Nhưng trái lại khi mở cửa nền kinh tế thìthuế suất nhập khẩu có chiều hướng giảm dần và việc dỡ bỏ hoặc hạn chế sửdụng các rào cản thương mại lại gây ra tác động tiêu cực đến việc thu th
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng tiểu luận này “Các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế của một số quốc gia năm 2018” là bài nghiên cứu của chính tôi
Không có sản phẩm nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong tiểu luận này
mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà trường đã đưa môn học Kinh tếlượng vào chương trình giảng dạy Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộmôn đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập vừaqua Trong thời gian tham gia lớp học Kinh tế lượng của thầy, em đã có thêm cho mình nhiềukiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc Đây chắc chắn sẽ là những kiến thứcquý báu, là hành trang để em có thể vững bước sau này
Bộ môn Kinh tế lượng là môn học thú vị, vô cùng bổ ích và có tính thực tế cao Mônhọc đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên Tuy nhiên,
do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ; mặc dù em
đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót vànhiều chỗ còn chưa chính xác Kính mong thầy xem xét và góp ý để bài tiểu luận của em đượchoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3TÓM TẮT
Thuế là nguồn thu chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu ngân sách ở hầu hết các quốc giatrên thế giới Thuế giữ vai trò quan trọng trong xã hội hiện tại nếu không có thuế nhà nước sẽkhông thể hoạt động vững mạnh Thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất, mang tính chất
ổn định lâu dài và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng Bên cạnh đó,thuế còn là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô, góp phần thực hiện chứcnăng kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưuthông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước Từ
đó, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân
Chính vì vậy, việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến số thu thuế là chủ đề được nhiềunghiên cứu đề cập trong hơn 10 năm qua
Tuy nhiên, số thu thuế chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó, bị ảnh hưởng bởi khảnăng và nỗ lực thu thuế Khả năng thu thuế được ước lượng qua mối quan hệ giữa số thu thuế
và GDP (tỉ lệ % trên GDP), nỗ lực thu thuế được thể hiện qua việc tận dụng tốt nhất cơ sở thuếcủa quốc gia (Lotz và Morss, 1970) Theo đó, số thu thuế bị chi phối bởi các yếu tố: Kinh tế,cấu trúc và xã hội (Castro và Camarillo, 2014)
Trang 53.3.1 Nguồn dữ liệu 23
4.4 Kiểm tra các giả thiết của mô hình hồi quy tuyến tính 30
4.5 Kiểm định và giải thích ý nghĩa của các hệ số hồi quy 31
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AGR: Tỉ trọng giá trị gia tăng của ngành nông lâm nghiệp và thủy sản;
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, được đo bằng tỷ lệ % dòng vốn FDI ròng thu hút được so với GDP;
GDP: Đại diện cho trình độ phát triển của quốc gia, được đo bằng logarit cơ số tự nhiên (ln) của GDP bình quân đầu người, với GDP tính theo giá cố định USD năm 2010;
IND: Tỉ trọng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp (bao gồm cả xây dựng);
INFMOR: Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong, được đo lường bằng số trẻ em dưới 1 tuổi tử vong trên 1.000 trẻ được sinh ra
LIFEEXP Tuổi thọ bình quân trong năm;
SCHTER: Trình độ dân trí, được đo bằng tỷ lệ tuyển sinh đại học;
TRADE: Độ mở thương mại, được đo lường bằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Lý do chọn đề tài.
Theo Karl Marx, “Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ cần thiết để nuôi dưỡng Nhà nước phápquyền Thuế là nguồn sống đối với Nhà nước Chính phủ mạnh và thuế cao là hai khái niệm đồngnhất” Như vậy, có thể thấy, thuế là cơ sở của bộ máy Nhà nước, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêucủa Nhà nước thích ứng với từng giai đoạn phát triển của đời sống kinh tế - xã hội
Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội của từng quốc gia, việc thuthuế còn nhiều vấn đề bất cập cũng như chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau
Vì vậy, vấn đề mang tính cấp thiết đặt ra là tìm hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến số thuthuế của các quốc gia trên thế giới Từ lý do này, em đã chọn và nghiên cứu đề tài tiểu luận
“Các yếu tố quyết định số thu thuế ở một số quốc gia năm 2018”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài.
