Cuộc cách mạng này đang tạo ra cơ hội và cả thách thức đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng VLXD.. Chính vì v
Trang 1CHƯƠNG 1:TNG QUAN V Đ TI NGHIÊN CU V PHƯƠNG PHP LUÂN NGHIÊN CU Đ TI KHOA HC
1.1:TNG QUAN V Đ TI NGHIÊN CU
Sự bùng nổ của các công nghệ thế hệ mới đang mở ra một thời đại phát triển mới với trí tuệ nhân tạo (AI) trong nền kinh tế số Cuộc cách mạng này đang tạo ra cơ hội và cả thách thức đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD)
Theo các chuyên gia, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất VLXD có cơ hội bứt phá bằng việc ứng dụng công nghệ vào để nghiên cứu và sản xuất ra các loại VLXD mới, thân thiện với môi trường Các doanh nghiệp cần tận dụng cơ hội để phát triển nếu không muốn bị “đào thải” Chính vì vậy, trong thời gian tới, ngành vật liệu xây dựng cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số nhằm giảm chi phí đồng bộ các khâu, từ giao dịch, vận chuyển để hạ giá thành, tăng năng lực cạnh tranh, triển khai các hướng nghiên cứu khoa học công nghệ mũi nhọn, vật liệu mới, xây dựng đô thị thông minh gắn với
sử dụng vật liệu thông minh…
Để phát triển, các doanh nghiệp VLXD cần tiếp tục đầu tư đổi mới công nghệ, lựa chọn công nghệ tiên tiến hiện đại, loại bỏ công nghệ lạc hậu, đầu tư với quy mô hợp lý, phát triển sản xuất có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh cho biết thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy các hoạt động đầu tư, phát triển VLXD, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và người dân được đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
Ngành VLXD Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, các sản phẩm VLXD cơ bản
đã đáp ứng được nhu cầu trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài như xi măng, kính xây dựng, sứ vệ sinh…
Trang 2Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong ngành VLXD Nhiều doanh nghiệp vẫn còn công nghệ lạc hậu, quy mô nhỏ, tiêu hao năng lượng, nhiều doanh nghiệp chưa khai thác, ứng dụng được công nghệ mới, chưa có sản phẩm mới mang tính đột phá, bắt kịp xu hướng
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, một số doanh nghiệp VLXD đã ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kiểm soát, sử dụng vật liệu mới để tăng tính cạnh tranh Nhiều hãng sản xuất sứ vệ sinh lớn như Inax, Viglacera, Hảo Cảnh… đã đầu tư nghiên cứu, sản xuất men phủ nano chống khuẩn, có khả năng làm sạch cao
Hay các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kính, áp dụng công nghệ kính nổi tiên tiến Ngoài ra, nhóm sản phẩm gạch, ngói đất sét nung, cát, đá xây dựng… với dòng sản phẩm có ứng dụng công nghệ vào sản xuất, thân thiện môi trường Một
số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thực tế ảo và thực tế ảo tăng cường (AR, VR) vào việc kinh doanh và nắm bắt tâm lý khách hàng
Ngành xi măng Việt Nam ghi nhận bước phát triển vượt bậc, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước cũng như ngành xây dựng Trong số đó, tiên phong
đi đầu là Tổng công ty Xi măng Việt Nam (Vicem) – thương hiệu xi măng lớn nhất Việt Nam hiện chiếm khoảng 37% thị phần trong nước Vicem hiện là nhà sản xuất
xi măng lớn nhất Đông Nam Ngành xi măng đã đẩy tốc độ đầu tư lên quá nhanh, đứng thứ 4 thế giới về quy mô công suất, ngành xi măng đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập Cung xi măng lớn hơn cầu 30 triệu tấn, đặt ngành sản xuất này phải tái cấu trúc
