Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liênquan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”nhìn từ khái niệm tài sản và nếu có điều kiện,
Trang 1BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA TÀI SẢN VÀ QUYỀN ĐỐI VỚI TÀI SẢN
Bộ môn: Những quy định chung về Luật dân sự, tài sản, thừa kế
Giảng viên: ThS Nguyễn Tấn Hoàng Hải
Thành viên
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 03 năm
2022.
Trang 2Câu 1.1 Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụminh họa về một vài giấy tờ có giá? 2
Câu 1.2 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấychứng nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án
số 39 có cho câu trả lời không? 4
Câu 1.3 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấychứng nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định số 06 và Bản án số 39
có cho câu trả lời không? Vì sao? 5
Câu 1.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liênquan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”nhìn từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luậtnước ngoài)
Câu 1.8 Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không? 8
Câu 1.9 Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệthống pháp luật mà anh/chị biết 9
Câu 1.10 Suy nghĩ của anh/chị về quan điểm của Tòa án đối với Bitcoin trongmối quan hệ với khái niệm tài sản ở Việt Nam 11Câu 1.11 Quyền tài sản là gì? 12Câu 1.12 Có quy định nào cho phép khẳng định quyền thuê, quyền mua tài sản
là quyền tài sản không? 13Câu 1.13 Đoạn nào của Quyết định số 05 cho thấy Tòa án nhân dân tối cao theo
Trang 3trong Quyết định số 05 về quyền thuê, quyền mua (trong mối quan hệ với kháiniệm tài sản)? 14
VẤN ĐỀ 2: CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU
Câu 2.1 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chịVân đã chiếm hữu nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suy nghĩ củaanh/chị về khẳng định này của Tòa án? 15Câu 2.2 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chịVân đã chiếm hữu ngay tình nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suynghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 16Câu 2.3 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chịVân đã chiếm hữu liên tục nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suynghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 17Câu 2.4 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định gia đình chịVân đã chiếm hữu công khai nhà đất có tranh chấp trên 30 năm và cho biết suynghĩ của anh/chị về khẳng định này của Tòa án? 18Câu 2.5 Đoạn nào của Quyết định trên cho thấy Tòa án khẳng định cụ Hảokhông còn là chủ sở hữu nhà đất có tranh chấp và cho biết suy nghĩ của anh/chị
về khẳng định này của Tòa án? 20Câu 2.6 Theo anh/chị, gia đình chị Vân có được xác lập quyền sở hữu đối vớinhà đất có tranh chấp trên cơ sở quy định về thời hiệu hưởng quyền không? Vìsao?
21
VẤN ĐỀ 3: CHUYỂN RỦI RO ĐỐI VỚI TÀI SẢN
Câu 3.1 Ai phải chịu rủi ro đối với tài sản theo quy định của BLDS? Nêu cơ sởpháp lý khi trả lời 23Câu 3.2 Tại thời điểm cháy chợ, ai là chủ sở hữu số xoài? Nêu cơ sở pháp lý khitrả lời 24Câu 3.3 Bà Dung có phải thanh toán tiền mua ghe xoài trên không? Vì sao? Nêu
Trang 5Khánh Hòa.
Ngày 16/02/2017 ông Phan Hai (nguyên đơn) khởi kiện yêu cầu ông PhanQuốc Thái (bị đơn) trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Lương ThịXàm để lại Tuy nhiên với lý do là ông Hai không cung cấp được Giấy ủy quyền củaông Phan Trọng Nguyên và không có giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu tài sảnnên ngày 4/5/2017 TAND huyện Diên Khánh đã đưa ra Quyết định đình chỉ giảiquyết vụ án Sau đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện kháng nghị và ông Hai cũngkháng cáo Quyết định trên vì cho rằng lý do đó là không thỏa đáng Xem xét vềthẩm quyền, xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Theo đóTòa án đã đưa ra quyết định không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhândân huyện, không chấp nhận kháng cáo của ông Hai và sửa lại quyết định đình chỉgiải quyết vụ án
Tóm tắt Bản án số 39/2018/DS-ST ngày 28/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long.