1.2.1 Mục tiêu tổng quát.
Phân tích các yếu tố quyết định số thu thuế ở một số quốc gia vào năm 2018, từ đó, đềxuất các giải pháp thích hợp nâng cao chất lượng việc thu thuế ở một số quốc gia trên thế giới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể.
- Phân tích thực các chỉ số kinh tế của một số quốc gia trên thế giới
- Tìm hiểu nguyên nhân và phân tích các yếu tố quyết định số thu thuế ở một số quốc gia vào năm 2018
- Đưa ra các giải pháp thích hợp nâng cao hiệu quả thu thuế ở một số quốc gia
1.3 Câu hỏi nghiên cứu.
Nhằm cụ thể hoá các mục tiêu nghiên cứu dưới dạng các câu hỏi
- Ví dụ:
Trang 10+ Các yếu tố nào ảnh hưởng đến số thu thuế?
+ Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tổng số thu thuế trên từng quốc gia như thế nào?
1.4 Phạm vi nghiên cứu đề tài.
- Sự giới hạn về đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát và thời gian nghiên cứu (donhững hạn chế do mang tính khách quan và chủ quan đối với đề tài và người làm đề tài)
* Ví dụ: 76 Quốc gia ngẫu nhiên trong danh mục tất cả Quốc gia trên thế giới
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu.
Mặc dù, mỗi cá nhân hay tổ chức tham gia đóng thuế hay thu thuế, đều có một địnhnghĩa riêng về thuế Tuy nhiên, để hiểu sâu về thuế, cũng như ý nghĩa của việc nộp thuế,chúng ta cùng theo dõi các phân tích cụ thể dưới đây
Đầu tiên, nếu trước đây, các khoản thanh toán đều phải thực hiện thanh toán thông qua
hiện vật Nhưng ngày nay, việc thanh toán các khoản chi phí được thu trực tiếp bằng tiền, thuếcũng vậy Sự phát triển của nền kinh tế ngày càng lớn mạnh, dòng hàng – tiền – hàng ngàycàng luân chuyển liên tục, đã tạo điều kiện cho sự phát triển lớn mạnh của thuế Việc các cánhân, tổ chức nộp tiền thuế trực tiếp cho cơ quan có thẩm quyền đã góp phần không nhỏ choviệc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Thứ hai, thuế là khoản truy thu của nhà nước, đối với người có nghĩa vụ nộp thuế
thông qua con đường quyền lực Thuế hiện diện ở khắp mọi nơi trong cuộc sống, nhưng dù có
là hình thức nào thì thuế vẫn mang tính chất bắt buộc, căn cứ để nhà nước tiến hành thu thuếngười dân là con đường quyền lực của nhà nước, thông qua hệ thống pháp luật về thuế Tất cảquy định về nghĩa vụ nộp thuế, việc kê khai, nộp thuế,… đều do nhà nước ấn định và quản lýrất chặt chẽ Cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng phải nộp thuế nếu không hoàn thành nghĩa vụcủa mình sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theoquy định pháp luật, đây cũng là điểm khác biệt lớn nhất của thuế và các khoản thu khác
Trang 11Thứ ba, thuế là khoản thu bắt buộc không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp
cho người nộp thuế Tuy nhiên, một phần của thuế sẽ được chi trả gián tiếp cho người nộp thuếthông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng Việc hoàn thuế này không có quyđịnh hay thông báo chính thức, nó có thể xảy ra trước hoặc sau khi nộp thuế Chính vì thế,người nộp thuế không có quyền phản đối hay từ chối việc thực hiện nghĩa vụ của mình về việctruy thu thuế của nhà nước
Có thể nói, việc đóng thuế của cá nhân, tổ chức đã góp phần chính trong việc phát triểnkinh tế xã hội của đất nước Việc đóng thuế đúng và đủ kết hợp với việc chi tiêu hợp lý củanhà nước, không chỉ góp phần phát triển đất nước mà còn trực tiếp nâng cao chất lượng cuộcsống cho người dân Ngày nay, để rút ngắn thời gian với các thủ tục hành chính, chi cục thuếcho phép người dân khai nộp thuế online, bạn có thể tìm hiểu quy trình nộp thuế qua mạng đểrút ngắn thời gian hoàn thành công việc của mình trong thời gian ngắn nhất
1.6 Bố cục.
Bố cục: Ngoài phần mở đầu và kết thúc, bài tiểu luận còn có 5 chương chính:
- Chương 1: Giới thiệu;
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết;
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu;
- Chương 4: Phân tích dữ liệu;
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Định nghĩa số thu thuế.
