1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng phát triển khoa học – công nghệ việt nam hiện nay giải pháp cho những hạn chế tồn tại

17 26 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 203,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với các nguồn lực về lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên,… khoa học – công nghệ được coi là nguồn lực quan trọng, tiềm lực trí tuệ và sáng tạo có tác động to lớn đối với phát triể

Trang 1

MỞ ĐẦU

Chặng đường hơn 35 năm đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam ta đã đạt được không ít thành tựu và đang ngày càng nỗ lực

để phát triển mạnh mẽ phát triển mọi mặt của đất nước Đồng thời, Đảng bộ và Nhà nước ta cũng nhận thức, chủ trương đúng đắn định hướng muốn phát triển nhanh, bền vững đất nước phải dựa trên Khoa học – Công nghệ; muốn triển khai được nền sản xuất công nghiệp tiên tiến hiệu quả cao phải dựa trên nền tảng tri thức Những thành tựu to lớn đã đạt được đang làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của nước ta và thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội Qua đó có thể thấy được, vai trò, tầm quan trọng của lĩnh vực khoa học – công nghệ là động lực then chốt để phát triển kinh tế – xã hội Cùng với các nguồn lực về lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên,… khoa học – công nghệ được coi là nguồn lực quan trọng, tiềm lực trí tuệ và sáng tạo có tác động to lớn đối với phát triển kinh tế Cụ thể, khoa học và công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng của mỗi quốc gia

Trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, nước ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi

và vai trò chủ chốt của khoa học – công nghệ để vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế khu vực và toàn cầu đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình Do đó, để phát huy tối đa, hiệu quả lợi thế mà khoa học – công nghệ đem lại đòi hỏi chúng ta cần nắm bắt, tìm hiểu được những vấn đề cơ bản xoay quanh lĩnh vực khoa học – công nghệ, nhận biết đánh giá được thực trạng phát triển khoa học – công nghệ của Việt Nam hiện nay Từ đó, tiến hành phân tích những ưu điểm, lợi thế để tiếp tục duy trì, phát huy; chỉ ra những hạn chế, nhược điểm còn tồn tại để tìm ra những giải pháp khắc phục, cải thiện Chính vì vậy, nhóm tác giả tiến hành tìm hiểu, nghiên

cứu đề tài:“Thực trạng phát triển khoa học – công nghệ Việt Nam hiện nay Giải pháp cho những hạn chế tồn tại”.

Trang 2

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ

1 Một số khái niệm.

 Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự việc, quy luật của tự nhiên xã hội và tư duy

 Công nghệ là tập hợp những phương tiện, phương pháp, kiến thức, kỹ năng, thông tin cần thiết nhằm biến đổi các nguồn lựuc thành sản phẩm và dịch

vụ phục vụ cho nhu cầu của con người

 Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra hoạt động của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) so với kỳ gốc

 Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm cả sự thay đổi về lượng và chất, là quá trình hoàn thiện cả

về kinh tế và xã hội của quốc gia

2 Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ.

Khoa học và công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

 Khoa học tạo cơ sở lý thuyết cho việc sáng tạo và triển khai các hoạt động công nghệ

 Công nghệ tạo ra những phương tiện quan trọng hỗ trợ cho nghiên cứu, phát triển những kiến thức khoa học mới

3 Vai trò của KH – CN với tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế thông qua mở rộng việc sử

dụng các nguồn của nền kinh tế như tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, vốn

và chính khoa học – công nghệ; đồng thời nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực đó.

