TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA XÃ HỘI HỌC CÔNG TÁC XÃ HỘI Số phách BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TÊN HỌC PHẦN CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở VÙNG NÔNG THÔN NHÓM 1 MÃ HỌC PHẦN 2021 2022 1 CTX4132 001 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN NGUYỄN XUÂN HỒNG HUẾ, THÁNG 12 NĂM 2021 Họ và tên Hoàng Thị Thúy Phượng Lớp QLGD K24 Giảng viên PGS TS Lê Khánh Tuấn Huế, tháng 5 năm 2007 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA XÃ HỘI HỌC CÔNG TÁC XÃ HỘI Số phách BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN NGUYỄN.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA XÃ HỘI HỌC - CÔNG TÁC XÃ HỘI
Số phách:………
BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI
TÊN HỌC PHẦN: CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở VÙNG NÔNG
THÔN - NHÓM 1
MÃ HỌC PHẦN: 2021-2022.1.CTX4132.001
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN XUÂN HỒNG
HUẾ, THÁNG 12 NĂM 2021
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA XÃ HỘI HỌC - CÔNG TÁC XÃ HỘI
Số phách:………
BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : NGUYỄN XUÂN HỒNG
HUẾ, THÁNG 12 NĂM 2021
Trang 4
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tổng quan đề tài nghiên cứu 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 5
6. Ý nghĩa đề tài 5
7. Kết cấu 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.1. Một số vấn đề lý luận về xây dựng nông thôn mới 7
1.1.1. Quan niệm về nông thôn 7
1.1.2. Quan niệm về nông thôn mới 8
1.1.3. Quan niệm về xây dựng nông thôn mới 10
1.2. Những vấn đề liên quan đến xây dựng nông thôn mới 11
1.2.1. Những kết quả bước đầu trong triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 11
1.2.2. Hạn chế và vấn đề đặt ra trong triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CỦA SỰ BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HIỆN NAY 2.1. Quan niệm về gia đình 18
2.2. Biến đổi gia đình và những nhân tố tác động đến sự biến đổi của gia đình 18
2.2.1. Khái niệm biến đổi gia đình 18
2.2.2. Những nhân tố tác động đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam 19
CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HIỆN NAY 3.1. Xây dựng nông thôn mới và sự biến đổi của gia đình nông thôn 22
3.2. Một số vấn đề đặt ra và giải pháp 26
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO PHIẾU ĐÁNH GIÁ
Trang 6MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là một tế bào của xã hội, là một nhóm xã hội cơ sở kiến tạo nên xã hộirộng lớn Do đó, sự trường tồn của quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại vàphát triển của mỗi gia đình Gia đình phải là điểm xuất phát và trở về của mọi chính sách
xã hội
Gia đình là một môi trường quen thuộc với hầu hết mọi người Đó là lĩnh vực mà
ai cũng có thể tham gia với tư cách là người trong cuộc Mặt khác, đó cũng là lĩnh vựctinh tế, phong phú, phức tạp, đầy mâu thuẫn và biến động
Có thể nói gia đình là vấn đề của mọi dân tộc và thời đại Đặc biệt trong vài nămtrở lại đây, vấn đề gia đình nổi lên như một tiêu điểm trọng yếu được cả giới hàn lâm vàgiới chính trị quan tâm ở châu á và Đông Nam á nói riêng, người ta nói nhiều đến giađình, văn hóa gia đình như một giải pháp để ngăn trở sự xâm lăng của văn hóa phươngTây Và không chỉ có thế Các quốc gia châu á trong đó có Việt Nam đang trải nghiệmtrong một cuộc chuyển mình vĩ đại: thực hiện công nghiệp hóa - đô thị hóa với quy mô vàtốc độ ngày càng gia tăng Đồng thời với quá trình này ở Việt Nam là sự chuyển đổi sang
cơ chế kinh tế thị trường Cố nhiên, những biến chuyển kinh tế - xã hội mạnh mẽ đókhông thể không tác động sâu sắc đến thiết chế gia đình, một thiết chế lâu đời và bềnvững song cũng hết sức nhạy cảm với mọi biến đổi xã hội
Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của gia đình, Đảng và Nhà nước ta đã banhành nhiều văn bản khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của gia đình đối với sự pháttriển của đất nước Văn kiện Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Giađình là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” [5,tr.76-77]; đến Đại hội XII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh “Thực hiện chiến lược phát triểngia đình Việt Nam Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến
bộ, hạnh phúc, văn minh” [6, tr.128]
Quán triệt quan điểm trên, thực hiện vai trò của gia đình được trong bối cảnh đấtnước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn
Trang 7gia về xây dựng nông thôn mới” Xây dựng nông thôn mới (NTM) là chương trình lớncủa quốc gia góp phần hiện thực hóa mục tiêu phấn đấu tới năm 2030 Việt Nam trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu trước mắt vàlâu dài nêu trên, cùng với các nhân tố đóng góp vào thành công của Chương trình thì giađình có vai trò rất quan trọng, trực tiếp góp phần vào tiến độ, chất lượng chương trình xâydựng NTM hiện nay.
