Đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế biến động nhanh, lãi suất thị trường giao động với biên độ lớn trong thời gian ngắn thì tiềm ẩn thiệt hại lớn đến nguồn vốn và lợi nhuận của ngân
Trang 1KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
HUỲNH VĂN TÂM
RỦI RO LÃI SUẤT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HẠN CHẾ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI MHB AN GIANG
Chuyên ngành : Tài Chính Doanh Nghiệp
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Long xuyên, tháng 05 – 2009
Trang 2KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
RỦI RO LÃI SUẤT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HẠN CHẾ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI MHB AN GIANG
Chuyên ngành : Tài Chính Doanh Nghiệp
Sinh viên thực hiện : HUỲNH VĂN TÂM Lớp : DH6TC1 Mã số Sv: DTC052321 Người hướng dẫn : [Th.s] NGUYỄN THỊ NGỌC DIỆP
Long xuyên, tháng 05 – 2009
Trang 4Sau 4 năm học tập và nghiên cứu tại Khoa Kinh tế - QTKD trường Đại học An Giang Hôm nay, với những kiến thức đã học được ở trường và những kinh nghiệm thực
tế trong quá trình thực tập tại Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi Nhánh An Giang em đã hoàn thành Khóa luận Tốt nghiệp của mình Nhân quyển luận văn này, em xin gửi lời chân thành cảm ơn đến:
Quý Thầy Cô Trường Đại học An Giang, đặc biệt là các Thầy Cô Khoa Kinh tế - QTKD, đã dầy công truyền đạt kiến thức cho em trong suốt bốn năm học tập tại trường Đặc biệt em xin gửi lời cám ơn đến Thạc sĩ NGUYỄN THỊ NGỌC DIỆP, Cô đã nhiệt tình hướng dẫn và đóng góp ý kiến giúp em hoàn thành luận văn này
Bên cạnh đó, em cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các cô chú, các anh chị trong phòng Kinh doanh và các phòng ban khác của Ngân hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi Nhánh An Giang đã tạo điều kiện cho em thực tập tại Ngân hàng giúp em có điều kiện hoàn thành Luận văn của mình
Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức và thời gian thực tập có hạn nên chắc chắn luận văn không tránh khỏi những sai sót Vì vậy em kính mong được sự đóng góp ý kiến của Quý Ngân hàng cùng Quý Thầy Cô để luận văn này hoàn thiện hơn và có ý nghĩa thực tế hơn
Cuối lời, em kính chúc quý Thầy Cô Khoa KT-QTKD cùng Quý Cô Chú, Anh Chị tại Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi Nhánh An Giang được dồi dào sức khỏe, công tác tốt, luôn vui vẽ trong cuộc sống và thành đạt trong công việc
Trân trọng kính chào!
Long Xuyên, ngày tháng năm 2009 Sinh viên thực hiện
Huỳnh Văn Tâm
Trang 5Ngân hàng là trung gian tài chính, là nơi chuyển giao rủi ro giữa người mua vốn và người bán vốn, nên hoạt động của ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro và chấp nhận rủi ro được xem như một phần trong hoạt động của ngân hàng Trong môi trường tài chính hiện đại thì công tác quản lý rủi ro hiệu quả là một trong những nhân tố quan trọng để đảm bảo trở thành một thể chế tài chính vững mạnh
Trong những năm gần đây hoạt động hoạt động quản lý rủi ro được các ngân hàng đánh giá đúng mức và đẩy mạnh thực hiện nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện mở cửa hội nhập ngành ngân hàng Đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế biến động nhanh, lãi suất thị trường giao động với biên độ lớn trong thời gian ngắn thì tiềm ẩn thiệt hại lớn đến nguồn vốn và lợi nhuận của ngân hàng, do đó các ngân hàng đang quan tâm đến rủi ro lãi suất như là rủi ro chính trong hoạt động của mình chỉ sau rủi ro tín dụng
Đề tài: “Rủi ro lãi suất và một số giải pháp hạn chế rủi ro lãi suất tại Ngân Hàng Phát
Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi Nhánh An Giang” ra đời trong bối cảnh sự canh
tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại và trong điều kiện lãi suất thị trường biến động nhanh chóng trong thời gian qua Mục đích đề tài nhằm đánh giá thực trạng rủi ro lãi suất tại Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi Nhánh An Giang (MHB An Giang) từ đó đề suất một số giải pháp và một số công cụ hiện đại đã được các ngân hàng lớn trên thế giới sử dụng phổ biến trong hoạt động phòng ngừa rủi ro lãi suất như: mô hình thượng (Duration), mô hình RAROC (Risk-Adjusted Return On Capital) hay hợp đồng hoán đổi lãi suất (Swaps lãi suất)… Để hỗ trợ ngân hàng quản lý rủi ro lãi suất
có hiệu quả hơn trong thời gian tới
Tuy nhiên trong điều kiện hiện tại của các ngân hàng Việt Nam nói chung và các ngân hàng trên địa bàn An Giang nói riêng thì việc áp dụng các giải pháp nêu trên còn nhiều hạn chế do những hạn chế về công nghệ, nguồn nhân lực và mô trường kinh tế vĩ mô Nên hiện tại đề tài là nguồn thông tin cơ bản cho hoạt động quản lý rủi ro lãi suất tại MHB An Giang,
là cơ sở để ngân hàng đề xuất với hội sở MHB thực hiện trong thời gian tới để gớp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân hàng
Trang 6Chương 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Bố cục nghiên cứu 2
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 3
2.1 Lãi suất 3
2.1.1. Khái niệm lãi suất 3
2.1.2. Lãi suất và tỷ suất lợi tức 3
2.1.3. Các loại lãi suất 4
2.1.4. Các loại lãi suất tham chiếu ở Việt Nam 5
2.1.4.1. Lãi suất SIBOR 5
2.1.4.2. Lãi suất LIBOR 6
2.1.4.3. Lãi suất EURIBOR 6
2.1.4.4. Lãi suất VNIBOR 6
2.1.5. Chính sách lãi suất 7
2.1.6. Các nhân tố tác động đến lãi suất 8
2.1.6.1. Cung cầu vốn trên thị trường 8
2.1.6.2. Lạm phát 8
2.1.6.3. Các chính sách của nhà nước 8
2.1.6.4. Rủi ro và kỳ hạn tín dụng 9
2.1.6.5. Các yếu tố kinh tế - xã hội khác 9
2.1.7. Vai trò lãi suất trong nền kinh tế thị trường 9
2.1.7.1. Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô 9
2.1.7.2. Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các NHTM 9
2.1.7.3. Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích tiết kiệm và đầu tư 9
2.2 Rủi ro lãi suất 10
2.2.1. Khái niệm 10
2.2.2. Nguồn gốc của rủi ro lãi suất 10
2.2.2.1. Rủi ro định giá lại 10
2.2.2.2. Rủi ro đường lợi tức 10
2.2.2.3. Rủi ro cơ sở 11
Trang 72.2.2.4. Tính tùy chọn 11
2.2.3.Nguyên nhân rủi ro lãi suất 12
2.2.3.1. Nguyên nhân khách quan 12
2.2.3.2. Nguyên nhân chủ quan 13
2.2.4. Những thiệt hại do rủi ro lãi suất gây ra đối với ngân hàng 13
2.2.5. Một số công cụ giúp lượng hóa rủi ro lãi suất 14
2.2.5.1.Mô hình kỳ hạn đến hạn 14
2.2.5.2.Mô hình định giá lại 14
2.2.5.3.Mô hình thời lượng 15
2.2.5.4.Lựa chọn mô hình lượng hóa rủi ro lãi suất 17
2.2.6. Một số công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất 17
2.2.6.1. Các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất 17
2.2.6.2. Lựa chọn công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất 21
Chương 3: SỰ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO LÃI SUẤT ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG 22
3.1 Giới thiệu về Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long - chi nhánh An Giang (MHB An Giang) 22
3.1.1. Sơ lược về Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long (MHB) 22
3.1.2. Sơ lược về Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long - chi nhánh An Giang (MHB An Giang) 23
3.1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển 23
3.1.2.2. Tổ chức nhân sự 23
3.1.2.3. Chức năng và nhiệm vụ các phòng ban 23
3.1.2.4. Biên chế nhân sự 26
3.1.2.5. Sản phẩm dịch vụ chính tại ngân hàng 26
3.1.2.6. Chiến lược phát triển 27
3.2 Đánh giá chung về hoạt động kinh doanh trong giai đoạn (2006- 2008) 27
3.2.1. Nguồn vốn 27
3.2.2. Sử dụng vốn 29
3.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh 32
3.3 Diễn biến lãi suất thị trường trong năm 2008- 2009 33
3.3.1. Trên thế giới 33
3.3.2. Ở Việt Nam 35
Trang 83.4 Chính sách lãi suất của MHB An Giang trong năm 2008 36
3.4.1. Lãi suất huy động 36
3.4.2. Lãi suất cho vay 36
3.5 Thực trạng quản lý rủi ro lãi suất một số NHTM Việt Nam 37
3.5.1.Đánh giá chung 37
3.5.2. Cách thức phòng chống rủi ro lãi suất của một số Ngân Hàng 37
3.5.2.1. Ngân hàng TMCP Ngoại Thương 37
3.5.2.2. Ngân hàng TMCP Á Châu 38
3.5.2.3. Ngân hàng Công Thương Việt Nam 38
3.6 Thực trạng quản lý rủi ro lãi suất tại MHB chi nhánh An Giang 38
3.7 Đánh giá rủi ro lãi suất tại MHB chi nhánh An Giang 39
3.7.1. Định lượng 39
3.7.1.1.Ý nghĩa mô hình thời lượng 39
3.7.1.2.Mô hình thời lượng được xây dụng dựa trên các giả định 40
3.7.1.3. Xác định các yếu tố đầu vào 40
3.7.1.4 Thời lượng hai vế bảng cân đối kế toán 41
3.7.1.5. Những hạn chế của mô hình thời lượng 44
3.8 Nguyên nhân rủi ro lãi suất tại ngân hàng MHB An Giang 44
3.9 Ứng dụng một số công cụ hiện đại trong quản lý rủi ro lãi suất 44
3.9.1. Mô hình RAROC trong đánh giá hiệu quả và rủi ro lãi suất đối với các khoản vay… 44
3.9.1.1. Tổng quan về mô hình RAROC 44
3.9.1.2.Ý nghĩa của mô hình 46
3.9.1.3.Các giả định 46
3.9.1.4.Xác định các biến 46
3.9.1.5.Phương pháp thực hiện 47
3.9.1.6.Hạn chế của mô hình 49
3.9.2. Ứng dụng Nghiệp vụ hoán đổi lãi suất (Swap) trong phòng chống rủi ro lãi suất tại MHB An Giang 50
3.9.2.1. Các nguyên lý cơ bản cho nghiệp vụ swap 50
3.9.2.2 Ứng dụng Nghiệp vụ hoán đổi lãi suất (Swap) trong phòng chống rủi ro lãi suất tại MHB An Giang 52
Chương 4: GIẢI PHÁP 54
Trang 94.1 Nhóm giải pháp về xây dựng chính sách quản lý rủi ro lãi suất 54