- Nhờ khoa học – công nghệ mà các nước mới có thể nghiên cứu, phát hiện và đưa vào sử dụng các nguồn tài nguyên hay năng lượng mới mà trước đây chưa được phát hiện hoặc chưa được sử dụng theo hướng tiết kiệm và hiệu quả

- Khoa học – công nghệ góp phần biến đổi chất lượng nguồn lao động (cả về trình độ và chất lượng), thông qua đó phát huy hiệu quả vai trò của con người trong quá trình phát triển kinh tế.Ứng dụng khoa học – công nghệ giúp tăng năng suất, hiệu quả lao động

Trang 3

- Khoa học – công nghệ giúp chuyển dịch, di chuyển, huy động, phân bổ và sử dụng nguồn vốn 1 cách có hiệu quả, nhanh chóng, an toàn

- Việc học tập , nghiên cứu khoa học – công nghệ đồng thời thúc đẩy việc sản sinh ra các công nghệ mới với trình độ tiên tiến, hiện đại hơn

- Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế hiện nay khoa học – công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng, tăng khả năng cạnh tranh, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế

Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và các ngành kinh tế theo

hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa.

- Khoa học – công nghiệ là nguồn lực đặc biệt quan trọng thúc đẩy quá trình

CNH-HĐH trong các ngành kinh tế

- Khoa học – công nghệ tạo điều kiện cho các ngành kinh tế phát triển đa dạng,

có hiệu quả; tạo ra các sản phẩm đa dạng hơn, với giá thành thấp và chất lượng cao hơn, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng

- Khoa học – công nghệ là cơ sở để các ngành phát triển với tốc độ, năng suất,

hiệu quả cao hơn, tạo ra sức mạnh và khả năng cạnh tranh tăng tỷ trọng ngành công nghiệp

- Khoa học – công nghệ kéo theo sự phát triển các ngành dịch vụ , nâng cao

chất lượng dịch vụ

- Khoa học – công nghệ thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, áp dụng tiến

bộ khoa học – công nghệ vào canh tác nông nghiệp, tạo giống cây trông vật nuôi mới, cải tiến trang thiết bị máy móc…

- Bên cạnh đó, khoa học – công nghệ tạo ra một số ngành, nghề, sản phẩm mới,

làm tăng tỷ trọng của các ngành dùng nhiều khoa học – công nghệ trong tỷ trọng cơ cấu kinh tế ngành

- Phát triển kinh tế theo chiều sâu theo chiều sâu.

Tăng tính cạnh tranh của hàng hóa, ngành kinh tế và của cả nền kinh tế.

- Khoa học – công nghệ giúp tăng năng suất và hiệu quả các ngành sản xuất,

dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa, từ đó giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, duy trì sự phát triển lâu dài và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

Trang 4

Góp phần nâng cao chất lượng đời sống con người.

- Thành tựu khoa học – công nghệ làm đời sống con người ngày một tiện nghi, hiện đại, nhẹ nhàng hơn

- Sự tiến bộ trong ngành y tế giúp nâng cao sức khỏe, tuổi thọ cho con người

- Công nghệ thông tin mở rộng ngày càng phát triển ở tầm cao mới giúp con người tiếp cận với kho tàng tri thức khổng lồ của thế giới

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, KH – CN vẫn còn tồn tại những hạn chế:

- Nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường

- Nếu không được sử dụng một cách chọn lọc, việc áp dụng KH – CN vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội có thể làm tăng tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong một số ngành nghề do lúc này sức lao động của con người được giải phóng và thay thế bằng máy móc

- Sức khỏe của con người bị ảnh hưởng khi thường xuyên phải tiếp xúc với các hóa chất độc hại trong quá trình sản xuất, cũng như vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm,…

 Nhận xét: Trong các yếu tố sản xuất là vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên

và KH – CN thì KH – CN là yếu tố ảnh hưởng và quyết định đến kết quả của tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Điều đó được giải thích thông qua những vai trò của yếu tố KH – CN với nền kinh tế Đồng thời, đối với các quốc gia đang phát triển, việc ứng dụng KH – CN giúp nâng cao năng suất lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tăng khả năng sử dụng các nguồn lực có hạn của nền kinh tế từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển

4 Định hướng phát triển khoa học – công nghệ những năm qua.

Chính bởi chiếm vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trên con đường phát

triển đất nước, là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững Vì vậy, Đảng và nhà nước đã đưa ra những chiến lược, định hướng để phát triển khoa học công nghệ (giai đoạn 2011 – 2020).