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VẬT LIỆU Ở VIỆT NAM
1 Cho đến nay, Việt Nam phát triển công nghiệp vật liệu chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên và khoáng sản trong nước, tuy khá phong phú về chủng loại nhưng phức tạp về phương diện khai thác và chế biến Nhìn chung, các mỏ khoáng sản
Trang 3đều có quy mô vừa và nhỏ, hàm lượng không cao, trữ lượng khai thác thấp và công nghệ tuyển còn lạc hậu
2 Từ đầu những năm 60 ở miền Bắc và sau năm 1975 trên cả nước, Chính phủ đã chú trọng xây dựng nền công nghiệp nước nhà, đã hình thành một số ngành cùng với các khu, cụm công nghiệp vật liệu, trong đó có một số công trình lớn quan trọng và cải tạo một số công trình kết cấu hạ tầng, tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật bước đầu để công nghiệp hoá đất nước
Trong các ngành công nghiệp vật liệu, ngành thép Việt Nam đã được hình thành tương đối sớm Trong hơn hai chục năm qua do không có điều kiện đổi mới thiết
bị, cho nên công nghệ sản xuất khá lạc hậu Những năm gần đây mới chỉ xây dựng thêm một số nhà máy cán thép, đưa sản lượng thép từ 100.000 tấn/năm 1990 lên 1.000.000 tấn/năm trong năm 1995 nhưng chủ yếu là thép xây dựng
Ngành vật liệu xây dựng đặt được những kết quả nhất định Hiện nay có 5 nhà máy
xi măng lớn: Hải Phòng, Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, Hà Tiên 1 và Hà Tiên 2 Tổng sản lượng của 5 nhà máy trên là 4,6 triệu tấn/năm và của các nhà máy xi măng nhỏ còn lại khác khoảng 2 triệu tấn/năm Những nhà máy mới xây dựng trong những năm gần đây đã có công nghệ sản xuất tương đối hiện đại
Ngành gốm, sứ, thuỷ tinh chưa được đầu tư một cách đáng kể, quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu do đó sản lượng và chất lượng còn thấp Cho đến nay mới chỉ có nhà
Trang 4máy kính Đáp Cầu sản xuất kính xây dựng là có quy mô tương đối lớn với sản lượng khoảng 2.000 tấn/năm
Ngành công nghiệp chất dẻo và sơn đã bắt đầu hình thành trong những năm gần đây Các loại vật liệu thông dụng khác được sản xuất với quy mô nhỏ, trên các dây chuyền lạc hậu hoặc thủ công
Nhìn chung, năng lực công nghiệp vật liệu nước ta còn nhỏ bé và chưa đủ sức tự đầu tư phát triển, dây chuyền sản xuất còn lạc hậu và chậm được đổi mới, năng suất và chất lượng còn thấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong nước, nhiều sản phẩm quan trọng chủ yếu vẫn phải nhập khẩu
3 Đảng và Chính phủ đã sớm chăm lo đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật Trong nhiều ngành vật liệu, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đã có khả năng tiếp thu công nghệ mới, thực hiện việc lắp đặt, vận hành, bảo trì và bước đầu cải tiến công nghệ nhập khẩu cho phù hợp với điều kiện thực tế Tuy nhiên năng lực của đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật còn hạn chế chưa đủ sức để tạo ra các công nghệ mới, vật liệu mới Công tác nghiên cứu triển khai và áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật và công nghệ về vật liệu đã có những tiến bộ bước đầu, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội
Song trình độ trang bị lạc hậu của các cơ sở nghiên cứu, mức đầu tư cho công tác nghiên cứu phát triển công nghệ còn thấp và dàn trải, không đồng bộ, thiếu cơ chế
Trang 5gắn kết nghiên cứu với sản xuất đang là những cản trở đội ngũ cán bộ khoa học -
kỹ thuật hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển của ngành công nghiệp vật liệu