4.2 Nhóm giải pháp về xây dựng quy trình quản lý rủi ro lãi suất 54
4.3 Nhóm giải pháp về hoạch định nguồn lực để phục vụ công tác quản trị rủi ro lãi suất… .54
4.4 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện quản lý rủi ro lãi suất 55
4.5 Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả giám sát của ban giám đốc đối với công tác quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng 55
4.6 Nhóm giải pháp về ứng dụng các công cụ quản lý rủi ro lãi suất 56
4.7 Nguyên tắc về quản lý và giám sát rủi ro lãi suất đối với các NHTM của ủy Ban Basel Về Giám Sát Ngân Hàng 56
Chương 5: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 60
5.1 Kiến nghị 60
5.2.1.Đối với NHNN 60
5.2.2.Đối với MHB 60
5.2.3.Đối với MHB - chi nhánh An Giang 60
5.2.Những hạn chế của đề tài 61
5.3.Đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo 62
5.4 Kết luận 60
PHỤ LỤC 1 66
PHỤ LỤC 2 66
PHỤ LỤC 3 68
PHỤ LỤC 4 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.2a: Dư nợ theo thành phần kinh tế qua ba năm (2006 - 2008) 31 Biểu đồ 3.3a: Tỷ lệ lạm phát một số khu vực trên thế giới trong giai đoạn (2006 - 2008) 34 Biểu đồ 3.3b: Sự biến động lãi suất trên thế giới giai đoạn (2008 - 2009) 35 Biểu đồ 3.2c: Sự biến động lãi suất liên ngân hàng ở Việt Nam giai đoạn (2008 - 2009) 37
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1a: Lãi suất SIBOR cho vay ngắn hạn bằng đồng USD tại thời điểm 26/03/2009 5
Bảng 2.1b: Lãi suất LIBOR cho vay ngắn hạn bằng đồng USD tại thời điểm 26/03/2009 6
Bảng 2.1c: Lãi suất EURIBOR cho vay ngắn hạn bằng đồng EURO thời điểm 26/03/2009 6 Bảng 3.2a: Tình hình nguồn vốn tại Ngân hàng qua 3 năm 2006-2008 28
Bảng 3.2b: Cơ cấu nguồn vốn tại Ngân hàng qua 3 năm 2006-2008 28
Bảng 3.2c: Tình hình sử dụng vốn tại Ngân hàng qua 3 năm 2006-2008 29
Bảng 3.2d: Tình hình dư nợ tại Ngân hàng qua 3 năm 2006-2008 30
Bảng 3.2e: Tình hình nợ quá hạn tại Ngân hàng qua 3 năm 2006-2008 32
Bảng 3.2f: Kết quả hoạt động kinh doanh của MHB An Giang 2006-2008 32
Bảng 3.3a: Lãi suất huy động vốn của MHB An Giang tại thời điểm tháng 12/2008 36
Bảng 3.7a: Thời lượng của từng khoản mục tài sản nợ 41
Bảng 3.7b: Thời lượng của từng khoản mục tài sản có 41
Bảng 3.7c: Giá trị thiệt hại tiềm năng đối với ngân hàng khi lãi suất biến động 42
Bảng 3.7d: Giá trị thiệt hại tiềm năng đối với MHB An Giang khi lãi suất giảm 1% 42
Bảng 3.9a: Dòng giá trị hiện tại dòng tiền ròng của dự án (suất chiết khấu 12%) 47
Bảng 3.9b: Giá trị của khoản cho vay hay vốn chịu rủi ro 48
Bảng 3.9c : Thu nhập ròng của 1 khoản cho vay trong 1 năm 48
Bảng 3.9d: Tỷ suất sinh lợi có điều chỉnh theo rủi ro (RAROC) 49
Bảng 3.9e: Dòng tiền từ hợp đồng Swaps lãi suất của MHB An Giang 53
Trang 125 ĐBSCL: Đồng bằng sông cửu long
6 EURIBOR: Euro Interbank Offered Rate - Lãi suất liên ngân hàng Châu Âu
7 GDP: Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
8 LSVC: Lãi Suất Cho Vay
9 LSTT: Lãi Suất Thị Trường
10 LIBOR: London Interbank Offered Rate - Lãi suất liên ngân hàng London
11 MHB: Mekong Housing Bank - Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu
Long
12 MHB An Giang: Housing Bank of Mekong Delta An Giang Branch - Ngân Hàng
Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi Nhánh An Giang
13 NHTM: Ngân Hàng Thương Mại
14 NHTMNN: Ngân Hàng Thương Mại Nhà Nước
15 NHNN: Ngân Hàng Nhà Nước
16 NHTW: Ngân Hàng Trung Ương
17 QĐ: Quy Định
18 RAROC: Risk-Adjusted Return On Capital – suất sinh lợi có điều chỉnh theo rủi ro
19 SIBOR: Singapore Interbank Offered Rate - Lãi suất liên ngân hàng Singapore
20 SMEs: Small medium enterprise - Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 14Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 1986 đánh dấu một thời kỳ quan trọng trong tiến trình phát triển của Việt
Nam Bằng một công cuộc đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa
đến xã hội, mở đầu một thời kỳ giải phóng mọi lực lượng sản xuất, thời kỳ kết thúc nền
kinh tế bao cấp, khép kín và cơ chế xin cho, từng bước hình thành nền kinh tế thị trường
với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại
Trong tiến trình phát triển chung của nền kinh tế, ngành tài chính ngân hàng đã có
những bước phát triển vượt bậc Từ con số khiêm tốn ban đầu chỉ có 2 tổ chức tín dụng:
Hợp Tác Xã Tín Dụng (1956) và Ngân Hàng Kiết Thiết Việt Nam (1957), đến nay đã có
hơn 6 NHTM quốc doanh, 37 NHTM cổ phần, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 5
ngân hàng liên doanh và 42 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.1
Đặc biệt trong Giai đoạn 2004 - 2006 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của ngành
tài chính ngân hàng Việt Nam với tốc độ tăng trưởng tổng tài sản bình quân của 4
NHTMNN cả giai đoạn này là 22,1%/năm, khối TMCP là 57,5%/năm; tốc độ tăng
trưởng dư nợ khối NHTMNN là 18,6%, khối ngân hàng thương mại cổ phần 50,3% và
mức tăng lợi nhuận bình quân trên 70% cho toàn hệ thống ngân hàng2
Tuy nhiên từ năm 2008 ngành tài chính ngân hàng Việt Nam đã phải đối diện với
hai thách thức lớn:
Thứ nhất: Từng bước mở cửa hội nhập ngành tài chính ngân hàng, các NHTM Việt
Nam phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng nước ngoài mạnh về vốn, kinh
nghiệm quản lý, công nghệ và quy mô toàn cầu
Thứ hai: Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới đang có những ảnh hưởng trực
tiếp vào Việt Nam gây nên sự thiếu ổn định trong nền kinh tế Chỉ riêng trong năm
2008, NHNN đã 8 lần điều chỉnh lãi lãi suất cơ bản (3 lần điều chỉnh tăng và 5 lần điều
chỉnh giảm), thay đổi biên độ giao động tỷ giá đồng USD lên mức 5% cao nhất từ truớc
đến nay (Nguồn NHNN Việt Nam) Sự biến động nhanh với biên độ dao động lớn của
lãi suất trong thời gian qua dẫn đến hoạt động các NHTM phải gánh chịu rủi ro lãi suất
lớn, điều này tác động trực tiếp đến thu nhập và giá trị kinh tế của ngân hàng3 Rủi ro lãi
suất là không thể loại trừ và chấp nhận rủi ro này được xem như là một phần trong quá
trình hoạt động của ngân hàng (Ủy Ban Basel Về Giám Sát Ngân Hàng, 2004), rủi ro lãi
suất có thể mang lại thu nhập cho ngân hàng nếu được quản lý tốt, ngược lại sẽ làm
giảm thu nhập và vốn của ngân hàng nếu duy trì một mức quá cao
Trong xu hướng chung của ngành tài chính ngân hàng Việt Nam thì các NHTM
trên địa bàn tỉnh An Giang đang sử dụng lãi suất như công cụ cạnh tranh chính trong
cuộc chiến giành giật thị trường đã đẩy lãi suất thị trường tăng chóng mặt trong năm
3 Giá trị kinh tế của ngân hàng: là giá trị hiện tại các luồng tiền thuần của ngân hàng bao gồm các luồng
tiền dự kiến đối với tài sản có trừ đi các luồng tiền dự kiến đối với tài sản nợ cộng với luồng tiền dự kiến
đối với các trạng thái ngoại bảng của ngân hàng (ủy Ban Basel Về Giám Sát Ngân Hàng., Các Nguyên
Tắc Về Quản Lý Và Giám Sát Rủi Ro Lãi Suất ,2004, tr 9)
Trang 152008 Các NHTM nhỏ để đảm bảo tính thanh khoản tiến hành tăng lãi suất huy động, các ngân hàng lớn nhằm giữ chân khách hàng cũng tiến hành tăng lãi suất dẫn đến lãi suất thị trường tăng cao trong thời gian ngắn, hệ quả là các ngân hàng phải đương đầu với rủi ro lãi suất rất lớn Do đó công tác quản lý rủi ro lãi suất có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng trong giai đoạn này nhằm hạn chế thiệt hại khi lãi suất biến động, để đạt hai mục tiêu chính là “suất sinh lợi cao” và “rủi ro thấp” nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động của ngân hàng
Với lý do đó cùng với điều kiện tiếp xúc thực tế tại Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi Nhánh An Giang (MHB An Giang) sinh viên mạnh dạn
chọn nghiên cứu đề tài “Rủi ro lãi suất và một số giải pháp hạn chế rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long Chi Nhánh An Giang ” Mong rằng bằng sự nỗ lực của người nghiên
cứu thì đề tài này sẽ là nguồn thông tin tham khảo, góp phần hỗ trợ ngân hàng phát triển trong thời gian tới
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Để phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý rủi ro lãi suất và sự tác động của rủi ro lãi suất đến hoạt động kinh doanh của MHB An Giang Căn cứ vào điều kiện thực tế tại ngân hàng, trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, Tác giả xác định các mục tiêu nghiên cứu chính sau:
1 Đánh giá thực trạng công tác quản lý rủi ro lãi suất tại ngân hàng MHB An Giang
2 Lượng hóa rủi ro lãi suất
3 Gợi ý một số giải pháp cần thiết nhằm hỗ trợ ngân hàng kiểm soát có hiệu quả rủi
ro lãi suất
1.3 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Tác giả sẽ sử dụng các phương pháp phân tích dữ liệu, tổng hợp thống kê so sánh
và phân tích độ nhạy, các phương pháp này được sử dụng một cách riêng lẽ hay kết hợp
để có thể làm rõ các mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ ngân hàng MHB An Giang trong giai đoạn 2006- 2008 Riêng nội dung của phần lượng hóa rủi ro lãi suất được thực hiện dựa trên thông tin từ bảng cân đối kế toán của ngân hàng MHB An Giang đến quí I năm 2009
1.4 Bố cục nghiên cứu
Luận văn được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu chung
Chương 2: Cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 3: Sự tác động của rủi ro lãi suất đến hoạt động kinh doanh của MHB An Giang
Chương 4: Giải pháp
Chương 5: Kiến nghị và kết luận