 Khái niệm định hướng: Đưa ra những chiến lược, quyết định với các mục tiêu dài hạn hoặc ngắn hạn trong một thời gian nhất định và các biện pháp, các cách thức,

Trang 5

con đường đạt đến các mục tiêu đó nhằm hướng đến đạt được những vị trí cao hơn, tốt hơn

- Thời gian: Đảng và nhà nước đã đưa ra Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020

 Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học

và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020 ( Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Luật khoa học và công nghệ ngày 09 tháng 6 năm 2000)

 Mục tiêu đặt ra:

- Phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ

- Đưa KHCN thực sự trở thành động lực then chốt

- Đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

- Đến năm 2020, KHCN Việt Nam có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực ASEAN và thế giới

- Những định hướng của Đảng và Nhà nước:

- Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ

- Tập trung đầu tư phát triển, liên kết và hình thành các tổ chức khoa học và công nghệ Cụ thể:

- Đổi mới về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KHCN

- Tăng cường tiềm lực KHCN, năng lực, trình độ ở các ngành các cấp

- Phát triển đồng bộ khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và các hướng công nghệ ưu tiên( CNTT và truyền thông, CN sinh học, CN vật liệu mới, CN chế tạo máy – Tự động hóa CN môi trường)

- Nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ trong các ngành( NN, y dược,) lĩnh vực (xây dựng, năng lượng, biển, SD tài nguyên thiên nhiên), vùng, địa phương

- Phát triển dịch vụ khoa học và công nghệ, gồm: Tiêu chuẩn đô lường chất lượng,

sở hữu trí tuệ, thông tin thống kê KHCN

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ Ở

VIỆT NAM 6 NĂM VỪA QUA (2015 – 2021).

Trang 6

1 Thực trạng phát triển khoa học – công nghệ những năm qua.

Đảng và Nhà nước luôn coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, nền tảng và nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước Điều này đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 20-NQ/TW Khóa XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Luật Khoa học và công nghệ năm

2013 và Chiến lược Phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam giai đoạn 2015

-2020 Với chủ trương đó, đầu tư cho lĩnh vực khoa học và công nghệ luôn nhận được sự ưu tiên từ ngân sách nhà nước

Năm Tổng chi cho khoa

học công nghệ từ

ngân sách nhà nước

(tỷ đồng)

Tỷ lệ chi khoa học và công nghệ so với tổng chi ngân sách nhà nước (%)

Tỷ lệ chi khoa học

và công nghệ từ ngân sách nhà nước

so với GDP (%)

 Bình quân hàng năm, đầu tư ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học

và công nghệ với mức kinh phí vào khoảng 1,4 - 1,8% tổng chi ngân sách nhà nước, chiếm từ 0,4 đến 0,6 GDP

 Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ từ năm 2015 đến năm 2020 đều có xu hướng giảm: Năm 2015 là 17.390 tỷ đồng, đến năm

2020 là 12.800 tỷ đồng, qua đó cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ có xu hướng giảm

2 Cuộc cách mạng khoa học 4.0.

Cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng thực hiện công nghệ tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất (Lasi & cộng sự, 2014) Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra những “nhà máy thông minh” có cấu trúc mô-đun,

Trang 7

hệ thống cảm biến theo dõi các quá trình vật lý, tạo ra một bản sao ảo của thế giới vật chất và đưa ra các quyết định phi tập trung Qua internet vạn vật (IoT), các hệ thống máy móc thiết bị giao tiếp và hợp tác với nhau và với con người trong thời gian thực và sử dụng bởi những tổ chức kinh tế tham gia chuỗi giá trị (Hermann & cộng sự, 2016)

Nội dung của cách mạng công nghiệp 4.0 bao gồm những tiến bộ trong công nghệ trên ba lĩnh vực: kỹ thuật số, vật lý và công nghệ sinh học Những yếu tố cốt lõi của kỹ thuật số là: Trí tuệ nhân tạo (AI), internet kết nối vạn vật (IoT) và

dữ liệu lớn (Big Data) Lĩnh vực vật lý với robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới và công nghệ nano và lĩnh vực công nghệ sinh học, ứng dụng trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo (Schwab, 2016) Cách mạng công nghiệp 4.0 có tác động sâu rộng đến sản xuất và dịch vụ (Muller & cộng sự , 2018)