4 Hiện nay khoa học và công nghệ đã trở thành yếu tố quan trọng trong phát triển quốc gia Điều này đòi hỏi nước ta phải tăng cường đầu tư, đổi mới nhanh chóng
và cơ bản ngành công nghiệp vật liệu nhằm tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Bối cảnh và tình hình quốc tế trong những năm tới sẽ có những chuyển biến sâu sắc, vừa thuận lợi cho sự phát triển ngành công nghiệp vật liệu nước ta, vừa có những thách thức đòi hỏi chúng ta phải tính toán và lựa chọn những bước đi và mô hình thích hợp nhằm nhanh chóng thoát khỏi nguy cơ bị tụt hậu so với các nước trong khu vực
Tất cả các yếu tố này yêu cầu chúng ta phải tăng cường phát triển ngành công nghiệp vật liệu theo chiến lược phát triển riêng của mình
1.2:PHƯƠNG PHÁP LUÂN NGHIÊN cu đ t!i khoa h'c
1.2.1:phương pháp nghiên cúu tài liệu thú cấp
Nghiên cứu tài liệu thứ cấp Thu thập và phân tích những tài liệu thứ cấp thu thập được bao gồm các nhóm sau:
Phân tích hệ thống các văn bản chính sách có liên quan đến phát triển sản xuất vật liệu xây dựng
Trang 6Nghiên cứu những vấn đề lý luận, phương pháp tính toán vật liệu xây dụng đối với những sản phẩm sản xuất theo nhiều công đoạn khác nhau
Nghiên cứu tổng hợp những số liệu liên quan đến sản xuất, xuất khẩu vật liệu xay dựng trên phạm vi cả nước
Khảo sát thực địa tại các địa phương
1.2.2
1.2.2.1 Phương pháp chọn mẫu các loại vật liệu xây dụng
Lấy mẫu xi măng
– Được quy định và áp dụng theo tiêu chuẩn: TCVN 6260-2009 và TCVN 2682-2009
– Theo quy định: Mỗi lô xi măng < 40 tấn phải thực hiện công tác lấy 02 mẫu thí nghiệm, mỗi mẫu có trọng lượng 20kg để làm thí nghiệm Mẫu xi măng phải được đều ở tất cả các bao xi măng có trong kho chứa, mỗi bao lấy 1kg
– 1 mẫu thử được lấy để làm thí nghiệm, còn 1 mẫu còn lại được lưu giữ để làm công tác đối chứng khi cần thiết Mẫu lưu này có giá trị trong khoảng thời gian là
60 ngày; trong khoảng thời gian này nếu không có bất kỳ khiếu nãi nào giữa bên mua và bán về các thắc mắc ở kết quả thí nghiệm thì phòng thí nghiệm sẽ tiến hành các thủ tục hủy bỏ mẫu lưu
– Khi xi măng được đưa đến công trình xây dựng thì đại diện cả 2 bên nhà đầu tư
và chủ dầu tư sẽ cùng nhau lấy mẫu đóng gói, niêm phong và lập biên bản để gửu đến các Công ty có phòng thí nghiệm uy tín để tiến hành kiểm nghiệm Các mẫu thử này phải được để trong hộp kín bảo quản nơi khô ráo tránh nước và các hóa chất khác
1.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập tài liệu thứ cấp.Thu thập và phân tích các thông tin từ các nguồn tài liệu thứ cấp như báo cáo khoa học, dự án, tham luận qua các hội thảo, hội nghị, báo chí, internet Các thông tin này sẽ được chọn lọc, phân tích và tổng hợp để phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu Phương pháp thảo luận nhóm Các thông tin được thu thập từ các chủ đầu tu,các hộ gia đình và các cơ sở sản xuất vật liệu,thông qua các buổi họp nhóm, phỏng vấn và thảo luận các vấn đề liên quan tới sản xuất, tiêu thụ, các
Trang 7khó khăn và giải pháp Các thông tin này sẽ được tổng hợp và phân tích để phục vụ cho đề tài nghiên cứu Điều tra khảo sát Phỏng vấn bán cấu trúc bằng phiếu câu hỏi semi- structure để có thể có được cả những thông tin định tính và định lượng đối với đối tượng liên quan đã nêu Tiến hành các cuộc thảo luận nhóm Trong các thảo luận nhóm, đánh giá những điểm mạnh điểm yếu cũng như những thách thức và cơ hội tao sụ phát triển của nghành vật liệu xây dựng Phỏng vấn trường hợp điển hình
1.2.2.3: Phương pháp phân tích theo chuỗi giá trị
