TIỀM NĂNG SẢN XUẤT PHÂN BÓN HỮU CƠ TỪ NGUỒN CHẤT THẢI CHĂN NUÔI BẰNG CÔNG NGHỆ VI SINH NCS, Th S Bùi Thị Hồng Hà TÓM TẮT Cộng đồng khoa học trong và ngoài nước đã chỉ rõ nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường lớn nhất trong nông nghiệp ở Việt Nam là từ trồng trọt và chăn nuôi Hiện nay là chất thải chăn nuôi là một trong những nguồn gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, nước Hàng năm, lượng chất thải chăn nuôi từ gia súc, gia cầm được thải ra vô cùng lớn, trong đó mới chỉ có một phần nhỏ cá.
Trang 1TIỀM NĂNG SẢN XUẤT PHÂN BÓN HỮU CƠ TỪ NGUỒN CHẤT THẢI
CHĂN NUÔI BẰNG CÔNG NGHỆ VI SINH
NCS, Th.S Bùi Thị Hồng Hà TÓM TẮT
Cộng đồng khoa học trong và ngoài nước đã chỉ rõ nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường lớn nhất trong nông nghiệp ở Việt Nam là từ trồng trọt và chăn nuôi Hiện nay là chất thải chăn nuôi là một trong những nguồn gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, nước Hàng năm, lượng chất thải chăn nuôi từ gia súc, gia cầm được thải ra vô cùng lớn, trong đó mới chỉ có một phần nhỏ các trang trại chăn nuôi thực hiện khử mùi chuồng trại và khoảng 20% chất thải được khai thác sử dụng hiệu quả vào các mục đích khác nhau như làm khí sinh học, phân bón,… Chất thải chăn nuôi có hàm lượng chất hữu cơ, các nguyên tố khoáng đa lượng khá cao
và có cả các chất trung , vi lượng – là nguồn nguyên liệu có giá trị tiềm năng rất lớn
để sản xuất phân hữu cơ nếu được được quản lý, sử dụng hiệu quả Việc sử dụng chế phẩm vi sinh trong khử mùi khu vực chuồng trại và xử lý phế thải chăn nuôi vừa hạn chế ô nhiễm môi trường nông nghiệp nông thôn vừa rút ngắn thời gian ủ phân đồng thời nâng cao chất lượng phân ủ
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành chăn nuôi tạo ra một lượng lớn chất thải có chứa các chất dinh dưỡng, chất hữu cơ, kim loại nặng và mầm bệnh Sử dụng chất thải chăn nuôi bón trả lại đất góp phần tái chế chất dinh dưỡng, tăng chất hữu cơ của đất và cải thiện điều kiện vật lý của đất Mặt khác, các vật liệu nguy hiểm như kim loại nặng và mầm bệnhtrong chất thải chăn nuôi có khả năng gây ô nhiễm môi trường [1]
Sự gia tăng các trang trại chăn nuôi ở nhiều địa phương trong thời gian gần đây dẫn đến một lượng lớn chất thải chăn nuôi được thải ra môi trường Vấn đề đặt ra là
Trang 2với khoảng 85 triệu tấn chất thải rắn từ phân lợn, trâu bò, gia cầm, trong đó mới có 20% chất thải được khai thác sử dụng vào các mục đích khác nhau như làm khí sinh học, phân bón, … còn lại đa phần chưa được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để, sẽ tạo nguy cơ về ô nhiễm môi trường (Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT năm 2017) Chất thải chăn nuôi có chứa nhiều nguyên tố đa, trung, vi lượng – là nguồn nguyên liệu quý để sản xuất phân bón
Như vậy, tiềm năng sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp đặc biệt là nguồn phế thải chăn nuôi của Việt Nam là rất lớn, song thực tế sử dụng chúng để giảm ô nhiễm môi trường và tự sản xuất phân bón hữu cơ tạo thu nhập cho nông dân còn rất hạn chế
