MỤC LỤCChương I : Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời gian gần đây và những trở ngại về hàng rào kỹ thuật của Nhật 1.1 Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong
Trang 1MỤC LỤC
Chương I :
Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong thời gian gần đây
và những trở ngại về hàng rào kỹ thuật của Nhật
1.1 Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong những năm gần đây 1.2 Các cảnh báo của Nhật về an toàn vệ sinh thực phẩm đối với hàng thủy sản xuât khẩu của Việt Nam
1.3 Phản ứng của Bộ Thủy Sản và các doanh nghiệp trong nước
Chương II :
Phân tích ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
2.1 Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới Nhật trong những năm gần đây
2.2 Tác động hàng rào kỹ thuật của Nhật tới các doanh nghiệp kinh doanh thủy sản xuất khẩu Việt Nam
Chương III :
Các bài học kinh nghiệm rút ra và giải pháp khắc phục
3.1 Những bài học kinh nghiệm
3.2 Các giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng của doanh nghiệp trong vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản xuất khẩu
Tác động của hàng rào kỹ thuật của Nhật Bản đối với xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam.
Trang 2CHƯƠNG I TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY VÀ NHỮNG TRỞ NGẠI VỀ HÀNG
RÀO KỸ THUẬT.
1.1 Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong những năm gần đây.
Thủy sản Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước phát triển rõ rệt về lượng xuất khẩu, thị trường cũng như giá trị Nếu như những năm trước, thủy sản chưa phát triển và chú trọng do không tìm kiếm được thị trường cũng như kỹ thuật chế biến còn chưa cao thì trong thời gian gần đây, kinh doanh thủy sản xuất khẩu đã và đang có những bước tiến lớn
Gần đây nhất, theo thông tin từ Bộ Thủy sản, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 7 năm 2007 đạt 340 triệu USD, nâng tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản 7 tháng lên 1.988 triệu USD, đạt 55,22% kế hoạch năm, tăng 15,71% so với cùng kỳ năm 2006 Từ mức kế hoạch mức 3 tỷ USD năm 2006, đã đề ra mức 3,6 USD trong năm 2007 và nhanh chóng có thể vượt được mức dự kiến Những thị trường chính của thủy sản Việt Nam có thể kể đến là thị trường EU , Mỹ và Nhật Bản Theo số liệu từ năm 2006, thị trường khu vực Châu Á vẫn là lớn nhất về
số lượng (176 000 tấn), tuy nhiên về giá trị cao nhất vẫn là thị trường Nhật đạt (842 triệu USD)
Theo Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam năm 2006 tăng mạnh là do kim ngạch xuất khẩu cá tra, ba sa sang các thị trường đều tăng, nhất là thị trường Đông Âu và EU tăng Sản lượng cá xuất khẩu ước đạt 210 nghìn tấn, giá trị xuất khẩu đạt 560 000 USD Trong năm 2006, mặc dù gặp nhiều khó khăn như thiên tai nhiều,
Trang 3giá xăng, dầu tăng, rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm của một số thị trường xuất khẩu thuỷ sản lớn của nước ta như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, Canada ngày càng khắt khe, nhưng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vẫn hoàn thành sớm hơn một tháng so mức kế hoạch đề ra
Thị trường Nhật Bản đã vươn lên vị trí số một, chiếm hơn 25% thị phần xuất khẩu; thị trường EU chiếm hơn 21% thị phần xuất khẩu thuỷ sản, Hoa Kỳ (hơn 19%), Hàn Quốc (hơn 6%)
Từ năm 2006, tôm vẫn là sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của nước ta, chiếm hơn 44% sản lượng thuỷ sản xuất khẩu, còn lại, cá đông lạnh chiếm 34%, mực và bạch tuộc đông lạnh chiếm hơn 6%
Giá cá tra, ba sa tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ở mức cao so năm trước; giá cá tra, ba sa thịt trăng nuôi hầm dao động 13.800-14.500
đồng/kg Theo thông tin mới nhất trong năm 2007 giá đã tăng tới 16.000- gần 17.000 đồng/ kg Ngoài ra, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản chủ động đầu tư, nâng cấp trang, thiết bị chế biến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đủ sức cạnh tranh trên thị trường Hết năm 2006, nước ta có thêm 38 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thuỷ sản sang EU, nâng tổng số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường này lên 209 đơn vị Hàn Quốc công nhận thêm 13 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, nâng tổng số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu thuỷ sản sang nước này lên 298 đơn vị
1.2 Các cảnh báo của Nhật về an toàn vệ sinh thực phẩm đối với hàng thủy sản xuât khẩu của Việt Nam.
Như ta đã biết ở trên , thị trường Nhật được coi là thị trường tiềm năng chính của thủy sản xuất khẩu Việt Nam Tuy nhiên sau khi cá basa
và tôm bị gặp vấn đề bán phá giá ở thị trường Mỹ rộng lớn thì Nhật Bản, thị trường nhập khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam cũng đang “báo động đỏ”
Trang 4sẵn sàng áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu đối với hàng thuỷ sản Việt Nam
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản (VASEP), việc kiểm tra ngặt nghèo về chất lượng tại Nhật Bản khiến xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam, đặc biệt là mặt hàng tôm, sang thị trường này sụt giảm đáng
kể Vào thời điểm tháng 5/2006 khi luật vệ sinh thực phẩm sửa đổi của nước này có hiệu lực thì 31 nước bán thuỷ sản sang Nhật bị phát hiện dư lượng kháng sinh cấm, trong đó có Việt Nam VASEP đã nhận được cảnh báo của Nhật là sẽ tăng cường kiểm tra hàng thủy sản của Việt Nam Và gần đây nhất, tháng 5/2007 theo số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy, xuất khẩu tôm sang Nhật giảm 15,6% về lượng và gần 20% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái Nhật đã liên tục đưa ra các cảnh báo và kiểm tra các lô tôm xuất khẩu của Việt Nam cũng như đưa ra những quy định khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm là nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng Tuy nhiên cũng cần phải nhìn nhận trên thực tế đó còn
có thể là rào cản kỹ thuật mà các doanh nghiệp của chúng ta phải lường trước khi thâm nhập vào thị trường tiềm năng nhưng rất khó tính này
Sau vụ cá basa và tôm ở thị trường Mỹ, Nhật Bản cùng với các nước EU đã trở thành thị trường chuyển đổi cho các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam Nhưng khi Việt Nam trở thành một trong ba khách hàng lớn nhất thì cũng là lúc Nhật tỏ ra chặt chẽ không kém gì Mỹ và thậm chí khó khăn hơn cả EU Cụ thể, Nhật đã nâng mức kiểm tra từ 5%, 10% lên 50% và sau cùng là 100% lô hàng tôm nhập của Việt Nam Và hiện nay Nhật kiểm tra 100% các lô hàng thuỷ sản nhập khẩu từ Việt Nam nói chung Cụ thể về các vi phạm về dự lượng được Nhật phát hiện các chất cấm, trong đó có 4 dẫn xuất của chất Nitrofuran, bao gồm AOZ, AMOZ, AHN và SEM, cùng với Bộ Thủy sản đã cùng với các doanh nghiệp thống nhất kiểm tra toàn bộ các loại hoá chất kháng sinh mà phía Nhật
Trang 5cấm, tương đương với tổng lượng châu Âu và Mỹ cấm, cộng lại là 17 chất Theo thống kê, từ đầu năm 2007 đến nay, Việt Nam đã xuất khẩu vào Nhật Bản 6.000 lô hàng và đã có 94 lô bị cảnh báo, chiếm 1,6% Trong đó, các loại kháng sinh bị phát hiện nhiều nhất là Chloramphenicol (CAP), AOZ (dẫn xuất của Nitrofurans), Coliform Theo VASEP, nguyên nhân nhiễm CAP chủ yếu từ việc bảo quản nguyên liệu trong quá trình khai thác, các lô tôm nhiễm AOZ có khả năng bị nhiễm trong quá trình trị bệnh cho tôm của nông dân tại ao
Và đỉnh điểm của các rào cản về kỹ thuật của Nhật là Ngày