Trang 16Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Lãi suất
2.1.1 Khái niệm lãi suất
Theo Dương Đăng Chinh (2005): “Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoản thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người vay”
Lãi suất được biểu hiện bằng quan hệ tỷ lệ giữa lợi tức tín dụng và tổng số tiền vay trong một thời gian nhất định
Lợi tức tín dụng là thu nhập mà người cho vay nhận được ở người đi vay trả cho việc sử dụng tiền vay
Theo Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng (2006): “Lãi suất là giá cả mà người đi vay phải trả cho việc sử dụng vốn của người cho vay” hay nói cách khác “lãi suất là số tiền phải trả để thuê mượn vốn trong một khoản thời gian nhất định”
2.1.2 Lãi suất và tỷ suất lợi tức
Các công cụ nợ bao gồm các khoản nợ đơn, trái phiếu chiết khấu, trái phiếu coupon
và các khoản nợ thanh toán cố định Thông thường các công cụ nợ do các ngân hàng, chính phủ hay các công ty phát hành, sự khác nhau căn bản giữa các công cụ nợ này chủ yếu về kỳ hạn thanh toán
Nợ đơn: Với khoản nợ đơn, tiền gốc và tiền lãi sẽ được người đi vay nợ đồng ý trả cho người cho vay khi đáo hạn
Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu mà người đi vay trả cho người cho vay một khoản thanh toán đơn bằng đúng mệnh giá của trái phiếu
Trái phiếu coupon: Tiền lãi sẽ được thanh toán định kỳ nhiều lần theo tháng, quý, nửa năm hay một năm Đặc điểm của trái phiếu coupon là phải ghi rõ ngày đáo hạn, mệnh giá, người phát hành, lãi suất coupon
Nợ vay thanh toán cố định thì người đi vai phải thanh toán cho người cho vay theo định kỳ: tháng quý hoặc năm, số tiền thanh toán bao gồm lãi và gốc
Lãi suất đáo hạn
Theo Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng (2006): “Lãi suất đáo hạn là loại lãi suất làm cân bằng hiện giá của khoản thanh toán nhận được từ một công cụ nợ với giá trị tương lai của nó”
Ta có cách tính lãi suất đáo hạn như sau:
Đối với công cụ nợ đơn thì lãi suất đáo hạn là:
I= giá trị thanh toán tương lai/ giá trị hiện tại
Đối với trái phiếu chiết khấu thì lãi suất đáo hạn là:
D
D F
Trong đó: F là mệnh giá của trái phiếu chiết khấu; D là giá cả của trái phiếu chiết khấu
Trang 17Nếu là trái phiếu coupon thì (i) được tính như sau:
n
F i
C i
C i
C p
)1()1(
)1(
=Trong đó:
P: giá cả trái phiếu coupon
C: số tiền thanh toán coupon hàng năm
F: mệnh giá của trái phiếu
N: số năm đến kỳ đáo hạn
Mối quan hệ giữa lãi suất và trái phiếu
Giữa lãi suất hiện hành, lãi suất đáo hạn và lãi suất coupon của trái phiếu có mối quan hệ sau:
+ Nếu như giá hiện hành của trái phiếu p bằng với giá danh nghĩa thì lãi suất đáo hạn i bằng lãi suất hiện hành (C/P) và bằng với lãi suất coupon (C/F)
+ Nếu như giá hiện hành nhỏ hơn giá danh nghĩa (P<F) thì lãi suất thanh toán khi đáo hạn i lớn hơn lãi suất hiện hành (C/P) và lớn hơn lãi suất coupon (C/F)
+ Nếu như giá hiện hành lớn hơn giá danh nghĩa (P<F) thì lãi suất thanh toán khi đáo hạn i nhỏ hơn lãi suất hiện hành (C/P) và lớn hơn lãi suất coupon (C/F)
2.1.3 Các loại lãi suất
Trên thị trường tồn tại rất nhiều loại lãi suất, tùy theo nguồn gốc và mục đích sử dụng thì có những loại lãi suất khác nhau Sau đây là một số loại lãi suất sử dụng phổ biến hiện nay
Phân loại theo nghiệp vụ ngân hàng
Lãi suất huy động: là loại lãi suất phát sinh trong các hình thức huy động vốn của NHTM và các định chế tài chính trung gian khác
Lãi suất cho vay: là loại lãi suất phát sinh trong các hình thức cho vay của NHTM
và các định chế tài chính trung gian khác
Phân loại theo phương thức tính lãi
Lãi suất cố định: là loại lãi suất được xác định bằng một tỷ lệ cố định trong suốt thời gian hợp đồng vay
Lãi suất thả nổi: là loại lãi suất thay đổi theo lãi suất thị trường
Phân loại theo nội dung kinh tế
Lãi suất danh nghĩa: là loại lãi suất được xác định cho một kỳ hạn gởi hoặc cho vay thể hiện trên hợp đồng tín dụng (không tính đến biến động giá trị tiền tệ)
Lãi suất thực: là loại lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của tiền tệ, như tỷ lệ lạm phát hoặc lên giá của tiền tệ
Phân loại theo tính sinh lợi của đồng vốn
Trang 18Lãi suất đơn: là lãi suất được xác định dựa trên vốn gốc ban đầu mà không tính thêm tiền lãi tích lũy kỳ trước, tức là không ghép lãi vào vốn Lãi suất đơn thường là lãi suất danh nghĩa, lãi suất ghi trên hợp đồng tín dụng
Lãi suất kép: là lãi suất được hình thành bởi sự ghép lãi đơn trong kỳ vào vốn để tính lãi trong kỳ tiếp theo và có thể tiếp tục mãi
Ngoài các thuật ngữ về lãi suất trên, còn có các thuật ngữ khác về lãi suất cần được chú ý sau:
Lãi suất cơ bản: là lãi suất do ngân hàng trung ương công bố làm cơ sở cho NHTM
và các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh
Lãi suất sàn và lãi suất trần: lãi suất thấp nhất và cao nhất trong một khung lãi suất nào đó mà NHTW ấn định cho các NHTM hoặc do các NHTM quy định trong hệ thống của nó, nhằm thống nhất các hoạt động tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Lãi suất tái cấp vốn: là lãi suất do NHTW áp dụng khi tái cấp vốn cho NHTM và các TCTD
Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn của NHTW đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu các giấy tờ có giá
Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng: là lãi suất vay vốn giữa các NHTM và các TCTD (Lê Văn Tư, 2005)
Các loại lãi suất làm lãi suất tham chiếu cho các khoản cho vay bằng ngoại tệ trên thế giới như sau:
2.1.4 Các loại lãi suất tham chiếu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các ngân hàng thường căn cứ trên các lãi suất tham chiếu như SIBOR, LIBOR, EURIBOR hay VNIBOR cộng với mức lãi suất biên đối với các hoạt động cho vay VND và ngoại tệ trong các hợp đồng tín dụng ngắn hạn, các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi hay quyền chọn…
2.1.4.1 Lãi suất SIBOR
SIBOR là từ viết tắt của Singapore Interbank Offered Rate, là lãi suất liên ngân hàng Singapore SIBOR là mức lãi suất mà các ngân hàng ở châu Á có thể vay mượn lẫn nhau, ở châu Á SIBOR được sử dụng phổ biến hơn LIBOR SIBOR được thiết lập hàng ngày bởi hiệp hội ngân hàng Singapore (ABS) và được sử dụng là mức lãi suất tham chiếu cho các khoản vay ngắn hạn, các hợp đồng swap lãi suất tham gia vào nền kinh tế châu Á
Bảng 2.1a: Lãi suất SIBOR cho vay ngắn hạn bằng đồng USD tại thời điểm
Trang 192.1.4.2 Lãi suất LIBOR
LIBOR là từ viết tắt của London Interbank Offered Rate, là loại lãi suất mà các ngân hàng có thể vay mượn lẫn nhau trên thị trường liên ngân Anh Quốc LIBOR được
cố định hằng ngày bởi hiệp hội các ngân hàng Anh Quốc căn cứ trên mức lãi suất trung bình đối với các khoản tín dụng với thời gian đáo hạn từ 1 ngày đến 1 năm của hầu hết các thị trường liên ngân hàng trên thế giới
LIBOR được sử dụng như là một loại lãi suất tham chiếu cho các khoản cho vay ngắn hạn Một số nước dùng LIBOR như là một mức giá tham chiếu bao gồm Hoa Kỳ, Canada, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh
Bảng 2.1b: Lãi suất LIBOR cho vay ngắn hạn bằng đồng USD tại thời điểm
2.1.4.3 Lãi suất EURIBOR
EURIBOR, viết tắt của Euro Interbank Offered Rate, là lãi suất liên ngân hàng châu
Âu EURIBOR được công bố đầu tiên vào ngày 30/12/1998 và chính thức có giá trị vào ngày 4/01/1999 (ngày mà đồng tiền chung châu Âu Euro được chính thức được giới thiệu) EURIBOR được xác định dựa trên các mức lãi suất cho vay ngắn hạn dành cho đồng EURO của 57 ngân hàng lớn nhất châu Âu, EURIBOR được ngân hàng trung ương châu Âu công bố vào khoản 11 giờ sáng mỗi ngày (theo múi giờ châu Âu)
EURIBOR có 15 tỷ lệ lãi suất khác nhau tùy thuộc vào kỳ hạn của hợp đồng, các kỳ hạn thể là 1 tuần, 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng hay 12 tháng Hiện tại EURIBOR là loại lãi suất tham chiếu cho các hoạt động cho vay ngắn hạn, các hợp đồng Swap lãi suất, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai bằng đồng EURO, USD trên thế giới
Bảng 2.1c: Lãi suất EURIBOR cho vay ngắn hạn bằng đồng EURO thời điểm
2.1.4.4 Lãi suất VNIBOR
VNIBOR là là chữ viết tắt của Việt Nam Interbank Offered Rate, là lãi suất liên ngân hàng Việt Nam VNIBOR được ấn định vào buổi sáng các ngày với mức lãi suất căn cứ vào trên quan hệ cung - cầu tiền của các tổ chức tín dụng và chịu sự chi phối bởi lãi suất tái cấp vốn của ngân hàng Nhà nước
Trang 20Hiện tại VNIBOR là mức lãi suất tham chiếu cho các khoản vay ngắn hạn đối với ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp lớn vay để đảm bảo tính thanh khoản hay nguồn vốn sản suất kinh doanh
Bảng 2.1d: Lãi suất VNIBOR cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam tại thời điểm
có các chính sách điều tiết lãi suất hợp lý Trong thời gian gần đây, công tác điều hành lãi suất đã được điều chỉnh theo hướng thận trọng và linh hoạt theo những diễn biến trên thị trường Khái quát công tác diều hành lãi suất của Việt Nam qua các giai đoạn chính như sau:
Trước tháng 7/2000, NHNN áp dụng cơ chế trần lãi suất cho các khoản vay bằng đồng Việt Nam và USD, và cơ chế lãi suất tối đa cho các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ Đến 2/8/2000 NHNN áp dụng cơ chế lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng đồng Việt Nam và cơ chế lãi suất thả nổi có quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ thay thế cơ chế trần lãi suất được áp dụng trước đây
Đến tháng 6/2001, lãi suất ngoại tệ được tự do chuyển đổi, NHNN chỉ quy định lãi suất tiền gửi bằng đồng USD của các tổ chức kinh tế Đối với lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam, cơ chế lãi suất thỏa thuận được thực hiện, căn cứ vào tình hình thực tế tại ngân hàng mà các NHTM áp dụng các mức lãi suất linh hoạt nhưng không được quá 1,5 lần lãi suất cơ bản do NHNN công bố theo từng thời kỳ (Nguyễn Thị Phương Liên
và ctv, 2003)
4 Chính sách can thiệp trực tiếp: là việc ngân hàng trung ương quy định lãi suất trần, lãi sất sàn, lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu … để áp dụng chi từng loại khách hàng, từng nghiệp vụ tín dụng trên thị trường
- Chính sách tự do hóa lãi suất: là chính sách mà trong đó ngân hàng trung ương không đua ra những khống chế giới hạn những biến động của thị trường mức lãi suất thị trường do quan hệ cung cầu quyết
định (Vũ Văn Hóa và Đinh Xuân Hạng (2005) Giáo Trình Lý Thuyết Tiền Tệ, Hà Nội: NXB Tài Chính,
tr 150)
Trang 212.1.6 Các nhân tố tác động đến lãi suất
2.1.6.1 Cung cầu vốn trên thị trường
Đây là nhân tố tác động trực tiếp việc hình thành lãi suất trên thị trường Lãi suất được xác định tại điểm cung cầu vốn gặp nhau Do vậy khi lượng vốn cung ứng trên thị trường lớn hơn lượng cầu vốn thì lãi suất sẽ giảm và ngược lại
họ sẽ đầu tư vào những loại hàng hóa có giá trị ổn định hay đầu tư ra nước ngoài vì sợ vốn của họ bị mất giá Điều đó dẫn đến nguồn cung vốn trên thị trường giảm làm lãi suất tăng lên
2.1.6.3 Các chính sách của nhà nước
Chính sách tài chính
Chính sách tài chính bao gồm chi tiêu và thuế, đây là chính sách có tác động trực tiếp đến lãi suất trên thị trường Cụ thể, khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng (tăng chi tiêu và giảm thuế) sẽ tác động đến thị trường hàng hóa và tiền tệ Khi chi tiêu chính phủ tăng và thuế giảm sẽ làm tăng tổng cầu hàng hóa, chính mức tăng cao hơn của tổng sản phẩm kéo theo nhu cầu vốn trên thị trường tăng lên làm lãi suất tăng
Chính sách tiền tệ
Căn cứ vào điều kiện hiện tại của nền kinh tế và các mục tiêu của chính phủ mà NHNN sử dụng các công cụ như: lãi suất chiết khấu, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở…nhằm gián tiếp tác động đến lãi suất trên thị trường để điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Chính sách thu nhập
Chính sách thu nhập là chính sách liên quan đến giá cả và tiền lương Khi giá cả giảm mà cung tiền tệ không thay đổi, khi đó 1 đơn vị tiền tệ sẽ mua được nhiều hàng hóa hơn dẫn đến nhu cầu tiền cho chi tiêu giảm Cầu giảm, cung không đổi sẽ kéo theo lãi suất giảm Ngược lại theo mức giá tăng lên sẽ làm giảm cung tiền tệ theo giá trị thực
tế dẫn đến làm tăng lãi suất Hay khi lương tăng kéo theo chi phí trên mỗi sản phẩm tăng theo làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường từ đó doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, nhu cầu đầu tư giảm dẫn đến cầu tiền tệ giảm, từ đó lãi suất giảm
5 Lạm phát: Theo K Marx lạm phát là sự tràn ngập trong lưu thông tiền tệ một lượng tiền giấy quá thừa
Trang 22Chính sách quản lý ngoại hối
Chính sách quản lý ngoại hối6 bao gồm các biện pháp liên quan đến quản lý dự trữ ngoại hối, tổ chức điều hành thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị trường ngoại hối, kiểm soát hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng và mua bán ngoại hối trên thị trường sẽ tác động trực tiếp đến lãi suất trên thị trường
2.1.6.4 Rủi ro và kỳ hạn tín dụng
Mức độ rủi ro của các khoản cho vay càng cao thì lãi suất cho vay càng lớn do phần
bù rủi ro làm lãi suất tăng lên
Kỳ hạn cho vay càng dài thì lãi suất càng cao do thời hạn cho vay càng dài thường làm cho các khoản vay đó gặp nhiều rủi ro hơn (rủi ro thanh khoản, lạm phát…)
2.1.6.5 Các yếu tố kinh tế - xã hội khác
Mức độ phát triển của các thể chế tài chính trung gian và mức độ cạnh tranh giữa các thể chế này sẽ tác động trực tiếp đến lãi suất, hình thành xu hướng giảm lãi suất trong tương lai Hơn nữa tình hình chính trị không ổn định, khủng hoảng kinh tế thế giới, thiên tai và những thảm họa lớn cũng tác động không nhỏ đến lãi suất (Nguyễn Thị Phương Liên, 2003 và Dương Đăng Chinh, 2005)
2.1.7 Vai trò lãi suất trong nền kinh tế thị trường
Lãi suất là một trong những nhân tố có sự tác động sâu rộng vào nền kinh tế, sự biến động của lãi suất tác động trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp và đến tất
cả các lĩnh vực của nền kinh tế Vai trò của lãi suất thể hiện ở những nội dung chính sau:
2.1.7.1 Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô
Sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động trực tiếp đến các vấn đề về tăng trưởng kinh tế, giải quyết công ăn việc làm và cả mức độ lạm phát ở một quốc gia Bên cạnh đó sự biến động của lãi suất sẽ tác động trực tiếp đến luồng chu chuyển ngoại tệ, dẫn đến sự thay đổi tỷ giá và quan hệ xuất nhập khẩu Do đó chính phủ (thông qua NHNN) sử dụng lãi suất như là một công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện các mục tiêu của chính phủ trong từng giai đoạn cụ thể
2.1.7.2 Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các NHTM
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, quá trình cạnh tranh giữa các ngân hàng diễn ra một cách gay gắt Các ngân hàng cạnh tranh bằng việc cung cấp các dịch vụ tiện ích với chi phí thấp, bằng các phương thức khuyến thị hấp dẫn, đặc biệt là cạnh tranh nhau bằng lãi suất: nâng lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho vay để thu hút khách hàng là một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh, chính sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng sẽ tạo ra lợi ích chung cho toàn bộ nền kinh tế
2.1.7.3 Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích tiết kiệm và đầu tư
Lãi suất có vai trò đáng kể trong khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, khi lãi suất tăng thì người dân có khuynh hướng giảm chi tiêu và tăng tiết kiệm để đầu tư sinh lợi Tiết kiệm tăng, khuyến khích đầu tư tức là tăng “khả năng tài chính” trong toàn bộ nền kinh
6 Ngoại hối: theo Dương Thị Bình Minh và Sử Đình Thành, (2005): “Ngoại hối là toàn bộ các loại tiền nước ngoài, các phương tiện chi trả có giá trị bằng tiền nước ngoài, các chứng từ, chứng khoán có giá trị,
có khả năng mang lại ngoại tệ.”
Trang 23tế Tuy nhiên việc tăng hay giảm lãi suất ở một mức nào đó thì cần cẩn trọng để đảm bảo sự phát triển hài hòa của toàn bộ nền kinh tế (Nguyễn Thị Phương Liên và ctv, 2003)
2.2 Rủi ro lãi suất
2.2.2 Nguồn gốc của rủi ro lãi suất
Theo ủy Ban Basel7 Về Giám Sát Ngân Hàng (2004), rủi ro lãi suất suất phát từ các nguồn sau đây:
2.2.2.1 Rủi ro định giá lại
Ngân hàng là trung gian tài chính, chuyên thực hiện các nghiệp vụ huy động và cho vay nên rủi ro định giá lại là hình thức cơ bản và được nghiên cứu nhiều nhất của rủi ro lãi suất Đây là rủi ro phát sinh từ những chênh lệch về kỳ hạn (đối với lãi suất cố định)
và định giá lại (đối với lãi suất thả nổi) đối với các tài sản có, tài sản nợ và các trạng thái ngoại bảng của ngân hàng
Ví dụ ngân hàng A tài trợ công ty bất động sản X một khoản tín dụng trị giá 10 tỷ đồng, kỳ hạn là 5 năm với mức lãi suất cố định là 15%/ năm bằng nguồn vốn huy động ngắn hạn 12 tháng với mức lãi suất huy động là 11,5% Khi đó mỗi đồng vốn cho vay sẽ mang lại khoản thu nhập từ lãi thuần cho ngân hàng như sau:
15% - 11,5%= 3,5%
Một năm sau ngày ký phát khoản vay với công ty X, lãi suất thị trường tăng lên mức 17,5% đối với kỳ hạn tiền gửi 12 tháng Khi đó từ năm thứ hai trở đi ngân hàng có thể bị thiệt hại: 15% - 17,5% = - 2,5% mỗi năm do rủi ro định giá lại khi lãi suất thị trường thay đổi
2.2.2.2 Rủi ro đường lợi tức
Những chênh lệch về định giá lại có thể làm cho ngân hàng gánh chịu rủi ro do những thay đổi về độ dốc và hình dạng đường lợi tức Rủi ro đường lợi tức phát sinh khi những sự dịch chuyển không dự báo trước của đường lợi tức ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và giá trị kinh tế của ngân hàng
Ví dụ, giá trị kinh tế của trạng thái dương các trái phiếu chính phủ có kỳ hạn 10
7 ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng là một ủy ban gồm các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập bởi các Thống đốc ngân hàng Trung Ương Nhóm 10 nước năm 1975 Ủy ban này có thành viên là các đại diện cao cấp cơ quan giám sát ngân hàng và ngân hàng trung ương các nước Bỉ, Canada, Pháp,Ðức, Ý, Nhật, Luxembourg, Hà Lan, Thụy Ðiển, Thụy Sĩ, Anh và Hoa kỳ Ủy ban này
Trang 24năm được hạn chế rủi ro bằng trạng thái âm các chứng chỉ của chính phủ có kỳ hạn 5 năm có thể giảm mạnh nếu đường lợi tức tăng độ dốc, ngay cả khi trạng thái này được hạn chế rủi ro đối với những biến động song song trên đường lợi tức
2.2.2.3 Rủi ro cơ sở
Một nguồn rủi ro lãi suất quan trọng khác thường được biết dưới cái tên rủi ro cơ
sở, phát sinh từ tương quan không hoàn hảo do sự điều chỉnh trong các lãi suất thu được
và phải trả đối với các công cụ khác nhau có những đặc điểm định giá tương tự Khi lãi suất thay đổi những chênh lệch này có thể tạo ra những thay đổi không lường trước được trong lượng tiền và chênh lệch tài sản có, tài sản nợ và những công cụ ngoại bảng có kỳ hạn tương tự hay tầng suất đánh giá lại tương tự
Ví dụ ngân hàng A tài trợ cho công ty X một khoản tín dụng trị giá 1 triệu USD với mức lãi suất thả nổi LIBOR + 0,5% kỳ hạn 1 năm bằng nguồn huy động có mức lãi suất SIBOR + 0,75%
Ngân hàng A sẽ chịu rủi ro khi LIBOR + 0,5% < SIBOR + 0,75% LIBOR < SIBOR + 0,25% Hay nói cách khác là ngân hàng A sẽ chịu rủi ro lãi suất khi LIBOR biến động tăng thấp hơn mức biến động tăng của SIBOR + 0,25%
⇔
Ngân hàng A sẽ có thu nhập khi LIBOR + 0,5% > SIBOR + 0,75% LIBOR > SIBOR + 0,25% Hay nói cách khác là ngân hàng A sẽ có thu nhập khi lãi suất khi LIBOR biến động tăng cao hơn mức biến động tăng của SIBOR + 0,25%
⇔
2.2.2.4 Tính tùy chọn
Một nguồn rủi ro lãi suất khác ngày càng trở nên quan trọng phát sinh từ các tùy chọn trong nhiều tài sản có, tài sản nợ và danh mục đầu tư ngoại bảng của ngân hàng Một quyền chọn cho người nắm giữ quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, thực hiện mua bán hay một cách nào đó có thể làm dịch chuyển luồng tiền của một công cụ hay một hợp đồng tài chính Các ví dụ về các công cụ chứa quyền chọn bao gồm quyền chọn mua hay bán các loại trái phiếu hay chứng chỉ, các khoản vay cho bên vay trả trước hay các công cụ tiền gửi không kỳ hạn mà bên gởi tiền có quyền rút tiền trước hạn mà không phải chịu một mức phạt nào cả Nếu không được quản lý đầy đủ, các đặc tính hoàn trả không đối xứng của các công cụ có quyền chọn có thể đặc biệt cho những người bán quyền chọn do những quyền chọn độc lập hay phụ thuộc thường được thực hiện với những lợi thế thuộc về người nắm giữ và bất lợi thuộc về người phát hành
Ví dụ: Ngày 10/02/2009 ngân hàng A ký hợp đồng bán quyền chọn bán trái phiếu cho nhà đầu tư X với nội dung sau:
Loại trái phiếu: trái phiếu chính phủ mệnh giá 1 triệu đồng
Lãi suất trái phiếu: 12%/ năm (Lãi suất thị trường tại thời điểm ký kết hợp đồng là 15%)
Thời hạn trái phiếu: 10 năm
Số lượng trái phiếu: 1000
Giá cả hợp đồng: 973.913 đồng8
8 Giá trái phiếu:
%)151(
%)12
*000.1000000
.1000(
+
+
=
p
Trang 25Thời hạn hợp đồng: 90 ngày
Phí mua quyền: 0,5% giá trị hợp đồng
Khi lãi suất thị trường biến động ngân hàng A sẽ đương đầu với rủi ro lãi suất từ hợp đồng quyền chọn này như sau:
Bảng 2.2a: Lãi/ lỗ từ hợp đồng quyền chọn tái phiếu
ĐVT: Triệu đồng
LSTT Giá hợp đồng Giá thị trường Phí bán quyền Lãi/ lỗ
12% 974 1.000 4,870 4,870 15% 974 974 4,870 4,870 18% 974 949 4,870 (19,891) 21% 974 926 4,870 (43,424)
+ Khi lãi suất thị trường giảm từ 15% xuống còn 12% dẫn đến giá trái phiếu trên thị trường tăng cao hơn giá ghi trong hợp đồng, khách hàng X không thực hiện hợp đồng, ngân hàng A thu được khoản phí là 4,870 triệu đồng
+ Khi lãi suất thị trường cố định ở mức 15%, ngân hàng A thu được khoản lợi nhuận
từ khoản phí hợp đồng là 4,870 triệu đồng
+ Khi lãi suất thị trường tăng từ 15% lên mức 18%, 21% dẫn đến giá trái phiếu trên thị trường giảm thấp hơn giá ghi trong hợp đồng, khách hàng X thực hiện hợp đồng, ngân hàng A lỗ một khoản tương ứng là 19,891 triệu đồng và 43,424 triệu đồng
2.2.3 Nguyên nhân rủi ro lãi suất
2.2.3.1 Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân đầu tiên suất phát từ sự điều tiết lãi suất của NHNN Để đảm bảo thực thi các chính sách nhằm đạt được các mục tiêu của mình, chính phủ thông qua NHNN tác động gián tiếp đến lãi suất trên thị trường Tùy thuộc vào tình hình thực tế của nền kinh tế mà các công cụ của chính sách tiền tệ hay tài khóa được sử dụng riêng lẽ hay kết hợp
Cụ thể trong năm 2008, khi mà nền kinh tế biến động nhanh với những diễn biến trái chiều: trong nửa đầu năm 2008 thì nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, giá cả tăng nhanh do sự tác động của giá dầu thế giới dẫn đến tình trạng lạm phát ở mức cao (23,1%)9 thì chính phủ phải thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, hạn chế chi tiêu công bằng các công cụ như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu Đến cuối năm 2008, khi mà nền kinh tế trở nên đình đốn do ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới (bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất ở
9 Vietnam Selected Economic Indicators, 2005–09
http://www.imf.org/external/np/sec/pn/2009/pn0936.htm
Trang 26Mỹ) thì chính sách tiền tệ được nới lỏng, chính phủ tăng chi tiêu để khích thích đầu tư và tiêu dùng nhằm vực dậy nền kinh tế
Như vậy, khi mà nền kinh tế biến động, khi mà các chính sách cần được thực thi để đạt được mục tiêu của mình thì chính phủ sẽ thông qua NHNN điều tiết lãi suất trên thị trường, điều đó gián tiếp gây ra rủi ro lãi suất đối với hoạt động của NHTM
Nguyên nhân thứ hai là thị trường tài chính Việt Nam là thị trường mới nổi, còn hạn chế cả về quy mô và giá trị giao dịch nên rất nhạy cảm với những biến động của thị trường, trong khi thị trường chưa có cơ quan dự báo sự thay đổi của lãi suất Do vậy các ngân hàng phải đương đầu rủi ro lãi suất rất lớn
Thứ ba hành lang pháp lý việc đo lường và quản lý rủi ro lãi suất tại các NHTM còn chưa hoàn thiện, chưa có những quy định cụ thể về sử dụng các công cụ phái sinh
Cuối cùng là những hạn chế trong hoạt động thanh tra giám sát của NHNN
2.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Kiến thức hiểu biết của các doanh nghiệp về các hợp đồng phái sinh và về vấn đề phòng chống rủi ro lãi suất còn hạn chế
Các NHTM Việt Nam chưa có nhiều những cán bộ am hiểu một cách toàn diện về quản lý rủi ro lãi suất
Chưa có bộ phận chuyên trách thực hiện việc đo lường và quản lý rủi ro lãi suất
Hệ thống thông tin, trình độ công nghệ của ngân hàng còn yếu chưa đáp ứng yêu cầu quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Hệ thống kế toán thống kê tại ngân hàng chưa cung cấp số liệu cần thiết cho việc tính toán, lượng hóa rủi ro lãi suất
Hoạt động kiểm toán nội bộ của ngân hàng còn nhiều hạn chế
2.2.4 Những thiệt hại do rủi ro lãi suất gây ra đối với ngân hàng
Sự biến động của rủi ro lãi suất sẽ gây ra những tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, sự tác động đó thể hiện ở các mặt sau đây:
Thứ nhất: Những thay đổi về lãi suất sẽ gây ra những bất lợi đến thu nhập của
ngân hàng, những khoản thu nhập đó bao gồm thu nhập từ lãi thuần và những khoản thu
ngoài lãi, trong khi sự thay đổi đối với những khoản thu nhập từ lãi là một điểm quan trọng trong phân tích rủi ro lãi suất của ngân hàng vì nó ảnh hưởng đến mức độ đủ vốn
và niềm tin của thị trường Trước đây, bộ phận thu nhập quan tâm đến thu nhập từ lãi thuần (chênh lệch gữa tổng thu từ lãi và tổng chi từ lãi) Sự tập trung này phản ánh tầm quan trọng của thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập của ngân hàng và mối liên hệ trực tiếp với những thay đổi về lãi suất Tuy nhiên, hiện nay các nhà quản trị ngân hàng đang
cố gắng thay đổi trong cơ cấu thu nhập, sự dịch chuyển dần thu nhập từ lãi sang thu từ phí và các khoản thu nhập ngoài lãi khác đã đặt các nhà quản trị ngân hàng phải có cái nhìn toàn diện hơn về sự tác động của rủi ro lãi suất Lúc này sự biến động của lãi suất
sẽ tác động toàn bộ thu nhập của ngân hàng chứ không riêng thu nhập từ lãi thuần, sự tác động của lãi suất đến các khoản thu ngoài lãi trở nên nghiêm trọng hơn khi các khoản thu từ phí ngày càng nhạy cảm với sự biến động của lãi suất Chẳng hạn khi có sự biến động giảm lãi suất thì thiệt hại sẽ xảy ra đối với những ngân hàng cung cấp chức năng thanh toán nghĩa vụ nợ và quản lý các khoản vay cầm cố để lấy phí dựa trên doanh
số tài sản được quản lý do những khoản vay cầm cố có thể trả trước
Trang 27Thứ hai là xét về khía cạnh kinh tế: sự thay đổi về lãi suất có thể ảnh hưởng đến giá trị kinh tế của tài sản có, tài sản nợ và các trạng thái ngoại bảng của ngân hàng Giá trị kinh tế của một công cụ là thước đo đánh giá giá trị của một luồng tiền dự kiến trong tương lai, được chiết khấu để phản ánh lãi suất thị trường Giá trị kinh tế của ngân hàng được định nghĩa là các luồng tiền dự kiến đối với tài sản có trừ đi các luồng tiền dự kiến đối với tài sản nợ cộng với luồng tiền dự kiến đối với các trạng thái ngoại bảng của ngân hàng Do khía cạnh kinh tế có tính đến những ảnh hưởng tiềm năng của lãi suất đến các luồng tiền dự kiến trong tương lai nên giá trị kinh tế cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về tiềm năng ảnh hưởng dài hạn của rủi ro lãi suất đến hoạt động của ngân hàng
Thứ ba là các tổn thất ngầm: các khía cạnh về thu nhập và giá trị kinh tế chỉ tập trung làm rõ những ảnh hưởng trong tương lai đến tình hình tài chính của ngân hàng mà không xem xét sự ảnh hưởng do sự thay đổi lãi suất trong quá khứ đến tình hình tài chính tương lai Đặc biệt những công cụ không được định giá theo thị trường có thể gây
ra những tổn thất ngầm Ví dụ một khoản vay dài hạn có lãi suất cố định được ký kết khi lãi suất thấp được tài trợ bằng các tài sản nợ có lãi suất cao, trong thời hạn còn lại có
thể làm giảm nguồn lực của ngân hàng (Ủy Ban Basel Về Giám Sát Ngân Hàng, Các
Nguyên Tắc Về Quản Lý Và Giám Sát Rủi Ro Lãi Suất, 2004, tr 7-9)
2.2.5 Một số công cụ giúp lượng hóa rủi ro lãi suất
Hiện nay trên thế giới khoa học và công nghệ trong quản trị rủi ro ngân hàng đã đạt một trình độ tiên tiến, với sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống thông tin kế toán hiện đại thì các công cụ giúp lượng hóa rủi ro lãi suất như: mô hình kỳ hạn đến hạn, mô hình định giá lại, mô hình thời lượng tỏ ra khá hiệu quả và ngày càng được các ngân hàng lớn trên thế giới sử dụng phổ biến
ML là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản nợ
N là số loại tài sản có và nợ phân theo kỳ hạn
WLj là tỷ trọng và MLj là kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ j
2.2.5.2 Mô hình định giá lại
Mô hình định giá lại là việc phân tích các luồng tiền dựa trên nguyên tắc giá trị ghi
sổ nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu được từ tài sản có và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định Hiện nay mô hình định giá lại đang được
áp dụng ở Mỹ, quỹ dự trữ liên ban Mỹ yêu cầu các ngân hàng Mỹ báo cáo định kỳ hàng quý chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ theo các kỳ hạn như sau:
1.Kỳ hạn đến 1 ngày
2.Trên 1 ngày đến 3 tháng
Trang 28Việc đo lường rủi ro lãi suất được thực hiện qua 3 bước sau:
Bước 1: xác định những tài sản nợ và tài sản có nhạy cảm với lãi suất
Theo Nguyễn Văn Tiến (2005): Những tài khoản nhạy cảm với lãi suất là những tài khoản mà số dư trên tài khoản giao dịch bị ảnh hưởng bởi sự biến động lãi suất Như vậy, việc xem tài khoản khoản nào nhạy cảm với lãi suất căn cứ vào kết quả phân tích tình hình thực tế của tài khoản đó trong quá khứ
Bước 2: xác định mức độ giảm thu nhập ròng từ khi lãi suất thay đổi như sau:
i i
RSL = số dư ghi sổ của tài sản nợ thuộc nhóm i
Tuy nhiên nhà quản trị ngân hàng có thể tính toán chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ theo các phương pháp tích lũy của nhiều kỳ hạn khác nhau, trong thực tế phương pháp tích lũy được ứng dụng phổ biến nhất là đến 12 tháng
Khi đó định mức độ giảm thu nhập ròng từ khi lãi suất lãi suất thay đổi được xác định như sau:
i i
GGAP =GAP 1 +GAP 2 +…+GAP i
2.2.5.3 Mô hình thời lượng
Mô hình thời lượng lần đầu tiên được công bố bởi nhà kinh tế học Macauly, mô hình thời lượng đề cập đến yếu tố thời lượng của các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ, tài sản có trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng
Trang 29Theo Nguyễn Văn Tiến (2005) : “Thời lượng của một tài sản là thước đo thời gian tồn tại luồng tiền của tài sản này, được tính trên cơ sở giá trị hiện tại của nó”
Chúng ta tính thời lượng của bất kỳ chứng khoán nào có thu nhập cố định bằng công thức sau:
t
PV n
t PV D
1
1
. Trong đó: t t
n R
CF PV
N là tổng số luồng tiền xảy ra
n là số lần luồng tiền xảy ra trong một năm
M kỳ hạn của chứng khoán tính theo năm (M=N/n)
t là thời điểm xảy ra luồng tiền
CFt là luồng tiền nhận được tại thời điểm cuối kỳ t
PVt là giá trị hiện tại luồng tiền xảy ra tại thời điểm t
R là mức lãi suất hiện hành (% năm)
Thời lượng của hai vế bảng cân đối kế toán
D
1
Trong đó:
DA là thời lượng của toàn bộ tài sản có.D A =
DAi là thời lượng của tài sản có thứ i
WAi là tỷ trọng của tài sản có i
WA1 + WA2 + + WAn = 1
i= 1, 2, 3, ,n
n là số tài sản có phân theo tiêu chí kỳ hạn
DL là thời lượng của toàn bộ vốn lưu động
DLi là thời lượng của tài sản nợ thứ j
WLi là tỷ trọng của tài sản nợ j
WL1 + WL2 + + WLm = 1
i= 1, 2, 3, ,m
m là số tài sản nợ phân theo tiêu chí kỳ hạn
Công thức mô hình thời lượng lượng hóa rủi ro lãi suất trong kinh doanh ngân hàng :
Trang 30( ) ( R )
R A
K D D
Δ +
Δ
−
−
= Δ
1
Trong đó: K=L/A là tỷ lệ vốn huy động trên tổng tài sản có của ngân hàng (tỷ lệ đòn bẩy)
Nhận xét:
Chênh lệch thời lượng giữa tài sản nợ và tài sản có đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ đòn bẩy Chênh lệch thời lượng được tính hằng năm, phản ánh sự không cân xứng thời lượng giữa hai vế bảng cân đối kế toán, nếu chênh lệch này lớn thì tiềm ẩn rủi
ro lãi suất càng cao
(D A−D L K)
)
Quy mô của ngân hàng càng lớn, rủi ro lãi suất đối với ngân hàng càng cao
Mức thay đổi lãi suất
R
Δ+
Δ
1 càng lớn tiềm ẩn rủi ro lãi suất đối với ngân hàng
càng cao (Nguyễn Văn Tiến (2005) Quản Trị Rủi Ro Trong Kinh Doanh Ngân Hàng,
Hà Nội: NXB Thống Kê Tr 113-157)
2.2.5.4 Lựa chọn mô hình lượng hóa rủi ro lãi suất
Trong 3 nghiên cứu đã được Tác giả giới thiệu:
-Mô hình kỳ hạn đến hạn (the maturity model)
-Mô hình định giá lại (the repricing model)
-Mô hình thời lượng (duration model)
Trong đó mô hình thời lượng là mô hình tiên tiến nhất và được áp dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Mô hình thời lượng đề cập đến thời lượng của từng khoản mục và toàn bộ bảng cân đối kế toán, và khắc phục được một số nhược điểm của mô hình định giá lại và mô hình kỳ hạn đến hạn:
Mô hình kỳ hạn đến hạn chỉ đề cập đến kỳ hạn của các luồng tài sản có và tài sản
nợ mà không đề cập đến thời lượng của chúng, trong khi đó có nhiều trường hợp kỳ hạn
là cân xứng nhưng thời lượng không bằng nhau thì vẫn tìm ẩn rủi ro lãi suất
Mô hình định giá lại chỉ đề cập đến giá trị ghi sổ của tài sản mà không đề cập đến
giá trị thị trường của chúng Trong khi đó sự biến động lãi suất ngoài ảnh hưởng đến thu nhập lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản có, tài sản nợ của ngân hàng Do vậy mô hình định giá lại chỉ có thể hạn chế rủi ro định giá lại, còn rủi ro đường cong lợi tức, rủi ro cơ bản, rủi ro quyền chọn thì không thể loại trừ
Với lý do đó, trong phạm vi đề tài này Tác giả lựa chọn mô hình thời lượng để lượng hóa rủi ro lãi suất tại MHB An Giang
2.2.6 Một số công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất
2.2.6.1 Các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất
Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm t= 0 rằng người mua sẽ thanh toán cho người bán theo giá kỳ hạn đã được thỏa thuận và người bán sẽ trao hàng cho người mua tại thời điểm hợp đồng đáo hạn
Trang 31Các hợp đồng kỳ hạn được giao dịch trên các thị tường phi tập trung (over the counter- OTC) và không có bất kỳ sự giới hạn nào về giá cả, chủng loại hàng hóa, thời hạn hợp đồng, giờ giao dịch
Có các loại hợp đồng kỳ hạn: kỳ hạn hàng hóa, lãi suất, tiền tệ, tỷ giá, vàng… Nội dung các hợp đồng kỳ hạn lãi suất bao gồm:
Các hợp đồng tài chính tương lai phát triển rất nhanh và ngày nay các giao dịch chủ yếu trên các sở giao dịch là các hợp đồng tài chính Chính vì vậy, khi nói đến các sở giao dịch tương lai người ta thường hiểu đó là sở giao dịch các hợp đồng tài chính
tương lai
Đặc điểm hợp đồng tương lai:
1 Giá cả và chủng loại hàng hóa ghi trong hợp đồng được xác định chi tiết tại thời điểm ký kết hợp đồng
2 Các hợp đồng tương lai được thỏa thuận thông qua sở giao dịch
3 Các bên có thể chấm dứt (tất toán) hợp đồng bất cứ khi nào thông quan sở giao dịch
Các hợp đồng tương lai có thể sử dụng vào các mục đích bảo hiểm phòng ngừa rủi
ro và vào các mục đích đầu cơ Những người bảo hiểm muốn biết trước và muốn có được giá cả của hàng hóa giao dịch trong tương lai là cố định trong hôm nay, nhằm tránh được sự biến động giá cả hàng hóa trong tương lai
Hợp đồng quyền chọn
Không giống như các hợp đồng kỳ hạn, các hợp đồng quyền chọn cho người mua
cơ hội nhưng không bắt buộc mua hoặc bán với giá đã thỏa thuận trước, gọi là giá thực hiện trong tương lai Đúng như tên gọi của nó, một quyền chọn là một công cụ tài chính cho người nắm giữ quyền – nhưng không bắt buộc – bán hoặc mua công cụ tài chính khác với giá đã thỏa thuận trong một thời gian nhất định gọi là ngày hết hiệu lực hay ngày đến hạn Người bán quyền chọn bán hoặc chọn mua bắt buộc phải thực hiện hợp đồng nếu như người mua muốn thế Bởi vì đây là quyền chọn chứ không phải là hành vi mua hoặc bán nên nó có giá trị và vì thế người mua phải trả cho người bán một khoản phí cho quyền chọn này Như vậy giá trả cho quyền chọn gọi là phí quyền chọn Quyền chọn mua cho phép chủ sở hữu quyền nhưng không bắt buộc mua hàng hóa Quyền chọn bán ngược lại cho phép chủ sở hữu quyền nhưng không bắt buộc bán tài sản hay
Trang 32hàng hóa Quyền chọn châu Âu được thực hiện vào ngày đáo hạn, trong khi đó quyền chọn kiểu Mỹ có thể thực hiện bất cứ lúc nào cho đến trước ngày đáo hạn
Các ngân hàng có thể sử dụng một cách rộng rãi các hợp đồng kỳ hạn và tương lai trong phòng ngừa rủi ro, tuy nhiên các hợp đồng quyền chọn còn đa dạng hơn nhiều, bao gồm:
Mua quyền chọn mua – buying a call
Bán quyền chọn mua– selling a call
Mua quyền chọn bán – buying a put
Bán quyền chọn bán – selling a put
• Mua quyền chọn mua: người mua quyền chọn mua (buyer of call option), gọi là người mua có quyền (nhưng không phải nghĩa vụ) mua chứng khoán với mức giá cố định đã được thỏa thuận trước, gọi là giá quyền chọn (exercise or strick price) Để có được quyền chọn mua chứng khoán, người mua phải trả một khoản phí cho người mua chứng khoán gọi là phí chọn mua (call premium ), phí chọn mua được thanh toán ngay khi ký hợp đồng Hai đặc điểm quan trọng đối với trường hợp mua quyền chọn mua như sau:
Khi lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu tăng dẫn đến tiềm năng thu lợi nhuận đối với người mua tăng lên
Khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu giảm, dẫn đến khả năng lỗ vốn đối với người mua tăng lên Tuy nhiên mức lỗ vốn của người mua được giới hạn tối đa bằng mức phí mua quyền
• Bán quyền chọn mua trái phiếu: bán quyền chọn mua trái phiếu là chiến lược thứ hai của giao dịch quyền chọn Đối với hợp đồng bán quyền chọn mua, người bán quyền chọn mua (the seller of a call option) nhận được một khoản phí gọi là phí bán quyền chọn mua và phải luôn sẵn sàng bán trái phiếu cho người mua tại một mức giá cố định
đã được thỏa thuận trước, gọi là giá quyền chọn Có hai đặc điểm quan trọng trong chiến lược bán quyền chọn như sau:
Khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu giảm, dẫn đến tiềm năng thu lợi nhuận đối với người bán hợp đồng tăng lên Tuy nhiên mức lợi nhuận thu được bị giới hạn bởi mức phí thu được từ việc bán hợp đồng quyền chọn mua
Vốn của người mua được giới hạn tối đa bằng mức phí mua quyền
Khi lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu tăng, dẫn đến khả năng lỗ vốn đối với người bán hợp đồng tăng lên Về mặt lý thuyết, giá trái phiếu tăng lên không hạn chế, tại thời điểm hết hạn giá trái phiếu có xu hướng hội tụ về mệnh giá của nó, mặc dù vậy khả năng lỗ vốn là rất lớn
• Mua quyền chọn bán trái phiếu: người mua quyền chọn bán trái phiếu (the buyer
of a put option) có quyền (không phải là nghĩa vụ) bán trái phiếu cho người mua tại một mức giá đã thỏa thuận trước (gọi là giá quyền chọn) Ngược lại người mua quyền chọn phải trả cho người bán một khoản phí gọi là phí quyền chọn
Khi lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu tăng thì khả năng phát sinh lỗ vốn đối với người mua tăng lên Tuy nhiên mức lỗ vốn của người mua được giới hạn tối đa bằng mức phí mua quyền
Trang 33Khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu giảm, dẫn đến tiềm năng thu lợi nhuận đối với người mua tăng lên
• Chiến lược thứ tư là bán quyền chọn bán trái phiếu: trong trường hợp bán quyền chọn bán trái phiếu, người bán nhận được một khoản phí (gọi là phí bán quyền chọn) và người bán luôn phải sẵn sàng mua trái phiếu tại mức giá cố định trong hợp đồng khi người mua thực hiện quyền chọn bán của mình
Khi lãi suất thị trường giảm, giá trái phiếu tăng dẫn đến tiềm năng thu lợi nhuận đối với người bán tăng lên Tuy nhiên mức lợi nhuận của người bán bị giới hạn tối đa bằng mức phí mua quyền
Khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu giảm, dẫn đến khả năng lỗ vốn đối với người bán quyền chọn tăng lên
Ngoài ra còn các hình thức đặc biệt của hợp đồng quyền chọn như: Caps, Collars
Và Floors
• Giao dịch Caps, Collars và Floors
Mua Cap là mua quyền chọn mua hay một chuỗi quyền chọn mua lãi suất Cụ thể là nếu lãi suất thị trường tăng trên mức lãi suất giao dịch quyền chọn (lãi suất Cap) thì người bán quyền chọn mua (người bán Cap thông thường là ngân hàng) sẽ thanh toán khoảng chênh lệch lãi suất cho người mua quyền chọn mua (người mua Cap) Thông qua hợp đồng Cap, ngân hàng bán quyền chọn mua lãi suất thu một khoản phí từ người mua quyền Kết quả là việc mua quyền chọn mua lãi suất (mua Cap) tương tự như mua bảo hiểm đối với trường hợp khi lãi suất tăng Ngày thực hiện quyền chọn trong hợp đồng Cap có thể là một hay nhiều ngày
Mua Floors là mua quyền chọn bán lãi suất Cụ thể là nếu lãi suất thị trường giảm xuống mức lãi suất giao dịch quyền chọn (lãi suất Floors) thì người bán sẽ thanh toán khoảng chênh lệch lãi suất cho người mua quyền chọn mua (người mua Floors) Thông qua hợp đồng Floors, ngân hàng bán quyền chọn mua lãi suất thu một khoản phí từ người mua quyền Kết quả là việc mua quyền chọn mua lãi suất (mua Floors) tương tự như mua bảo hiểm đối với trường hợp khi lãi suất tăng Ngày thực hiện quyền chọn trong hợp đồng Cap có thể là một hay nhiều ngày
Hợp đồng Collars xuất hiện khi ngân hàng thực hiện đồng thời hai giao dịch Caps
và Floors, như việc đồng thời mua quyền chọn mua và bán quyền chọn bán
Hợp đồng hoán đổi lãi suất (Swaps)
Giao dịch Swaps lãi suất bao gồm một chuỗi các giao dịch kỳ hạn về lãi suất được thực hiện bởi hai đối tác: người mua (Swap buyer) và người bán (Swap seller) Tại những ngày giá trị giao dịch, người mua thanh toán lãi suất cố định cho người bán và người bán thanh toán lãi suất thả nổi cho người mua Thông qua giao dịch Swaps lãi suất, ngân hàng mua (tức là ngân hàng thanh toán lãi suất cố định) nhằm mục đích chuyển việc thanh toán lãi cho vốn huy động từ hình thức thả nổi sang hình thức cố định
để phù hợp với tính chất cố định của nguồn thu từ tài sản có Trong khi đó ngân hàng bán (tức ngân hàng thanh toán lãi suất thả nổi) nhằm mục đích chuyển việc thanh toán lãi cho vốn huy động từ hình hình thức lãi suất cố định sang thả nổi để phù hợp với tính chất thả nổi của nguồn thu từ tài sản có
Trang 342.2.6.2 Lựa chọn công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất
Từ bảng 1.2 trang 65 Phụ lục 1 ta thấy rằng trong tổng giá trị các hợp đồng phái sinh trên thế giới (tại thời điểm tháng 6/2008) là 683.725 tỷ USD thì các hợp đồng về lãi suất chiếm một tỷ lệ lớn 67%, trong đó phần lớn thuộc về các hợp đồng hoán đổi lãi suất (Swap lãi suất) với tổng giá trị giao dịch là 458.304 tỷ USD
Ở Việt Nam, các hợp đồng hoán đổi lãi suất được phổ biến từ năm 2003 đến nay các hợp đồng hoán đổi lãi suất được các ngân hàng sử dụng rộng rãi trong phòng ngừa rủi ro lãi suất bởi tính hiệu quả và đơn giản của công cụ này so với các công cụ phái sinh khác như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn hay future.(chi tiết xem bảng 1.2 Phụ lục 1 tr 64)
Trong điều kiện của tiếp xúc thực tế tại MHB An Giang Tác giả lựa chọn công cụ Swap lãi suất như là một biện pháp ngân hàng có thể thực hiện để quản lý rủi ro lãi suất trong thời gian tới
Trang 35Chương 3: SỰ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO LÃI SUẤT ĐẾN HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
3.1 Giới thiệu về Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long - chi nhánh An Giang (MHB An Giang)
3.1.1 Sơ lược về Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long (MHB)
Vùng đồng Bằng Sông Cửu Long là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng với đặc điểm địa lý có ba mặt giáp biển và đường biên giới bộ tiếp giáp với Campuchia, nằm ngay hạ nguồn sông Mekong, là vùng châu thổ màu mở có tiềm năng rất lớn về nông nghiệp đặc biệt là nuôi trồng thủy sản: mỗi năm đóng góp 90% lượng gạo xuất khẩu, 60% trị giá xuất khẩu thủy sản, 70% sản lượng trái cây và đóng góp 16,7% GDP cả nước
Tuy nhiên có một thực tế vẫn tồn tại là đời sống của đa số người dân sống ở khu vực này vẫn còn nhiều nhọc nhằn, khó khăn Với 354 ngàn hộ nghèo và 74,5% nông dân ở “nhà đạp, nhà đá”10 (theo cục tổng thống kê năm 1999) Trước tình hình đó Quốc Hội quyết định thành lập một ngân hàng của Trung Ương nhằm giúp vốn cho người dân xây dựng và sữa chữa nhà để ở
Tháng 7/19997 chính phủ thành lập ban trù bị xây dựng MHB
Tháng 9/1999 chính phủ ra quyết định số769/TT ngày 18/09/1997 và được Thống Đốc NHNN phê chuẩn điều lệ về tổ chức và hoạt động theo quyết định số 408/QĐ-
NHNN ngày 08/12/1997, MHB đã được chính thức khai trương và đi vào hoạt động đầu
tháng 04/1998 với số vốn điều lệ là 800 tỷ đồng Hội sở chính đặt tại số 9, Võ Văn Tần, Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu là một NHTM hoạt động đa năng, vận hành theo cơ chế thị trường, ngân hàng được thực hiện mọi nghiệp vụ của một NHTM, ngân hàng MHB được huy động nguồn vốn và đầu tư chuyên sâu vào lĩnh vực tín dụng trung, dài hạn, đặc biệt là cho vay, đầu tư xây dựng phát triển nhà ở và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (Văn Minh., “Sự Ra Đời Của Ngân Hàng Phát Triển Nhà ĐBSCL Và Công Cuộc Xóa “Nhà
Đạp, Nhà Đá””, Bản Tin Ngân Hàng MHB, Hồ Chính Minh, Số 17 (10-7-2007), tr 6-
7)
Bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 4/2008, đến nay qua hơn mười năm hoạt động MHB đã có trụ sở chính đặt tại thành phố Hồ Chí Minh, một văn phòng đại diện tại Hà Nội, một trung tâm thẻ, một công ty chứng khoán và hơn 130 chi nhánh, phòng giao dịch trên khắp cả nước
10Đạp một cái là sập, đá một cái là sập, bản tin ngân hàng MHB, Hồ Chính Minh, Số 17 (10-7-2007), tr
6-7
Trang 363.1.2 Sơ lược về Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long - chi nhánh An Giang (MHB An Giang)
3.1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
NH PTN ĐBSCL chi nhánh An Giang (MHB An Giang) được thành lập theo công văn số 390/CV-NHNN ngày 07/05/1998 của thống Đốc NHNN và quyết định số 18/QĐ-HĐQT ngày 27/05/1999 của Hội đồng quản trị NH PTN ĐBSCL Ngày 17/12/1999 NH PTN ĐBSCL được chính thức khai trương với các nghiệp vụ như: Huy động vốn, cho vay vốn, đầu tư kinh tế, dịch vụ chuyển tiền, đặc biệt là hoạt động đầu tư xây dựng và phát triển nhà ở
Tên gọi: Ngân Hàng Phát Triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long – chi nhánh
An Giang
Tên giao dịch: Housing Bank of Mekong Delta An Giang Branch (MHB AG)
Trụ sở chính đặt tại 15 – Tôn Đức Thắng – phường Mỹ Bình – Thành phố Long xuyên – An Giang
Điện thoại: 0763 857319 – 857456 Fax: 857276
P.Quản Lý Rủi Ro
P Hỗ Trợ Kinh Doanh
P.Kinh Doanh
3.1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ các phòng ban Ban Giám Đốc
Điều hành mọi hoạt động của chi nhánh, chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc MHB, trước pháp luật về mọi hoạt động của chi nhánh
Trang 37Đại diện Tổng Giám Đốc trong việc khởi kiện các tranh chấp, tố tụng về dân sự, hình sự liên quan đến hoạt động của chi nhánh
Chấp hành đầy đủ báo cáo thống kê định kỳ, báo cáo đột xuất về mọi hoạt động của chi nhánh theo quy định của NHNN và Tổng Giám đốc
Tổ chức hạch toán kế toán theo đúng pháp lệnh thống kê, phân phối tiền lương, tiền thưởng đối với người lao động theo kết quả kinh doanh và quy chế tài chính của MHB
Phòng hành chính nhân sự
Lập chương trình và tổ chức thực hiện quy hoạch cán bộ quản lý nhân sự, quản lý lao động, chi trả lương cho người lao động, đào tạo nhân viên, thực hiện chính sách cán
bộ, thực hiện công tác thi đua khen thưởng
Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác xây dựng cơ quan, mua sắm trang thiết
bị và công cụ lao động
Thực hiện công tác hành chính quản trị
Lập báo cáo về công tác cán bộ, lao động tiền lương và các công tác hành chính, quản trị theo quy định
Phòng kinh doanh
Tham mưu cho giám đốc chiến lược kinh doanh thu hút khách hàng trong toàn chi nhánh An Giang
- Quản lý và giám sát các kế hoạch giành cho khách hàng
- Duy trì và phát triển danh mục khách hàng đem lại lợi nhuận và chất lượng tín dụng tốt
- Nâng cao chất lượng tín dụng tối thiểu đạt lợi nhuận đề ra
- Đảm bảo xử lý hồ sơ vay và quản lý nợ theo quy định của MHB
- Giám sát thường xuyên việc trả nợ của khách hàng, các khoản nợ vay có vấn đề
để đạt hiệu quả lợi nhuận cao
- Có biện pháp xử lý kịp thời các món vay có vấn đề nhằm giảm rủi ro
- Thực hiện các nhiệm vụ khác như kinh doanh đối ngoại, chiết khấu bộ chứng từ xuất nhập khẩu, huy động vốn…
- Các nghiệp vụ cụ thể như: Tiếp xúc phỏng vấn, hướng dẫn, hỗ trợ khách hàng lập
hồ sơ vay vốn, thẩm định và báo cáo thẩm định, đàm phán và lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm… Theo dõi lập thủ tục giải ngân, kiểm tra sử dụng vốn vay, theo dõi thu hồi nợ, cơ cấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, lập thanh lý hợp đồng
Trang 38- Kiểm soát thực hiện đúng cơ cấu danh mục đầu tư đã phê duyệt
- Quản lý và đảm bảo tuân thủ chính sách tín dụng đã được duyệt trong từng thời
kỳ Phân tích và lập báo cáo tổng hợp phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng cho toàn chi nhánh, đưa ra các thông tin cảnh báo rủi ro tín dụng, thực hiện và báo cáo kiểm soát tín dụng nội bộ theo MHB
- Theo dõi, hỗ trợ cho bộ phận kinh doanh để đánh giá và đề xuất các danh mục tín dụng không hiệu quả…
- Tham gia giải quyết nợ quá hạn, nợ xấu
- Tiếp nhận và tái thẩm định hồ sơ vượt mức phán quyết của các phó giám đốc và trình Giám Đốc xem xét giải quyết, tham mưu cảnh báo rủi ro trong toàn chi nhánh An Giang
Phòng kế toán ngân quỹ
-Tổ chức hạch toán các nghiệp vụ phát sinh của chi nhánh
-Hướng dẫn khách hàng mở tài khoản tại chi nhánh, lập các thủ tục nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân, dịch vụ chi trả tiền
-Tổ chức thực hiện các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong và ngoài nước
-Thực hiện công tác điện toán và xử lý thông tin
-Thực hiện kiểm tra chuyên đề, kiểm toán, ngân quỹ trong phạm vi chi nhánh -Chấp hành đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ tài chính đối với Ngân sách Nhà Nước và quy định chế độ tài chính của hệ thống
-Tổ chức bảo quản hồ sơ thế chấp, cầm cố, bảo lãnh
-Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ và tài liệu kế toán
-Chấp hành chế độ quyết toán hàng năm với hội sở
Phòng Kiểm tra nội bộ
-Thực hiện kiểm tra, kiểm soát nội bộ các hoạt động của chi nhánh
-Theo dõi, phúc tra chi nhánh trong việc sửa chữa những sai phạm, thực hiện kiến nghị của các đoàn thanh tra Kiểm tra và những kiến nghị của kiểm tra nội bộ tại chi nhánh
Trang 39-Báo cáo các kết quả của công tác kiểm tra nội bộ
-Phối hợp với các đoàn thanh tra, kiểm tra của nhà nước, NHNN và của Hội sở Ngân hàng PTN ĐBSCL trong việc kiểm tra tại chi nhánh
Phòng giao dịch:
Là các đơn vị giao dịch trực thuộc chi nhánh tỉnh Khi ký kết hợp đồng vượt mức
ủy quyền thì Giám Đốc phòng giao dịch có trách nhiệm thẩm định hồ sơ vay vốn theo đúng quy trình tín dụng sau đó trình và gửi toàn bộ hồ sơ vay vốn cho Giám Đốc chi nhánh tỉnh xem xét, phê duyệt
3.1.2.4 Biên chế nhân sự
MHB hiện tại đang sở hữu nguồn nhân lực trẻ và có chuyên môn cao, với số lượng cán bộ công nhân viên là 114 người (tính đến 31/12/2008) có độ tuổi bình quân là 32 và thâm niên công tác bình quân là 9 năm Trong số đó có 87 người có trình độ đại học chiếm một tỷ lệ là 76%, trình độ cao đẳng là 06 người, trung cấp chuyên nghiệp 8 người Với sức trẻ và thâm niên công tác tương đối lâu, đây là nguồn nhân lực có đủ kinh nghiệm để giải quyết những tình huống phức tạp trong công việc và hoàn thành nhiệm vụ được giao Trong thời gian tới MHB An Giang sẽ có kế hoạch nâng cao năng lực chuyên môn cho các bộ nhân viên tại ngân hàng, hướng tới một tỷ lệ là 100% nhân viên có trình độ đại học và trên đại học (Nguồn phòng hành chính nhân sự)
3.1.2.5 Sản phẩm dịch vụ chính tại ngân hàng
Cho vay xây dựng, sữa chữa nhà
Thực hiện ký kết các hợp đồng tín dụng với mục đích xây dựng, sữa chữa, mua nhà đối với mọi tổ chức, cá nhân có năng lực pháp lực và năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, có nguồn thu nhập đảm bảo trả nợ (gốc lẫn lãi) và có tài sản đảm bảo nợ vay Trường hợp không có tài sản đảm bảo thì thực hiện theo đúng quy định của MHB về cho vay tín chấp
Đối với sản phẩm cho vay xây dựng, mua, hay sữa chữa nhà thì mức cho vay không vượt quá 80% tổng chi phí cho việc xây dựng, mua hay sữa chữa (kể cả những khoản chi phí thiết kế, bản vẽ, nộp thuế trước bạ…) và không vượt quá 85% giá trị tài sản thế chấp
Đối với hình thức cho vay mà tài sản thế chấp được hình thành từ vốn vay thì mức cho vay không vượt quá 70% giá trị của dự án và 85% giá trị tài sản đảm bảo
Đối với những trường hợp cho vay mà không có tài sản đảm bảo do tài sản là nhà, đất đang trong quá trình thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, nhà ở thì do giám đốc chi nhánh quyết định nhưng tối đa không vượt quá 50% tổng chi phí thực hiện và không vượt quá mức ủy quyền phán quyết cho vay tối đa đối với một khách hàng của tổng giám đốc NH PTN
Căn cứ vào nhu cầu vay vốn, khả năng trả nợ của khách hàng để xác định thời hạn cho vay hợp lý nhưng không quá 60 tháng đối với cho vay sửa chữa, nâng cấp nhà ở, không quá 180 tháng đối với xây dựng nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở hoặc nhà ở, căn hộ chung cư
Cho vay tiêu dùng
Cho vay đối với cá nhân, hộ gia đình để trang trãi chi phí với mức vay tối đa bằng 100% nhu cầu vốn và thời hạn vay không được vượt quá 3 tháng
Trang 40Trường hợp cho vay không có đảm bảo bằng tài sản (tín chấp): mức cho vay tối đa 100% tổng nhu cầu vốn của phương án xin vay nhưng tối đa là 12 tháng thu nhập thực
tế của khách hàng và không quá 200 triệu đồng (chi nhánh phải xác định mức cho vay phù hợp để có thể thu hồi được nợ gốc và lãi trong trường hợp khách hàng nghỉ việc) Thời hạn vay được tính từ thời điểm khách hàng nhận món vay đầu tiên đến ngày trả hết nợ (cả gốc lẫn lãi)
Hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa mà chi nhánh cung cấp cho khách hàng duy trì trong một khoản thời gian nhất đinh do chi nhánh và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng hạn mức
Ngân hàng chỉ cấp hạn mức tín dụng cho những cá nhân, tổ chức, hộ kinh doanh cá thể làm ăn ổn định, hiệu quả và có lịch sử quan hệ tín dụng tốt với ngân hàng Căn cứ vào nhu cầu vốn, tài sản đảm bảo và vòng quay vốn của khách hàng mà ngân hàng xác định hạn mức tín dụng và thời hạn của hạn của mức tín dụng
3.1.2.6 Chiến lược phát triển
Với mục tiêu trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ MHB đưa ra kế hoạch hành động như sau:
¾ Nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới nhằm phục vụ đa dạng các nhu cầu của khách hàng; Đưa ra chuỗi các sản phẩm tiết kiệm mới
¾ Phát triển các dịch vụ và sản phẩm mới mang tính đột phá dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)
¾ Đầu tư vào các công nghệ mới, hiện đại trong hoạt động ngân hàng
¾ Tăng cường công tác quản lý rủi ro
¾ Tiến hành công tác huy hoạch cán bộ, tìm kiếm, đào tạo nguồn nhân lực trẻ có tính kế thừa và giữ người tài (nguồn: phòng kinh doanh)
3.2 Đánh giá chung về hoạt động kinh doanh trong giai đoạn (2006- 2008) 3.2.1 Nguồn vốn
An Giang là khu vực có điều kiện về thổ nhưỡng, khí hậu và nguồn nước thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản Chính lợi thế cạnh tranh này
đã mang lại cho An Giang tốc độ tăng trưởng GDP ổn định 2005: 9,11%; năm 2006: 9,05%; năm 2007: 13,63%11
Với những tiềm năng về nông nghiệp, dịch vụ du lịch, kinh tế cửa khẩu, An Giang
là vùng đất “màu mỡ” cho những ngân hàng muốn mở rộng hoạt động kinh doanh Với
lý do đó, hiện tại trên địa bàn tỉnh An Giang đã có 49 tổ chức tín dụng Gồm: 4 chi nhánh NHTM Nhà nước, Ngân hàng Chính sách xã hội, 20 Ngân hàng TMCP và 24 Quỹ tín dụng nhân dân (tại thời điểm tháng 12 năm 2008)12 Đối với ngân hàng là một dơn vị “kinh doanh tiền tệ” tức “đi vay để cho vay” thì vấn đề làm sao huy động đủ vốn
để đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng tăng của các chủ thể kinh tế là vấn đề đau đầu đối với nhà quản trị ngân hàng
11 Nguồn: www.baoangiang.com.vn/modules.php?name=News&file=save - 6k
12 Nguồn: Phòng tổng hợp Ngân Hàng Nhà Nước Tỉnh An Giang