Trong phạm vi bài viết, tác giả xin trình bày một số phần: i) Hiện trạng và tiềm năng sử dụng nguồn phế thải chăn nuôi ở Việt Nam; ii) Sự phân giải một số hợp chất cao phân tử do vi sinh vật; iii) Ứng dụng khả năng phân giải hợp chất hữu cơ của một số chủng vi sinh vật; iv) Kết quả sử dụng chế phẩm vi sinh EMUNIV trong
xử lý môi trường chăn nuôi; v) Kết luận và kiến nghị
1 Hiện trạng và tiềm năng sử dụng nguồn phế thải chăn nuôi ở Việt Nam
Tác giả đã tham khả các tài liệu sau để đánh giá hiện trạng và tiềm năng sử dụng nguồn phế thải chăn nuôi tại Việt Nam: 1) Báo cáo của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO); 2) Báo cáo của Dự án hỗ trợ nông nghiệp cacbon thấp (LCASP) năm 2015; 3) Một số dự án, tài liệu chuyên ngành khác
1.1 Hiện trạng sử dụng nguồn phế thải chăn nuôi
Cộng đồng khoa học trong và ngoài nước đã chỉ rõ nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường lớn nhất trong nông nghiệp ở Việt Nam là từ trồng trọt và chăn nuôi Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO, chất thải của gia súc toàn cầu là ra 65% lượng Nitơ oxit (N2O) trong khí quyển Đây là loại khí có khả năng hấp thụ năng lượng mặt trời cao nhất, gấp 296 lần so với khí CO2 Cùng với các loại khí khác như CO2, CH4, …gây lên hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên Ô
Trang 3nhiễm môi trường do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, chất thải lỏng, bụi, tiếng ồn, xác gia súc gia cầm chết được chôn lấp, tiêu hủy không đúng kỹ thuật Một kết quả kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn trong chuồng nuôi gia súc cho thấy: tổng số vi khuẩn trong không khí ở chuồng nuôi cao gấp 30 – 40 lần
so với không khí bên ngoài Các chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường do vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) là đặc biệt nguy hiểm, vì nó sẽ làm phát sinh các loại dịch bệnh như lở mồm long móng, tai xanh, cúm gia cầm,…
Những năm gần đây, chăn nuôi là lĩnh vực được các địa phương rất chú trọng phát triển Tuy nhiên, do quy hoạch và quản lý quy hoạch chưa tốt, người dân tự
mở rộng quy mô những lại thiếu quan tâm đến công trình xử lý chất thải nên chất thải chăn nuôi ở nhiều nơi chưa được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để, tiềm ẩn nguy
cơ cao về ô nhiễm môi trường
Theo tính toán thì lượng chất thải rắn trung bình mà các vật nuôi có thể thải ra (kg/con/ngày) là bò 10 kg, trâu 15 kg, lợn 2 kg, … Ngoài phân khô, thức ăn thừa còn thải ra môi trường chất thải lỏng (phân lỏng, nước tiểu và nước rửa chuồng trại) Trong đó, khoảng 50% lượng chất thải rắn và khoảng 80% chất thải lỏng được
xả thẳng ra môi trường hoặc sử dụng không qua xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, tính đến tháng 4/2017, tổng đàn gia súc gia cầm tập trung của Việt Nam có 2.519.411 con trâu; 5.496.557 con bò;28.312.083 con lợn và 341.892.000 con gia cầm và ước tính thải ra khoảng 85 triệu tấn chất thải rắn (trâu 13 triệu tấn; bò 20 triệu tấn; lợn 26 triệu tấn; gia cầm 26 triệu tấn), trong đó mới chỉ có khoảng 20% chất thải được khai thác, sử dụng có hiệu quả [2] Theo thống kê về biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi của 55/63 tỉnh, thành năm