Việc biến đổi của gia đình trong xây dựng NTM hiện còn nhiều khó khăn, lúngtúng, bất cập từ nhiều góc độ Bản thân gia đình cũng chịu nhiều tác động như quá trìnhCNH, HĐH; đô thị hóa; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khiến cho nó cũngbiến đổi theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực Đặc biệt, trong việc thực hiện các chứcnăng của gia đình khi tham gia vào các hoạt động chung của xã hội, trong đó có Chươngtrình xây dựng NTM Mặt khác, cũng cần thấy rằng việc thực hiện xây dựng NTM cònmang tính phong trào, hình thức, chạy theo thành tích nên cũng có tình trạng huy độngquá sức sự đóng góp của gia đình; NTM được xây dựng chưa đáp ứng được nhu cầu thựctiễn của gia đình, chưa lấy mục tiêu nâng cao đời sống cho gia đình nông thôn làm cốt lõi
để thực hiện Những hạn chế này thực sự trở thành rào cản làm cho chủ thể các gia đìnhchịu sự biến đổi chưa được phát huy tối đa và hiệu quả trong xây dựng NTM
Từ thực tiễn cấp thiết đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn nhằmđưa ra giải pháp khắc phục những mâu thuẫn khó khăn trong quá trình thực hiện vai tròtrong xây dựng NTM, tạo sự cân bằng về sự biến đổi gia đình và phát triển bền vững của
nông nghiệp, nông thôn của vùng nói riêng và của Việt Nam nói chung Đề tài “Biến đổi gia đình trong xây dựng nông thôn mới” mà nghiên cứu sinh lựa chọn góp phần đáp
ứng yêu cầu đặt ra về biến đổi gia đình trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nôngthôn
2. Tổng quan đề tài nghiên cứu
Gia đình được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, phân tích và tiếp cận ở nhiều góc
độ khoa học khác nhau: như góc độ kinh tế, văn hóa, xã hội học, lịch sử, triết học, ; giađình, xây dựng gia đình văn hóa xã hội chủ nghĩa cũng là một đề tài dành được sự quantâm nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học Các công trình nghiên cứu đưa ra khái
7
Trang 8niệm gia đình, vai trò, chức năng của gia đình và sự biến đổi của cơ cấu gia đình trong xãhội hiện đại
Các công trình cùng hướng nghiên cứu về khái niệm gia đình, vai trò, chức năngcủa gia đình như:
- Tác giả Thanh Lê, Xã hội học gia đình [8] đã nghiên cứu quá trình hình thành và pháttriển của gia đình và hoạt động của gia đình trong xã hội cụ thể, như mối quan hệ giữa giađình và xã hội, các mối quan hệ trong gia đình, chức năng gia đình, quy mô gia đình, Tác giả đưa ra khái niệm “gia đình là một nhóm gồm những người gắn bó với nhau bằngquan hệ vợ chồng và cha mẹ (huyết thống)” [8, tr.26]
- Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý với cuốn “Gia đình học” [7], cuốn sách sắp xếp dưới dạngmột giáo trình, đây là công trình nghiên cứu công phu, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.Các tác giả đã làm rõ khái niệm gia đình, vị trí, vai trò và chức năng của gia đình, nhữngthay đổi của gia đình Việt Nam trước những thách thức của sự nghiệp CNH, HĐH đấtnước; vấn đề về giới, gia đình và phát triển cũng như chỉ ra những sai lệch giá trị gia đìnhhiện nay Từ đó đưa ra giải pháp để nâng cao vai trò của gia đình trong công cuộc CNH,HĐH đất nước
- Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu về biến đổi của gia đình trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa Hiện nay, gia đình chịu tác động của quá trình CNH,HĐH, đô thị hóa, nền kinh tế thị trường nên cũng có những biến đổi trong bối cảnh mới-đây cũng là một khía cạnh được các tác giả nghiên cứu Tác giả Lê Thi, “Gia đình ViệtNam trong bối cảnh đất nước đổi mới” [17] 9 Cuốn sách cung cấp cho người đọc nhữngtài liệu tham khảo về tình hình gia đình Việt Nam, mối quan hệ giữa các thành viên trongbối cảnh đổi mới của đất nước Đây là công trình nghiên cứu có giá trị và tiếp cận chủ yếudưới góc độ về giới và gia đình văn hóa Tác giả Trịnh Duy Luân, Helle Rydstrom và WilBurghoorn với bài “Gia đình nông thôn Việt Nam trong chuyển đổi” [10], đã chỉ ra ở ViệtNam hiện nay 70 - 80% dân số sống ở nông thôn trong các gia đình mở rộng và gia đìnhhạt nhân Trong công trình này, phân tích những biến đổi của gia đình nông thôn ViệtNam trong quá trình CNH, HĐH, biểu hiện sự di cư của thanh niên nông thôn đi tìm việclàm ở thành thị, vai trò giáo dục của cha mẹ với con cái, điều kiện kinh tế của hộ gia đìnhcũng ảnh hưởng đến chức năng giáo dục của gia đình; tác động đến tuổi kết hôn, cáchchọn “bạn đời”, tình dục trong hôn nhân và quan hệ quyền lực giữa vợ và chồng trong gia
Trang 9đình nông thôn Như vậy, các nghiên cứu này cho thấy quá trình CNH, HĐH nôngnghiệp, nông thôn cũng tác động đến cấu trúc gia đình nông thôn ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình và biến đổi giađình trong xây dựng NTM, từ đó luận án đề xuất những quan điểm, giải pháp cơ bảnnhằm hỗ trợ sự biển đổi của gia đình trong xây dựng NTM
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu về gia đình, xây dựng NTM và biến đổicủa gia đình trong xây dựng NTM
- Luận giải những vấn đề lý luận chung về nông thôn, xây dựng nông thôn mới; gia đình vàbiến đổi của gia đình trong xây dựng NTM; làm rõ những yếu tố tác động đến biến đổi giađình trong xây dựng NTM hiện nay
- Làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc trò biến đổi gia đình trong xâydựng NTM
- Đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai sự biến đổi gia đình trong xâydựng NTM phát triển tích cực
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Gia đình sinh sống ở nông thôn mới và sự biến đổi gia
đìnhtrong xây dựng NTM hiện nay
Thời gian nghiên cứu: Từ 2010 đến nay (khi có Quyết định của Thủ tướng Chính
phủ về triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới)
Không gian nghiên cứu: Các gia đình tại những nơi đã và đang trong quá trình
xây dừng nông thôn mới
5. Phương Pháp nghiên cứu
Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp được sinh viên sử dụng nhiều trong quá trình nghiên cứu.Mục đích của quan sát là nhằm thu thập và kiểm chứng các thông tin cơ bản về sựthay đổi của của gia đình trong xây dựng nông thôn mới
9
Trang 10Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là phương pháp được sử dụng để có những thông tin các gia đình
Nó đòi hỏi nhân viên xã hội hoặc người phỏng vấn chuẩn bị kỹ lưỡng các thông tin, câuhỏi và phải luôn để ý những thông tin còn thiếu sót còn nhầm lẫn trong quá trình phỏngvấn
Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu thứ cấp
Trong quá trình nghiên cứu nhân viên CTXH đã tham khảo và sử dụng các tài liệu
từ các báo cáo tổng kết hàng năm trên tất cả các mặt của các ban ngành đoàn thể banngành, các văn bản, số liệu và các tài liệu liên quan khác về vấn đề biến đối gia đình trongxây dựng nông thôn mới
- Các giải pháp mà luận án đề xuất vận dụng vào thực tiễn góp phần phát huy biến đổi củagia đình trong xây dựng NTM một cách tích cực nhất trong giai đoạn tới
Trang 12CHƯƠNG 1: Tổng quan về xây dựng nông thôn mới và những vấn đề liên quan
1.1. Một số vấn đề lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Quan niệm về nông thôn
Nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước vì điều kiện tự nhiên, đặc điểmkinh tế - xã hội ở mỗi nước là khác nhau Để có được định nghĩa nông thôn, các nhànghiên cứu thường so sánh nông thôn với thành thị C.Mác - Ph.Ăngghen trong tác phẩm
“Hệ tư tưởng Đức” (viết năm 1845 -1846), hai ông đã trình bày một cách cơ bản quanniệm duy vật lịch sử về nông thôn - đặt trong mối quan hệ với thành thị Theo C.Mác, “sựphân công lao động trong nội bộ của một dân tộc gây ra trước hết là sự tách rời giữa laođộng công nghiệp với lao động nông nghiệp và do đó gây ra sự tách rời giữa thành thị vànông thôn” [12, tr.270] Sự hình thành đô thị cũng là quá trình làm cho xã hội nông thônđược nhìn nhận rõ hơn Giữa thành thị và nông thôn có những điểm khác biệt, C.Mác vàPh.Ăngghen đã chỉ ra “sự đối lập giữa thành thị và nông thôn xuất hiện cùng với bướcquá độ từ thời đại dã man lên thời đại văn minh, từ tổ chức bộ lạc nhà nước, từ tính địaphương lên dân tộc, và cứ tồn tại mãi suốt toàn bộ lịch sử văn minh cho đến ngày nay”[11, tr.323]
Theo V Staroverov - nhà xã hội học người Nga đã đưa ra một định nghĩa khá baoquát về nông thôn, khi ông cho rằng:
Nông thôn có những đặc trưng riêng biệt của nó, nông thôn phân biệt với đô thị bởitrình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp kém hơn, thua kém hơn về mức độ phúc lợi xã hội,sinh hoạt Nông thôn là hệ thống độc lập tương đối ổn định, là một tiểu hệ thống khônggian - xã hội Nông thôn và đô thị hợp lại thành chỉnh thể xã hội và lãnh thổ (không gian)của cơ cấu xã hội [1, tr.58]
Nông thôn khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân, có mật độdân cư thấp, kết cấu hạ tầng kém phát triển, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường
và sản xuất hàng hóa kém hơn đô thị
Trang 13Từ những ý hiểu này cho thấy nông thôn cũng có những đặc trưng như: về nghềnghiệp chủ yếu là lao động xã hội truyền thống, hoạt động sản xuất nông nghiệp; mật độdân cư trên km2 thấp; lối sống, có tính cố kết cộng đồng cao thể hiện trong mối quan hệứng xử giữa con người với con người Các hành vi của cá nhân nông thôn Việt Namthường đặt trong các thiết chế xã hội (gia đình, dòng họ, làng, xóm, ), sức mạnh cộngđồng và thiết chế xã hội ảnh hưởng đến cá nhân Chính lối sống này làm cho cách ứng xử
xã hội nông thôn nặng về luật tục hơn là tính pháp lý theo kiểu “phép vua thua lệ làng”;văn hóa nông thôn là một loại hình văn hóa đặc thù mang đậm nét dân gian, dân tộc [1,tr.58-60] Đặc thù riêng biệt của nông thôn Việt Nam là sự phân công lao động chưa cao,trình độ chuyên môn thấp, chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp Để hiểu nông thôn cầntiếp cận từ những đặc trưng cơ bản về phương thức sản xuất, kinh tế, văn hóa, lối sống 1.1.2. Quan niệm về nông thôn mới
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã tiếp cận vấn đề “NTM” Ở Việt Nam, Chủtịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn đóng vai trò rất tolớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngay saukhi cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấymột đặc điểm có tính chất đặc thù của nước ta: là một nước nông nghiệp - không nhữngthế mà còn là một nước nông nghiệp lạc hậu, tàn dư của chế độ thuộc địa nửa phong kiếnnặng nề Tháng 11 năm 1940, trong thư gửi Hội nghị cán bộ nông dân cứu quốc toànquốc, Người viết: “Nước ta là một nước nông nghiệp Hơn 9 phần 10 dân ta là nông dântrung, bần và cố nông” [13, tr.248]
Người cũng đã chỉ rõ: quá trình, bước đi để xây dựng “nông thôn mới” thiết thực,
có hiệu quả, là phải xây dựng cơ sở vật chất cho người nông dân để họ ổn định và có điềukiện tăng gia sản xuất, trước hết là “nhà ở” Người nói: “chúng ta đang chuẩn bị xây dựngnông thôn mới Việc đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng nhà ở cho đàng hoàng” [15,tr.446]
Thuật ngữ “Nông thôn mới” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng ở đây để phân biệtvới nông thôn cũ trong chế độ hàng nghìn năm phong kiến, thực dân xâm lược, Người
13
Trang 14nhấn mạnh đến mục đích của NTM là làm cho đời sống nhân dân nông thôn được cảithiện, tuy nhiên chưa đạt đến các tiêu chí như NTM hiện nay, nhưng dù vậy cũng đã chothấy phát triển nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng đối với một nước mớigiành độc lập như Việt Nam
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp, nông thôn, Đảng ta đã đưa rađường lối, chính sách để phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kỳ đổimới Thuật ngữ “NTM” đã xuất hiện từ kỳ đại hội lần thứ IV của Đảng, tư tưởng NTMnhư là nông thôn xã hội chủ nghĩa chỉ mới dừng lại ở loại hình lý tưởng và chưa đượcđịnh hình một cách rõ rệt Ở Nghị quyết số 41- NQ/TW (1981) có nêu “NTM là cải tạoquan hệ sản xuất cũ, đem quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mới vào nông thôn kết hợpvới nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân” [2, tr.22] Trong nghị quyết nàyNTM tuy được nhắc đến nhưng còn chung chung, chưa làm rõ được nội hàm khái niệm
Đến Đại hội Đảng lần thứ X, Nghị quyết 26-NQ/TW của Đảng (2006) là một bướcngoặt quan trọng trong nhận thức về NTM và xây dựng NTM Nghị quyết này đã đưa raquan điểm khá toàn diện về mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn “Nghịquyết cũng làm rõ các khía cạnh của NTM gồm kết cấu kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế,quy hoạch xã hội, sự ổn định, văn hóa, dân trí, môi trường sinh thái và hệ thống chínhtrị ” [2, tr.23]
Từ các nghị quyết, đã có thể xác định khái niệm về NTM: NTM trước hết phải lànông thôn, bao hàm các đặc trưng, chức năng cơ bản của nông thôn là vùng nông dânquần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp, nhưng có những thuộc tínhkhác với nông thôn truyền thống, NTM phải được gắn chặt với “quy hoạch mới”, pháttriển kinh tế, tiến bộ xã hội, “cơ sở hạ tầng mới”, “văn hóa mới” và có những bước pháttriển “mới” văn minh hiện đại hơn so với nông thôn truyền thống, song vẫn bảo lưu vàgiữ gìn, phát huy được những giá trị tốt đẹp của xã hội nông thôn truyền thống
Theo đó, NTM là một kiểu tổ chức nông thôn theo các tiêu chí mới, đáp ứng yêucầu của phát triển trên các phương diện sau: Thứ nhất: Kinh tế phát triển, đời sống vậtchất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao; Thứ hai: Nông thôn phát triển theo
Trang 15quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; Thứba: Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; Thứ tư:Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao; Thứ năm: An ninh tốt, dân chủ được pháthuy
1.1.3. Quan niệm về xây dựng nông thôn mới
Thực tiễn phát triển của các nước trên thế giới đã chứng minh sẽ không thể có mộtnước công nghiệp nếu nông nghiệp và khu vực nông thôn còn nghèo nàn, lạc hậu, cư dânnông thôn có đời sống vật chất và đời sống văn hóa tinh thần thấp kém, lạc hậu Nhậnthức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng ta đã khẳng định tính cấp thiết phải “xâydựng NTM” Xây dựng NTM là một thuật ngữ gắn thêm với phát triển nông nghiệp vàđến nay được Đảng và Nhà nước ta xác định là một nhiệm vụ trọng tâm phát triển đấtnước “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (1991)của Đảng chỉ rõ “phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xâydựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xãhội” Đây được xem là một trong những định hướng lớn về chính sách phát triển kinh tế,
xã hội nông thôn trong thời kỳ đổi mới
Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhưNghị quyết số 05-NQ/HNTW Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương Đảng(khoá VII) về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, ngày 10/6/1993,Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X)
“Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Đảng ta xác định:
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh
tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh côngnghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóadân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ởnông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường [3, tr.126]
Về mục tiêu xây dựng NTM, theo Quyết định số 800/QĐ-TTG năm 2010 xác địnhmục tiêu xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 là: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ
15
Trang 16tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuấthợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nôngthôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóadân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vậtchất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủnghĩa [18]
1.2. Những vấn đề liên quan đến xây dựng nông thôn mới
1.2.1. Những kết quả bước đầu trong triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn
mới
Ngay trong những năm đầu triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia về xâydựng nông thôn mới đã trở thành phong trào của cả nước, các nhiệm vụ về xây dựng nôngthôn mới được xác định rõ trong nghị quyết đại hội Đảng các cấp từ tỉnh đến huyện và xã.Ban Bí thư Trung ương khóa X đã trực tiếp chỉ đạo Chương trình thí điểm xây dựng môhình nông thôn mới cấp xã tại 11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng,miền
Bộ máy quản lý và điều hành Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được hìnhthành từ Trung ương xuống địa phương 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,84,7% huyện và 52% số xã trên toàn quốc đã thành lập được Ban Chỉ đạo Các bộ, ngành
đã ban hành 25 loại văn bản hướng dẫn địa phương về tổ chức bộ máy quản lý, điềuhành, quy hoạch nông thôn mới Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triểnkhai cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựngnông thôn mới” Ngày 8-6-2011, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phát động thi đua
“Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”
Dự toán hằng năm trình Quốc hội về bảo đảm chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vựcnông nghiệp, nông thôn có tốc độ tăng cao hơn chi chung của cả nước Riêng năm 2011cao gấp 2,21 lần so với năm 2008 Tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn trong 3năm 2009-2011 chiếm khoảng 52% tổng vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhànước và trái phiếu Chính phủ của cả nước, trong đó đầu tư cho phát triển sản xuất nông,
Trang 17cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được ưu đãi Doanh nghiệp đầu tư vào nôngnghiệp, nông thôn được ưu tiên theo Nghị định 61/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
Riêng năm 2011, Nhà nước đã bố trí 1.600 tỉ đồng từ nguồn ngân sách Trung ươngcho Chương trình để tập trung vào 5 nội dung, gồm quy hoạch, đào tạo, tuyên truyền, pháttriển sản xuất và xây dựng một số hạng mục kết cấu hạ tầng thiết yếu Nhiều địa phương,như Hà Tĩnh, Lào Cai, Hải Dương, Vĩnh Long, Phú Thọ, Nam Định, Thái Bình, SócTrăng còn chủ động bổ sung kinh phí lên tới 5.664,8 tỉ đồng từ nguồn ngân sách địaphương cho các xã để triển khai chương trình ngay trong năm 2011 10/13 tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương tự túc ngân sách giai đoạn 2011-2015
Với sự vào cuộc tích cực, khẩn trương của các bộ, ban, ngành ở Trung ương, chínhquyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương và bản thân người dân nông thôn, tronggần ba năm qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng nông nghiệp,nông thôn đã vững vàng vượt qua khó khăn, duy trì được tăng trưởng, góp phần ổn địnhkinh tế - xã hội đất nước
Xin nêu một vài dẫn chứng và số liệu được thống kê bước đầu như sau: Năm 2010,nông nghiệp nước ta đạt mức tăng GDP là 2,78%, sản lượng lúa tăng thêm 1,17 triệu tấn(đạt 39,9 triệu tấn); sản lượng thịt các loại tăng 725 ngàn tấn, đạt 4,02 triệu tấn; tổng sảnlượng khai thác và nuôi trồng thuỷ sản tăng 990 ngàn tấn, đạt 5,12 triệu tấn; sản lượngmuối tăng 340 ngàn tấn, đạt 1,18 triệu tấn; tỷ lệ che phủ rừng tăng 1,2%, đạt 39,5% diệntích Tổng kim ngạch xuất khẩu các loại nông, lâm, thủy sản đạt 19,53 tỉ USD (tăng 3,46
tỉ USD so với năm 2008)
Giao thông nông thôn được coi là khâu đột phá trong xây dựng hạ tầng nông thôn.Trong 2 năm, 2009 và 2010 đã huy động gần 33 ngàn tỉ đồng, trong đó nhân dân đónggóp khoảng 11,2% và trên 24 triệu ngày công lao động; các nguồn khác chiếm 14,4%;ngân sách nhà nước hỗ trợ 74,4% mở mới và nâng cấp hơn 40 nghìn ki-lô-mét đường; xâydựng khoảng 4.200 cầu bê tông, cầu liên hợp, cầu dầm sắt, cầu treo, cầu gỗ và gần 50nghìn cống Hạ tầng thương mại ở nông thôn mở rộng, tăng nhịp độ và tần suất giaothương Nâng cấp và mở rộng hệ thống điện, nâng tỷ lệ số xã lên 97,8% với 95,4% hộ sử
17
Trang 18dụng điện Hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin về cơ bản đã phát triển đến các xã vùngsâu, vùng xa Khoảng 70% số xã có điểm truy cập in-tơ-nét công cộng và 97% số xã cóđiện thoại công cộng.
Cơ cấu kinh tế nông thôn có bước chuyển biến tích cực Công nghiệp và dịch vụ đãchiếm xấp xỉ 60% cơ cấu kinh tế nông thôn Trên 40 tỉnh hoàn thành việc xây dựng quyhoạch phát triển làng nghề nông thôn Số lượng làng nghề tăng lên, hiện có trên 2.971làng nghề theo tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu đã tập trung xây dựng kịch bản về tácđộng của biến đổi khí hậu tới cấp huyện Thể chế, chính sách, chiến lược ứng phó vớibiến đổi khí hậu và kế hoạch hành động quốc gia, huy động được hơn 1,2 tỉ USD từ camkết tài trợ quốc tế Năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai tiếp tục được tăng cường
Giám sát chặt chẽ các nguồn tài nguyên và môi trường, tăng cường quản lý và sửdụng theo hướng bền vững, có hiệu quả được thể hiện qua hàng loạt văn bản về bảo vệ
môi trường nông thôn với mục tiêu ngăn chặn và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi
trường; quản lý tổng hợp chất thải rắn; xử lý, phòng ngừa ô nhiễm do hóa chất bảo vệthực vật tồn lưu; phát triển dịch vụ môi trường và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường; chính sách ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường được Chính
phủ ban hành đang đi vào cuộc sống
Về nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là vùng khó
khăn được tập trung ưu tiên như xuất khẩu lao động nông thôn; tiếp tục hoàn thiện cơ chế,
chính sách giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho nông dân thuộc diện thu hồi đất nôngnghiệp; Các chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèo được triển khai đồng bộ trên cả 3phương diện: (i) Giúp người nghèo tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là
về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở, nước sinh hoạt; (ii) Hỗ trợ phát triểnsản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm đất sản xuất, tín dụng ưu đãi, khuyến nông
- lâm - ngư, phát triển ngành nghề; (iii) Phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các xã,thôn, bản đặc biệt khó khăn được hưởng ứng mạnh và được cộng đồng quốc tế đánh giácao