Vợ chồng ông B và bà H (nguyên đơn) do sửa nhà nên làm mất giấy chứngnhận quyền sử dụng đất của nhà mình Khi ông bà yêu cầu UBND cấp lại thì ngườicủa UBND lại thông báo là nhà bà thuộc diện tranh chấp vì giấy tờ nhà bà đang do
bà T (bị đơn) sở hữu Vì vậy ông bà đã kiện bà T để lấy lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất Phía bà T khai rằng ông bà B và H thế chấp giấy chứng nhận để vaytiền và chỉ đồng ý hoàn trả lại nếu được trả 120 triệu Tuy nhiên phía bà T lại khôngđưa ra được bằng chứng xác thực Sau đó Tòa án đã ra quyết định chấp nhận yêucầu của vợ chồng ông B và bà H, yêu cầu bà T trả lại giấy chứng nhận quyền sửdụng đất cho vợ chồng nguyên đơn
Tóm tắt Bản án số 22/2017/HC-ST ngày 21/09/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre
Ngày 15/06/2017 ông Nguyễn Việt Cường (người khởi kiện) có đơn khởikiện yêu cầu Tòa án hủy quyết định số 714/QĐ-CCT ngày 12/05/2016 của Chi cụctrưởng Chi cục thuế thành phố Bến Tre (người bị kiện) và Quyết định số 1002/QĐ-
CT ngày 18/05/2017 của Cục trưởng Cục thuế tỉnh Bến Tre (người bị kiện) Tuynhiên, ý kiến
Trang 6của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng ông Cường có hành vi mua bán tiền
kỹ thuật số, việc mua bán tiền kỹ thuật số là kinh doanh hàng hóa nên Chi cụctrưởng Chi cục thuế thành phố Bến Tre ban hành Quyết định số 714/QĐ-CCT ngày12/05/2016 truy thu thuế đối với ông Cường là có căn cứ nên đã đề nghị Hội đồngxét xử bác bỏ yêu cầu khởi kiện của ông Cường Nhưng xét về khung pháp lý thìtiền kỹ thuật số (tiền ảo) cũng như hành vi mua bán tiền ảo qua mạng internet đangđược hoàn thiện, hiện chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào xác định tiền kỹthuật số (tiền ảo) là hàng hóa và mua bán tiền kỹ thuật số (tiền ảo) là kinh doanhhàng hóa được pháp luật cho phép và phải chịu thuế Vì vậy Tòa án đã quyết địnhchấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cường, tuyên bố hủy Quyết định số 714/QĐ-CCT ngày 12/05/2016 của Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố Bến Tre về việc
áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 1002/QĐ-CT ngày18/05/2017 của Cục trưởng Cục thuế tỉnh Bến Tre về việc giải quyết khiếu nại củaông Cường
Tóm tắt Quyết định số 05/2018/DS-GĐT ngày 10-4-2018 về “Vụ án Tranh chấp chia tài sản chung về việc mua hóa giá nhà” của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Bà Nguyễn Thị H (nguyên đơn) và bà Nguyễn Thị Kim L (bị đơn) là con của
cụ Nguyễn Thanh T Đầu năm 1976, cụ T được Quân đội cấp căn nhà số 63 Năm
1995, cụ T chết, cụ chưa làm thủ tục mua hóa giá căn nhà trên, không để lại di chúc,
có lập giấy ủy quyền cho bà L trọn quyền giải quyết những việc có liên quan đếnquyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với căn nhà trên Bà L đã mua hóa giá căn nhàtrên sau khi có sự đồng ý của toàn bộ các con cụ T Tuy nhiên, sau đó bà L đã chothuê mà không bàn bạc với con cụ T Bà H khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung làngôi nhà trên theo biên bản thỏa thuận của Thanh tra Bộ Quốc phòng Tòa phúcthẩm không chấp nhận kháng cáo của bà L Tòa án nhân dân tối cao đã hủy toàn bộbản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố HồChí Minh xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật
Câu 1.1 Thế nào là giấy tờ có giá? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời và cho ví dụ minh họa về một vài giấy tờ có giá?
Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) không đưa ra định nghĩa cụ thể mà chỉxác định giấy tờ có giá là một loại tài sản, do vậy mà nhiều người đã không xác định
Trang 7xe máy, đăng ký ô tô…là giấy tờ có giá và có thể sử dụng để tham gia và các giaodịch dân sự như mua bán, chuyển nhượng.
Tuy nhiên, hiện nay, trong quy định của pháp luật hiện hành, theo khoản 8Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010, khoản 1 Điều 3 Thông tư04/2016/TT-NHNN và khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN quy định:
“Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”.
Ngoài ra, giấy tờ có giá còn được định nghĩa như sau:
Giấy tờ có giá là giấy tờ chứng nhận một quyền tài sản, có giá trị trao đổi, thực hiện việc thanh toán trực tiếp hoặc có thể xuất trình để thực hiện quyền tài sản ghi nhận trên đó Giấy tờ có giá có thể được phát hành bởi Nhà nước, ngân hàng, tổ chức có chức năng kinh doanh tiền tệ
có liên quan tới người được cấp giấy tờ đó hoặc các doanh nghiệp có cơ
sở sản xuất nhưng có nhu cầu huy động vốn 1
Về các loại giấy tờ được xác định là giấy tờ có giá thì căn cứ vào nội dunggiải đáp về giấy tờ có giá tại Điều 1 Công văn 141/TANDTC-KHXX ngày
21/09/2011 về “V/v thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản” của Chánh án Toà án nhân dân tối cao có liệt kê một số loại
giấy tờ có giá tại các điểm a, b, c, d , đ sau:
khác được qui định tại Điều 1 của Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005;
b) Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kì phiếu, cổ phiếu được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005;
1 Lê Minh Hùng, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế của Đại học Luật TP.
HCM, Nxb Hồng Đức 2018, Chương I, tr.54.
Trang 8c) Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được qui định tại Khoản 16 Điều 3 của Luật quản lí nợ công năm 2009;
cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính qui định) được qui định tại Khoản 1 Điều 6 của Luật chứng khoán năm 2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số Điều năm 2010);
đ) Trái phiếu doanh nghiệp được qui định tại Điều 2 của Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 của Chính phủ về "Phát hành trái phiếu doanh nghiệp".
Câu 1.2 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là giấy tờ có giá không? Quyết định số 06 và Bản án
số 39 có cho câu trả lời không?
Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứngnhận sở hữu nhà” không phải là giấy tờ có giá Vì theo khoản 8 Điều 6 Luật Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam 2010 quy định: “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác” và căn cứ tại khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất”.
3 Luật đất đai 2013 để đưa ra câu trả lời kết luận: “Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá” Còn ở Bản án số
39 phần nhận định của Tòa án chỉ nói: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác lập quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất” và không
Trang 9đề cập gì đến vấn đề “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữunhà” là giấy tờ có giá hay không có giá.
Câu 1.3 Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” có là tài sản không? Quyết định số 06 và Bản án số 39
có cho câu trả lời không? Vì sao?
Trong thực tiễn xét xử, “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứngnhận sở hữu nhà” không phải là tài sản Vì: căn cứ tại khoản 16 Điều 3 Luật đất đai
2013 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất” và căn cứ vào khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
dụng đất chỉ là văn bản chứa đựng thông tin về Quyền sử dụng đất, là văn bản chứng quyền, không phải là tài sản và không thể xem là loại giấy tờ có giá” và Bản án số 39
“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác lập quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất” Như vậy, có thể thấy ở Quyết định số 06 hay Bản án số 39 đều nhận
định rằng “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” không phải
là tài sản
Câu 1.4 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tài sản (và nếu có điều kiện, đối chiếu thêm với pháp luật nước ngoài)
Theo nhóm, hướng giải quyết trong Quyết định số 06 liên quan đến “giấychứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà” nhìn từ khái niệm tàisản là chưa hoàn toàn hợp lý Tòa cho rằng “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,giấy chứng nhận sở hữu nhà” không phải là tài sản theo căn cứ tại Điều 105, 115BLDS 2015; khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013 Tuy nhiên căn cứ theo khoản 1
Điều 105 BLDS 2015 “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”, nhìn từ
khái niệm tài sản thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay giấy chứng nhận sởhữu nhà có thể là vật Vì vật là thứ nằm trong sự kiểm soát, chi phối, nắm giữ đượccủa con
Trang 10người nó được con người kiểm soát và chi phối Vì thế có thể coi giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất hay giấy chứng nhận sở hữu nhà là một dạng của tài sản trênphương diện là vật.