2013 cho thấy: Trong tổng số 12.427 trang trại điều tra có 729 trang trại làm đệm lót (6,37%), 3.950 trang trại sử dụng biogas (31.79%), 235 trang trại áp dụng ủ compost (1,89%), 6.694 trang trại bán phân ra ngoài (25,615), áp dụng biện pháp khác có 270 trang trại (2,17%) và số trang trại chưa áp dụng biện pháp xử lý nào là
781 trang trại (6,28%) Cũng theo kết quả tổng hợp này, trong tổng số 5,6 triệu hộ
Trang 4chăn nuôi có 1,08% số hộ áp dụng đệm lót sinh học , 4,08% số hộ áp dụng biogas, 6,15% số hộ ủ phân và 37,28% số hộ chưa áp dụng biện pháp xử lý chất thải
Theo thống kê của Cục Chăn nuôi năm 2013 cho thấy: tỷ lệ lượng chất thải sử dụng cho khí sinh học thấp (3,7%), tỷ lệ phân ủ compost cao hơn (10%), tỷ lệ phân không qua xử lý (sử dụng trực tiếp) rất cao (khoảng 60%), tỷ lệ sử dụng các hình thức khác như xả ra ao, mương, kênh, rạch khá cao (khoảng gần 20%)
Ở một số địa phương tuy đã có những biện pháp xử lý làm giảm mùi hôi chuồng trại cũng như xử lý ủ làm phân bón nhưng tỷ lệ được xử lý (qua khí sinh học hay ủ compost) còn rất thấp (chỉ đạt 13,7%), phần còn lại khoảng gần 16 triệu tấn phân (86,3%) và khoảng 7,2 triệu m3dùng bón trực tiếp ra đồng ruộng hoặc xả vào kênh, mương, ao, hồ Đây là nguồn gây ô nhiễm môi trường và lây lan bệnh tật tác động trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng [5]
Tóm lại, chăn nuôi phát triển có thể cũng sẽ tạo ra những rủi ro cho môi trường sinh thái và là một trong những nguyên nhân làm trái đất nóng lên nếu vẫn đề môi trường chăn nuôi không được quản lý hiệu quả Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế
-xã hội của nước ta hiện nay, phát triển chăn nuôi sẽ vẫn là sinh kế cho nhiều người dân Do vậy, vấn đề đặt ra là phát triển chăn nuôi nhưng phải bền vững để hạn chế tối đa mức độ gây ô nhiễm, bảo vệ môi trường sinh thái đồng thời có những biện pháp xử lý chất thải chăn nuôi hiệu quả, mang lại giá trị và hiệu quả kinh tế cho chính người dân
1.2 Tiềm năng sử dụng chất thải chăn nuôi
a Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong chất thải chăn nuôi
Dinh dưỡng trong phân chuồng tươi (phân lợn, gà, trâu, bò, …) chủ yếu nằm dưới dạng các hợp chất hữu cơ cây trồng khó có thể hấp thụ được Từ ngày xưa người dân đã có kinh nghiệm xử lý phân chuồng giúp chuyển hóa các chất hữu cơ phân tử lớn thành các chất vô cơ phân tử nhỏ hơn và chất khoáng dễ tiêu trước khi đưa ra bón trực tiếp cho cây trồng Nguyên lý của quá trình ủ phân chuồng là dưới tác động của các vi sinh vật hiếu khí và yếm khí, các chất hữu cơ phân tử lớn sẽ chuyển thành các chất hữu cơ phân tử nhỏ, các chất khoáng khó tiêu thành các chất
dễ tiêu
Trang 5Theo báo cáo của Cục Trồng trọt, giá trị và chất lượng của một số chất thải rắn trong chăn nuôi phụ thuộc rất nhiều vào cách chăm sóc, nuôi dưỡng, chất liệu độn chuồng và cách ủ phân
Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của một số loại phân chuồng.