Mục đích áp dụng cách tiếp cận này nhằm nghiên cứu cụ thể những vấn đề tại các khâu khác nhau trong chuỗi, những vấn đề trong liên kết và phân phối thu nhập giữa các khâu khác nha u để từ đó đề xuất ra những chính sách nhằm tăng giá trị gia tăng đối với các loại vật liệu Những phân tích này rất quan trọng làm cơ sở cho việc xác định những kênh chính cho những sản phẩm khác nhau (cho xuất khẩu, cho tiêu dùng trong nước
CHƯƠNG 2 :CƠ SỞ L6 LUÂN V7 PHÂN T8CH CÁC NHÂN T9 :NH
HƯỞNG Đ<N NGH=NH VÂT LIÊU XÂY DANG
2.1:NGH=NH VÂT LIÊU XÂY DANG
+Khái niê m nghành vâ t liê u xây dựng:
Vật liệu xây dựng là bất kỳ vật liệu được sử dụng cho mục đích xây dựng Nhiều
chất hiện diện trong tự nhiên, chẳng hạn như đất sét, đá, cát, và , thậm chí cành gỗ cây và lá, đã được sử dụng để xây dựng các tòa nhà Ngoài các vật liệu tự nhiên, nhiều sản phẩm nhân tạo được sử dụng, một số tổng hợp ít hoặc nhiều
Mô t số vâ t liê u xây dựng phổ biến:
* Gạch:
Trên thị trường hiện nay đã sản xuất ra rất nhiều loại gạch đa dạng để phục vụ cho những mục đích sử dụng khác nhau Cụ thể, đối với các công trình thuộc loại nhà ở dân dụng, nhất là các mẫu nhà cấp 4 hay nhà vườn 1, 2, 3 tầng thông thường hầu
Trang 8hết đều lựa chọn loại gạch đất nung (cả 2 loại gạch có lỗ hay gạch đặc đều phổ biến), còn về vị trí và nhu cầu sử dụng thì tùy theo ý muốn của chủ đầu tư
* Xi măng:
Tiếp theo là thành phần kết dính nhất định với tên gọi là xi măng không thể thiếu trong đa phần các công trình, thường được sử dụng cho công việc xây, trát, và đổ
bê tông lời khuyên dành cho bạn là nên tìm hiểu kỹ và lựa chọn hãng xi măng uy tín, chất lượng cao để giúp đảm bảo độ vững chắc, bền bỉ theo thời gian cho công trình
Hiện nay, thông thường có thể thấy giá tiền của xi măng chiếm khoảng từ 5 đến 7% trên tổng giá trị của công trình Tuy nhiên, chi phí xi măng sẽ có sự chênh lệch tùy thuộc vào số lượng và chủng loại mà bạn chọn
*Cát:
Loại cát được sử dụng chủ yếu trong các công trình hiện nay là cát vàng và cát đen Cát được bán trên thị trường sẽ tính theo m3, hoặc một số nơi khác thường bán cát theo số lượng xe Khi đó xét theo từng loại xe đổ cát mà mức giá cát cũng khác nhau
Do đó để có được mức giá tốt nhất bạn nên tìm hiểu kỹ và lựa chọn đơn vị cung cấp cát uy tín, và tránh chọn đơn vị ở quá xa công trình để tránh phát sinh thêm chi phí vận chuyển không đáng có, cũng như tránh rơi vãi trong quá trình di chuyển đến địa điểm
*Đá:
Đá nhỏ hay còn được xem là cốt liệu thô không thể thiếu, được dùng để tăng thêm khả năng chịu áp lực của bê tông Thông thường hiện nay ở các công trình thường lựa chọn loại đá có kích cỡ 1×2 hay 4×6, điều này còn tùy theo điều kiện thực tế và nhu cầu sử dụng bê tông khác nhau ở mỗi công trình
Bên cạnh đó, một lưu ý trước khi đưa đá vào sử dụng cần đảm bảo đã loại bỏ sạch các tạp chất, bụi bẩn dính trên đá, bước này nhằm làm tăng hiệu quả sử dụng của
đá cũng như chất lượng của bê tông
Trang 9*Sắt thép :
Ngày nay trên thị trường có vô vàn các thương hiệu khác nhau sản xuất sắt thép xây dựng bởi tính quan trọng không thể thiếu của nó ở bất kỳ công trình nào Một
số thương hiệu sắt thép quen thuộc là thép Hòa Phát, thép Miền Nam, thép Việt Nhật,… Ngoài ra trong mỗi thương hiệu thép còn chia ra thành nhiều loại, bao gồm như D6, D10, D16, D20, D28…
Tùy theo nhu cầu sử dụng và tính chất đặc thù của mỗi loại công trình mà chúng ta