Đối chiếu với pháp luật nước ngoài, Luật La Mã là luật ghi nhận đầu tiên về
khái niệm của tài sản: “Theo luật La Mã, tài sản bao gồm các vật và quyền tài sản Vật là những đối tượng hữu hình đơn lẻ, phân biệt được, có tính độc lập mà con người có thể cầm nắm, khai thác lợi ích kinh tế và có giá trị vật chất” Các quốc gia
châu Á và châu Âu sau này cũng có những quy định về khái niệm tài sản chịu sựảnh hưởng của Luật La Mã, điển hình là Common Law và Civil Law Trong đó, đạidiện cho hệ thống pháp luật của Common Law có thể nhắc đến pháp luật Mỹ Tại
Điều 448 Bộ luật Dân sự của Tiểu bang Louisiana (Mỹ) viết: “Tài sản được phân chia thành tài sản chung, tài sản công và tài sản tư, tài sản hữu hình và tài sản vô hình; động sản và bất động sản” Đồng thời, đại diện cho hệ thống pháp luật của
Civil Law có thể nhắc đến pháp luật của Pháp Điều 516 Bộ luật Dân sự của Pháp
viết: “Tài sản chia thành động sản và bất động sản” Ngoài ra, Luật Dân sự Thái Lan định nghĩa về tài sản như sau: “Tài sản bao gồm những vật cũng như các đối tượng không cụ thể có thể có một giá trị và có thể chiếm dụng được” 2
Câu 1.5 Nếu áp dụng BLDS năm 2015, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà có là tài sản không? Vì sao?
Nếu áp dụng BLDS 2015 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứngnhận sở hữu nhà là tài sản Vì căn cứ vào khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 quy định:
“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Có thể thấy rằng giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hay giấy chứng nhận sở hữu nhà ở được coi là vật, vì vật làthứ nằm trong sự kiểm soát, chi phối, nắm giữ được của con người nó được conngười kiểm soát và chi phối Vì thế có thể coi giấy chứng nhận quyền sử dụng đấthay giấy chứng nhận sở hữu nhà là một dạng của tài sản trên phương diện là vật
2 Trần Thị Huê, Luận văn thạc sĩ về Phân loại tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam,
Học viện khoa học xã hội, Hà Nội, 2016, tr.11.
Trang 11Câu 1.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trong Bản án số 39 liên quan đến “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở hữu nhà”.
Theo nhóm, hướng giải quyết trong Bản án số 39: “… yêu cầu bà T trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng nguyên đơn” là thoả đáng, đảm
bảo được quyền và nghĩa vụ của các bên, đồng thời bảo vệ được quyền và lợi íchhợp pháp của nguyên đơn Tuy giấy chứng nhận sử dụng đất không phải là giấy tờ
có giá, nhưng có thể coi nó là vật Vì vậy có thể xem giấy chứng nhận sử dụng đất
là tài sản Đồng thời giấy chứng nhận sử dụng đất là một loại giấy tờ có ý nghĩaquan trọng bởi nó thể hiện sự công nhận của nhà nước đối với người sử dụng đấthợp pháp Ngoài ra, giấy chứng nhận sử dụng dất cũng là một trong những căn cứcho phép xác định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước có liên quan trong việcgiải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất, Trong thực tiễn hiện nay, giấychứng nhận sử dụng đất không được coi là một loại tài sản, do đó dẫn tới nhiều bấtcập làm tổn hại đến các quan hệ dân sự, gây khó khăn cho người dân trong việc xácđịnh thẩm quyền của các cơ quan nhà nước để đi đến việc giải quyết các khiếu nạicho mình Do đó, Bản án số 39 đã giải quyết đúng hướng, đảm bảo quyền lợi íchcủa nguyên đơn một cách đầy đủ
Câu 1.7 Bitcoin là gì?