Đơn vị: %
Trong 10 tấn phân chuồng có thể lấy ra được một số nguyên tố vi lượng như sau:
Bo: 5 – 200 g; Mn: 500 – 2.000 g; Co: 2 – 10 g
Cu: 50- 150 g; Zn: 200 – 1.000 g; Mo: 2 - 25 g
Và một số nguyên tố khác
Như vậy, có thể thấy chất thải chăn nuôi là nguồn nguyên liệu quý có thể tái sử dụng để sản xuất phân bón hữu cơ cung cấp cho sản xuất nông nghiệp Mặt khác phân hữu cơ là một lựa chọn thân thiện với môi trường và kinh tế [3]
b Lợi ích kinh tế và môi trường khi sử dụng chất thải chăn nuôi
Hàng năm Việt Nam bỏ ra khoảng 4 tỷ USD cho phân bón hóa học (trong đó, 2
tỷ USD sản xuất trong nước và 2 tỷ USD nhập khẩu) Mặt khác, Việt Nam có tiềm năng sản xuất phân bón hữu cơ sinh học rất lớn từ chất thải chăn nuôi (hơn 80 triệu tấn chất thải chăn nuôi/ năm) nên nếu có thể thay thế một phần phân bón hóa học bằng phân hữu cơ sinh học thì sẽ tiết kiệm được tiền nhập khẩu phân bón hóa học hàng năm Bên cạnh giá trị kinh tế, việc sử dụng chất thải chăn nuôi còn giúp tiết kiệm được khoản kinh phí cho xử lý ô nhiễm môi trường chăn nuôi [4]
Theo báo cáo của Dự án hỗ trợ nông nghiệp cacbon thấp (LCASP) năm 2015, khi sử dụng 8 tấn phụ phẩm trồng trọt và 3 tấn chất thải chăn nuôi kết hợp vưới 3 tấn phụ phẩm khí sinh học thì sẽ sản xuất được 5 tấn phân ủ compost Nếu sử dụng lượng phụ phẩm nông nghiệp này để sản xuất phân bón hữu cơ thì tiềm năng sản
Trang 6xuất được hơn 20 triệu tấn phân ủ compost Với giá phân ủ compost hiện nay là khoảng 2,5 triệu đồng/tấn sẽ thu được hơn 50 nghìn tỷ đồng
2 Sự phân giải một số hợp chất hữu cơ cao phân tử do vi sinh vật
2.1.Sự phân giải hợp chất cacbon
Hợp chất cacbon tồn tại trong chất thải chăn nuôi chủ yếu là cellulose Cellulose là một glucan mạch thẳng gồm 8.000 – 12.000 phân tử glucose, nối với nhau qua liên kết β-1,4 glucozit Các sợi cellulose cạnh nhau xếp song song gắn với nhau nhờ liên kết hydro giữa các nhóm –OH của chúng
Việc thủy phân cellulose có thể thực hiện bằng phương pháp hóa học hoặc sinh học Phương pháp hóa học đòi hỏi trang thiết bị tốn kém và khó thu được sản phẩm tinh khiết, do vậy hiệu quả kinh tế thấp Trong khi đó, vi sinh vật sinh trưởng nhanh, nuôi cây dễ, sinh enzyme đặc hiện nên có thể thu được sản phẩm tinh khiết ngay ở nhiệt độ và áp suất thường Theo hướng này, trước hết cellulose đượcc thủy phân thanh glucose, rồi từ glucose có thể làm thức ăn cho người, gia súc hoặc lên men tạo thành các dung môi, chất dẻo và cồn
Enzyme thực hiện quá trình phân giải cellulose là cellulase Các vi sinh vật có khả năng phân giải cellulose như: Nhóm vi khuẩn Bacillus, Pseudomonas, Cellulomonas,…; Nhóm xạ khuẩn: Streptomyces, Actinomyces, Micromonospora,
…; Nhóm nấm: Trichoderma viride, Penicillium pinophinum,…
2.2.Sự phân giải hợp chất nitơ
Các protein phức tạp được vi sinh vật phân giải thành các axit amin nhờ enzyme protease, quá trình này diễn ra bên ngoài tế bào
Vi sinh vật hấp thụ axit amin và phân giải tiếp tạo ra năng lượng
Khi môi trường thiếu cacbon và thừa nitơ thì vi sinh vật sẽ khử axit amin, sử dụng axit hữu cơ làm nguồn cacbon
Enzyem thực hiện quá trình phân giải protein là protease Các vi sinh vật có khả
năng sinh enzyme protease như: Nhóm vi khuẩn có Bacillus mesentericus, B subtilis; Nhóm nấm mốc Aspergillus oryzae, A flavus; Nhóm xạ khuẩn Streptomyces fradiae, S griseus, S rimosus; …
