tập trung và xoáy sâu vào BCT (có các câu hỏi thực tế và vẽ quy trình thanh toán phải để đích danh tên NH và ng mua ng bán) dựa vài LC lập hối phiếu có câu hỏi ngoài bài tập thị trường ngoại hối có thể ko có bt tính toán nhưng ng ta yêu cầu cho ví dụ minh hoạ để giải thích các trường hợp quyền chọn câu hỏi mở nhiều điểm hơn bt tính tỷ giá chéo, tính đối khoản, so sánh nên thực hiện giao ngayquyền chọn hoặc là kỳ hạnquyền chọn nên chọn trường hợp nào tại s cty chọn ptttoan này mà ko phải cái k.
Trang 1- tập trung và xoáy sâu vào BCT (có các câu hỏi thực tế và vẽ quy trình thanh toán phải để đích danh tên NH và ng mua ng bán)
- dựa vài L/C lập hối phiếu có câu hỏi ngoài
- bài tập thị trường ngoại hối có thể ko có bt tính toán nhưng ng ta yêu cầu cho ví dụ minh hoạ
để giải thích các trường hợp quyền chọn
- câu hỏi mở nhiều điểm hơn
- bt tính tỷ giá chéo, tính đối khoản, so sánh nên thực hiện giao ngay/quyền chọn hoặc là kỳ hạn/quyền chọn nên chọn trường hợp nào
- tại s cty chọn ptttoan này mà ko phải cái khác, cho lý do, giải thích, mô tả công việc nhà nhập khẩu/xuất khẩu cần làm liên quan đến thủ tục và chứng từ
- các hỏi liên quan tình huống: dựa vào bct mình hiểu các quy định trên BCT ntn? Hoặc ng ta cố tình cho sai một số điều khoản và điều kiện trên L/C mình phát hiện lỗi sai và các lỗi sai đó gây bất lợi/ có lợi cho nhà xk hay nhà nk?
- đọc và hiểu nội dung L/C các trường điện L/C (MT….) các tập quán sử dụng để điều chỉnh
Soạn
1 Thị trường ngoại hối (quyền chọn)
Quyền chọn cho phép được mua gọi là quyền chọn mua (call option), quyền chọn cho phép được bán gọi là quyền chọn bán (put option)
• Quyền chọn mua trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng không phải nghĩa
vụ, được mua một tài sản cơ sở vào một thời điểm hay trước một thời điểm trong tương lai với một mức giá xác định
• Quyền chọn bán trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, được bán một tài sản cơ sở vào một thời điểm hay trước một thời điểm trong tương lai với một mức giá xác định
Đối với quyền chọn mua, ta có người mua quyền chọn mua (holder) và người bán quyền chọn mua (writer) Đối với quyền chọn bán, ta cũng có người mua quyền chọn bán và người bán quyền chọn bán Một cách phân loại khác là chia quyền chọn thành quyền chọn kiểu châu Âu (European options) và kiểu Mỹ (American options)
• Quyền chọn kiểu châu Âu (European options) là loại quyền chọn chỉ có thể được thực hiện vào ngày đáo hạn chứ không được thực hiện trước ngày đó
• Quyền chọn kiểu Mỹ (American options) là loại quyền chọn có thể được thực hiện vào bất cứ thời điểm nào trước khi đáo hạn
Trang 2Gọi :
• T là thời điểm đáo hạn,
• ST là tỷ giá trị thị trường của tài sản cơ sở vào lúc đáo hạn
• X là tỷ giá thực hiện
• V T là giá trị nhận được của quyền chọn và lúc đáo hạn
*Ví dụ “Mua quyền chọn mua”:
- Công ty nhập khẩu ABC của Hong Kong cần 1,000,000 USD để thanh toán nợ trong 3 tháng tới Để đảm bảo có 1,000,000 USD để thanh toán nợ đúng hạn trong điều kiện dự đoán USD có
khả năng tăng giá thì ngay từ bây giờ công ty ABC có thể mua quyền chọn mua USD trên thị
trường với số tiền để đảm bảo là 0,02 HKD cho mỗi USD và tỷ giá thực hiện USD/HKD = 5,6050 Ngoài ra, không có thêm bất kỳ phí nào nữa Giả sử cho tỷ giá thị trường trong 3 tháng tới:
A) USD/HKD = 5,6080
B) USD/HKD = 5,6800
*Nếu thực hiện quyền chọn thì:
- Phí quyền chọn = 1,000,000 * 0,02 = 20,000 (HKD)
- Số tiền HKD công ty bỏ ra để mua được 1,000,000 USD: 1,000,000 * 5,6050 = 5,605,000 (HKD)
- Tổng số tiền khi thực hiện quyền chọn: 5,605,000 + 20,000 = 5,625,000 (HKD)
A) USD/HKD = 5,6080 (tỷ giá thị trường 3 tháng sau)
- Số tiền HKD công ty bỏ ra để mua được 1,000,000 USD vào thời điểm 3 tháng sau:
1,000,000 * 5,6080 = 5,608,000 (HKD)
- Nếu thực hiện hợp đồng quyền chọn thì công ty sẽ lỗ:
5,625,000 – 5,608,000 = 17,000 (HKD) < 20,000 (phí quyền chọn)
=> Công ty vẫn thực hiện hợp đồng vì nếu từ bỏ hợp đồng công ty sẽ mất khoản phí mua quyền
là 20,000 HKD và như vậy số tiền bỏ ra khi không thực hiện quyền chọn sẽ cao hơn khi thực hiện quyền chọn
B) USD/HKD = 5,6800
Trang 3- Số tiền HKD công ty bỏ ra để mua được 1,000,000 USD:
1,000,000 * 5,6800 = 5,680,000 (HKD)
- Nếu thực hiện hợp đồng quyền chọn thì công ty sẽ lời:
5,680,000 – 5,625,000 = 55,000 HKD
=> Công ty sẽ thực hiền hợp đồng quyền chọn
C) USD/HKD = 5,6020
- Số tiền HKD công ty bỏ ra để mua được 1,000,000 USD:
1,000,000 * 5,6020 = 5,602,000 (HKD)
- Nếu thực hiện hợp đồng quyền chọn thì công ty sẽ lỗ:
5,625,000 – 5,602,000 = 23,000 (HKD) > 20,000 (phí quyền chọn)
=> Công ty sẽ từ bỏ hợp đồng để giới hạn khoản lỗ bằng với khoản phí (20,000 HKD) vì nếu không thực hiền quyền chọn thì công ty sẽ thu được số tiền theo tỷ giá thị trường là 5,602,000 và thêm phí quyền chọn là 5,622,000 < 5,625,000 (khi thực hiện quyền chọn)
*Ví dụ “Bán quyền chọn mua” cho người “mua quyền chọn mua”
- Công ty xuất khẩu ABC của Hong Kong thu được 1,000,000 USD Để tránh sự biến động của
tỷ giá giảm xuống làm ảnh hưởng đến 1,000,000 USD thu được, thì ngay từ bây giờ công ty có
thể bán quyền chọn mua 1,000,000 USD trên thị trường với số tiền để đảm bảo là 0,02 HKD
cho mỗi USD và tỷ giá thực hiện USD/HKD = 5,6050 Ngoài ra, không có thêm bất kỳ phí nào nữa Giả sử cho tỷ giá thị trường trong 3 tháng tới:
A) USD/HKD = 5,6080
B) USD/HKD = 5,6020
C) USD/HKD = 5,5080
*Nếu thực hiện quyền chọn thì:
- Số phí mà công ty thu được từ việc bán quyền = 1,000,000 * 0,02 = 20,000 (HKD)
- Số tiền HKD công ty thu được từ việc bán 1,000,000 USD: 1,000,000 * 5,6050 = 5,605,000 (HKD)
Trang 4- Tổng số tiền công ty thu được khi thực hiện bán quyền chọn:
5,605,000 + 20,000 = 5,625,000 (HKD)
A) USD/HKD = 5,6080
- Số tiền HKD công ty thu được khi bán 1,000,000 USD theo tỷ giá thị trường:
1,000,000 * 5,6080 = 5,608,000 (HKD)
- Nếu người mua quyền thực hiện hợp đồng thì công ty sẽ lời:
5,625,000 – 5,608,000 = 17,000 (HKD) < 20,000 (Phí quyền chọn)