 Việt Nam có những lợi thế khi tiến hành cuộc CMCN 4.0:

- Đảng và Nhà nước đã sớm đưa ra nhiều chủ trương, giải pháp thực hiện cách mạng công nghiệp 4.0, là tiềm năng hàng đầu của Việt Nam

- Việt Nam có lợi thế của người đi sau trong thực hiện cách mạng công nghiệp 4.0

- Người Việt có tố chất sáng tạo, Việt Nam có cơ cấu dân số vàng và nguồn nhân lực trẻ

- Việt Nam có hạ tầng viễn thông tương đối tốt

- Việt Nam có lợi thế trong việc thực hiện cách mạng công nghiệp 4.0 trên nhiều lĩnh vực và tác động tích cực đến cải thiện khả năng cạnh tranh của quốc gia

- Việt Nam có khả năng thu hút đầu tư của các doanh nghiệp công nghệ và ứng dụng công nghệ 4.0

 Những rào cản thực hiện cách mạng 4.0 ở Việt Nam:

- Nhận thức về sự cần thiết và tính chất của cách mạng công nghiệp 4.0 chưa rõ

ràng, chưa đúng mức

- Hạ tầng viễn thông tuy là điểm mạnh của Việt Nam nhưng chưa đáp ứng nhu

cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Trang 8

- Nguồn nhân lực của Việt Nam có tác động 2 mặt vừa là tiềm năng lại vừa là

rào cản cho cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

- Qui mô của đa số doanh nghiệp là vừa và nhỏ, thiếu vốn và trình độ công

nghệ thấp

 Các công nghệ cao do Viện nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa phát triển trong 3 năm gần đây:

- “Ứng dụng công nghệ tự động hóa trong quá trình sản xuất nguyên liệu và quá trình sản xuất, chế biến chè xanh sao lăn chất lượng cao tại công ty cổ phần trà Than Uyên”, thực hiện năm 2019-2020

- “Thiết kế chế tạo máy đo kích thước không tiếp xúc tự động sử dụng công nghệ thị giác máy”, thực hiện năm 2020

- “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo các thiết bị Cloud IoT đa năng ứng dụng trong công nghiệp”, thực hiện năm 2020

- “Thiết kế và thi công máy in 3D khổ lớn kết hợp máy SCAN 3D khổ lớn”, thực hiện năm 2020-2021

3 Những thành tựu trong phát triển khoa học – công nghệ 6 năm qua.

KHCN là công cụ then chốt trong thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững; đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, giải quyết các thách thức trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội.

- Nhìn lại chặng đường vừa qua, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo đã

đóng góp quan trọng, toàn diện trong phát triển kinh tế - xã hội Điểm qua vài thành tựu nổi bật của Việt Nam trong thời gian gần đây như Vaccine mRNA chống Covid-19, “Siêu enzyme” phá huỷ rác thải nhựa, Tàu vũ trụ tư nhân của SpaceX

- Tỉ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị hàng hoá

tăng từ 19% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020 Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu - GII tăng 17 bậc trong giai đoạn 2016 - 2020, đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á, đứng đầu trong số các quốc gia ở mức thu nhập trung bình thấp

- Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, với GDP năm 2020 tăng 2,91%, Việt

Nam thuộc nhóm nước có tăng trưởng cao nhất thế giới Trong thành tựu

Trang 9

chung đó, có đóng góp quan trọng của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

- Năm 2020, Việt Nam tiếp tục giữ vững thứ hạng 42/131 quốc gia, vùng lãnh

thổ về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu

- Tính đến nay, Bộ KH&CN đã công bố 895 tiêu chuẩn quốc gia, tăng 127% so với 2019; thẩm định 148 quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật địa phương, tăng 60% so với năm 2019

- Trong những tháng cuối năm 2021, Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học và công nghệ, đẩy nhanh thành lập các trung tâm khởi nghiệp sáng tạo quốc gia, trước mắt tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh

KHCN đóng góp trên mọi lĩnh vực.

- Về nông nghiệp, đã chọn tạo, công nhận chính thức 32 giống cây trồng, vật

nuôi, 36 tiến bộ kỹ thuật, trong đó 2 giống lúa được sản xuất quy mô lớn Nghiên cứu thành công việc sinh sản nhân tạo tôm mũ ni, hải sâm vú, trai tai tượng - là các nguồn gen thủy sản có giá trị kinh tế cao…

- Trong công nghiệp, đã chế tạo thành công nhiều thiết bị, dây chuyền sản xuất,

năng lượng, công nghiệp hỗ trợ,

- Về y dược, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Bộ KH&CN đã huy động các

chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp triển khai các nhiệm vụ cấp bách với nhiều kết quả quan trọng như: làm chủ công nghệ sản xuất bộ KIT phát hiện SARS-CoV-2 đạt tiêu chuẩn quốc tế; sản xuất vaccine phòng COVID-19 bằng công nghệ protein tái tổ hợp và thuốc kháng thể đơn dòng điều trị đặc hiệu COVID-19, trong đó vắc xin Nanocovax đang thử nghiệm lâm sàng trên người tình nguyện

4 Những hạn chế trong phát triển khoa học – công nghệ 6 năm qua.

- Những thách thức về sự chênh lệch về trình độ phát triển KH&CN quá lớn

trong một sân chơi có sự cạnh tranh gay gắt Chẳng hạn sự thống trị của giống lúa lai Trung Quốc trên thị trường giống lúa trong nước cho dù các giống lúa do các nhà khoa học Việt Nam tạo ra không thua kém gì về chất lượng

Trang 10

- Tốc độ phát triển khoa học – công nghệ làm nền kinh tế phát triển nhanh, dẫn

đến nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường

- Phát triển khoa học công nghệ gây ảnh hưởng tới sức khỏe của con người vì thường xuyên tiếp xúc với các hóa chất độc hại

- Bức tranh đổi mới sáng tạo của Việt Nam khá mờ nhạt so với các nước trong khu vực khi số bằng phát minh sáng chế, số sáng chế áp dụng để thương mại hoá ở Việt Nam đều ở khoảng cách khá xa so với các nước Trong đó phải kể đến việc đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam còn khá hạn chế Theo tính toán chi cho hoạt động R&D của Việt Nam năm 2018 chỉ khoảng 0,4% GDP so với con số 3,3% GDP của Nhật Bản, 2,2% GDP của Singapore, 2,1% GDP của Trung Quốc

- Hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn, việc đầu tư vào

nghiên cứu và đổi mới công nghệ bị hạn chế khiến cho các sản phẩm khoa học và công nghệ vẫn bị tụt hậu so với thế giới, đã làm giảm năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực này Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến 2021

đã đặt ra yêu cầu tốc độ đổi mới công nghệ phải đạt 15-20% mỗi năm, nghĩa

là sau khoảng 5 năm các doanh nghiệp Việt Nam phải đổi mới được một thế

hệ công nghệ Thực tế, đây là con số quá cao nhưng mặt khác cũng lại được coi là quá thấp đối với khoa học và công nghệ Việt Nam

- Khung hành lang pháp lý, việc hoàn thiện thể chế, hệ thống chính sách để bảo

đảm Luật KH&CN được triển khai sâu rộng vẫn còn nhiều bất cập

- Đầu tư để phát triển khoa học và công nghệ tuy đã được chú trọng nhưng mới

chỉ đạt 1,4-1,8% tổng chi ngân sách nhà nước - một con số quá thấp so với nhu cầu của hoạt động khoa học và công nghệ

- Đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học và cơ sở vật chất còn thiếu và yếu;

hiệu quả sử dụng các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và kết quả hoạt động của các khu công nghệ cao còn thấp Thiếu cơ chế quản lý khoa học nhất là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài còn nhiều hạn chế

5 Nguyên nhân từ những hạn chế trong phát triển khoa học – công nghệ.

Ngày đăng: 21/04/2022, 06:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w