25-6-2007, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Norio Hattori đã gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản Tạ Quang Ngọc cảnh báo rằng cơ quan phụ trách kiểm dịch của Nhật sẽ xem xét áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu thuỷ
sản Việt Nam Theo nội dung thư trích dẫn :” Từ năm ngoái đến năm nay, liên tiếp tìm thấy chất kháng sinh bị cấm theo luật vệ sinh thực phẩm của Nhật trong mực và tôm xuất khẩu từ Việt Nam Nếu trong thời gian tới cũng tiếp tục phát sinh các trường hợp vi phạm thì cơ quan phụ trách kiểm dịch của Nhật Bản bắt buộc phải xem xét áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu ” Trong thư, Đại sứ Hattori cho biết
từ năm 2006 tới nay, các cơ quan kiểm tra của Nhật liên tiếp phát hiện các chất kháng sinh bị cấm trong tôm và mực xuất khẩu từ Việt Nam Do
đó nếu trong thời gian tới vẫn còn các trường hợp vi phạm thì Bộ Y tế lao động và Phúc lợi Nhật Bản bắt buộc phải xem xét áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu Sau khi đã áp dụng nhiều biện pháp từ nhẹ tới nặng, nước này
đã ra tối hậu thư đi đến hình phạt cấm nhập khẩu
1.3 Phản ứng cúa Bộ Thủy Sản và các doanh nghiệp trong nước.
Rõ ràng những hàng rào kỹ thuật và thương mại ngày càng chặt chẽ, với các quy định về dư lượng kháng sinh, về truy xuất nguồn gốc sản
Trang 6phẩm thủy sản, về kiểm dịch đang là thách thức lớn đối với doanh nghiệp thủy sản Việt Nam
Các chuyên gia trong ngành thuỷ sản của Việt Nam cho rằng vấn
đề dư lượng là một thực tế nhưng Việt Nam vẫn ở tỉ lệ rất thấp Việc dùng máy móc tối tân để phát hiện dư lượng kháng sinh ở tỷ lệ 0,7 phần
tỷ thì quả là quá khắt khe đối với Việt Nam Cần phải lưu ý ở trên rằng thị trường Nhật gần như đứng đầu về sản lượng và giá trị xuất khẩu nên quyết định trên rất ảnh hưởng tới giá trị xuất nhập khẩu của thủy sản Việt Nam
Sau lời cảnh báo của Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam, Bộ Thuỷ sản
đã ban hành Quyết định mới nhất về kiểm soát chất lượng thuỷ sản vào Nhật Theo đó, từ 26/7/2007, các doanh nghiệp phải thực hiện kiểm tra chứng nhận Nhà nước về dư lượng, hoá chất kháng sinh cấm đối với 100% lô hàng giáp xác (tôm, cua, ghẹ ), nhuyễn thể chân đầu (mực, bạch tuộc )
Quyết định này cũng quy định cụ thể các trường hợp doanh nghiệp
có bao nhiêu lô hàng thuỷ sản từng bị cảnh báo về dư lượng kháng sinh cấm thì không được phép xuất khẩu hai nhóm hàng này vào thị trường Nhật Bộ Thuỷ sản thông báo, doanh nghiệp chỉ được phép xuất khẩu trở lại lô hàng giáp xác, nhuyễn thể chân đầu sang Nhật sau khi có báo cáo đúng nguyên nhân, thiết lập biện pháp khắc phục có hiệu quả và được Cục Quản lý chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y thuỷ sản (Nafiqaved) công nhận Các doanh nghiệp chỉ có thể được miễn kiểm tra chứng nhận bắt buộc khi có liên tiếp 10 lô hàng các loại không bị cảnh báo
Về phía Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), đang phối hợp với Bộ Thủy sản, Cục Nafiqaved thay đổi Quy
Trang 7chế 649 và 650 về phương thức kiểm soát điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, kiểm nghiệm chất lượng và cấp chứng thư xuất nhập khẩu, nhằm giảm chi phí doanh nghiệp, giảm thủ tục phiền hà và lãng phí, tăng hiệu quả và trách nhiệm kiểm soát của các doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước đối với các Doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản
Còn các doanh nghiệp đối phó với tình trạng trước mắt theo nhiều cách nhưng có xu hướng tiêu cực Theo Cục Quản lý Chất lượng, ATVS và Nafiqaved , để đối phó với sự kiểm tra chất lượng gắt gao từ thị trường Nhật Bản, các DN bị phía Nhật cảnh báo có lô hàng nhiễm kháng sinh đã mượn "code" (code- mã số xuất khẩu) để xuất khẩu
Ông Nguyễn Như Tiệp, Phó Cục trưởng Nafiqaved, đã đưa ra thông tin này tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm của ngành thuỷ sản mới đây
Lý giải điều này, một quan chức của Nafiqaved cho biết, thực tế kiểm tra cho thấy số lô hàng kiểm tra có hoá chất, kháng sinh cấm trước khi xuất khẩu không tăng Ví dụ, kiểm tra 10 lô hàng xuất đi, chỉ phát hiện 1 lô hàng vi phạm quy định về VSATTP Tỷ lệ này chỉ ở mức dưới 10%, chứng tỏ số lô hàng bị nhiễm không nhiều Trong khi đó, các Doanh nghiệp thuỷ sản bị phía Nhật cảnh báo lại càng tăng lên, chủ yếu do Doanh nghiệp đã cho nhau mượn code để xuất khẩu Điều này là vô cùng nguy hiểm do đó , sắp tới Bộ Thuỷ sản sẽ cấm tuyệt đối việc cho mượn
mã số Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản (VASEP), việc kiểm tra ngặt nghèo về chất lượng tại Nhật Bản khiến xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam, đặc biệt là mặt hàng tôm, sang thị trường này sụt giảm đáng
kể Đến nay, Nhật Bản đã mất vị trí dẫn đầu về nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG II PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG TỚI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT
KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
2.1 Tình hình xuất khẩu của thủy sản Việt Nam tới Nhật trong những năm gần đây
Trong năm 2006 tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã có những bước tăng trưởng lớn so với những năm trước Với kim ngạch đạt hơn 3,2
tỷ USD, vượt hơn 400 triệu USD so kế hoạch năm,tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt hơn 3,7 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng chiếm hơn 1,7 triệu tấn Cơ cấu về thị trường và hàng thuỷ sản xuất khẩu cũng có sự chuyển hướng tích cực Nhật đã vươn lên số 1 trong thị phần xuất khẩu chiếm hơn 25%
Qua bảng số liệu về kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào các thị trường chính của Việt Nam :
Nguồn: Trung tâm Tin học - Bộ Thủy sản (FICen)
Châu Á (không kể Nhật Bản, ASEAN) 166771.3 442382451
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2005
Trang 9Châu Á (không kể Nhật Bản, ASEAN) 176160.6 493798680
Châu Mỹ (không kể Hoa Kỳ) 28661.8 124374152
Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2006 Qua bảng số liệu về thị truờng xuất khẩu thủy sản của 2 năm gần đây cho thấy thị phần của Nhật Bản đều đứng đầu về giá trị Cho thấy thị trường Nhật là thị trường rất lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam, các Doanh nghiệp Việt nam cần tận dụng để khai thác tốt thị trường tiềm năng này