Ngoài ra còn có khái niệm khác “Thuế là một khoản phí tài chính bắt buộc hoặc một sốloại thuế khác áp dụng cho người nộp thuế (một cá nhân hoặc pháp nhân) phải trả cho một tổchức chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công khác nhau”
Thuế được áp dụng lần đầu tiên ở Ai Cập cổ đại vào khoảng năm 3000-2900 TCN, nếukhông trả tiền hoặc trốn thuế chống lại việc nộp thuế sẽ bị phạt theo quy định của Pháp luật
2.1.2 Tại sao phải đóng thuế? Đặc điểm của thuế.
Khi xã hội loài người được hình thành cần có một tổ chức lãnh đạo được lập ra và hoạtđộng nhằm đem đến lợi ích cho tất cả mọi người Điều này đặt ra phải có một quỹ chung đểthực hiện và chi cho các công việc cần thiết thuế được hình thành Hiện nay, thuế đã trở thànhmột công cụ không thể thiếu dù ở bất cứ xã hội nào Nhà nước đặt ra chế độ thuế khóa do dân
cư đóng góp để có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động của mình
* Đặc điểm của thuế:
Các khoản thu thuế được tập trung vào Ngân sách nhà nước là những khoản thu nhậpcủa nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dướihình thức giá trị
Thuế là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của nhà nước
Trang 13Thuế dựa vào thực trạng của nền kinh tế (GDP, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất,thu nhập, lãi suất, ).
Thuế được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu
2.1.3 Vai trò của thuế.
Thuế giữ vai trò quan trọng trong xã hội hiện tại nếu không có thuế nhà nước sẽ khôngthể hoạt động vững mạnh
Nguồn thu của ngân sách nhà nước: Thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất, mangtính chất ổn định lâu dài và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng
Công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Góp phần thực hiện chứcnăng kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưuthông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, gópphần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân
2.1.4 Phân loại thuế.
Căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau mà người ta phân thuế ra thành nhiều loại để cóthể dễ dàng quản lý
- Phân loại theo hình thức thu gồm:
+ Thuế trực thu: Là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của
các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân VD: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập
cá nhân, thuế chuyển nhượng quyền sở hữu đất
+ Thuế gián thu: Là loại thuế do các nhà sản xuất, thương nhân hoặc người cungcấp dịch vụ nộp cho Nhà nước thông qua việc cộng số thuế này vào giá bán cho người tiêudùng chịu VD: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu
- Phân loại theo tính chất hành chính gồm:
+ Thuế nhà nước (quốc gia): nộp vào ngân sách trung ương
+ Thuế địa phương: nộp vào ngân sách chính quyền địa phương
Trang 14Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng.
- Phân loại thuế theo tính chất kinh tế gồm có:
+ Dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế: Thuế được chia thành thuế đánh vào thunhập, thuế đánh vào tài sản tiêu dùng, thuế đánh vào tài sản, thuế đánh vào doanh nghiệp.+ Dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế: Thuế có các loại gồm thuế đánh
vào doanh nghiệp như: Thuế môn bài, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập cánhân, thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí, lệ phí khác, tiền thuế đất, thuếđánh vào hộ gia đình, thuế đánh vào sản phẩm
- Dựa theo lĩnh vực, thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế: Ví dụ thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào tiết kiệm, thuế đánh vào bất động sản…