3 Ứng dụng khả năng phân giải hợp chất hữu cơ của một số chủng vi sinh vật
Trang 7Các chủng vi sinh vật có khả năng phân giải chất hữu cơ được ứng dụng rất nhiều trong đời sống dưới dạng các chế phẩm vi sinh hay chế phẩm sinh học nói chung (probiotic) Một tập hợp các chủng vi sinh vật với những khả năng khác nhau được kết hợp với nhau tạo ra một loại chế phẩm sinh học đa công dụng Hiện nay, có rất nhiều chế phẩm vi sinh, chế phẩm sinh học hiện có trên thị trường với mục đích xử lý môi trường chăn nuôi Tuy nhiên, Phòng Vi sinh nông nghiệp – Trung tâm Nông nghiệp hữu cơ, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tìm hiểu, lựa chọn và phát triển ứng dụng chế phẩm vi sinh EMUNIV tại nhiều mô hình mẫu với mục đích xử lý môi trường trong chăn nuôi
Giới thiệu về phẩm vi sinh EMUNIV: là sản phẩm của đề tài “Nghiên cứu bản chất vi sinh vật trong chế phẩm EM và nghiên cứu sản xuất EM tại Việt Nam” - Đề tài đặc biệt EM/KHCN năm 1997-2000
Thành phần chế phẩm: là tập hợp các vi sinh vật được chọn lọc kỹ gồm 7 chủng vi sinh vật như sau:
+ Bacillus subtilis và Bacillus lichemiformis: có khả sinh các Enzyme phân
giải các chất hữu cơ bao gồm: cellulase phân giải cellulose, amylase phân giải tinh bột, protease phân giải protein
+ Bacillus megaterium : có khả năng chuyển hóa phophat khó tan thành dễ
tan, đồng thời sinh chất kháng sinh chống vi khuẩn gây bệnh héo lá (Ralstonia celanacearum), và chống nấm gây bệnh thối cổ rễ (Fusarium oxysporum) đồng thời sinh chất kích thích sinh trưởng thực vật (IAA – acid indol acetic)
+ Lactobacillus plantarum và Lactobacillus acidophilus: có khả năng sinh
acid lactic và bacteriocin, cạnh tranh và gây ức chế sinh trưởng của một số vi khuẩn gây bệnh
+ Streptomyces sp: có khả năng sinh enzyme cellulace phân giải cellulose
mạnh và chất kháng sinh chống một số nấm gây bệnh thực vật
Trang 8+ Saccharomyes cerevisiae: lên men cồn, cung cấp nguồn thức ăn
cacbonhidrat cho các sinh vật khác
+ Nitrosomonas sp và Nitrobacter sp: có khả năng sinh enzyme
oxidoreductase giúp chuyển hóa hoàn toàn nitơ trong hợp chất hữu cơ thành NO3-
Chế phẩm vi sinh EMUNIV có các ưu điểm như: 1) Có khả năng sinh các Enzyme phân giải nhanh các chất hữu cơ (rác thải, phế thải sau thu hoạch, phân gia súc gia cầm); 2) Sinh trưởng tốt trong môi trường nghèo chất dinh dưỡng; 3) Có sức cạnh tranh với các vi sinh vật bất lợi, ví dụ các vi sinh vật gây thối nên giảm rõ rệt mùi hôi thối từ các đống phế thải; 4) Có khả năng sinh chất kháng khuẩn, ức chế một số vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng; 5) Một số chủng có khả nâng sinh chất kích thích sinh trưởng của thực vật (ví dụ IAA – axit indol axetic); 6) An toàn đối với người, vật nuôi, cây trồng và môi trường sinh thái Các vi sinh vật trong chế phẩm thuộc loại an toàn cấp 1
Chế phẩm vi sinh EMUNIV được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như:
xử lí rác thải, phế thải sau thu hoạch, phân gia súc, gia cầm để làm phân bón hữu cơ,… dựa trên kết quả của đề tài “Nghiên cứu phân huỷ rác làm phân bón hữu cơ
và thức ăn chăn nuôi bằng biện pháp vi sinh vật” - Đề tài cấp Nhà nước, mã số 52D
- 04 - 01, 1987-1990
Các kết quả ứng dụng chế phẩm vi sinh EMUNIV trong xử lý môi trường chăn nuôi được nhóm tác giả thực hiện như mục 4 dưới đây
4 Kết quả sử dụng chế phẩm vi sinh EMUNIV trong xử lý môi trường chăn