2.2 Tác động hàng rào kỹ thuật của Nhật tới các doanh nghiệp kinh doanh thủy sản xuất khẩu Việt Nam.
Tuy nhiên trong 6 tháng đầu năm 2007 do những rào cản về vệ sinh
an toàn thực phẩm của Nhật và tối hậu thư của Nhật tháng 7 vừa qua đã cho thấy thị trường này đang dần bị giảm sút nghiêm trọng Thống kê từ
Bộ Thuỷ sản, xuất khẩu thuỷ sản đã đạt khoảng 1,64 tỷ USD, tăng gần 17% so với cùng kỳ năm ngoái Trong đó, các thị trường chính vẫn là EU chiếm 24,4%; Hoa Kỳ 18,3%; Nhật Bản 17%
Trang 10Thị trường Số lượng (tấn ) Giá trị (USD)
Châu Mỹ (không kể Hoa Kỳ) 5743.6 27279333
Bảng xuất khẩu thủy sản chính ngạch từ tháng 1 tới tháng 7 năm
2007
Qua bảng xuất nhập khẩu với số liệu mới nhất, đã cho ta thấy rõ nhất sự thụt dốc của thị trường rộng lớn này Điều đó cho thấy nếu không sớm loại bỏ các rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thị trường Nhật thì giá trị xuất khẩu của Việt Nam giảm sút rất nhiều Thiệt hại trước mắt là việc các Doanh nghiệp bị tạm ngừng xuất khẩu và giải trình VASEP đề nghị tạm ngưng xuất khẩu đối với doanh nghiệp có nhiều lô hàng liên tiếp bị phát hiện nhiễm kháng sinh tại Nhật để doanh nghiệp giải trình chi tiết nguyên nhân và có biện pháp khắc phục mới cho phép xuất trở lại Thời gian tạm ngưng có thể từ 1 đến tháng 6 tháng tuỳ theo trường hợp, việc giải trình được thực hiện với sự giám sát của Hiệp hội và Cục Quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản- Naviqaved
Theo đó, trước mắt, doanh nghiệp chưa có lô hàng bị cảnh báo trong 6 tháng đầu năm nếu bị 3 lô sẽ phải tạm ngưng và giải trình Doanh nghiệp
có từ 1 đến 3 lô hàng nhiễm kháng sinh đã bị cảnh báo trong sáu tháng đầu năm nếu bị tiếp hai lô nữa sẽ phải tạm ngưng và giải trình Doanh
Trang 11nghiệp có 4 lô hàng nhiễm kháng sinh trở lên đã bị cảnh báo trong 6 tháng đầu năm nếu bị tiếp 1 lô nữa sẽ phải tạm ngưng và giải trình
Nếu có quá nhiều các doanh nghiệp bị tạm ngưng để giải trình thì thủy sản Việt Nam sẽ bị mất đi một lượng lớn kim ngạch xuất khẩu, có khả năng ảnh hưởng tới kế hoạch của năm nay với mục tiêu là đạt 3,6 tỷ USD
Trang 12CHƯƠNG III : CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 3.1 Những bài học kinh nghiệm
Không chỉ qua thị trường Nhật mà rất nhiều thị trường xuất khẩu thủy sản cũng bị cảnh báo và bị chặn do rào cản vệ sinh an toàn thực phẩm như
EU, Mỹ…Theo Cục trưởng Quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thủy sản (NAFIQAVED) Nguyễn Tử Cương, danh sách các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản sang Nhật Bản bị phát hiện nhiễm chất kháng sinh trong các lô hàng thủy sản ngày một dài ra Một số lô hàng thủy sản bị trả
về, nhưng một số doanh nghiệp vì lợi nhuận đã không xử lý triệt để Ðiều này ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của hàng thủy sản Việt Nam Không giống với các thị trường như EU, Hàn Quốc, việc kiểm tra chất lượng các
lô hàng thủy sản trước khi xuất khẩu sang Nhật Bản trước đây là không bắt buộc Việc kiểm tra chất kháng sinh, hóa chất cấm chỉ xảy ra khi doanh nghiệp có yêu cầu và doanh nghiệp hoàn toàn chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm thủy sản xuất khẩu Nhật là một thị trường lớn, khi
bị các vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ rất ảnh hưởng tới uy tín và quan hệ làm ăn lâu dài giữa hai nước
Cho đến nay, tôm sú và cá da trơn là hai sản phẩm xuất khẩu thủy sản chủ lực của nước ta Nhưng trong những năm qua, đã xuất hiện quá nhiều khó khăn đối với các sản phẩm thủy sản này Cá da trơn gặp rào cản về thương mại khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ, tôm sú thì gặp rào cản về VSATTP khi xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nơi chiếm sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản lớn nhất nước ta, hiện xuất hiện nhiều bất ổn Ðó là tình trạng phát triển nuôi tôm, cá da trơn không theo quy hoạch Tình trạng tôm, cá chết có chiều hướng ngày càng tăng do chất lượng con giống chưa bảo đảm, môi trường ao nuôi bị ô nhiễm Theo Quyền Vụ trưởng nuôi trồng thủy sản