1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội

72 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hiện Quy Trình Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Và Phòng Trị Bệnh Cho Lợn NáI Sinh Sản Tại Trang Trại Nguyễn Thanh Lịch, Xã Ba Trại, Huyện Ba Vì, Thành Phố Hà Nội
Tác giả Vũ Hoàng Anh
Người hướng dẫn TS. Bùi Ngọc Sơn
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Thú y
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VŨ HOÀNG ANH Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH XÃ BA TRẠI HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 1

VŨ HOÀNG ANH

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH XÃ BA TRẠI HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021

Thái Nguyên, năm 2021

Trang 2

VŨ HOÀNG ANH

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRANG TRẠI NGUYỄN THANH LỊCH XÃ BA TRẠI HUYỆN BA VÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021

Giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Ngọc Sơn

Thái Nguyên, năm 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau 6 tháng thực tập nghề nghiệp tại cơ sở, đến nay em đã hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự động viên hướng dẫn chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Qua đây cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn tới: Ban Giám hiệu và toàn thể các thầy, cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là thầy giáo, TS Bùi Ngọc Sơn đã luôn động viên giúp

đỡ, chỉ bảo tận tình, đóng góp ý kiến quý báu cho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành báo cáo thực thực tập tốt nghiệp này

Em xin cảm ơn tới lãnh đạo Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch và các kỹ sư, cùng toàn thể công nhân trong trang trại đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình

và bạn bè trong suốt thời gian qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 02 tháng 05 năm 2021

Sinh viên

Vũ Hoàng Anh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả sản xuất của trại 7

Bảng 2.2 Lịch tiêm phòng vắc xin tại trại 16

Bảng 2.3 Lịch sát trùng trại lợn nái 18

Bảng 2.4 Định mức thức ăn của lợn nái chửa 24

Bảng 2.5 Định mức thức ăn của lợn nái đẻ 25

Bảng 4.1 Quy mô chăn nuôi đàn lợn của trại 43

Bảng 4.2 Số lượng nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 44

Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại 45

Bảng 4.4 Kết quả theo dõi đàn lợn con theo mẹ 46

Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 47

Bảng 4.6 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ bằng vắc xin 49

Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn nái tại trại 51

Bảng 4.8 Kết quả chẩn đoán bệnh ở lợn con theo mẹ 53

Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại 54

Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con tại trại 55

Bảng 4.11 Kết quả thực hiện một số công tác khác 56

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CP: Charoen Pokphand cs: Cộng sự

L11: Landrace 11 MMA: Mastitis - Metritisa - Agalacti PED: Porcine Epidemic Diarrhoea TT: Thể trọng

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 4

2.1.3 Đối tượng và các kết quả sản xuất của trang trại 6

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại 7

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 8

2.2.1 Đặc điểm của lợn nái F1 (Landrace + Yorkshire) 8

2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 10

2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản 14

2.2.4 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 21

2.2.5 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp tại cơ sở 26

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 36

2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 36

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 36

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 39

3.1 Đối tượng, phạm vi thực hiện 39

Trang 7

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 39

3.3 Nội dung thực hiện 39

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 39

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 39

3.4.2 Phương pháp thực hiện 40

3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 42

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 42

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43

4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch trong 3 năm (2018 - 11/2020) 43

4.2 Thực hiện biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng trên đàn lợn nái nuôi tại trang trại 44

4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 44

4.2.2 Tình hình sản xuất của đàn lợn nái nuôi tại trại Nguyễn Thanh Lịch xã Ba Trại, huyện Ba Vì Hà Nội 45

4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại 47

4.3.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh trên đàn lợn nái tại trại 47

4.3.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ tại trại 49

4.3.3 Kết quả chẩn đoán một số bệnh cho đàn lợn nái tại trại 50

4.3.4 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, Ba Vì - Hà Nội 53

4.4 Kết quả thực hiện một số công tác khác 56

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

5.1 Kết luận 58

5.2 Đề nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Ngành chăn nuôi ở Việt Nam là một bộ phận quan trọng cấu thành của nông nghiệp Việt Nam cũng như là một nhân tố quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, tình hình chăn nuôi ở Việt Nam phản ánh thực trạng chăn nuôi, sử dụng, khai thác, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm động vật và tình hình thị trường liên quan tại Việt Nam Chăn nuôi Việt Nam có lịch sử từ lâu đời và đóng góp lớn vào cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo cũng như đời sống từ bao năm qua Hiện nay, theo xu thế của một nền kinh tế đang chuyển đổi, chăn nuôi Việt Nam cũng có những bước đi mới và đạt được một số kết quả nhất định

Trong ngành chăn nuôi thì con giống, dinh dưỡng và quản lý vấn đề vệ sinh chuồng trại là những yếu tố quan trọng nhất đối với người nuôi, những yếu tố này là cả một quá trình đầu tư, học tập, tích lũy kinh nghiệm và đào tạo huấn luyện một cách thường xuyên nhưng ở chăn nuôi Việt Nam thì lại còn bất cập và nhiều khó khăn, nhất là công tác quản lý và công tác thị trường Hạn chế của chăn nuôi Việt Nam vẫn là quy mô nhỏ, năng suất thấp, lệ thuộc vào nguyên liệu, con giống, kỹ thuật và thị trường của nước ngoài, sức cạnh tranh kém cũng như việc sử dụng chất kháng sinh, chất cấm, chất độc trong chăn nuôi và tiêu dùng còn rất cao

Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, năm 2020 ngành chăn nuôi có rất nhiều thuận lợi, đó là dịch tả lợn Châu Phi đang từng bước được khống chế khi số lợn tiêu hủy do dịch hàng tháng giảm mạnh, tháng 1/2020 chỉ còn khoảng 12.000 con và tháng 2 dự kiến giảm xuống dưới 10.000 con Nhưng qua đó cho thấy chăn nuôi nhỏ lẻ tuy đã giảm, song vẫn còn nên các đơn vị,

Trang 9

địa phương không được lơ là, chủ quan tránh dịch tả lợn Châu Phi tái bùng phát trở lại

Trước thực trạng trên, được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và sự hướng dẫn của cô giáo TS Bùi

Ngọc Sơn, em đã thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại Nguyễn Thanh Lịch, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề

- Theo dõi được thực trạng chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ tại địa phương

- Thực hiện quy trình chăn nuôi lợn nái sinh sản

- Thực hiện quy trình chẩn đoán, phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản

và lợn con theo mẹ

- Rèn luyện thành thạo các kỹ năng nghề nghiệp liên quan tới quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho vật nuôi

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại

- Chẩn đoán được một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ, từ đó đưa ra được phác đồ điều trị có hiệu quả đối với từng loại bệnh

- Chấp hành tốt nội quy, quy định của cơ sở thực tập

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch nằm tại xã Ba Trại - một trong bảy xã miền núi của huyện Ba Vì - thành phố Hà Nội, nằm trong vùng bán sơn địa

- Phía Đông giáp với xã Tản Lĩnh

- Phía Tây giáp xã Thuần Mỹ

- Phía Bắc giáp xã Cẩm Lĩnh

2.1.1.2 Điều kiện khí hậu

Trại lợn Nguyễn Thanh Lịch chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu miền Bắc, bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa Sự phối hợp giữa cơ chế gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm, có sự khác biệt rõ rệt giữa mùa nóng và mùa lạnh nên có thể phân ra làm 4 mùa Mùa đông lạnh, hanh khô có kèm theo gió mùa, mưa ít Mùa hè nóng, mưa nhiều Giữa hai mùa đó lại có hai thời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10), còn được gọi là mùa xuân và mùa thu Đó là một trong những yếu tố khách quan tác động đến quá trình sinh trưởng, phát triển của vật nuôi và phẩm chất của nông sản

Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều

trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8

tháng 4 đến giữa tháng 9, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều rồi mát mẻ, khô ráo vào tháng 10 Mùa lạnh bắt đầu từ giữa tháng 11 đến hết tháng 3 Từ cuối tháng

11 đến tháng 1 rét và hanh khô, từ tháng 2 đến hết tháng 3 lạnh và mưa phùn

Trang 11

kéo dài từng đợt Trong khoảng tháng 9 đến tháng 11, có những ngày thu với

tiết trời mát mẻ và sẽ đón từ hai đến ba đợt không khí lạnh yếu tràn về

Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình năm: 86,1% Vùng thấp thường

khô hanh vào tháng 12, tháng 1

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại

Trại gồm có 14 người trong đó có:

Trang trại chăn nuôi Nguyễn Thanh Lịch nằm trên địa bàn xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Trại có diện tích đất là 2ha, được thành lập

và đi vào sản xuất từ năm 2010 với số vốn đầu tư lên tới 18 tỷ đồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản cho công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi CP Việt Nam (chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp giống lợn con của cái Landrace - Yorkshire với đực Pietrain - Duroc và cái Landrace - Yorkshire với đực Duroc Khu sản xuất gồm 6 dãy chuồng đẻ và 1 chuồng bầu, 4 chuồng cách ly, nuôi 952 lợn nái, 387 lợn nái hậu bị, 26 lợn đực khai thác (số liệu tháng 11/2020) Lợn sau khi sinh 21 ngày thì được cai sữa Mỗi năm trang trại cho xuất ra thị trường khoảng 25.000 - 30.000 lợn con

Trại được xây dựng cách xa đường lớn, xa trường học và nơi ít dân cư sinh sống, bao quanh trại chủ yếu là đồi cây và cách xa trại là cánh đồng lúa

Trang 12

Trại nằm trên địa hình khá cao ráo dễ thoát nước vào mùa mưa nhiều Xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây tạo bóng râm mát cho mùa hè

Với việc chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi của trại được thực hiện chủ động và tích cực Vệ sinh phòng bệnh nhằm nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm Cùng với việc vệ sinh thức ăn, nước uống, vật nuôi, dụng cụ chăn nuôi, sinh sản,… thì việc vệ sinh chuồng trại, cải tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi luôn được cán bộ thú y và đội ngũ công nhân kỹ thuật thực hiện chặt chẽ

Chuồng trại được thiết kế và xây dựng theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Sau mỗi lứa lợn, chuồng trại đều được tẩy uế bằng phương pháp: rửa sạch ô nhốt lợn, để khô sau đó phun thuốc sát trùng nhưfam flus, vikon S và để trống chuồng nuôi tối thiểu là

3 ngày mới đưa lợn nái chờ đẻ khác lên Với lợn con tuyệt đối không tắm rửa

để tránh lạnh và ẩm ướt, định kỳ tiêu độc ở các chuồng nuôi lợn nái, lợn đực sản xuất bằng thuốc sát trùng, trại còn thường xuyên tiến hành vệ sinh môi trường xung quanh như việc dọn cỏ, phát quang bụi rậm, diệt chuột, thu dọn phân hằng ngày ở các ô chuồng

Hiện nay, trại áp dụng một chuồng hoặc cả một dãy chuồng được đưa vào để nhốt đồng loạt cùng một loại lợn (có thể tương đồng về khối lượng, tuổi) Sau một thời gian nhất định số lợn này được đưa ra khỏi chuồng, lúc đó chuồng trại được rửa sạch, phun thuốc sát trùng và để trống ít nhất 6 ngày trước khi đưa đàn lợn mới lên đẻ Như vậy quy trình này có tác dụng phòng bệnh do vệ sinh chuồng trại thường xuyên, định kỳ mỗi khi xuất hết lợn, do

đó hạn chế được khả năng lan truyền các mầm bệnh từ lô này sang lô khác

Hệ thống thông thoáng đối với chăn nuôi lợn công nghiệp rất quan trọng, ngoài việc cung cấp đủ oxy cho quá trình hô hấp của lợn, nó còn giúp

Trang 13

giải phóng khí độc do phân, nước tiểu gây ra Chính vì vậy, trại đã sử dụng hệ thống làm mát và chống nóng ở mỗi dãy chuồng vào mùa hè và hệ thống sưởi

ấm vào mùa đông Bên cạnh đó các dãy chuồng được sắp xếp theo hướng Đông Nam để đảm bảo ấm áp vào mùa đông, thoáng mát về mùa hè

Đặc biệt vào mùa hè, thời tiết rất nóng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng sinh sản của đàn lợn nái cũng như sự sinh trưởng và phát triển của lợn con

Do đó trại đã lắp đặt hệ thống chống nóng gồm hệ thống quạt gió ở cuối mỗi dãy chuồng có tác dụng hút không khí có hơi nước từ hệ thống dàn mát trên đầu chuồng tạo luồng khí mát, thông thoáng Hai dãy tường chuồng được phủ một tấm lưới cách nhiệt và có tác dụng giữ ẩm Chính vì vậy không khí trong chuồng lợn luôn mát và nhiệt độ luôn duy trì trong khoảng 28oC - 30oC

Trại trang bị hệ thống lồng úm bên trong có treo một bóng đèn sợi đốt 100W (mùa Hè) hoặc 200W (mùa Đông) với lợn sau cai sữa cũng có một đèn sưởi hoặc tấm sưởi ở mỗi ô chuồng, đảm bảo luôn duy trì nhiệt độ thích hợp cho lợn con

2.1.3 Đối tượng và các kết quả sản xuất của trang trại

2.1.3.1 Đối tượng sản xuất

Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 3 giống lợn là Landrace - Yorkshire và Duroc, lợn sau khi sinh 21 - 23 ngày thì được xuất chuồng

2.1.3.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây

Trang trại chăn nuôi của ông Nguyễn Thanh Lịch là một trong những trang trại có quy mô công nghiệp, với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao Dưới đây là một

số chỉ tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây:

Trang 14

Bảng 2.1 Kết quả sản xuất của trại

Chỉ tiêu

Số lợn qua các năm

2018 2019 Tính đến tháng

11/2020

Lợn con chết và loại sau sinh (%) 10 10 20

Tổng số lợn con xuất (con) 32.565 32.262 13.269

Qua bảng 2.1 có thể thấy: Kết quả sản xuất của trại lợn trong những năm gần đây tương đối tốt So với các năm 2018, 2019 thì năng suất của đầu năm 2020 có giảm đi so với những năm trước Tuy nhiên, năm 2020 là một năm khó khăn với ngành chăn nuôi lợn do đại dịch xảy ra trên đàn lợn Hầu hết các trang trại đều bị thiệt hại nặng nề do dịch tả lợn Châu Phi Tuy nhiên, trang trại vẫn làm tốt công tác phòng chống dịch do đó cũng không bị ảnh hưởng và vẫn duy trì được số đầu nái trong khoảng 1000 - 1200 nái

Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất… trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch”

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại

- Thuận lợi:

+ Trại được xây dựng cách xa khu dân cư, xung quanh là đồi núi bao

bọc, nên hạn chế được dịch bệnh và không làm ảnh hưởng đến các hộ dân

xung quanh

+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc

Trang 15

+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1 Đặc điểm của lợn nái F1 (Landrace + Yorkshire)

2.2.1.1.Giống lợn Landrace

Nguồn gốc

Giống lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch bằng cách lai giữa giống Youtland có nguồn gốc từ Đức, giống Yorkshire của Anh với các giống trắng địa phương của Đan Mạch

Đặc điểm sinh trưởng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004), giống lợn Landrace là giống lợn có năng suất cao Tốc độ tăng trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng thấp từ 2,7 - 3,01 kg Tăng khối lượng bình quân/ngày từ 700 - 800g, tỷ lệ thịt nạc thịt xẻ từ 56 - 60% Khi trưởng thành con đực nặng khoảng 280 - 320 kg/con, con cái đạt khoảng 220 - 250 kg/con.[22]

Trang 16

Khả năng sinh sản

Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và có khả năng nuôi con khéo Nó thường được chọn làm dòng cái trong các công thức lai giữa lợn ngoại cao sản với nhau Số con đẻ ra: 10 - 12 con/lứa, khối lượng sơ sinh: 1,2-1,4kg/con (Lê Hồng Mận, 2006; Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2008) [13]

Theo Vũ Đình Tôn (2009), lợn Landrace thường được phối giống lúc

310 ngày tuổi, số con đẻ ra trên lứa từ 9 - 11 con, khối lượng sơ sinh từ 1,3 - 1,4 kg/con, khối lượng lúc 70 ngày tuổi đạt 16 - 18 kg/con

2.2.1.2 Giống lợn Yorkshire

Nguồn gốc

Giống lợn Yorkshire có nguồn gốc từ vùng Yorkshire của nước Anh,đầu tiên được công nhận vào năm 1868, là một trong những giống lợn nuôi được sử dụng rộng rãi trong lai tạo giống lợn nuôi khắp thế giới

Giống này được nhập vào Việt Nam từ Liên Xô cũ (1964) và được gọi

là lợn Đại Bạch Năm 1978 giống Yorkshire được nhập từ Cu Ba và gần đây nhập từ Vương Quốc Anh, Canada

Đặc điểm ngoại hình

Giống lợn Yorkshire có tầm vóc to hơn Toàn thân có màu trắng, lông dày và mềm, tai mỏng dựng đứng hoặc hơi hướng về phía trước, vai đầy đặn, ngực sâu rộng, lưng hông rộng và bằng, mình dài, xương sườn nở, bốn chân

to khỏe, đùi to tròn Lợn Yorkshire được sử dụng theo hướng kiêm dụng tức vừa lấy thịt vừa làm sinh sản

Đặc điểm sinh trưởng

Yorkshire thành thục sớm, sinh trưởng nhanh Lợn có khối lượng lớn con đực trưởng thành nặng từ 350 - 380kg, dài thân 170 - 185cm Con cái trưởng thành nặng từ 250 - 280 kg, khối lượng lúc 60 ngày tuổi đạt 16 - 20 kg/con (Vũ Trọng Hốt và cs, 2000) [11]

Trang 17

Khối lượng sơ sinh 1,2 - 1,3 kg, khối lượng 5 - 6tháng đạt 100kg, chất lượng thịt 53% nạc Tiêu tốn thức ăn: 2,5 - 3,2 kg thức ăn/kg tăng trọng, 12 -

14 núm vú (Lê Hồng Mận, 2002) [12]

Đặc điểm sinh sản

Lợn cái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi và có thể phối giống lần đầu khoảng 240 - 260 ngày, số con đẻ ra trên lứa 11 - 13, số lứa nái năm là 2,0 - 2,2 Khối lượng sơ sinh từ 1,3 - 1,4 kg/con Lợn đực đưa vào khai thác lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh dịch mỗi lần khai thác trung bình 232ml (Vũ Đình Tôn, 2009) [31]

2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.2.2.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

* Sự thành thục về tính:

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục

và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục

đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối

Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế

độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại,

+ Giống: Các giống khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau: những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, (2003) [6]: Tuổi động dục đầu tiên

ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 - 25kg

Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn sơ với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động

Trang 18

dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 - 80kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn

Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace) có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

- Chế độ dinh dưỡng: John Nichl (1992) [16], đã chỉ rõ chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể trung bình là 80kg Nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể trung bình là 48kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính, tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác béo quá, ảnh hưởng tới hàm lượng các hormone oestrogen và progesterone trong máu, làm cho trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

- Mùa vụ và thời kì chiếu sáng: Theo Dwane R Zimmernan Edepurkhiser, (1992) [4], mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng

rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn nái hậu thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông Điều này có thể là do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng của cơ thể Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa Xuân) và 17 ngày (mùa Thu) Mùa Đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối làm chậm tuổi thành

Trang 19

thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo

12 giờ mỗi ngày

- Tuổi thành thục về tính của gia súc:

Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa

là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên, đây

là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, (2003) [6] cho rằng: không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời

kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển hoàn thiện, chưa đủ điều kiện tốt nhất cho quá trình mang thai Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần

bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

* Sự thành thục về thể vóc:

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [10], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc

ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục

về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn

mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này, do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn nái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50kg mới cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110kg mới nên cho phối

2.2.2.2 Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có

Trang 20

hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi

đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính

Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh (1993) [29], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)

+ Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40 giờ, với lợn nội là 25 - 30 giờ

+ Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng (gần mông), âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30 giờ

+ Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực

- Thời điểm phối giống thích hợp

Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh (1993) [29], trứng rụng tồn tại trong tử cung từ 2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái từ 30 - 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội nhanh hơn một ngày tức là vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

Trang 21

2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản

2.2.3.1 Phòng bệnh

Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004) [23], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa

ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [26], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là

vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vâṭ chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống, thức ăn bi ̣nhiễm

vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm

nhiễm E.coli, bệnh sẽ nổ ra, vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa

to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiêṭ đô ̣trong chuồng phải đảm bảo 27 - 30˚C đối với lợn sơ sinh và 28 - 30˚C với lợn cai sữa chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa Đông và đầu Xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

Trang 22

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,

ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi, chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa Hè, ấm áp mùa Đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

Trang 23

còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

- Quy trình tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái

Bảng 2.2 Lịch tiêm phòng vắc xin tại trại

Loại

lợn Tuổi Phòng bệnh

Tên chủng vắc xin

Đường tiêm

Liều lượng (ml)

Lợn

hậu bị

2

2

Việc phòng bệnh bằng vắc xin được trang trại rất chú trọng và theo đúng quy trình của công ty CP Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn của trại hàng năm đạt 100% và được tiêm vào thứ 4 trong tuần

Lợn hậu bị được nhập vào trại (khoảng 5,5 tháng tuổi), sau 1 tuần khi lợn đã ổn định trại tiến hành tiêm vắc xin phòng bệnh tai xanh, sau 2 tuần tiến hành tiêm vắc xin phòng bệnh khô thai, sau 3 tuần tiêm vắc xin phòng bệnh dịch tả và 4 tuần sau nhập tiêm vắc xin phòng bệnh lở mồm long móng và giả

Trang 24

dại Các tuần 5, 6, 7 sau khi nhập tiến hành tiêm nhắc lại vắc xin phòng bệnh tai xanh, khô thai, lở mồm long móng và giả dại

Đối với lợn nái sinh sản, sau 10 tuần mang thai tiến hành tiêm vắc xin phòng bệnh dịch tả, sau 12 tuần mang thai tiêm vắc xin lở mồm long móng Đối với vắc xin giả dại trại tiến hành tiêm tổng đàn 4 tháng 1 lần (tháng 4, 8, 12)

- Phương pháp áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc cho đàn lợn nái nuôi tại trại

* Lịch sát trùng tại trang trại

Trong những năm gần đây cũng như hiện tại, tình hình dịch bệnh trên đàn lợn ở nước ta diễn biến rất phức tạp, các loại dịch bệnh như lở mồm long móng, tai xanh, Đặc biệt là dịch tả lợn Châu Phi (AFS) liên tục phát triển và lây lan nhanh chóng, nguyên nhân chủ yếu để dịch bệnh xảy ra đó là khâu vệ sinh chuồng trại chưa được kiểm soát chặt chẽ, các quy trình phòng bệnh không được thực hiện đầy đủ Chính vì vậy việc sát trùng luôn được trại quan tâm và có lịch cụ thể trong cả một tuần

Đặc biệt trong thời gian hiện nay, an toàn sinh học trong chăn nuôi là biện pháp kỹ thuật và quản lý được áp dụng nhằm ngăn ngừa, hạn chế sự lây nhiễm của các tác nhân gây bệnh có khả năng gây hại đến con người, gia súc

và môi trường nuôi Trong bối cảnh hiện nay, dịch tả lợn Châu Phi (AFS) diễn biến rất phức tạp, nguy hiểm vì chưa có vắc xin phòng ngừa Vì vậy, việc thực hiện tốt an toàn sinh học là chìa khóa duy nhất, biện pháp hàng đầu giúp bảo vệ trang trại, đẩy lùi dịch bệnh lây lan An toàn sinh học là tất cả các công việc ngăn chặn mầm bệnh từ bên ngoài trại cũng như bên trong Các khu vực như nhà sát trùng xe, nhà sát trùng nhân viên và khách tham quan ra vào, khu vực xuất lợn, đã được tăng cường vệ sinh sát trùng hằng ngày Riêng khu vực xung quanh trại việc phun sát trùng được thực hiện 2 lần/ngày Ngoài ra trong 1 tuần ở khu vực đường đi xung quanh trại được rắc vôi bột 2 lần/tuần

Trang 25

Trong chuồng lợn nái chửa, nái đẻ và cách ly cũng được thực hiện phun sát trùng đều đặn 2 lần/ngày Cũng như việc ra vào trại đã được hạn chế thấp nhất

có thể

Bên cạnh đó, trang trại đã mua lưới quây xung quanh khu vực chuồng nuôi, xung quanh kho cám, đường đi, nhà ăn, để hạn chế ruồi muỗi bay vào Phun thuốc diệt ruồi muỗi thường xuyên Diệt chuột định kỳ hàng tuần bằng thuốc diệt chuột, đóng tôn vào tường để không cho chuột từ ngoài đồng chèo được vào trong trại

Lịch sát trùng của được trình bày tại bảng 3.1

Bảng 2.3 Lịch sát trùng trại lợn nái

Thứ

Trong chuồng

Ngoài chuồng

Ngoài khu vực chăn nuôi

Chuồng nái

Chuồng cách ly Chủ

Phun sát trùng + rắc vôi đường đi

Phun sát trùng

Phun sát trùng

+ xả vôi gầm

Phun sát trùng + rắc vôi đường đi

Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Phun sát trùng

rắc vôi đường đi

Phun sát trùng

Phun sát trùng

xả vôi gầm

Phun sát trùng

Phun sát trùng

sinh

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Rắc vôi + Phun sát trùng

+ xả vôi gầm

Phun sát trùng + rắc vôi đường đi

Phun sát trùng

Phun sát trùng

xả vôi gầm

Phun sát trùng

Phun sát trùng toàn bộ khu vực

Phun sát trùng

Trang 26

Từ bảng 3.1 có thể thấy được việc sát trùng và phòng chống bệnh rất quan trọng, nó góp phần ngăn chặn nguồn dịch bệnh lây lan trên đàn lợn nái Bên cạnh đó nó cũng góp phần giúp môi trường trong chuồng nuôi luôn sạch

sẽ giảm nguy cơ gây bệnh cho lợn con giúp đàn lợn phát triển tốt

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [11], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn, uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

Trang 27

+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

Trang 28

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý,…

2.2.4 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.4.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức

ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ

có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

Trang 29

- Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Võ Trọng Hốt và

cs (2000) [12], cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu

vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 -

15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ

1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm

hộ Làm như vậy có thể tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn

do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và quan trọng

đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con TheoTrần Thị Thuận và Vũ Đình Tôn (2005) [30], ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

Trang 30

2.2.4.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó

là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,

cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn

bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin, Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối, mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo

đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7%

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [20] trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

Trang 31

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5kg thức ăn/ngày

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2kg rau xanh ngày sau bữa ăn tinh (nếu

có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

* Định mức thức ăn cho lợn nái

- Định mức thức ăn cho nái chửa

Lợn nái chửa được nuôi ở chuồng lợn nái chửa, cho ăn thức ăn 566F, 567SF với định mức thức ăn phân theo tuần chửa, thể trạng lứa đẻ

Bảng 2.4 Định mức thức ăn của lợn nái chửa

Tuần chửa Loại thức ăn Định mức thức ăn

(kg/con/ngày) Số lần cho ăn

Trang 32

- Định mức thức ăn cho nái đẻ (nái nuôi con)

Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng nái đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 -

10 ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng nái đẻ, chuồng phải được dọn dẹp, rửa sạch sẽ và vệ sinh sát trùng Lợn chuyển lên phải được tắm rửa, có thẻ nái kẹp ở bảng đầu mỗi ô chuồng và được ghi đầy đủ thông tin lên bảng Thức ăn cho lợn chờ đẻ là 567SF với định mức thức ăn 2,5 - 3kg/con/ngày

Trước ngày đẻ 3 ngày cho ăn với định mức thức ăn 2 - 2,5kg/con/ngày Trước ngày đẻ 2 ngày cho ăn với định mức thức ăn 1,5 - 2kg/con/ngày Trước ngày đẻ 1 ngày cho ăn với định mức thức ăn 1,5kg/con/ngày Ngày đẻ cho ăn 1,5kg/con/ngày

Sau ngày đẻ định mức thức ăn của lợn nái tăng lên 1kg/con /ngày

Từ sau 6 ngày đẻ đến cai sữa cho lợn ăn với lượng thức ăn được tính theo công thức: 1/100P mẹ +0,4*số con (trong đó: P là thể trọng của lợn mẹ)

Bảng 2.5 Định mức thức ăn của lợn nái đẻ

Chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản là phải giữ chuồng trại luôn sạch sẽ, cho lợn nái ăn đúng bữa và đủ lượng thức ăn theo quy định Lợn nái

Trang 33

chửa kỳ cuối được cho ăn 1 lần/ngày, nái đẻ và nuôi con được cho ăn 3 lần/ngày Ta cần lưu ý các điểm sau:

+ Cách cho ăn: ăn đúng 3 bữa vào 7h sáng, 16h và 22h chiều, ăn theo khẩu phần ăn trên bảng thức ăn định mức đã được chính sửa liên tục theo ngày

+ Nhu cầu dinh dưỡng trong từng thời kỳ: trước đẻ 4 ngày lượng thức

ăn sẽ giảm dần 0,5kg/con/ngày, sau đẻ lượng thức ăn sẽ tăng dần từ 1 kg/con/ngày tuỳ thuộc vào giai đoạn mang thai, thể trạng lợn nái, tình trạng sức khoẻ, nhiệt độ môi trường, chất lượng thức ăn

- Quy trình chăm sóc

Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [20], vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 - 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi

có khi vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 200C, độ ẩm 70 - 75%

2.2.5 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp tại cơ sở

2.2.5.1 Bệnh viêm tử cung

Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng Khi gia súc sinh đẻ

Trang 34

nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao,… thường gây viêm tử cung

* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1]; Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [19], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau khi đẻ xong bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm, Phó thương hàn, bệnh Lao,… gây viêm

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm

Trang 35

Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [7] cho biết, nguyên nhân

gây viêm tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgaris,

Klebriella, E Coli,…

Lê Văn Năm (1999) [15] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: thức ăn nghèo dinh dưỡng, can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến phá hủy hoặc kết tủa chất nhày muxin

cơ quan sinh dục, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ), đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây lên trong thời gian động đực (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật

Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: Khẩu phần thiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung

* Triệu chứng

Theo Lê Minh và cs (2017) [14], tùy theo mức độ tổn thương, loại vi khuẩn, mức độ phát triển và hoạt động của vi khuẩn, sự rối loạn chức năng sinh lý và nội tiết tử cung mà tử cung có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng khác nhau

Theo Nguyễn Văn Thanh (2010) [29], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,5oC, chiều 40 - 41oC Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy

ra niêm dịch nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ

Trang 36

Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu

âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi có dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn

* Hậu quả của bệnh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8]; Trần Thị Dân (2004) [5], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiềuprostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây

co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng, nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung

Ngày đăng: 21/04/2022, 09:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
2. Bilken (1994), Quản lý lợn nái và lợn cái hậu bị để sinh sản có hiệu quả, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lợn nái và lợn cái hậu bị để sinh sản có hiệu quả
Tác giả: Bilken
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1994
3. Trần Minh Châu (1996), Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một trăm câu hỏi về bệnh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
Tác giả: Trần Minh Châu
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
4. Dwane R.Zimmernan Edepurkhiser (1992), Quản lý lợn nái, lợn hậu bị để có hiệu quả, Nxb Bản đồ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lợn nái, lợn hậu bị để có hiệu quả
Tác giả: Dwane R.Zimmernan Edepurkhiser
Nhà XB: Nxb Bản đồ
Năm: 1992
5. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông nghiệp TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp TpHCM
Năm: 2004
6. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
7. Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
8. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
9. Nguyễn Văn Điền (2015), Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản, Trung tâm giống vật nuôi Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguyễn Văn Điền
Năm: 2015
10. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Đình Phùng, Phạm Hồng Sơn (2012), Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y, Nxb đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Đình Phùng, Phạm Hồng Sơn
Nhà XB: Nxb đại học Nông nghiệp
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Kết quả sản xuất của trại - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 2.1. Kết quả sản xuất của trại (Trang 14)
Bảng 2.2. Lịch tiêm phòng vắc xin tại trại Loại - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 2.2. Lịch tiêm phòng vắc xin tại trại Loại (Trang 23)
Lịch sát trùng của được trình bày tại bảng 3.1. - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
ch sát trùng của được trình bày tại bảng 3.1 (Trang 25)
Bảng 2.3. Lịch sát trùng trại lợn nái - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 2.3. Lịch sát trùng trại lợn nái (Trang 25)
Bảng 2.5. Định mức thức ăn của lợn nái đẻ - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 2.5. Định mức thức ăn của lợn nái đẻ (Trang 32)
Bảng 4.1. Quy mô chăn nuôi đàn lợn của trại STT Loại lợn - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 4.1. Quy mô chăn nuôi đàn lợn của trại STT Loại lợn (Trang 50)
Kết quả bảng 4.2. cho ta thấy: trong 6 tháng thực tập em được tạo điều kiện làm tại chuồng là nái nuôi con - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
t quả bảng 4.2. cho ta thấy: trong 6 tháng thực tập em được tạo điều kiện làm tại chuồng là nái nuôi con (Trang 51)
4.2.2. Tình hình sản xuất của đàn lợn nái nuôi tại trại - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
4.2.2. Tình hình sản xuất của đàn lợn nái nuôi tại trại (Trang 52)
Bảng 4.4. Kết quả theo dõi đàn lợn con theo mẹ - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 4.4. Kết quả theo dõi đàn lợn con theo mẹ (Trang 53)
Qua bảng 4.4 cho thấy số lượng lợn con sinh ra trong 6 tháng là 4084 con đạt xấp xỉ 680 con/ tháng - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
ua bảng 4.4 cho thấy số lượng lợn con sinh ra trong 6 tháng là 4084 con đạt xấp xỉ 680 con/ tháng (Trang 54)
Kết quả bảng 4.6 cho thấy: trong thời gian thực tập, tất cả các công tác tiêm  phòng  vắc  xin  cho  lợn  nái,  bản  thân  em  đều  tham  gia  đầy  đủ  và  hoàn  thành công việc mà kỹ sư trại giao cho với tỷ lệ đạt 100% - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
t quả bảng 4.6 cho thấy: trong thời gian thực tập, tất cả các công tác tiêm phòng vắc xin cho lợn nái, bản thân em đều tham gia đầy đủ và hoàn thành công việc mà kỹ sư trại giao cho với tỷ lệ đạt 100% (Trang 56)
Bảng 4.7. Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn nái tại trại - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 4.7. Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn nái tại trại (Trang 58)
Bảng 4.8. Kết quả chẩn đoán bệnh ở lợn con theo mẹ - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 4.8. Kết quả chẩn đoán bệnh ở lợn con theo mẹ (Trang 60)
Bảng 4.9. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 4.9. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại (Trang 61)
Qua bảng 4.10 ta thấy: Em đã trực tiếp điều trị 53 con bị viêm phổi, khỏi 53 con đạt tỷ lệ 100% - Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại nguyễn thanh lịch, xã ba trại, huyện ba vì, thành phố hà nội
ua bảng 4.10 ta thấy: Em đã trực tiếp điều trị 53 con bị viêm phổi, khỏi 53 con đạt tỷ lệ 100% (Trang 63)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w