2.2 Các yếu tố quyết định đến số thu thuế.
Số thu thuế bị ảnh hưởng bởi khả năng và nỗ lực thu thuế Khả năng thu thuế được ướclượng qua mối quan hệ giữa số thu thuế và GDP (tỉ lệ % trên GDP), nỗ lực thu thuế được thểhiện qua việc tận dụng tốt nhất cơ sở thuế của quốc gia (Lotz và Morss, 1970) Theo đó, số thuthuế bị chi phối bởi các yếu tố: Kinh tế, cấu trúc và xã hội (Castro và Camarillo, 2014)
- Các yếu tố này được mô tả qua các biến chủ yếu sau:
+ Trình độ phát triển kinh tế: Nhân tố này thường được đo lường bằng GDP bìnhquân đầu người GDP bình quân đầu người càng cao dẫn đến nhu cầu càng cao về hàng hóa,dịch vụ nói chung và hàng hóa dịch vụ công nói riêng; ngoài ra, GDP bình quân đầu người caolàm tăng khả năng nộp thuế của xã hội Từ đó, số thuế thu được sẽ tăng (Fox và Gurley, 2005).+ Độ mở thương mại: Nhân tố này thể hiện qua tổng giá trị xuất nhập khẩu so vớiGDP Đây cũng là một nhân tố quan trọng, bởi vì thuế đánh vào thương mại quốc tế là mộttrong những nguồn thu chiếm tỷ trọng cao ở các quốc gia đang phát triển và các quốc gia cóthu nhập trung bình Nó có thể có tác động tích cực,
download by : skknchat@gmail.com
Trang 15bởi khi thương mại được mở rộng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế gia tăngnên có thể thu thuế được nhiều hơn Nhưng trái lại khi mở cửa nền kinh tế thìthuế suất nhập khẩu có chiều hướng giảm dần và việc dỡ bỏ hoặc hạn chế sửdụng các rào cản thương mại lại gây ra tác động tiêu cực đến việc thu thuế(Baunsgaard và Keen, 2010).
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FD1): Các quốc gia có thể tạo ra các ưu đãi về thuếnhằm thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài (Cassou, 1997; Mayoral và Uribe, 2010) nênbiến số này có thể có tác động tiêu cực Nhưng ở góc nhìn khác, nhân tố này có thể có tácđộng tích cực, bởi dòng vốn FDI làm tăng năng lực cạnh tranh quốc gia và gia tăng cơ sởthuế (Gugler và Brunner, 2007)
+ Các yếu tố vĩ mô như tỷ giá hối đoái, kiểm soát lạm phát, tỷ lệ nợ công và chínhsách tài khóa cũng ảnh hưởng đến số thu thuế (Tanzt, 1989; Terra và Hudson, 2004)
+ Giá trị gia tăng khu vực nông nghiệp (ARG): Nhân tố này có tác động tiêu cựcđáng kể đến số thu thuế, bởi vì các hoạt động kinh tế trong khu vực này khó đánh thuế hơn,đặc biệt ở các nước có thu nhập trung bình, sản xuất thường được tổ chức theo quy mô nhỏnên rất khó quản lý và kiểm soát (Gupta, 2007; Castro và Camarillo, 2014)
+ Giá trị gia tăng khu vực công nghiệp (IND): có thể tác động tích cực đến số thuthuế vì thuế đánh vào các công ty công nghiệp thường dễ dàng hơn và năng lực sản xuấtcủa những công ty này có thể tạo ra thu nhập chịu thuế lớn hơn rất nhiều so với nôngnghiệp (Eltony, 2002)
+ Trình độ dân trí: Quốc gia có trình độ dân trí cao có nguồn nhân lực chất lượng,chuyên môn kỹ thuật chuyên sâu hơn, phương pháp sản xuất tinh vi hơn nên làm tăng hiệuquả sản xuất và có thể gia tăng số thu thuế Hơn nữa, hệ thống giáo dục được củng cố tậptrung vào phúc lợi xã hội, dẫn đến người dân có ý thức cao hơn về lợi ích của những loạithuế Do đó, trình độ dân trí có tác động tích cực đến số thu thuế (Castro và Camarillo,2014)
download by : skknchat@gmail.com
Trang 16+ Tuổi thọ của dân số: Nhân tố này một mặt có tác động tích cực đến số thu thuế,bởi chúng có liên quan đến trình độ phát triển và an sinh xã hội Hơn nữa, những người đượchưởng mức an sinh xã hội cao hơn và tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ y tế có khả năng nângcao năng suất của họ và gia tăng các hoạt động kinh tế (Castro và Camarillo, 2014) Mặt khác,biến số tuổi thọ cũng có thể có ảnh hưởng bất lợi đến số thu thuế, bởi vì khi dân số có độ tuổitrung bình cao, tỉ lệ người nghỉ hưu cao hơn, do đó tỉ lệ dân số nộp thuế sẽ thấp hơn (Svejnar,2002).
+ Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong: Đối với những quốc gia có thu nhập cao, trình độ pháttriển cao thường tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong thấp Như vậy, tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong có quan hệnghịch chiều với số thu thuế
2.3 Tổng quan về các nghiên cứu trước đây.
Amin và ctg (2014) nghiên cứu tác động của các yếu tố đến số thu thuế ở Pakistan giaiđoạn 1980-2010 Kết quả cho thấy tham nhũng, bất ổn chính trị, độ mở thương mại, thu nhậpthực bình quân đầu người và lạm phát được xem là các yếu tố chính quyết định đến số thuthuế Các loại thuế dù là thuế trực thu hay gián thu đều chịu ảnh hưởng của tham nhũng, bất ổnchính trị và lạm phát Thu nhập bình quân đầu người tăng làm tăng số thu thuế
Nghiên cứu cũng phát hiện tham nhũng là rào cản lớn trong việc nâng cao số thu thuế
Sử Đình Thành và ctg (2015) đánh giá khả năng thu thuế của Việt Nam trong giai đoạn
1988-2013 và cho thấy khả năng thu thuế của hệ thống thuế Việt Nam trong vẫn do những yếu tốkinh tế quyết định Mức thu nhập cao hơn, độ mở thương mại rộng hơn và tỉ trọng nôngnghiệp trên GDP thấp hơn có thể dẫn tới khả năng thu và tổng thu thuế cao hơn
Piancastelli (2001) dựa trên dữ liệu của 75 quốc gia phát triển và đang phát triển tronggiai đoạn 1985-1995 chỉ ra GDP bình quân đầu người, tỉ trọng công nghiệp trên GDP và độ
mở thương mại là các yếu tố quan trọng quyết định số thu thuế Tỷ trọng nông nghiệp trênGDP có tác động tiêu cực
Gupta (2007) thực hiện cho 105 quốc gia đang phát triển trong khoảng thời gian 25năm, các biến có tác động tích cực và đáng kể với số thu thuế bao gồm: Quy mô nền kinh tế
Trang 17được phản ánh bởi GDP bình quân đầu người, kim ngạch thương mại, viện trợ nước ngoài vàcác chỉ số về ổn định chính trị, kinh tế Mặt khác tác giả này kết luận tỷ trọng nông nghiệp trênGDP và chỉ số cảm nhận tham nhũng có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể tới số thu thuế Tác giả đãchia mẫu tổng thể thành ba mẫu nhỏ tương ứng với ba mức thu nhập khác nhau, kết quả chothấy viên trợ nước ngoài có tác động tích cực đáng kể tới số thu thuế ở các quốc gia có thunhập thấp nhưng không có ý nghĩa ở các nước thu nhập trung bình vả thu nhập cao.
Ngoài ra, nghiên cứu còn tìm thấy tác động tiêu cực mạnh mẽ giữa số thu thuế và thamnhũng ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình Ổ định về chính trị chỉ có tác động tiêu cựctới số thu thuế ở các nước thu nhập cao, trong khi ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bìnhthì tác động này là tích cực
Bird và Vazquez (2008) phân tích dữ liệu và xác định các yếu tố tác động đến số thuthuế với mẫu gồm 110 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1990-1999 Họ tìm thấy GDPbình quân đầu người có tác động tích cực với số thu thuế, nhưng độ mở thương mại lại không
có tác động đáng kể Tỷ lệ tăng trưởng dân số và tỷ trọng nông nghiệp so với GDP tăng đi kèmvới mức thu thuế thấp hơn Chỉ số về các quyền tự do công dân và quyền chính trị, chính trị ổnđịnh, quy định của pháp luật và tham nhũng có tác động tích cực đáng kể tới số thu thuế.Ngoài ra, các tác giả cũng kết luận các quốc gia có thể chế tốt hơn và hiệu quả hơn sẽ làm chomức thu thuế cao hơn Các kết luận này cũng góp phần củng cố tính mạnh mẽ trong kết quảnghiên cứu trước đó của Gupta (2007)
