sự vật này mất đi thì cũng ngang bằng lượng vận động của các sự vậtkhác nhận được Bảo toàn về chất của vận động là bảo toàn các hình thức vận động
và bảo toàn khả năng chuyển hóa của các hình thức vận động Một hình thức vậnđộng cụ thể thì có thể mất đi để chuyển hóa thành hình thức vận động khác, cònvận động nói chung tồn tại vĩnh viễn gắn liền với bản thân vật chất
- Những hình thức vận động cơ bản của vật chất
Hình thức vận động của vật chất rất đa dạng, được biểu hiện ra với các quy mô,trình độ và tính chất hết sức khác nhau Dựa vào những thành tựu khoa học củathời đại mình, Ph Ăngghen đã chia vận động của vật chất thành năm hình thức cơbản: cơ học, vật lý, hóa học, sinh học và xã hội “Vận động trong không gian vũtrụ, vận động cơ học của các vật thể tương đối nhỏ trên một thiên thể riêng biệt,chấn động phân tử dưới hình thức nhiệt, dòng điện, dòng từ phổ, phân giải và hợpchất hóa học, sự sống hữu cơ cho đến cái sản phẩm cao nhất của nó là tư duy” 1
Trang 7thì không có sự ổn định của sự vật và con người cũng không bao giờ nhận thứcđược chúng Không có đứng im thì sự vật, hiện tượng cũng không thể thực hiệnđược sự vận động chuyển hóa tiếp theo Vận động và đứng im tạo nên sự thốngnhất biện chứng của các mặt đối lập trong sự phát sinh, tồn tại và phát triển củamọi sự vật, hiện tượng, nhưng vận động là tuyệt đối, còn đứng im là tương đối.Quan niệm của phép biện chứng duy vật về vận động của vật chất đòi hỏi phảiquán triệt quan điểm vận động vào nhận thức và thực tiễn Quan điểm vận độngđòi hỏi phải xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động, đồngthời khi tiến hành cải tạo sự vật, hiện tượng phải thông qua những hình thức vậnđộng vốn có, đặc trưng của chúng Nhận thức các hình thức vận động của vật chấtthực chất là nhận thức bản thân thế giới vật chất.
* Không gian và thời gian
Không gian và thời gian là các hình thức tồn tại của vật chất vận động, đượccon người khái quát khi nhận thức thế giới Không có không gian và thời gianthuần túy tách rời vật chất vận động V.I Lênin viết: “Trong thế giới, không có gìngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâungoài không gian và thời gian” Đây là hai thuộc tính, hai hình thức tồn tại khác1nhau của vật chất vận động, nhưng chúng không tách rời nhau Về thực chất khônggian và thời gian là một thể thống nhất không gian- thời gian Vật chất có ba chiềukhông gian và một chiều thời gian
Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về không gian và thời gian là cơ
sở lý luận khoa học để đấu tranh chống lại quan niệm duy tâm, siêu hình tách rờikhông gian và thời gian với vật chất vận động Quan niệm đó đòi hỏi phải quántriệt nguyên tắc phương pháp luận về tính lịch sử- cụ thể trong nhận thức và hoạtđộng thực tiễn
1.1.4 Tính thống nhất vật chất của thế giới
* Tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới
1 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.18, tr.209-210
4
Trang 8Thế giới quanh ta tồn tại, nhưng hình thức tồn tại của thế giới là hết sức đadạng Vì thế, tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của thế giới Song,tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó Sự khác nhau vềnguyên tắc giữa quan niệm duy vật và quan niệm duy tâm không phải ở việc cóthừa nhận hay không thừa nhận tính thống nhất của thế giới, mà là ở chỗ chủ nghĩaduy vật cho rằng, cơ sở của sự thống nhất của thế giới là ở tính vật chất của nó.
* Thế giới thống nhất ở tính vật chất
Điều này được thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây:
- Chỉ một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế giới vật chấttồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người
- Mọi bộ phận của thế giới có mối quan hệ vật chất thống nhất với nhau, biểu hiện
ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là sản phẩm của vật chất, cùngchịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến của thế giới vật chất
- Thế giới vật chất không do ai sinh ra và cũng không tự mất đi, tồn tại vĩnh viễn,
vô hạn và vô tận
Như vậy, thế giới bao gồm cả tự nhiên và xã hội, về bản chất là vật chất, thốngnhất ở tính vật chất Ph Ăngghen kết luận: “Tính thống nhất thực sự của thế giới là
ở tính vật chất của nó và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng vài
ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng một sự phát triển lâu dài và khókhăn của triết học và khoa học tự nhiên” 1
1.2 Phạm trù ý thức
1.2.1 Quan điểm của triết học Mác-Lênin về phạm trù ý thức
Ý thức là một trong hai phạm trù cơ bản được các trường phái triết học quantâm nghiên cứu, nhưng tùy theo cách lý giải khác nhau mà có những quan niệm rấtkhác nhau, là cơ sở để hình thành các trường phái triết học khác nhau, hai đườnglối cơ bản đối lập nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Đứng vững trênlập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, khái quát những thành tựu mới nhất
1 C, Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.20, tr.67
5
Trang 9của khoa học tự nhiên và bám sát thực tiễn xã hội, triết học Mác-Lênin đã gópphần làm sáng tỏ vấn đề ý thức, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
* Nguồn gốc của ý thức
- Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm
Ý thức là nguyên thể đầu tiên, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chiphối sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất Ý thức của con người là docảm giác sinh ra, nhưng cảm giác theo quan niệm của họ không phải là sự phảnánh thế giới khách quan mà chỉ là cái vốn có của mỗi cá nhân tồn tại tách rời, biệtlập với thế giới bên ngoài Đó là những quan niệm hết sức phiến diện, sai lầm củachủ nghĩa duy tâm, cơ sở lý luận của tôn giáo
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình
Các nhà duy vật siêu hình đã đồng nhất ý thức với vật chất Họ coi ý thức cũngchỉ là một dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản sinh ra Theo họ, sự khác nhaugiữa các giống, loài chỉ là ở cấp độ biểu hiện ra bề ngoài bằng ngôn ngữ hay không
mà thôi Nhà triết học Pháp Diderot cho rằng: “Cảm giác là đặc tính chung của vậtchất, hay là sản phẩm của tính tổ chức của vật chất” 1
- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
C Mác khẳng định quan điểm duy vật biện chứng về ý thức: “Ý niệm chẳngqua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến
đi ở trong đó” Ý thức là chức năng của bộ óc người Mối quan hệ giữa bộ óc2người hoạt động bình thường và ý thức không thể tách rời bộ óc Ý thức là hìnhthức phản ánh đặc trưng chỉ có ở con người và là hình thức phản ánh cao nhất củathế giới vật chất Ý thức là sự phản ánh thế giới hiện thực bởi bộ óc con người.Như vậy, sự xuất hiện con người và hình thành bộ óc của con người có năng lựcphản ánh hiện thực khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Xem xét nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội của ý thức cho thấy, ý thứcxuất hiện là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên, của lịch sử trái
1 V.I Lênin: Toàn tập, Sđd, t.18, tr.32
2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.23, tr.35
6
Trang 10đất; trong đó, nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, còn nguồn gốc xã hội là điềukiện đủ để ý thức hình thành, tồn tại và phát triển Nếu chỉ nhấn mạnh mặt tự nhiên
mà quên đi mặt xã hội, hoặc ngược lại thì ý thức đều dẫn đến những quan niệm sailầm, phiến diện của chủ nghĩa duy tâm hoặc duy vật siêu hình Nghiên cứu nguồngốc của ý thức cũng là một cách tiếp cận để hiểu rõ bản chất của ý thức, khẳngđịnh bản chất xã hội của ý thức
* Bản chất của ý thức
“Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trìnhphản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người” Như vậy, khi1xem xét ý thức về mặt bản thể luận thì ý thức chỉ là “hình ảnh” về hiện thực kháchquan trong óc người Đối với con người, cả ý thức và vật chất đều là hiện thực,nghĩa là đều tồn tại thực Nhưng cần phân biệt giữa chúng có sự khác nhau, đối lậpnhau về bản chất: vật chất là hiện thực khách quan; còn ý thức là hiện thực chủquan Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, ý thức không phải là sự vật, màchỉ là “hình ảnh” của sự vật ở trong óc người Ý thức tồn tại phi cảm tính, đối lậpvới các đối tượng vật chất mà nó phản ánh luôn tồn tại cảm tính Đây là căn cứquan trọng nhất để khẳng định thế giới quan duy vật biện chứng, phê phán chủnghĩa duy tâm và duy vật siêu hình trong quan niệm về bản chất của ý thức
Sự phản ánh ý thức là quá trình thống nhất của ba mặt:
- Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh
- Mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần
- Chuyển hóa mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan
Từ kết quả nghiên cứu nguồn gốc và bản chất của ý thức cho thấy, “ý thức làhình thức phản ánh cao nhất riêng có của óc người về hiện thực khách quan trên cơ
Trang 11Theo C Mác: “Phương thức tồn tại của ý thức và của một cái gì đó đối với ýthức là tri thức Cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với ý thức, chừng nào ýthức biết cái đó” Tri thức có nhiều lĩnh vực khác nhau như: tri thức về tự nhiên,2
xã hội, con người; và có nhiều cấp độ khác nhau như: tri thức cảm tính và tri thức
lý tính; tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận; tri thức tiền khoa học và tri thứckhoa học, v.v…
Ý thức còn nảy sinh thái độ của con người đối với đối tượng phản ánh Tìnhcảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữangười với người và quan hệ giữa người với thế giới khách quan Tình cảm tham gia
và trở thành một trong những động lực quan trọng của hoạt động con người Sựhòa quyện giữa tri thức với tình cảm và trải nghiệm thực tiễn đã tạo nên tính bềnvững của niềm tin thôi thúc con người hoạt động vươn lên trong mọi hoàn cảnh
- Các cấp độ của ý thức
+ Tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình trong mối quan hệ với ýthức về thế giới bên ngoài Đây là một thành tố rất quan trọng của ý thức, đánh dấutrình độ phát triển của ý thức Trong quá trình phản ánh thế giới khách quan, conngười cũng tự phân biệt, tách mình, đối lập mình với thế giới đó để đánh giá mìnhthông qua các mối quan hệ Nhờ vậy, con người tự ý thức về bản thân mình nhưmột thực thể hoạt động có cảm giác, đang tư duy; tự đánh giá năng lực và trình độhiểu biết của bản thân về thế giới, cũng như các quan điểm, tư tưởng, tình cảm,… + Tiềm thức là những hoạt động tâm lý diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của ý thức.Tiềm thức có thể tự động gây ra các hoạt động tâm lý và nhận thức mà chủ thểkhông cần kiểm soát chúng một cách trực tiếp Tiềm thức có vai trò quan trọngtrong đời sống và tư duy khoa học Khi tiềm thức hoạt động sẽ góp phần giảm bớt
sự quá tải của đầu óc khi công việc lặp lại nhiều lần, mà vẫn đảm bảo độ chính xáccao và chặt chẽ cần thiết của tư duy khoa học
+ Vô thức là những hiện tượng do tâm lý điều khiển mà ý thức không kiểm soátđược trong một lúc nào đó Trong đời sống của con người, có những hành vi do
2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.42, tr.236
8
Trang 12bản năng chi phối hoặc do những động tác được lặp đi lặp lại nhiều lần trở thànhthói quen đến mức chúng tự động xảy ra ngay cả khi không có sự điều khiển của lýtrí
- Vấn đề “trí tuệ nhân tạo”
Ngày nay, khoa học và công nghệ hiện đại đã có những bước phát triển mạnh
mẽ, sản xuất ra nhiều loại máy móc vừa có khả năng thay thế lao động cơ bắp vừa
có thể thay thế cho một phần lao động trí óc của con người Chẳng hạn máy tínhđiện tử, “người máy thông minh” Song, điều đó không có nghĩa là máy móc cũng
có ý thức như con người Ý thức và máy tính điện tử là hai quá trình khác nhau vềbản chất Và dù máy móc có hiện đại đến đâu chăng nữa cũng không thể hoànthiện được như bộ óc con người
Con người là một thực thể tự nhiên, có ý thức, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất
và tinh thần, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Khẳng định vai trò của
ý thức trong đời sống của con người về thực chất là khẳng định vai trò của conngười- chủ thể mang ý thức đó Cần có thái độ đúng đối với con người, quan tâm,chăm lo phát triển con người toàn diện cả về thể chất và tinh thần
1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Khái niệm: là mối quan hệ hai chiều tác động qua lại lẫn nhau giữa vật chất và
ý thức Trong mối quan hệ này vật chất là cái có trước quyết định ý thức, còn ýthức là cái có sau mang tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
1.3.1 Vật chất là cái có trước quyết định ý thức
+ Thứ nhất: vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức Vật chất sinh ra ý thức vì ýthức xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của con người cách đây từ 3 đến 7 triệunăm mà con người là kết quả của một quá trình phát triển , tiến hoá lâu dài của giới
tự nhiên, của thế giới vật chất Con người do giới tự nhiên sinh ra, vật chất sinh ra
mà ý thức là một thuộc tính của bộ phận con người cho nên ý thức cũng là do tựnhiên, vật chất sinh ra Các thành tựu khoa học của tự nhiên hiện đại đã chứngminh được rằng giới tự nhiên có trước con người, vật chất là cái có trước, ý thức là
9
Trang 13cái có sau, vật chất là tính thứ nhất còn ý thức là tính thứ hai Vật chất tồn tạikhách quan độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức.
+ Thứ hai: vật chất quyết định nội dung của ý thức Ý thức suy cho cùng dưới hìnhthức nào đều là phản ánh hiện thực khách quan Nội dung của nó chẳng qua là kếtquả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người
+ Thứ ba: vật chất quyết định bản chất của ý thức Phản ánh và sáng tạo là haithuộc tính không tách rời nhau trong bản chất của ý thức Nhưng phản ánh của conngười không phải là soi gương mà là phản ánh tích cực tự giác thông qua thực tiễn.Thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người và là cơ sở
để hình thành phát triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh vừasáng tạo
+ Thứ tư: vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức Mọi sự tồn tạiphát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất, vật chất thayđổi thì sớm hay muộn thì ý thức cũng phải thay đổi theo Con người là một sinh vật
có tính xã hội ngày càng phát triển cả thể chất lẫn tinh thần, thi ý thức- một hìnhthức phản ánh của óc người cũng phát triển cả về nội dung lẫn hình thức
1.3.2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
+ Thứ nhất: tính độc lập tương đối của ý thức thể hiện ở chỗ ý thức là sự phản ánhthế giới vật chất vào trong đầu óc con người, do vật chất sinh ra nhưng khi đã rađời thì ý thức có đời sống riêng, có quy luật vận động, phát triển riêng không lệthuộc máy móc vào vật chất
+ Thứ hai: ý thức đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.Con người dựa trên những tri thức về thế giới khách quan từ đó đề ra mục tiêu,phương hướng, biện pháp và ý chí quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu đãxác định
+ Thứ ba: vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động của con người, nó
có thể làm cho hoạt động của con người đúng hay sai thành công hay thất bại
10