có thể lựa chọn sắt thép thông thường hay cao cấp Thế nhưng dù thế nào chăng nữa bạn vẫn nên ưu tiên chọn loại sắt thép cao cấp hơn Bởi lẽ công trình ở ngoài môi trường nên phải chịu tác động từ thời tiết suốt nhiều năm tháng, do đó nếu là loại sắt thép có chất lượng sẽ hỗ trợ chống chọi khỏi điều kiện thời tiết khó khăn này
*Bê tông:
Bê tông cũng là một trong những loại vật liệu xây dựng tổng hợp đóng vai trò vô cùng quan trọng, đây là sự kết hợp giữa cốt liệu và xi măng Có thể kể đến một dạng bê tông đang được sử dụng rất phổ biến trong các công trình xây dựng hiện nay đó là: bê tông xi măng Portland, với thành phần bao gồm cốt liệu khoáng sản (sỏi và cát ), xi măng portland và nước
*Thạch cao :
Bạn có thể nhìn thấy trên trần nhà của nhiều công trình rất thích sử dụng vật liệu thạch cao Công dụng của thạch cao là khả năng chịu lực, lực cản và lực cản ngang rất tốt, đồng thời tính kháng động đất, chống cháy và tính chất nhiệt cũng được đánh giá cao
*Nhựa :
Tính chất đặc thù của vật liệu nhựa là dễ uốn, dẻo, có khả năng chịu nhiệt tốt, độ cứng tốt, đặc biệt là khả năng phục hồi cực kỳ tốt Nhờ những đặc điểm này mà nhựa đã trở thành loại vật liệu xây dựng quan trọng bậc nhất ở hầu hết các công trình hiện nay
Sản xuất các vật liệu xây dựng là một ngành công nghiệp được thiết lập ở nhiều nước và việc sử dụng các vật liệu này thường được tách ra thành các ngành nghề chuyên môn cụ thể, chẳng hạn như nghề mộc, cách nhiệt, hệ thống ống nước, và
Trang 10công việc lợp mái Chúng cung cấp thành phần của nơi sinh hoạt và các cấu trúc bao gồm cả nhà.[
Trong lịch sử, có xu hướng vật liệu xây dựng từ tự nhiên để trở thành nhân tạo và composite nhiều hơn; phân huỷ sinh học đến không thể bị hư hỏng; bản địa (địa phương) được vận chuyển trên toàn cầu; sửa chữa để dùng một lần; được lựa chọn
để tăng cường độ an toàn về hỏa hoạn và cải thiện khả năng chống chấn động Những xu hướng này có xu hướng làm tăng chi phí kinh tế, sinh thái, năng lượng
và xã hội ban đầu của vật liệu xây dựng
Vật liệu xây dựng được phân theo 2 cách chính:
1.Theo bản chất
Theo bản chất vật liệu xây dựng được phân ra 3 loại chính sau đây: Page 3 (1) Vật liệu vô cơ bao gồm các loại vật liệu đá thiên nhiên, các loại vật liệu nung, các chất kết dính vô cơ, bê tông, vữa và các loại vật liệu đá nhân tạo không nung khác (2) Vật liệu hữu cơ: bao gồm các loại vật liệu gỗ, tre, các loại nhựa bitum và guđrông, các loại chất dẻo, sơn, vecni v.v
(3) Vật liệu kim loại: bao gồm các loại vật liệu và sản phẩm bằng gang, thép, kim loại màu và hợp kim
2.Theo nguồn gốc
Theo nguồn gốc vật liệu xây dựng được phân ra 2 nhóm chính: vật liệu đá nhân tạo
và vật liệu đá thiên nhiên
Theo tính toán, vật liệu sử dụng trong các công trình xây dựng có tới hơn 90% là vật liệu đá nhân tạo và gần 10% là vật liệu khác
Vật liệu đá nhân tạo là một nhóm vật liệu rất phong phú và đa dạng, chúng được phân thành 2 nhóm phụ: vật liệu đá nhân tạo không nung và vật liệu đá nhân tạo nung
Đối vói xi măng ,tùy và thành phần và công dụng của xi măng để người ta phân loại cho phù hợp như sau:
Xi măng alumin (aluminate cement)
Xi măng đá vôi (lime stone cement)
Xi măng giếng khoan dầu khí (oil well cement): Xi măng poóc lăng đặc biệt để bơm trám các giếng khoan dầu khí
Xi măng ít kiềm (low alkali cement): chứa hàm lượng kiềm quy đổi ra Na2O (Na2Oqđ = %Na2O + 0,658% K¬2O), không lớn hơn 0,6%
Xi măng kỵ ẩm (hydrophobic cement): chậm hút ẩm do có chứa phụ gia
kỵ ẩm
Xi măng mác cao (high strength cement): có mác không nhỏ hơn 50