PHỤ LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I CÂU HỎI TÌNH HUỐNG 1 Câu hỏi 1 1 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm mà A thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc loại tội nào theo phân loại tội phạm[.]
Trang 1PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I CÂU HỎI TÌNH HUỐNG 1
Câu hỏi: 1
1 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm mà A thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc loại tội nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS? (1,5 điểm) 1
II GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 2
1 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm mà A thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc loại tội nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS? 2
2 B có bị coi là đồng phạm với A tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trong vụ án nêu trên không? 3
3 Phân tích, xác định lỗi và động cơ phạm tội của A, B trong tình huống nêu trên? 4
4 A vừa chấp hành xong hình phạt 02 năm tù về tội buôn lậu (khoản 2 Điều 188 BLHS) (chưa được xóa án tích) lại phạm tội nêu trên thì trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? 5
KẾT LUẬN 7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trách nhiệm hình sự : TNHS
Trang 3MỞ ĐẦU
Pháo nổ là một loại hàng cấm mà Nhà nước ta quy định nghiêm cấm mua bán, vận chuyển trái phép Tuy nhiên, cứ mỗi độ Tết về, người dân lại thường xuyên hỏi mua pháo về để sử dụng trong dịp Lễ Giao thừa Nhận thấy nhu cầu này, một số đối tượng vì muốn kiếm tiền phi pháp đã thực hiện hành vi sản xuất, mua bán và nhập lậu trái phép pháo nổ về Việt Nam Hành vi này là hành vi phạm tội được quy định tại Bộ luật hình sự Việt Nam và có thể truy cứu trách nhiệm theo bộ Luật này Tuy nhiên, không chỉ một vài đối tượng thực hiện hành
vi phạm pháp mà còn một vài đối tượng liên quan cùng tham gia Khi đấy Luật hình sự Việt Nam đặt ra dấu hiệu đồng phạm để xác định mức hình phạt thích hợp cho từng đối tượng Sau đây em xin trình bày bài tập học kỳ có nội dung liên quan đến hành vi này
NỘI DUNG
I CÂU HỎI TÌNH HUỐNG
Bài tập số 2:
Nhân dịp Tết, A ra vùng biên giới Thành phố Móng Cái, Quảng Ninh mua 300kg pháo nổ về bán kiếm lời A thuê B (lái xe tải) chở số hàng trên về Hà Nội Biết là hàng không được phép vận chuyển nhưng do A hứa trả công cao nên B đồng ý vận chuyển Khi cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện, A bị bắt giữ còn
B bỏ trốn (công an chưa bắt được) A đã bị tòa án kết án về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (khoản 3 Điều 190 BLHS)
Câu hỏi:
1 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm mà A thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc loại tội nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS? (1,5 điểm)
1
Trang 42 B có bị coi là đồng phạm với A tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trong vụ án nêu trên không? Tại sao? (1,5 điểm)
3 Phân tích, xác định lỗi và động cơ phạm tội của A, B trong tình huống nêu trên (2 điểm)
4 A vừa chấp hành xong hình phạt 02 năm tù về tội buôn lậu (khoản 2 Điều 188 BLHS) (chưa được xóa án tích) lại phạm tội nêu trên thì trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? (2 điểm)
II GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG.
1 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm mà A thực hiện trong tình huống nêu trên thuộc loại tội nào theo phân loại tội phạm tại Điều 9 BLHS?
Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là tội danh được quy định ở Điều 190 BLHS 2015, sửa dổi 2017 Cụ thể với hành vi của A là tội phạm được quy định tại điểm c Điều 190 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017:
“Điều 190 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm
…
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến
15 năm:
…
c) Pháo nổ 120 kilôgam trở lên.”
Như vậy, hành vi mua 300kg pháo từ vùng biên giới về để bán kiếm lời của
A là hành vi phạm tội Theo quy định ở điểm c khoản 3 BLDS 2015 sửa đổi
2017, khung hình phạt cao nhất mà A có thể chịu TNHS là 15 năm tù Từ mức khung hình phạt cao là 15 năm, ta có thể phân loại tội phạm của A là rất nghiêm trọng theo khoản 3 điều 9 BLHS 2015.1
1 Điều 9 Phân loại tội phạm
3 Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà
mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;
Trang 52 B có bị coi là đồng phạm với A tội sản xuất, buôn bán hàng cấm trong vụ
án nêu trên không?
Tội phạm có thể chỉ do một người thực hiện nhưng cũng có thể do nhiều người cùng gây ra Trường hợp có nhiều người cố ý cùng thực hiện tội phạm được gọi là đồng phạm
Điều 17 BLHS 2015 quy định:
1 Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2 Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3 Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
- Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
- Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
- Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
- Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
4 Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành."
Theo nội dung này, để xác định hành vi của B có bị coi là đồng phạm hay không thì ta cần phải căn cứ vào các dấu hiệu sau:
Về mặt khách quan của tội phạm: đồng phạm đòi hỏi có hai dấu hiệu là có từ
hai người (có đầy đủ năng lực TNHS) và cùng thực hiện một tội phạm Trong tình huống trên, A và B cùng thực hiện tội phạm, trong đó A là người chủ mưu, thực hành, còn B là đồng phạm với vai trò người giúp sức Về chủ thể, A và B đều là người bình thường có đủ năng lực TNHS
3
Trang 6Về mặt chủ quan của đồng phạm: dấu hiệu này yêu cầu những người cùng
thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý Trong tình huống nếu trên, A và B đều thấy trước hành vi của hai người là nguy hiểm cho xã hội, có sự liên kết hành vi để cùng gây ra hậu quả và cùng mong muốn hậu quả xảy ra Mục đích A là buôn bán hàng cấm (300kg pháo) để thu lợi nhuận bất chính B là người vận chuyển, mặc dù biết rõ là “hàng không được phép vận chuyển nhưng do A hứa trả công cao nên B đồng ý vận chuyển”, mặc dù không có mục đích buôn bán hàng cấm nhưng B vẫn bị coi là đồng phạm (người giúp sức) về tội phạm quy định tại khoản 3 điều 190 BLHS 2015
Trong đồng phạm, tội phạm được thực hiện là do sự nỗ lực hợp sức chung của tất cả những người cùng tham gia Hành vi của mỗi người là bộ phận cần thiết trong hoạt động chung đó Hậu quả thiệt hại của tội phạm là kết quả hoạt động chung của tất cả những người đồng phạm Đây là nguyên tắc chịu TNHS chung về toàn bộ tội phạm quy định trong Luật hình sự Việt Nam Như vậy, ta
có thể khẳng định rằng B là đồng phạm (với vai trò là người giúp sức) của A về tội sản xuất buôn bán hàng cấm
3 Phân tích, xác định lỗi và động cơ phạm tội của A, B trong tình huống nêu trên?
Mặt chủ quan của tội phạm là dấu hiệu quan trọng trong cấu thành tội phạm, được biểu hiện thông qua ba yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội
Dấu hiệu lỗi, A và B đều phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp Về mặt lý trí, A và
B đều nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả thiệt hại của hành vi đó Về ý chí, cả hai đều mong muốn hậu quả phát sinh,
Trang 7“…vì khi đã nhận thức được tính chất của hành vi mà vẫn thực hiện thì có nghĩa chủ thể mong muốn thực hiện hành vi đó.”2
Dấu hiệu động cơ phạm tội, đó là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội Trong trường hợp của A và B, động cơ của A là kiếm tiền từ hành vi buôn bán pháo nổ, còn động cơ của B là kiếm tiền từ thỏa thuận với A là “trả công cao” để vận chuyển pháo nổ
4 A vừa chấp hành xong hình phạt 02 năm tù về tội buôn lậu (khoản 2 Điều
188 BLHS) (chưa được xóa án tích) lại phạm tội nêu trên thì trường hợp phạm tội của A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?
Về tái phạm và tái phạm nguy hiểm, Điều 53 BLHS 2015, sửa đổi 2017 có
quy định:
1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội
do cố ý.
Đối với tội buôn lậu theo khoản 2 Điều 188 BLHS 2015, sửa đổi 2017 quy
định:
“2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ
300.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
2 Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – phần chung, Nxb Công an Nhân dân,
Hà Nội,2019, tr.168
5
Trang 8c) Vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; d) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ) Vật phạm pháp là bảo vật quốc gia;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức
h) Phạm tội 02 lần trở lên;
i) Tái phạm nguy hiểm.”
Trong tình huống nêu trên, A phạm tội buôn lậu theo khoản 2 Điều 188 BLHS, theo đó mức khung hình phạt cao nhất là 07 năm tù, là loại tội phạm
nguy hiểm căn cứ vào khoản 2 Điều 9 BLHS “Tội phạm nghiêm trọng là tội
phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ 03 năm đến 07 năm.”
Sau khi phạm tội A bị tòa án xét xử tội danh buôn lậu với mức án là 02 năm tù Có thể nhận thấy Tòa án đã quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng tại Điều 54 BLHS 2015:
Điều 54 Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
“1 Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản
1 Điều 51 của Bộ luật này.
2 Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền
kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong
vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
3 Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản
2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt
Trang 9đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc
loại nhẹ hơn Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án ”
Sau khi A chấp hành hình phạt 02 năm tù về tội buôn lậu (khoản 2 Điều
188 BLHS 2015) và chưa được xóa án tích, A lại phạm tội buôn lậu hàng cấm (điểm c khoản 3 Điều 190 BLHS 2015) như đã nêu trên Như vậy, hành vi phạm tội của A là tái phạm căn cứ vào khoản 2 Điều 54 BLHS 2015
KẾT LUẬN
Trong những năm qua, việc buôn bán, vận chuyển và sử dụng các loại pháo
nổ trong nhân dân đặc biệt là vào những thời điểm trước, trong và sau tết nguyên đán đã gây những tác động tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội và
sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta Pháo và thuốc pháo là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều vụ cháy nổ làm thiệt hại lớn tài sản và tính mạng của nhân dân, chưa kể đến các chi phí cho những người tàn tật và mất khả năng lao động do hậu quả của pháo để lại Vì vậy, chúng ta cần ý thức rõ về hậu quả có thể xảy ra của pháo nổ cũng như các quy định pháp luật về tội phạm , đồng phạm buôn lậu pháo nổ để tránh những hậu quả pháp lý không mong muốn
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – phần
chung, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội,2019
3
7