Profeta và Scabrosetti (2010) phân tích các yếu tố quyết định đến số thu thuế của 39quốc gia trong giai đoạn 1990-2004, mẫu nghiên cứu bao gồm 11 nước thuộc châu Á, 19 nước
Mỹ Latinh và 9 nước thành viên EU Nghiên cứu tìm thấy GDP bình quân đầu người và tỷ lệ
nợ trên GDP không có ý nghĩa trong việc quyết định số thu thuế ở các nền kinh tế khu vựcchâu Á, nhưng lại có tác động tích cực đáng kể ở các nước thuộc khu vực Mỹ Latinh Tỷ trọngnông nghiệp trên GDP ảnh hưởng tiêu cực tới số thu thuế ở Mỹ Latinh nhưng không có ýnghĩa ở châu Á, độ mở của nền kinh tế có tác động tích cực đến số thu thuế ở châu Á và châu
Âu, nhưng tiêu cực ở Mỹ Latinh Các chỉ số về quyền dân chủ, quyền tự do công dân và quyềnchính trị càng cao thì càng làm gia tăng hiệu quả của hệ thống thuế
Trang 18Từ các nghiên cứu này có thể thấy kết quả còn phụ thuộc rất nhiều vào phạm vi thuthập dữ liệu, các kết quả sẽ thuyết phục hơn khi các quốc gia trong mẫu có sự tương đồng về
vị trí địa lý hay mức thu nhập
Dioda (2012) sử dụng dữ liệu bảng cho 32 quốc gia thuộc khu vực Mỹ Latinh vàCaribbean trong khoảng thời gian từ 1990-2009, đã đánh giá ý nghĩa thống kê của một số biếngóp phần quyết định tới tỷ trọng số thu thuế trên tổng GDP Các kết quả chỉ ra các biến có ảnhhưởng đáng kể đến số thuế thu được bao gồm: Quyền tự do công dân, số lao động nữ, cơ cấudân số theo độ tuổi, sự ổn định về chính trị, trình độ giáo dục, mật độ dân số và quy mô củakinh tế ngầm
Tương tự, Castro và Camarillo ( 2014) sử dụng đồng thời kỹ thuật phân tích bảng tĩnh
và bảng động để phân tích tác động của các yếu tố kinh tế, cấu trúc, thể chế và xã hội đến sốthu thuế cho 34 quốc gia thành viên OECD trong khoảng thời gian từ năm 2001-2011 Các kếtquả cho thấy GDP bình quân đầu người, khu vực công nghiệp và các quyền tự do công dân cótác động tích cực đến biến phụ thuộc là tỉ trọng thu thuế trên GDP Trong khi, biến số đại diệncho khu vực nông nghiệp và tỷ trọng đầu tư trực tiếp nước ngoài liên quan đến hình thành tổngvốn cố định lại có tác động tiêu cực
Điểm đặc biệt trong nghiên cứu này mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đó làviệc phân tích thêm tác động của biến phụ thuộc trễ và kết quả là biến này có tác động tíchcực, điều này cũng đồng nghĩa với việc số thu thuế của năm trước cũng góp phần ảnh hưởngđến số thu của năm hiện tại Tuy vậy, hạn chế của nghiên cứu này là số quan sát không đủ lớnkhi chia mẫu quan sát làm hai mẫu phụ
Tóm lại, hầu hết các nghiên cứu cho thấy yếu tố kinh tế quan trọng nhất và có tác độngmạnh đến số thu thuế Trong đó, tốc độ tăng trưởng GDP và độ mở thương mại có tác độngtích cực, nhưng tỷ trọng nông nghiệp trên GDP lại có tác động tiêu cực Tác động của nhữngyếu tố khác là chưa rõ ràng, kết quả vẫn còn phụ thuộc nhiều vào thời gian, khu vực và quy mômẫu nghiên cứu
Trang 192.4 Mô hình, dữ liệu và đo lường các biến.
Một công cụ đơn giản để đánh giá khả năng thu thuế là dùng mô hình hồi quy vớinhững biến giải thích đại diện cho các yếu tố phản ánh khả năng thu thuế Dựa vào nghiên cứucủa Castro và Camarillo (2014), tác giả đề xuất mô hình định lượng phân tích các yếu tố ảnhhưởng đến số thu thuế của X quốc gia trong năm Y như sau:
Trong đó,
+ H1: Trình độ phát triển tác động tích cực lên số thu thuế của mỗi quốc gia
+ H2: Độ mở thương mại là một nhân tố quan trọng và nó tác động tích cực lên số thu thuế của mỗi quốc gia
+ H3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vừa có tác động tiêu cực, vừa tác độngtích cực đến số thu thuế Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể làm gia tăng năng lực cạnh tranh
và tăng nguồn vốn ở mỗi quốc gia
+ H4: Giá trị gia tăng khu vực nông nghiệp (ARG) nhân tố này có tác động tiêu cựcđáng kể đến số thu thuế, đặc biệt ở các nước có thu nhập trung bình, sản xuất thường
+ H5: Giá trị gia tăng khu công nghiệp (IND) có thể tác động tích cực đến số thu thuế
+ H6: Trình độ dân trí: Quốc gia có trình độ dân trí cao có nguồn nhân lực chất lượng nên làm tăng hiệu quả sản xuất và có thể gia tăng số thu thuế
+ H7: Tuổi thọ của dân số: Nhân tố này một mặt có tác động tích cực đến so thu thuế.Mặt khác, biến số tuổi thọ cũng có thể có ảnh hưởng bất lợi đến số thu thuế
+ H8: Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong: Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong có quan hệ nghịch chiều với số thu thuế
Trang 202.5 Mô hình nghiên cứu.
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu
Trang 21CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu.
Nghiên cứu này được thực hiện theo quy trình cụ thể bao gồm 5 bước (tương ứng với 5chương của tiểu luận
Bước 1: Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu: Xuất phát từ thực tế hiện nay trên
thế giới, thuế là nguồn thu lớn nhất của ngân sách các quốc gia để phục vụ cho các nhu cầu chỉtiêu của chính phủ do đó việc nghiên cứu nhằm xác định và đánh giá mức độ tác động của cácyếu tố đến số thu thuế là rất cần thiết Tại bước này, đặt ra các câu hỏi và mục tiêu cụ thể chonghiên cứu
Bước 2: Thu thập tài liệu, xây dựng cơ sở lý thuyết: dựa trên cơ sở vấn đề và mục
tiêu nghiên cứu, tiến hành thu thập tài liệu, xây dựng cơ sở lý thuyết liên quan thuế và các yếu
tố ảnh hưởng đến số thu thuế Đồng thời, tìm hiểu các nghiên cứu đã có của các nhà kinh tếhọc nhằm tham khảo, kế thừa trong nghiên cứu này Trong bước này, đưa ra mô hình lý thuyết
đề xuất cho nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu
Bước 3: Xác định phương pháp nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu: Trên cơ
sở lý thuyết và vấn đề cần nghiên cứu, kế thừa các nghiên cứu trước, xác định phương phápnghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu Tiến hành xây dựng các mô hình nghiên cứu sẽ thựchiện trong nghiên cứu
Bước 4: Thu thập, xử lý số liệu; ước lượng mô hình, kiểm định mô hình; phân tích kết quả: dựa trên mô hình nghiên cứu đã xây dựng, tiến hành thu thập dữ liệu liên quan từ
nguồn đáng tin cậy Xử lý số liệu, mã hoá biến số, kiểm tra dữ liệu sau đó ước lượng mô hình,kiểm định mô hình và phân tích kết quả
Bước 5: Kết luận, kiến nghị chính sách: Dựa vào kết quả phân tích các mô hình đưa
ra kết luận và kiến nghị chính sách
Trang 22Hình 3.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu
3.2 Xây dựng mô hình nghiên cứu.
- Mô hình gồm có hai biến: Biến phụ thuộc và biến độc lập
+ Biến phụ thuộc: TAXREV – đại diện cho số thu thuế, được đo bằng tỉ lệ (%) củatổng số thuế thu được trong năm so với GDP
+ Các biến độc lập gồm:
▪ GDP: Đại diện cho trình độ phát triển của quốc gia, được đo bằng logarit
cơ số tự nhiên (ln) của GDP bình quân đầu người, với GDP tính theo giá cố định USD năm2010;
▪ TRADE: Độ mở thương mại, được đo lường bằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP;