1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm các kiểu hình thái nhà nước

22 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm kiểu nhà nước Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu đặc điểm cơ bản, đặc thù, đặc trưng của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồntại và phát triển của

Trang 1

Phần 1 Khái niệm và đặc điểm kiểu nhà nước.

1.1 Khái niệm kiểu nhà nước

Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản, đặc thù, đặc trưng của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồntại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định Kiểu nhà nước là một trong những khái niệm cơ sở có ý nghĩa rất quan trọng của lý luận về nhà nước và pháp luật Nhờ khái niệm kiểu nhà nước chúng ta có thể nhận thức được một cách cụ thể và lôgíc về bản chất

và ý nghĩa xã hội của các nhà nước được xếp vào cùng một loại, về những điều kiện tồn tại và phát triển của các nhà nước đó

1.2 Một số đặc điểm cơ bản chung của các kiểu nhà nước

- Nhà nước được đặc trưng bởi sự hiện diện của một bộ máy quyền lực đặc biệt với chức năng quản lý và cưỡng chế

- Nhà nước có quyền tối cao trong việc quyết định những vấn đề đối nội và đối ngoại

- Xác lập chủ quyền quốc gia và phân chia dân cư theo lãnh thổ hành chính để quản lý

- Ban hành hệ thống quy tắc xử sự chung của quốc gia để thiết lập và duy trì trật tự xã hội phù hợp lợi ích giai cấp thống trị cùng lợi ích quốcgia, đồng thời đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế

Trang 2

- Quy định bằng pháp luật và thực hiện việc thu thuế bắt buộc đối với

cá nhân và tổ chức trong lãnh thổ quốc gia để thiết lập nền tài chính công

- Với nhà nước phương Tây, tính giai cấp được thể hiện rất sâu sắc và mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ rất rõ rệt Nô lệ là bộ phận dân cư đông đảo trong xã hội, là lực lượng sản xuất chủ yếu nhưng địa vị xã hội vô cùng kém Họ bị coi là tài sản thuộc sở hữucủa chủ nô, chủ nô có quyền tuyệt đối với nô lệ Nguồn nô lệ trong nhà nước này chủ yếu từ các cuộc chiến tranh Chính vì vậy,đấu tranh giai cấp thường xuyên xảy ra ở mức độ ngày càng gay gắt.

- Ngược lại, trong nhà nước phương Đông, do nô lệ không phải là lực lượng sản xuất chủ yếu mà là công xã nông thôn nên mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ trong nhà nước này không thể hiện sâu sắc như nhà nước phương Tây Công xã nông thôn được

Trang 3

chia đều ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước để tự canh tác và nộp thuế cho nhà nước Họ vẫn có quyền lập gia đình, thậm chí còn được coi là một thành viên trong gia đình

2.1.2 Tính xã hội

Xét về mặt xã hội thì nhà nước chủ nô là một tổ chức sinh ra

để tổ chức, quản lý xã hội chiếm hữu nô lệ thay thế cho tổ chức thị tộc, bộ lạc không còn phù hợp nữa Là một trong những hình thức tổ chức của xã hội chiếm hữu nô lệ, nhà nước chủ nô có tráchnhiệm tổ chức và quản lý một số lĩnh vực quan trọng của đời sống

xã hội vì sự tồn tại và phát triển của cả xã hội Nhà nước chủ nô tiến hành một số hoạt động vì sự tồn tại và phát triển chung của toàn xã hội như tổ chức quản lý kinh tế ở quy mô lớn, quản lý đất đai, khai hoang, xây đựng và quản lý các công trình thủy lợi làmcho đất nước ngày một phát triển, từng bước nâng cao đời sống cho nhân dân So với nhà nước phương Tây, nhà nước phương Đông thể hiện tính xã hội rõ nét hơn Trong nhà nước phương Đông, do nhu cầu của cả cộng đồng xã hội mà việc tổ chức dân cưtiến hành chống ngoại xâm, quản lý đất đai và các hoạt động xã hội khác nhằm duy trì đời sống chung của cộng đồng

2.2 Chức năng của nhà nước

2.2.1 Chức năng đội nội

- Chức năng củng cố và bảo vệ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sảnxuất và nô lệ: Đây là chức năng thể hiện được bản chất của nhà nước chủ

nô Giai cấp chủ nô có quyền sở hữu tuyệt đối về tư liệu sản xuất và sứcsản xuất từ nô lệ Bên cạnh đó, nhà nước chiếm hữu chủ nô còn quy địnhnhững biện pháp khác nhau nhằm trừng phạt nghiêm khắc đối với nhữnghành vi xâm phạm tới sở hữu của chủ nô

Trang 4

- Chức năng đàn áp bằng quân sự đối với sự phản kháng của nô lệ vàcác tầng lớp nhân dân lao động khác: Xuất phát từ mẫu thuẫn sâu sắcgiữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ mà nhà nước chủ nô đã thực hiệnđàn áp dã man bằng quân sự đối với các cuộc nổi dậy, phản kháng của nô

lệ và những người lao động

- Chức năng đàn áp về mặt tư tưởng: Bên cạnh việc đàn áp nô lệ bằngbiện pháp quân sự, giai cấp chủ nô còn sử dụng các biện pháp về tưtưởng, tôn giáo để đàn áp và bóc lột nô lệ

2.2.2 Chức năng đối ngoại

– Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược: Nhằm tăng cường số nô lệ của quốc gia mình, chiến tranh chính là một trong những phương tiện chủyếu của nhà nước nô lệ sử dụng nhằm thôn tính và cướp bóc mở rộng lãnh thổ của mình

– Chức năng phòng thủ đất nước: Cùng với chức năng xâm lược thì nhà

nước nô lệ cũng chú trọng tới phòng thủ đất nước nhằm chống lại các cuộc xâm lược từ bên ngoài

2.3 Bộ máy nhà nước

Bộ máy của nhà nước chủ nô chủ yếu là bộ máy quân sự và cảnh sát

Ở giai đoạn đầu, bộ máy nhà nước chủ nô còn đơn giản và mang đậm dấu

ấn của của hệ thống cơ quan quản lý xã hội thị tộc – bộ lạc Giữa các cơquan chưa có sự phân định rõ về chức năng Chuyển sang giai đoạn sau,cùng với sự phát triển đa dạng của các chức năng nhà nước nên bộ máynhà nước chủ nô càng trở nên cồng kềnh, quan liêu Nhìn chung bộ máynhà nước chủ nô đều có các cơ quan: quân đội, cảnh sát, toà án phát triển.Việc tổ chức bộ máy nhà nước mang tính tự phát, người đứng đầu thườnglàm hết mọi công việc Nhà nước được chia thành các đơn vị hành chính

Trang 5

lãnh thổ và tổ chức bộ máy theo cấp, hình thành nên hệ thống các cơ quannhà nước từ trung ương tới địa phương Ở các nhà nước chủ nô khác nhau

do hình thức chính thể khác nhau, chức năng cụ thể của nhà nước cũng cónhững biểu hiện khác nhau, do đó bộ máy nhà nước trong từng quốc giachiếm hữu nô lệ cũng có những điểm khác biệt

Đối với nhà nước ở phương Tây, tổ chức nhà nước khá hoàn thiện, trong bộ máy nhà nước đã phân thành các cơ quan nhà nước với cách thức tổ chức và hoạt động dân chủ Điểm nổi bật trong nhà nước phương Tây chính là phân định rõ ràng giữa các cơ quan trong việc lập pháp, hành pháp và tư pháp 

Đối với nhà nước ở phương Đông, tổ chức bộ máy đơn giản hơn so với nhà nước phương Tây Nhà Vua có toàn quyền thực thi quyền lực nhà nước Các quan lại từ trung ương tới địa phương là bề tôi của nhà vua và giúp việc cho nhà vua 

Đặc trưng của hình thức này là quyền lực nhà nước tập trung toàn

bộ vào trong tay người đứng đầu nhà nước (hoàng đế, vua) Ngườiđứng đầu nhà nước có toàn quyền quyết định vận mệnh quốc gia, cũng như vận mệnh của từng thành viên trong quốc gia đó, chức vụnày được truyền lại theo nguyên tắc cha truyền con nối.

- Chính thể cộng hòa ( thể hiện rõ nét ở phươngTây)

+ Chính thể cộng hòa dân chủ

Hội nghị sẽ bầu ra các cơ quan nhà nước và các cá nhân thực thi quyền lực nhà nước theo những nhiệm kỳ nhất định Mọi nam công

Trang 6

dân trưởng thành đều được tham gia Hội nghị nhân dân Nô lệ, kiều dân, phụ nữ, nô lệ đã được giải phóng không được tham gia bầu cử, thực chất của hình thức dân chủ này là dân chủ chủ nô

+ Chính thể cộng hòa quý tộc

Quyền lực nhà nước (chủ yếu quyền lập pháp) nằm trong tay một hội đồng mà thành viên được bầu ra từ các quý tộc giàu có nhất và họ nắm giữ chức vụ suốt đời Bên cạnh đó có các cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp cũng được hình thànhthông qua con đường bầu cử Đại hội nhân dân vẫn tồn tại nhưng không chiếm vị trí quan trọng

2.4.2 Hình thức cấu trúc

Hệ thống cơ quan nhà nước và hệ thống pháp luật chung, thống nhất như ở nhà nước đơn nhất Hình thức cấu trúc của nhà nước chủ nô là nhà nước đơn chất trái ngược với hình thức nhà nước liênbang nên có sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ về mặt chủ quyền không có sự chia cắt bởi các đơn vị hành chính để quản lý trong khi sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Cùng với sự phát triển các đơn vị hành chính dần được thiết lập

2.4.3 Hình thức chế độ chính trị

Các nhà nước chủ nô chủ yếu sử dụng phương pháp phản dân chủ để thực hiện quyền lực của mình.Ở các nước phương Đông chủyếu tồn tại chế độ độc tài chuyên chế Ở các nước phương Tây, chế

độ chính trị đã mang tính dân chủ, tuy nhiên về bản chất đó chỉ là chế độ dân chủ chủ nô Về cơ bản, nền dân chủ được thiết lập ở những quốc gia này vẫn là chế độ quân phiệt, độc tài với đại đa số

Trang 7

nhân dân lao động vẫn thể hiện là một chế độ quân chủ tàn bạo, chuyên chế với đại bộ phận dân cư.

Phần 3.Kiểu nhà nước phong kiến

3.1 Bản chất của nhà nước

3.1.1 Tính giai cấp

Hai giai cấp cơ bản là địa chủ (lãnh chúa) và nông dân (nông nô), Tính

giai cấp của nhà nước phong kiến thể hiện sâu sắc, rõ nét không kém nhà nước chủ nô Nhà nước phong kiến là bộ máy bảo vệ lợi ích kinh tế cho giai cấp địa chủ phong kiến, là công cụ chuyên chính giúp giai cấp địa chủ phong kiến đàn áp giai cấp nông dân, thợ thủ công, dân nghèo và thống trị trong xã hội trên các lĩnh vực xã hội Tóm lại, quyền lực của nhànước phong kiến tập trung chủ yếu vào việc đàn áp và bóc lột người dân lao động

3.1.2 Tính xã hội

Nhà nước phong kiến là đại diện cho toàn thể xã hội So với nhà

nước chủ nô, tính xã hội của nhà nước phong kiến rõ nét hơn, nhà nước

đã quan tâm nhiều đến việc giải quyết những vấn đề chung cho toàn xã hội Nhưng dù vậy về bản chất của nhà nước phong kiến vẫn chỉ có một công cụ của giai cấp phong kiến để đàn áp, bóc lột nhân dân lao động, bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị

3.2 Chức năng của nhà nước

3.2.1 Chức năng đối nội

- Chức năng bảo vệ chế độ sở hữu của địa chủ phong kiến, duy trì

các hình thức bóc lột phong kiến đối với nông dân và các tầng lớp lao động khác: Bằng các chính sách về sưu thuế Nhà nước và các biện pháp khác nhằm bảo vệ các hình thức sở hữu phong kiến, Nhà nước phong

Trang 8

kiến đã củng cố, duy trì các hình thức bóc lột tàn nhẫn của địa chủ phong kiến đối với nông dân và những người lao động khác

- Chức năng trấn áp nông dân và những người lao động khác: Biệnpháp phổ biến là bạo lực để đàn áp Bên cạnh các biện pháp bạo lực, Nhànước phong kiến còn sử dụng tôn giáo, kết hợp chặt chẽ với các tổ chứctôn giáo để khống chế, đàn áp nông dân về tinh thần

- Chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước phong kiến:thực hiện cáchoạt động quản lý kinh tế- xã hội duy trì sự ổn định và tạo điều kiện cho

xã hội phát triển, ổn định dời sống nhân dân

3.2.2 Chức năng đối ngoại

- Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược xâm chiếm lãnh thổ

mới, mở rộng quyền lực và làm giàu bằng tài nguyên, của cải của các dântộc khác

- Chức năng phòng thủ đất nước và bang giao với các nước khác: Điđôi với việc tiến hành chiến tranh xâm lược, các Nhà nước phong kiếnluôn tìm mọi biện pháp tiến hành các hoạt động bảo vệ lãnh thổ của mìnhtrước nguy cơ xâm lấn của nước ngoài Nhiều Nhà nước phong kiến cònthực hiện chính sách bang giao hợp tác, phát triển kinh tế, thương mại vớicác nước khác vì sự hưng thịnh của quốc gia

3.3 Bộ máy nhà nước

Nhà nước phong kiến phương Đông luôn được tổ chức đảm bảo tính thống nhất của quyền lực nhà nước Hoàng đế nắm mọi quyền hành Quan lại chia cấp trung ương và địa phương giúp việc cho vua và tuyệt đối tuân theo mệnh vua Nhà nước phong kiến phương Tây, Vua là ‘đấng thiêng liêng’quyền lực bị phân chia và nằm trong tay các lãnh chúa Tóm

Trang 9

lại, hoạt động của bộ máy nhà nước phong kiến mang nặng tính quan liêu, chuyên chế độc đoán, toàn bộ quyền lực nằm trong tay vua

vô hạn Thực tế, nhà vua bởi những thế lực như: thái hoàng, thái hậu, tể tướng

- Quân chủ đại diện đẳng cấp: đứng đầu là vua bên canh còn có một số cơquan đại diện cho các đẳng cấp khác nhau trong xã hội chia sẽ quyền lực với nhau trong xã hội

- Chính thế cộng hòa: quyền tự trị có nhiều con đường như:đấu tranh, dùng tiền mua,… khi giành được quyền tự trị từ tay nhà vua, lãnh chúa hay giáo hội Các cơ quan của thành phố như hội đồng thành phố, thị trưởng,…do thị dân bầu ra, thành phố có tài chính, quân đội, pháp luật và tòa án riêng

3.4.2 Hình thức cấu trúc

Các nhà nước phong kiến giống nhà nước chủ nô đều là hình thức nhànước đơn nhất Ở phương Đông, tồn tại chủ yếu xu hướng trung ương tập

Trang 10

quyền với sự phục tùng tuyệt đối của chính quyền địa phương Còn ở phương Tây, trong quá trình tồn tại và phát triển, cấu trúc đơn nhất đã có những biến dạng nhất định, ban đầu là phân quyền cát cứ, sau là trung ương tập quyền Ngoài ra ,còn có một số ít nhà nước theo cấu trúc liên bang với liên minh.

3.4.3 Hình thức chính trị

Hầu hết các nhà nước phong kiến thường áp dụng các biện pháp phản dân chủ, bạo lực để tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước Nhưng ở một số thành phố ở phương Tây sau khi giành được quyền tự trị cũng có một số biện pháp dân chủ được áp dụng nhưng vẫn còn rất hạn chế

Phần 4 Kiểu nhà nước tư sản

4.1 Bản chất của nhà nước

4.1.1 Tính giai cấp

– Thời kì 1: “NNTB là UB giải quyết công việc chung của gia cấp tưsản”: nhà nước đối xử với các giai cấp tư sản hoàn toàn như nhau => nhànước đều là phương tiện, công cụ giải quyết công việc chung

– Thời kì 2: “………tập đoàn TB lũng đoạn” => NNTB sẵn sangtước đoạt, chà đạp quyền lợi nhà tư bản nhỏ và vừa dưới danh nghĩa quốchữu hóa vì quyền lợi quốc gia

4.1.2 Tính xã hội

Đặc điểm chung qua các thời kì:

– Giai đoạn của CNTB tự do cạnh tranh: TS và với là đồng minh chốngphong kiến

+ Cạnh tranh tự do cá thể

+ Chưa có yếu tố độc quyền

– Giai đoạn của CNTB độc quyền lũng đoạn nhà nước hay gđ chủ nghĩa

đế quốc: bộ máy bạo lực đàn áp phong trào đấu tranh

+ Hình thành tập đoàn tư bản lớn sở hữu tập thể

Trang 11

+ Xuất hiện sở hữu tư bản nhà nước (Tập đoàn tư bản khống chế, khôngphải sở hữu toàn dân).

– Giai đoạn của CNTB hiện đại:

+ Yếu tố tư nhân hóa phát triển mạnh

+ Người lao động có sở hữu tư liệu sản xuất

4.2 Chức năng của nhà nước

4.2.1 Chức năng củng cố, bảo vệ, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản

Chức năng này bao hàm những nội dung sau:

– Củng cố và bảo vệ chế độ tư hữu tư sản

– Trấn áp các giai cấp bị trị về mặt chính trị

– Trấn áp giai cấp bị trị về mặt tư tưởng

Một mặt nhà nước tư sản luôn tuyên truyền về tinh thần dân chủ đanguyên, nhưng trên thực tế trong tất cả các giai đạo phát triển các nhànước tư sản luôn tìm mọi cách nhằm đảm bảo địa vị độc tôn của ý thức hệ

tư sản, ngăn cản việc truyền bá những tư tưởng cách mạng, tiến bộ củagiai cấp công nhân và nhân dân lao động

4.2.2 Chức năng kinh tế

Chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhà nước tư sản từngbước can thiệp vào lĩnh vực kinh tế, và khi chủ nghĩa tư bản độc quyềnchuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước thì sự can thiệp nàyđược tăng cường và làm nảy sinh chức năng mới – chức năng kinh tế

Sự biểu hiện của chức năng này thể hiện:

+ Nhà nước tư sản căn cứ vào tình hình kinh tế – xã hội để xây dựng vàđưa ra các chương trình kinh tế cụ thể

+ Nhà nước thông qua chương trình đầu tư tài chính nhằm phục vụ trựctiếp cho các chương trình và mục tiêu kinh tế

Trang 12

+ Nhà nước đưa ra và thực hiện các chính sách tài chính – tiền tệ, chínhsách thuế, chính sách thị trường thích hợp với điều kiện và nhu cầu pháttriển kinh tế.

+ Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ nền sản xuất trong nướctrước sức ép của thị trường kinh tế quốc tế

4.2.3 Chức năng xã hội

Nhà nước tư sản thực hiện chức năng xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội như: việc làm, thất nghiệp, dân số, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, vấn đề bảo trợ xã hội cho người già, giải quyết các tệ nạn xã hội…Chính sách xã hội và việc thực hiện chức năng xã hội của nhà nước tư sản tuỳ thuộc vào tương quan các lực lượng chính trị trong nhà nước tư sản ở các giai đoạn phát triển và trong từng quốc gia cụ thể

4.2.4.Chức năng đối ngoại, hợp tác quốc tế

Trong giai đoạn hiện nay bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi vì thế nhiều nhà nước tư sản có sự thay đổi tích cực trong quan hệ đối ngoại, giải quyết các vấn đề quốc tế thông qua đối thoại với những chính sách đối ngoại mềm dẻo

4.3 Bộ máy nhà nước

a) Nghị viện

Về hình thức, nghị viện tư sản là cơ quan quyền lực cao nhất, nắm quyềnlập pháp Về cơ cấu tổ chức nghị viện tư sản cớ thể được tổ chức theo cơcấu 1 viện cũng có thể được tổ chức theo cơ cấu nhiều viện nhưng phầnlớn các nước có cơ cấu 2 viện: thượng nghị viện và hạ nghị viện

Quyền lực của nghị viện tư sản ở các giai đoạn phát triển khác nhau củanhà nước tư sản cũng hết sức khác nhau Hiện nay, việc xem xét sự pháttriển của nghị viện tư sản là hết sức phức tạp và khó khăn, bởi lẽ nghịviện tư sản hiện nay không đơn thuần chỉ là cơ quan lập pháp mà đóngvai trò quan trộng đối với quá trình phát triển dân chủ (đặc biệt ở nhữngnước mà các đảng cánh tả nắm được đa số ghế trong nghị viện)

b) Nguyên thủ quốc gia

Nguyên thủ quốc gia là người người đớng đầu nhà nước, đại diện cho cácquốc gia trong các quan hệ đối nội và đối ngoại Chức vụ này trong các

Ngày đăng: 21/04/2022, 09:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w