Về đặc điểm của Bitcoin:
Bitcoin (ký hiệu: BTC, XBT, ) là một loại tiền tệ kỹ thuật số được quản lýphân cấp (Cryptocurrency) Bitcoin được tạo ra bởi một hệ thống mã hóa phức tạp.Đây là một giao thức mật mã dùng để chuyển hóa dữ liệu bí mật nhằm bảo tồn giátrị của các đơn vị trao đổi Bitcoin là đồng tiền không thể làm giả hay gian lận được
vì nó đã được bảo mật theo một cách rất đặc biệt Cha đẻ của Bitcoin được xem ôngSatoshi Nakamoto dưới dạng phần mềm mã nguồn mở từ năm 2008 Điểm đặc biệtcủa Cryptocurrency là hệ thống quản lý phân cấp, không chịu sự quản lý của bênthứ ba như ngân hàng trung uơng hay một tổ chức nào đó của bất kỳ quốc gia nào.Nguồn cung và giá trị của Cryptocurrency được quản lý bởi chính người dùng vàcác giao thức mật mã phức tạp của nó
Về thực trạng Bitcoin hiện nay:
Trang 12Tuy có nhiều đặc điểm nổi trội, song, Bitcoin cũng đem lại nhiều lo ngại chocác quốc gia Các ngân hàng trung ương lo ngại mất đi đặc quyền phát hành tiền tệcủa mình và gây ra sự mất ổn định của đồng tiền Đồng thời, các đồng tiền ảo cũnggóp phần giúp các hoạt động rửa tiền, trốn thuê gia tăng hoặc khiến người dân savào “cờ bạc” khi đầu tư vào những đồng tiền ảo Vì vậy Bitcoin nói riêng và cácloại tiền ảo nói chung luôn là vấn đề “nóng” được người dân quan tâm.
Câu 1.8 Theo Tòa án, Bitcoin có là tài sản theo pháp luật Việt Nam không?
Tài sản là một khái niệm rộng, có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
Theo nghĩa thông thường trong tiếng Việt, khái niệm tài sản được hiểu là “của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng” 3 Đồng thời, trong các từ điển
Hán-Việt, từ “tài sản” được ghép bởi hai từ “tài” và “sản” “Tài” là tiền bạc, của cải vật chất có giá trị kinh tế “Sản” là sự sinh sôi, sản sinh mà ở trong trường hợp
cụ thể này là sự sinh ra các lợi ích4 Do đó, có thể hiểu tài sản là tiền bạc, của cải, lợi
ích vật chất có giá trị kinh tế và có khả năng sinh lợi Ngoài ra, trong pháp luật thực
thú vị và khá riêng của BLDS Việt Nam
Trong Bản án số 22, Toà án nhận định:
…pháp luật hiện hành không quy định nghành nghề kinh doanh nạp tiền
ảo, đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh về việc mua bán tiền ảo trên Internet… “Tiền ảo không phải là tiền tệ và không phải là phương tiện thành toán hợp pháp Việc phát hành, cung ứng và
sử dụng tiền ảo làm tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán là hành vi bị cấm và chế tài xử lý hành vi này đã được quy định tại Nghị định số 96/2014/NĐ- CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ”.
Và đoạn:
Cụ thể, theo Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.” và Điều 3 Luật Thương mại
3 Nguyễn Như Ý, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb VH-TT, Hà Nội, năm 1999, tr.1483.
4 Đào Duy Anh, Hán - Việt Từ điển, (Phan Bội Châu hiệu đính), Nxb VH-TT, Hà Nội, tái bản năm
2005, tr 665-697.
Trang 132005 quy định: “Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai.” Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng không chấp nhận tiền ảo là tiền tệ, phương tiện thanh toán hợp pháp, đồng thời Nghị định số 96/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính Phủ quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi phát hành, cung ứng và sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp như Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự.
Như vậy, Toà nhận định thì Bitcoin không phải là tiền tệ, càng không phải làgiấy tờ có giá và không phải là quyền tài sản Vậy nên Bitcoin không phải là tài sảntheo pháp luật Việt Nam
Câu 1.9 Pháp luật nước ngoài có coi Bitcoin là tài sản không? Nếu có, nêu hệ thống pháp luật mà anh/chị biết.
Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật của các nước trên thế giới mà
cụ thể là Mỹ, Nhật Bản, Canada, Trung Quốc… trong việc quy định pháp luật vàquản lí tiền ảo nói chung, có thể thấy rằng thế giới đang có những cách nhìn nhậncũng như quản lý tiền ảo theo cách riêng biệt của từng quốc gia Có thể nhận ra rằng
có 3 xu thế
Thứ nhất, cho phép sử dụng, giao dịch tiền ảo nhưng quản lý chặt các
trung gian giao dịch
Nhật Bản, từ năm 2016, Chính phủ Nhật Bản cũng đã công nhận tiền kỹthuật số là một công cụ tài chính và cho phép thành lập các sàn giao dịch tiền điệntử; đồng thời, xây dựng khung pháp lý về tiền kỹ thuật số Theo đó, hoạt động kinhdoanh và trao đổi tiền kỹ thuật số được điều chỉnh bởi Đạo luật dịch vụ thanh toánnăm 2009 (sửa đổi, bổ sung năm 2016) Luật Dịch vụ thanh toán quy định tiền kỹthuật số được hiểu là loại phương tiện thanh toán hợp pháp nhưng không phải làmột loại tiền tệ
Cụ thể, khoản 5 Điều 2 Luật Dịch vụ thanh toán định nghĩa:
Tiền kỹ thuật số được hiểu là: (1) Giá trị tài sản có thể được sử dụng làm khoản thanh toán cho việc mua bán, cho thuê hàng hóa hoặc cung
Trang 15thống xử lý dữ liệu điện tử; (2) Giá trị tài sản có thể trao đổi qua lại cho nhau bởi những người không xác định và có thể chuyển nhượng thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử.
El Salvador, Quốc hội El Salvador ngày 9/6 thông qua luật công nhận tínhhợp pháp của Bitcoin, khiến nước này trở thành một trong những quốc gia đầu tiêntrên thế giới chính thức chấp nhận đồng tiền kỹ thuật số này Tổng thống ElSalvador Nayib Bukele phát biểu trên truyền hình rằng đạo luật công nhận Bitcoin
là tiền tệ hợp pháp sẽ có hiệu lực kể từ ngày 7/9 tới đây
Thứ hai, cấm các giao dịch liên quan đến tiền ảo trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng
Mỹ - quốc gia có nhiều luật định liên quan đến tiền ảo nhất Theo đó, năm
2013 Bộ Tài chính Hoa Kỳ phân loại Bitcoin như là một loại tiền ảo phi tập trung cóthể chuyển đổi Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai (CFTC) đã phân loại bitcoin
là một loại hàng hóa vào tháng 9 năm 2015 và cho phép các chứng khoán phái sinhtiền ảo được giao dịch công khai
Canada cho phép sử dụng tiền kỹ thuật số, bao gồm Bitcoin Theo Cơ quantiêu dùng tài chính Canada, người tiêu dùng có thể sử dụng các loại tiền kỹ thuật số
để mua hàng hóa và dịch vụ trên internet và trong các công ty chấp nhận tiền kỹthuật số Đồng thời, người tiêu dùng có thể mua và bán tiền kỹ thuật số trên các sàngiao dịch mở Tuy nhiên, tiền kỹ thuật số, bao gồm Bitcoin, không được coi là tiền
tệ hợp pháp tại Canada Cụ thể, Đạo luật tiền tệ Canada năm 1985 định nghĩa tiền tệhợp pháp là: Tiền giấy và tiền đồng do Ngân hàng Canada phát hành
Thứ ba, trung lập, chưa có động thái rõ ràng về tiền ảo
Trung Quốc không thừa nhận bất kỳ loại tiền ảo nào là đồng tiền pháp định
Hệ thống ngân hàng không chấp nhận các loại tiền ảo và do đó không cung cấp cácdịch vụ tương ứng
để như Trung Quốc, nhưng chính phủ đã có nhiều quy định xử phạt các hoạt động liênquan đến việc sử dụng, phát hành tiền ảo Trong đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số80/2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2014 về thanh