nuôi
4.1.Xử lý môi trường trong chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu
Trong quá trình nuôi, bò thải ra một khối lượng chất thải rất lớn, chúng chứa rất nhiều vi khuẩn gây bệnh, có hại cho cả đàn bò và con người, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân xung quanh Vì thế cần xử lý tốt vấn đề môi trường
Trang 9Các hộ nuôi bò sữa tại Thị trấn nông trường Mộc Châu đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải khép kín Tất cả các chất thải như: phân bò, nước tiểu, nước rửa chuồng đều được thu gom vào bể xử lý
Toàn bộ chất thải rắn được gom lại vào một bể riêng ủ để làm phân bón.Còn nước thải như nước tiểu, nước rửa chuồng… cho vào bể lắng (được ngăn thành 3
bể riêng biệt), và xử lý qua 3 bước: Bước 1, toàn bộ nước thải từ chuồng bò được thu hết vào một bể; Bước 2, cho nước thải chảy từ bể 1 sang bể thứ 2 để nuôi cấy vi sinh Loại vi sinh này được nuôi cấy trong thùng phi khoảng một tuần sau đó đem
đổ vào bể nước thải, chúng có tác dụng khử mùi, giảm hàm lượng chất rắn; Bước 3,
ở bể chứa thứ 3 nước thải được đảo và sục khí để vi sinh vật phát triển Khi nước thải qua xử lý, đạt đến độ an toàn nhất định, chúng được lấy quay trở lại làm phân bón tưới cho đồng cỏ, vườn rau và cây cối…
a Phương pháp thực hiện
Xử lý môi trường chăn nuôi bò sữa tại Mộc Châu quy mô 17.000 con bò / 600 trại (mỗi trại 30 – 2.000 con bò), gồm 2 công đoạn: Khử mùi chuồng trại và xử lý chất thải chăn nuôi
+ Thực hiện khử mùi chuồng trại: Chuẩn bị dịch vi sinh thức cấp, rồi pha loãng
và phun dịch này lên bề mặt chuồng nuôi
+ Thực hiện xử lý chất thải dạng rắn: chọn kiểu ủ theo lớp tại bể thu gom chất thải, nghĩa là cứ 1 lớp chất thải dày 20 – 25 cm rồi đến 1 lớp chế phẩm vi sinh, rồi lại 1 lớp chất thải
+ Thực hiện xử lý chất thải dạng lỏng: chọn kiểu bổ sung chế phẩm vi sinh vật theo ngày, nghĩa là chất thải được thu gom về bể xử lý và hàng ngày bổ sung vào
bể một lượng chế phẩm vi sinh vật
b Kết quả thực hiện
Khử mùi chuồng trại
Theo đánh giá của các hộ chăn nuôi bò sữa, quy trình khử mùi chuồng trại đơn giản, dễ thực hiện, an toàn cho sức khỏe vật nuôi và mang lại hiệu quả cao
Xử lý chất thải dạng rắn
Kết quả đánh giá bằng cảm quan khứu giác trực tiếp của hộ chăn nuôi: Khu vực
bể thu gom và xử lý chất thải về cơ bản là không có mùi hoặc mùi nhẹ, giảm hiện
Trang 10tượng ruòi muỗi Sản phẩm phân ủ hoàn toàn không còn mùi sau khi đưa về độ ẩm
30 – 40%
Đánh giá bằng các kết quả phân tích được thể hiện như bảng sau:
Bảng 2: Kết quả phân tích một số chỉ tiêu phân bò sữa trước và sau khi ủ
bằng chế phẩm EMUNIV
PBHC Phụ lục VIII TTư 41/2014/TT BNNPTNT
Ghi chú
Thời gian xử lý Phân
tươi 30 ngày 45 ngày
-Hữu cơ – OM
(%)
21,23
Vi khuẩn
E.Coli (CFU/g)
2,4 x
ĐẠT
Từ kết quả phân tích phân bò sữa trước và sau ủ tại một số hộ chăn nuôi bò sữa thuộc Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu cho thấy:
+ Phân ủ có pH trung tính, phù hợp sử dụng làm phân bón cho cây trồng + Chất hữu cơ OM: qua quá trình ủ phân, hàm lượng chất hữu cơ tăng lên + Hàm lượng nitơ tổng số (N ts), hàm lượng lân tổng số (P2O5 ts), hàm lượng kali tổng số (K2O ts) trong phân ủ cũng tăng lên qua quá trình xử lý bằng vi sinh vật
+ Các chỉ tiêu vi sinh trong phân ủ gồm E coli, Salmonella đều phát hiện ở mức cho phép mẫu phân ủ
Xử lý chất thải dạng lỏng: