ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --- TRẦN VĂN NGỌC Tên chuyên đề: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI NGÔ THỊ
Trang 1-
TRẦN VĂN NGỌC
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG
VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM, HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
TRẦN VĂN NGỌC
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG
VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI NGÔ THỊ HỒNG GẤM, HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021 Giảng viên hướng dẫn: TS Đỗ Thị Lan Phương
Thái Nguyên - năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Khóa luận thực tập tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua Đồng thời, Nhà trường đã tạo cho em
có cơ hội được thực tập nghề nghiệp mà em yêu thích, cho em bước ra đời sống thực tế để áp dụng những kiến thức mà các thầy cô giáo đã giảng dạy Qua thời gian thực tập này em nhận ra nhiều điều mới mẻ và bổ ích trong chuyên môn
để giúp ích cho công việc sau này của bản thân
Đặc biệt, em xin gửi đến TS Đỗ Thị Lan Phương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này lời cảm ơn sâu sắc nhất
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, đạt nhiều thành tích trong công tác và nhiều thành công trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy
Em xin chân thành cảm ơn tới Ban quản lý, kỹ sư, tập thể cán bộ, công nhân viên của Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện khóa luận
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021
Sinh viên
Trần Văn Ngọc
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Lịch vệ sinh tiêu độc, sát trùng toàn trại 9
Bảng 2.2 Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh tại trại 10
Bảng 2.3 Hàm lượng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa và lợn nái nuôi con 13
Bảng 3.1 Thành phần và giá trị dinh dưỡng của 3 loại thức ăn hỗn hợp 41
Bảng 3.2 Khẩu phần ăn của nái mang thai 42
Bảng 3.3 Chế độ ăn của lợn nái nuôi con 43
Bảng 3.4 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 44
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm 45
Bảng 4.2 Số lượng lợn trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 46
Bảng 4.3 Diễn biến quá trình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 48
Bảng 4.4 Kết quả vệ sinh, sát trùng tại trại 50
Bảng 4.5 Kết quả phòng bệnh cho lợn con tại trại 51
Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 52
Bảng 4.7 Kết quả trực tiếp điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại 53
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con tại trại 55
Bảng 4.9 Kết quả chăm sóc lợn con 58
Trang 5PRRS: Porcine reproductive and respiratory syndrome STT: Số thứ tự
TT: Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện nơi cơ sở thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.3 Cơ sở vật chất 4
2.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại 7
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trang trại 10
2.2 Tổng quan tài liệu 11
2.2.1 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con 11
2.2.2 Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi 20
2.2.3 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản 23
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 32
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 34
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 34
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 38
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 40
Trang 73.1 Đối tượng 40
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 40
3.3 Nội dung thực hiện 40
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 40
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 40
3.4.2 Phương pháp thực hiện 40
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm 45
4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 46
4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 46
4.2.2 Tình hình sinh sản của lợn nái trực tiếp theo dõi tại trại 48
4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 50
4.3.1 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh sát trùng chuồng trại 50
4.3.2 Phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin 51
4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại 52
4.4.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 52
4.4.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 53
4.4.3 Kết quả chẩn đoán điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ 54
4.4.4 Kết quả thực hiện một số công tác khác 56
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Đề nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi lợn của nước ta đã có những bước phát triển khá mạnh, chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu đời sống ngày càng cao của con người Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020”, định hướng phát triển chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa, từng bước đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Trong những năm tiếp theo, hướng phát triển ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất theo phương thức trang trại, chăn nuôi công nghiệp, phấn đấu tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt khoảng trên 40%
Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì việc phát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái hiện nay đang nuôi ở các trang trại là bệnh còn xảy ra rất nhiều, do khả năng thích nghi của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là các bệnh hay gặp như: đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, ít sữa và mất sữa, sảy thai truyền nhiễm, Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên Chính vì vậy, việc chăm sóc và tìm hiểu về bệnh ở cơ quan sinh sản của đàn lợn nái là việc cần thiết
Căn cứ vào tình hình thực tế trên, được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, giảng viên hướng dẫn và cơ sở thực tập,
em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang”
Trang 91.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
- Nắm được quy trình phòng bệnh cho đàn lợn nái sinh sản
- Nắm được các bệnh thường xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp, phòng trị bệnh hiệu quả
- Thực hiện được các biện pháp phòng bệnh cho lợn
- Xác định được tình hình mắc bệnh trên đàn nái sinh sản và thực hiện biện pháp phòng trị bệnh cho lợn
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện nơi cơ sở thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
+ Phía Bắc giáp với huyện Tân Yên (Bắc Giang)
+ Phía Đông giáp với huyện Việt Yên (Bắc Giang)
+ Phía Nam giáp với huyện Yên Phong (Bắc Ninh)
+ Phía Tây nam giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, phía Tây Bắc giáp với huyện Phổ Yên và Phú Bình của tỉnh Thái Nguyên
Đây là điều kiện khá thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán giữa các xã, huyện thành bên cạnh và với thủ đô Hà Nội - trung tâm kinh tế chính trị lớn của
cả nước
- Điều kiên khí hậu:
Khí hậu là yếu tố quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân cũng như trong chăn nuôi, nó quyết định đến sự phát triển của ngành nông nghiệp trong đó có trồng trọt và chăn nuôi, mà hiện nay chăn nuôi đang có xu hướng tăng mạnh
Xã Đại Thành cũng như huyện Hiệp Hòa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa
Trang 11Nhìn chung điều kiện khí hậu của xã khá là thuận lợi cho nông nghiệp phát triển cả về trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, có những tháng bất lợi như mùa hè nhiệt độ, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh
Sự biến động phức tạp của thời tiết gây nhiều khó khăn trong công tác chăn nuôi, đặc biệt nhiệt độ cao về mùa hè, lạnh giá về mùa đông ảnh hưởng lớn tới khả năng sinh trưởng và mức chịu đựng của vật nuôi Chính vì vậy việc phòng và trị bệnh cho đàn gia súc khá là quan trọng
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại
- 01 quản lý trại
- 01 kĩ thuật trại
- 01 tổ trưởng chuồng lợn nái đẻ
- 01 tổ trưởng chuồng lợn nái mang thai
- 12 công nhân làm ngày và 02 công nhân trực đêm
- 02 sinh viên thực tập
Với đội ngũ nhân công trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng lợn nái mang thai Các tổ có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc, quản lý các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của trang trại
2.1.3 Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất ở trại tương đối đầy đủ và hoàn thiện
Về thiết kế xây dựng:
- Tổng diện tích trại là 3 ha
Trước cổng có hệ thống phun sát trùng cho phương tiện ra vào trại Tiếp đến là phòng hành chính để tiếp khách, phòng họp, rồi đến khu nhà tập thể và nhà ăn cho công nhân của trại
Trang 12Khu vực sản xuất theo thứ tự: Khu vực xuất lợn con và chuồng cai sữa, sau đó lần lượt là các chuồng nái đẻ (1 - 2 - 3) Phòng pha chế và bảo quản tinh được trang bị kính hiển vi, tủ lạnh, nhiệt kế Tiếp theo là chuồng lợn nái mang thai rồi chuồng cách ly
Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi có xây dựng 03 phòng tắm sát trùng cho cán bộ kỹ thuật và công nhân trước khi vào, ra chuồng chăm sóc lợn, 01 kho thuốc, 01 kho thức ăn cho lợn; 01 phòng ăn và 02 phòng nghỉ trưa cho công nhân
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vắc xin,
tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc của trại, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi
- Ở khu vực cuối trại có hệ thống biogas để xử lí phân và nước thải
Chuồng lợn nái mang thai:
- Có 1 chuồng lợn nái mang thai chia làm 8 dãy, có sức chứa tối đa là
600 con Ở đầu mỗi chuồng có hệ thống dàn mát và 8 quạt hút gió phía cuối chuồng Sàn toàn bộ là bê tông, cao hơn hơn so với nền chuồng thuận tiện cho công việc vệ sinh, khử trùng Ở đầu dãy 1 có 3 ô rộng là nơi để kiểm tra lên giống và ép giống, cuối dãy 1 cũng có 3 ô rộng tương tự dùng để ép giống Đầu dãy 2 là 14 ô chuồng lợn đực Còn lại là các ô chuồng lợn nái Các ô trong chuồng đều có vòi uống tự động cao 50 - 55 cm Chuồng có hệ thống ống dẫn nước dọc hai bên dãy chuồng để thuận tiện phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa
máng, xịt gầm
Trang 13- Bên cạnh chuồng lợn nái mang thai có xây dựng phòng pha chế tinh, với đầy đủ dụng cụ và thiết bị như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo, nồi cất nước…
Chuồng nái nuôi con:
- Có 3 chuồng nái nuôi con, mỗi chuồng chia làm 4 dãy, có sức chứa tối
đa là 56 con/chuồng Ở đầu mỗi chuồng có hệ thống dàn mát và 6 quạt hút gió Phía cuối chuồng, có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi
ấm, úm lợn con Chuồng nuôi đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông bằng cách điều chỉnh hệ thống quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Sàn cho lợn mẹ là sàn bê tông còn lại toàn bộ sàn cho lợn con là sàn nhựa, sàn cao hơn so với nền chuồng
- Mỗi ô đều có vòi uống tự động cho cả lợn con và lợn mẹ, có hệ thống máng tập ăn cho lợn con được lắp vào lúc 3 - 5 ngày tuổi Có hệ thống ống dẫn nước dọc hành lang hai bên để phục vụ cho công việc vệ sinh, xịt gầm, cuối chuồng có hệ thống thoát phân và nước thải
Chuồng cai sữa: Có 1 chuồng cai sữa gồm 4 ô, có sức chứa tối đa là 200
con Ở đầu chuồng có hệ thống dàn mát và 3 quạt hút gió phía cuối chuồng Toàn bộ sàn cho lợn cai sữa là sàn bê tông, có hệ hống máng ăn và vòi uống tự động, có 2 ống dẫn nước dọc hành lang hai bên để phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa chuồng
Chuồng cách ly: Gồm có 3 ô có sức chứa tối đa là 60 con Ở đầu chuồng
có hệ thống dàn mát và 3 quạt hút gió phía cuối chuồng Có hệ thống máng ăn
và vòi uống tự động, có hệ thống thoát nước tại bể tắm thuận tiện cho việc về sinh chuồng
Trang 142.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại
2.1.4.1 Công tác chăn nuôi
- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Đàn lợn nái tại trại được chăm sóc nuôi dưỡng theo đúng quy định và được chia ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn nái hậu bị
Lợn ở giai đoạn này được chọn lọc kỹ lưỡng và tỉ mỉ từ các con giống của trại Chuồng nuôi thông thoáng, sạch sẽ, nền chuồng bằng phẳng không bị đọng nước, có đủ nước cung cấp cho lợn uống tự do bằng núm uống van thẳng
Mức cho ăn: 2,2 kg/con/ngày, loại thức ăn hỗn hợp 567, kết hợp thường xuyên kiểm tra ngoại hình để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp
Giai đoan mang thai
Để khối lượng sơ sinh của lợn con cao, lợn sơ sinh khỏe mạnh thì chăm sóc lợn mẹ ở giai đoạn mang thai là hết sức quan trọng
Nái mang thai chia làm 2 giai đoạn:
+ Nái chửa kỳ 1 (từ 1 - 84 ngày):
Đây là giai đoạn trứng được thụ tinh, phôi làm tổ ở tử cung, bào thai phát triển chậm Chuồng trại nuôi lợn nái chửa kỳ 1 phải đảm bảo luôn thoáng mát, nhốt riêng mỗi con 1 ô chuồng Thức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp 567, mỗi con cho ăn 1,6 - 2,5 kg/con/ngày
+ Nái chửa kỳ 2 (từ 85 ngày đến khi đẻ):
Đây là giai đoạn cuối cùng của thời kỳ mang thai Bào thai phát triển nhanh, khối lượng sơ sinh của lợn con đạt được chủ yếu là nhờ sự phát triển trong giai đoạn này Thức ăn của lợn là thức ăn hỗn hợp 567, lượng thức ăn cho ăn: 3,5 kg/con/ngày
Trang 15Giai đoạn nuôi con
Sau khi đẻ nhiệm vụ quan trọng nhất của lợn nái là tiết sữa nuôi con Vì vậy nái cần được cung cấp về thức ăn đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ
Trước khi đẻ nước uống cho lợn nái luôn được cung cấp đảm bảo, nước sạch, mát và đủ Thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ và sau đẻ
Chăm sóc lợn con
Lợn con sau khi sinh ra, ngoài các công việc như lau khô, mài nanh, bấm đuôi, cho bú sữa đầu, cần luôn luôn giữ nhiệt độ ổn định phù hợp với lợn con Sau khi đẻ 1 ngày thì tiêm sắt, sau 3 - 5 ngày đẻ thì nhỏ thuốc phòng tiêu chảy
và hô hấp Từ 3 ngày tuổi thì bắt đầu cho lợn tập ăn bằng thức ăn tập ăn cho lợn con
- Công tác thú y: Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất
lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty CP
Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các
chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào
Lịch vệ sinh tiêu độc, sát trùng được trình bày ở bảng 2.1
Trang 16Bảng 2.1 Lịch vệ sinh tiêu độc, sát trùng toàn trại
Ngoài khu vực chăn nuôi
Chuồng nái chửa
Chuồng
đẻ
Chuồng cách ly
sát trùng Phun sát trùng
Phun sát trùng
Phun sát trùng
Thứ 2
Quét hoặc rắc vôi đường đi Phun sát trùng
+ rắc vôi
Phun sát trùng
Phun sát trùng toàn
bộ khu vực
Phun sát trùng toàn bộ khu vực
Thứ 3
Phun sát trùng
Phun sát trùng + quét vôi đường đi
Quét hoặc rắc vôi đường đi
Phun sát trùng
xút gầm Phun sát trùng
Phun sát trùng Rắc vôi Rắc vôi
Thứ 5
Phun sát trùng
Phun sát trùng + xả vôi xút gầm
Phun sát trùng
Phun sát trùng
Thứ 6
Phun sát trùng
Phun sát trùng + rắc vôi
Phun sát trùng
Phun sát trùng toàn
bộ khu vực
Phun sát trùng
Thứ 7
Vệ sinh tổng chuồng
Vệ sinh tổng chuồng
Vệ sinh tổng chuồng
Vệ sinh tổng khu
Phun sát trùng
Ngoài ra, trong và ngoài chuồng cần:
+ Phun thuốc diệt gián, nhện 1 lần/tháng vào ngày 15
Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn
Trang 17Bảng 2.2 Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh tại trại
bệnh
Vắc xin, thuốc, chế phẩm
Đường đưa vắc xin, thuốc, chế phẩm
Liều lượng (ml/con)
24 tuần Tai xanh PRRS Tiêm bắp 2
25 - 29 tuần Khô thai Pavo Tiêm bắp 2
26 tuần Dịch tả Coglapest Tiêm bắp 2
27 - 30 tuần Giả dại Begonia Tiêm bắp 2
28 tuần LMLM Aftopor Tiêm bắp 2
Lợn nái
sinh sản
10 tuần chửa Dịch tả Coglapest Tiêm bắp 2
12 tuần chửa LMLM Aftopor Tiêm bắp 2
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm
tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được
kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trang trại
Trang 18Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình
và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất
Trang trại liên kết với Công ty CP nên chủ động được nguồn con giống, thức ăn, thuốc điều trị
Quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại
2.1.5.2 Khó khăn
Trại được xây dựng trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ dịch bệnh gặp nhiều khó khăn Năm 2014, khi trại vừa được thành lập bắt đầu vào hoạt động ổn định thì dịch bệnh tai xanh bùng phát làm trại thiệt hại lớn về kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của trại Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của trại Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn ngoài ra đội ngũ công nhân trong trại còn thiếu về số lượng, do đó ảnh hưởng đến tiến độ công việc
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ, nuôi con
- Chế độ dinh dưỡng cho lợn
Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao Chế độ dinh dưỡng bao gồm: dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, ảnh hưởng của khoáng chất, các nguyên tố đa vi lượng và ảnh hưởng của vitamin
+ Nhu cầu năng lượng:
Năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu năng lượng khác nhau tùy thuộc từng giai đoạn Cần
Trang 19phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: Gluxit chiếm 70
- 80 %, Lipit 10 - 13 % tổng số năng lượng cung cấp
+ Ảnh hưởng của khoáng chất:
Trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 7 % là Canxi và Photpho, xấp xỉ 25% là Natri và Kali, cũng có một lượng nhỏ Magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác ở dạng dấu vết Ví dụ Canxi làm ngăn trở việc hấp thu kẽm gây hiện tượng rối loạn ở da, gây sừng hóa
+ Nhu cầu về protein:
Protein được cung cấp để bù đắp lại phần mất đi và một phần khác xây dựng lên các tế bào mới, tạo sản phẩm chăn nuôi Tuy nhiên, việc cung cấp protein phải đảm bảo đủ về số lượng và cân đối về các thành phần axit amin không thay thế Lyzine, Methionine, Histidin, Cystein, Tryptophan hay chính xác hơn nhu cầu về protein của lợn chính là nhu cầu về axit amin Ngoài ra, thức ăn phải có giá trị sinh học cao, dễ tiêu hóa, hấp thu Để đáp ứng tốt các nhu cầu trên cần cho lợn ăn bằng nhiều loại thức ăn
+ Ảnh hưởng của vitamin:
Vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin lợn có thể tự tổng hợp để đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 Một số vitamin lợn hay thiếu cần phải bổ sung (A, D, E) Nếu bổ sung không đúng, thừa hoặc thiếu đều không tốt
Thiếu vitamin A: Lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai
dễ xảy thai, đẻ non
Thiếu vitamin D: Thai kém phát triển, dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ Thiếu vitamin E: Lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn không động dục hoặc chậm động dục
Trang 20Bảng 2.3 Hàm lượng axit amin thích hợp cho lợn nái chửa
và lợn nái nuôi con Loại axit amin
Hàm lượng protein (%) Lợn nái chửa Lợn nái nuôi con
- Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa
Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái chửa có vai trò quan trọng trong dây chuyền sản xuất lợn con giống Mục đích của kỹ thuật chăn nuôi lợn nái có chửa nhằm đảm bảo cho thai phát triển bình thường, không bị xảy thai hoặc đẻ non, tăng
số lợn con đẻ ra trên lứa, lợn con có sức sống cao, lợn mẹ phát triển bình thường,
dự trữ đủ chất dinh dưỡng nuôi con sau này
- Phương pháp phát hiện lợn có chửa
Phát hiện lợn có chửa có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất Nếu phân biệt được lợn nái có chửa một cách chính xác, kịp thời ngay sau khi phối giống
sẽ tác động các biện pháp nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp với quy luật phát triển của bào thai để nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái Còn nếu lợn nái không chửa thì có kế hoạch phối giống lại kịp thời
Trang 21Thời gian chửa của lợn nái trung bình là 114 ngày Người ta chia thời gian chửa của lợn nái làm hai kỳ:
+ Thời kỳ chửa kỳ 1: là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên
+ Thời kỳ chửa kỳ 2: là thời gian lợn có chửa từ 85 ngày đến khi đẻ Việc phát hiện lợn nái chửa kỳ 2 dễ dàng hơn chửa kỳ 1 vì bào thai lúc này phát triển mạnh, bụng to và xệ hơn Trong thực tiễn có nhiều phương pháp phát hiện lợn có chửa nhanh và chính xác như phương pháp căn cứ vào chu kỳ động dục của lợn nái, dùng máy siêu âm, phương pháp đo điện trở âm đạo, phương pháp chuẩn đoán trong phòng thí nghiệm
- Quy luật sinh trưởng phát triển của bào thai
Hiểu rõ quy luật sinh trưởng và phát dục của bào thai có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng nái mẹ trong thời kỳ mang thai Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tỷ lệ sảy thai, chết thai và số lượng cũng như khối lượng sơ sinh trên ổ và trên con Quá trình phát triển của phôi thai trải qua 3 giai đoạn sau:
+ Giai đoạn phôi thai (1 - 22 ngày): Đặc điểm của giai đoạn này là hợp
tử bắt đầu phân chia nhanh chóng từ một khối tế bào thành các lá phôi Đồng thời ở thời kỳ này, nhau thai chưa hình thành nên cơ thể mẹ chưa có sự bảo vệ hợp tử Giai đoạn này phải chú ý khâu chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý đầy đủ
Trang 22- Những biến đổi của cơ thể mẹ trong thời gian có chửa
Trong thời gian lợn nái chửa, cơ thể trao đổi chất mạnh, quá trình đồng hóa lớn hơn quá trình dị hóa Trung bình khối lượng lợn nái tăng lên ở 20 - 30 ngày cuối của thời kỳ chửa Qua nghiên cứu cho thấy rằng, điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể lợn nái có chửa như: nhiệt độ, ánh sáng, thời tiết khí hậu, chăm sóc nuôi dưỡng, mức độ dinh dưỡng,… Cường độ và thời gian tác động của mỗi yếu tố nêu trên sẽ phản ánh lên các quá trình diễn ra trong cơ thể mẹ và cơ thể phôi thai trong tất cả các giai đoạn phát triển của nó
Độ ẩm môi trường cao cũng gây hại cho lợn nái nhất là trong trường hợp độ ẩm cao kết hợp với nhiệt độ cao
- Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái chửa
+ Quy trình nuôi dưỡng:
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái
ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt
Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa
Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý
Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2
Trang 23- 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
+ Dinh dưỡng lợn nái có chửa:
Nguyên tắc nuôi lợn nái có chửa: cho ăn đúng khẩu phần, đảm bảo chất dinh dưỡng, đặc biệt chú ý cho ăn đủ vitamin và khoáng chất Thiếu khoáng, xương lợn con phát triển kém, lợn nái chửa có nguy cơ bại liệt Thiếu vitamin, lợn con phát triển chậm, sức sống kém Không cho ăn quá nhiều tinh bột để chống béo, khó đẻ
Nhu cầu dinh dưỡng của lợn chửa: đạm thô 13%, năng lượng trao đổi
2900 kcal/kg thức ăn
Mức ăn cho lợn nái có chửa (kg thức ăn đã phối trộn/con/ngày)
Với nái hậu bị: 1,6 - 1,8 kg/con/ngày, cho ăn ngày 1 lần
Với nái dạ: 2 - 2,2 kg/con/ngày, cho ăn ngày 1 lần
Với nái hậu bị: 2,5 kg/con/ngày, cho ăn ngày 2 lần
Với nái dạ: 3 kg/con/ngày, cho ăn ngày 2 lần
Mức ăn cho nái chửa còn tùy thuộc vào thể trạng của nái: nái quá gầy phải cho ăn thêm thức ăn tinh, nái quá béo phải giảm thức ăn tinh
Vào mùa Đông những ngày nhiệt độ dưới 15ºC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2 - 0,3 kg/con/ngày, để bù phần năng lượng mất đi do chống rét
Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá đu
đủ do dễ gây sảy thai
Cho lợn uống nước tự do
+ Chăm sóc lợn nái chửa:
Cho lợn yên tĩnh tuần đầu tiên sau khi phối giống
Kiểm tra theo dõi lợn có chửa vào ngày thứ 21 và ngày thứ 42 sau khi phối xem có động dục trở lại không
Trang 24Tắm: 1 lần/ngày vào những ngày nắng nóng
Vệ sinh xoa bóp bầu vú trước dự kiến đẻ 10 - 15 ngày để kích thích sữa
ra nhiều khi lợn sinh con Nếu vú bị xây xước hoặc nứt nẻ cần bôi vaselin và kháng sinh chống nhiễm trùng
Vệ sinh chuồng trại hàng ngày, giữ cho lợn sạch sẽ, ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa hè Phun thuốc tiêu độc khử trùng 1 lần 1 tuần
Không nên tiêm phòng, tẩy giun sán, tắm ghẻ vào tháng chửa đầu và trước đẻ 15 ngày vì do tác động cơ hoành rất dễ sảy thai và đẻ non
Cần ghi chép ngày phối giống để tính toán ngày đẻ dự kiến và có kế hoạch trực lợn đẻ
+ Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con:
Mục đích của chăn nuôi lợn nái nuôi con là áp dụng các biện pháp khoa học để tăng sản lượng sữa mẹ, đảm bảo cho lợn mẹ có sức khỏe tốt Lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, đạt số con sau cai sữa và khối lượng cai sữa cao Lợn nái chóng được phối giống trở lại sau khi tách con
Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có tác động tốt đến sản lượng sữa và chất lượng sữa Đó là thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, loại củ quả đạm động vật, các loại khoáng, vitamin…
Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ Protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng chất theo đúng quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, Protein 15%, Canxi từ 0,9 - 1,0 %, Photpho 0,7 %
Đối với lợn nái ngoại (lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con như sau): Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
Trang 25Sau ngày đẻ thứ 1 và thứ 2 và thứ 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức
ăn từ 1- 2 - 3 kg tương ứng
Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho lợn ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/ nái/ngày
Từ ngày thứ 8 đến ngày cai sữa cho lợn mẹ ăn theo công thức tính: Lượng thức ăn/ nái/ ngày = 2 kg + (số con x 0.35 kg/con)
Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều)
Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ngày
Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh, nếu
có rau xanh
Một ngày trước khi cai sữa, cho lợn mẹ ăn giảm đi 20 - 30 %
Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn
Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ ngày cho lợn mẹ
Đối với lợn nái nội (công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/ 1 ngày đêm):
Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)
Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị
Lợn nái nội có khối lượng 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg)
Thức ăn thô: 0,4 đơn vị
Định mức ăn cho một lợn nái nội nuôi con/ 1 ngày đêm
Trang 26+ Kỹ thuật cho ăn:
Lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Khoảng cách giữa các bữa nên chia đều nhau
Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định
Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con
Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay dần dần
Chú ý theo dõi khả năng ăn và tình trạng sức khỏe của lợn nái để có biện pháp can thiệp kịp thời
+ Kỹ thuật chăm sóc và quản lý:
Vận động: là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh chóng hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, về sau tăng số giờ vận động lên Khi thời tiết xấu thì không cho vận động, khi cho vận động chú ý đề phòng cảm lạnh, bẩn vú, những lợn nái có vú quá sệ thì chỉ cho vận động trong sân chơi Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các khung đẻ, không được vận động, vì vậy phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt là các khoáng và vitamin
Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Vì vậy hằng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn sạch sẽ Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 24ºC, ẩm độ là 70
- 75% Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con
Diện tích chuồng cho lợn nái nuôi trên nền cứng là: 4 - 5 m chuồng ở/1 lợn nái và 15 m sân chơi/1 lợn nái Còn đối với lợn công nghiệp nuôi trên
Trang 27chuồng sàn thì kích thước 2,4 m x 1,6 m, với mỗi khung cho lợn mẹ trong chuồng có kích thước từ 2,2 - 2,4 m x 0,7 m
2.2.2 Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi
Phòng bệnh:
Như ta đã biết "Phòng bệnh hơn chữa bệnh" nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2013) [18], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra
áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [19], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là
khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê sinh chuồng trại không sạch sẽ, nước uống thức ăn bị nhiễm khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bị cảm nhiễm
E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê sinh, chăm sóc có môṭ ý nghĩa to lớn
trong phòng bệnh Trong chăn nuôi, việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh,
có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 - 30oC đối với lợn sơ sinh và 28 - 30oC với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không ẩm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa Đông và
Trang 28đầu mùa Xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiêu quả cao trong chăn nuôi
- Phòng bệnh bằng vắc xin:
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [8], vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, AND…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới – vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay
mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
Điều trị bệnh:
Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [8] cho biết:
+ Nguyên tắc để điều trị bệnh là toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
Trang 29+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh
Trang 30Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
+ Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
+ Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
+ Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
+ Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
+ Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.2.3 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản
* Hiện tượng đẻ khó
Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau, không những gây tổn thương cho cơ quan sinh dục mà còn dẫn đến hiện tượng vô sinh, thậm chí cả lợn mẹ và lợn con có thể chết
- Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ:
Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém Trong quá trình đẻ, sức rặn đẻ của lợn yếu, thậm chí không rặn
đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy thai ra ngoài
Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Lợn quá gầy cũng dẫn đến đẻ khó
Trang 31Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ Thai bị dị hình
Đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4, những nguyên nhân
và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế thai không bình thường… khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra được
Cơn co thắt và rặn đẻ thứ yếu thứ phát xảy ra do bào thai không di chuyển được Các cơn co thắt và dặn đẻ yếu nguyên phát, thông thường quan sát khi phạm vi chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc chửa và thiếu vận động, cũng như khi bị bệnh làm suy yếu sức khỏe của con mẹ Cần can thiệp để cứu lợn con và lợn mẹ (Trần Văn Bình, 2013) [2]
- Triệu chứng:
Lợn nái đến ngày đẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưng không thấy thai ra Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợn nái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng thai vẫn không ra Do thời gian rặn đẻ mạnh và kéo dài mà thai vẫn không ra làm cho lợn nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt mà chết Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai to hoặc
ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu
Trang 32Do lợn nái rặn đẻ mạnh và kéo dài làm lợn nái mệt mỏi, kéo dài thời gian
đẻ, sức co bóp của tử cung giảm, gây ra hiện tượng sót nhau, sót con dẫn đến viêm đường sinh dục
Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây xát niêm mạc
tử cung, hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một
số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… khi đó, niêm mạc sẽ
có những vết sẹo gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ… dẫn đến xảy thai, tiêu thai, đẻ non ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm chí là vô sinh
Bệnh viêm tử cung
- Nguyên nhân bệnh viêm tử cung:
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các
tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường
do các nguyên nhân sau:
+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
+ Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
Trang 33+ Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm
+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm
Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [6], nguyên nhân gây viêm tử
cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli…
- Hậu quả của bệnh viêm tử cung:
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
Theo Trần Thị Dân (2004) [4], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
+ Dễ dẫn tới sảy thai
+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu + Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung
để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
Trang 34progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm Do đó, bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone
Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bào trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được
+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
- Phòng bệnh:
Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [16] cho biết: vệ sinh chuồng trại sạch
sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc quét thường bằng nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú
Theo Lê Văn Năm (1999) [15], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng
kỹ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vaselin hoặc dầu lạc
Cho lợn nái chửa thường xuyên vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ sinh sạch sẽ
Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và không để nhiễm khuẩn
Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực tiếp hoặc lấy tinh
Trang 35Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách dùng
vắc xin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai
- Điều trị:
+ Điều trị cục bộ
Bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước đun sôi để nguội pha với thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh lý 0,9%, sau đó bơm hoặc đặt kháng sinh như: penicilin 2 - 3 triệu UI, tetramycine hay sulfanilamid 2 - 5g hoặc clorazol 4 - 6 viên vào tử cung để chống viêm
+ Điều trị toàn thân
Tiêm thuốc hạ sốt analgin 2 - 3 ống/ngày
Tiêm kháng sinh
Phác đồ 1: Tiêm tetramycin tiêm bắp liều 10 - 15 mg/kg thể trọng, liên tục 3 - 4 ngày Kết hợp tiêm septotryl tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 1 ml/10 - 15 kg thể trọng/ngày Tiêm liên tục 3 - 4 ngày
Phác đồ 2: tylan + polysul: tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch 1 ml/5 - 10 kg thể trọng/ngày Tiêm liên tục 3 - 4 ngày
Tiêm thuốc giảm viêm: hydrocortizone, dectancyl, prednizolone… Tiêm thuốc trợ sức: vitamin B1, C, B12
Tiêm thuốc tạo sữa: thyroxine ngày 1 - 2 ống, liên tiếp 2 - 3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể đã hạ xuống bình thường
* Bệnh sót nhau
Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết do can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra
Trang 36- Nguyên nhân:
+ Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [25]: trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và Photpho Con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn quá mức
+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền
nhiễm đặc biệt bệnh Brucellaloes (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu tạo của
nhau
- Triệu chứng:
Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:
+ Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắc thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn
+ Sót nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ
- Điều trị:
Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn
sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh, 2010 [25])