=> Người mua quyền vẫn thực hiện hợp đồng vì nếu từ bỏ hợp đồng thì sẽ mất khoản phí mua quyền là 20,000 HKD và như vậy số tiền bỏ ra khi không thực hiện quyền chọn (5,628,000) sẽ cao hơn khi thực hiện quyền chọn (5,625,000)
=> Vì vậy, vẫn được thực hiện hợp đồng do người mua thực hiện hợp đồng
B) USD/HKD = 5,6020
- Số tiền HKD công ty thu được từ việc bán 1,000,000 USD theo tỷ giá thị trường:
1,000,000 * 5,6020 = 5,602,000 (HKD)
- Nếu thực hiện hợp đồng quyền chọn thì công ty sẽ lời:
5,625,000 – 5,602,000 = 23,000 (HKD) > 20,000 (phí quyền chọn)
=> Người mua quyền sẽ từ bỏ hợp đồng để giới hạn khoản lỗ bằng với khoản phí (20,000 HKD)
vì nếu không thực hiền quyền chọn thì người mua quyền sẽ thu được số tiền theo tỷ giá thị trường là 5,602,000 và thêm phí quyền chọn là 5,622,000 < 5,625,000 (khi thực hiện quyền chọn)
=> Vì vậy, công ty sẽ lời được 20,000 HKD do người mua quyền đã huỷ hợp đồng
C) USD/HKD = 5,5080
- Số tiền HKD công ty thu được từ việc bán 1,000,000 USD theo tỷ giá thị trường:
1,000,000 * 5,5080 = 5,508,000 (HKD)
- Nếu thực hiện hợp đồng thì công ty sẽ lời:
Trang 55,625,000 – 5,508,000 = 117,000 (HKD)
=> Công ty sẽ lời được 20,000 HKD vì trong thực tế người mua quyền đã huỷ hợp đồng để giới hạn khoản lỗ bằng khoản phí
* Ví dụ “Mua quyền chọn bán”
- Công ty xuất khẩu ABC của Hong Kong thu được 1,000,000 USD trong 3 tháng tới Để tránh
sự biến động của tỷ giá giảm xuống làm ảnh hưởng đến 1,000,000 USD thu được, thì ngay từ
bây giờ công ty có thể mua quyền chọn bán 1,000,000 USD trên thị trường với số tiền để đảm
bảo là 0,02 HKD cho mỗi USD và tỷ giá thực hiện USD/HKD = 5,6050 Ngoài ra, không có thêm bất kỳ phí nào nữa Giả sử cho tỷ giá thị trường trong 3 tháng tới:
A) USD/HKD = 5,6080
B) USD/HKD = 5,6020
C) USD/HKD = 5,5080
*Nếu thực hiện quyền chọn thì:
- Số phí mà công ty phải trả để mua quyền = 1,000,000 * 0,02 = 20,000 (HKD)
- Số tiền HKD công ty thu được từ việc 1,000,000 USD: 1,000,000 * 5,6050 = 5,605,000 (HKD)
- Tổng số tiền công ty thu được khi thực hiện mua quyền chọn:
5,605,000 – 20,000 = 5,585,000 (HKD)
A) USD/HKD = 5,6080
- Số tiền HKD công ty thu được từ việc bán 1,000,000 USD theo tỷ giá thị trường:
1,000,000 * 5,6080 = 5,608,000 (HKD)
- Nếu công ty thực hiện hợp đồng công ty sẽ lỗ:
5,585,000 – 5,608,000 = - 23,000 (HKD) > 20,000 (Phí quyền chọn)
=> Nếu công ty thực hiện hợp đồng thì số tiền thu được là 5,585,000 < 5,588,000 khi mua theo
tỷ giá thị trường Công ty sẽ huỷ bỏ hợp đồng để giới hạn khoản lỗ đúng bằng mức phí (20,000 HKD)
B) USD/HKD = 5,6020
Trang 6- Số tiền HKD công ty thu được từ việc bán 1,000,000 USD theo tỷ giá thị trường:
1,000,000 * 5,6020 = 5,602,000 (HKD)
- Nếu thực hiện hợp đồng quyền chọn thì công ty sẽ lỗ:
5,585,000 – 5,602,000 = - 17,000 (HKD) < 20,000 (phí quyền chọn)
=> Công ty vẫn thực hiện hợp đồng Vì nếu thực hiện HĐ thì cty thu về 5,585,000 HKD còn nếu ko thực hiện thì công ty sẽ chịu mất phí 20,000 HKD và lúc này công ty chỉ thu về được 5,582,000 HKD
C) USD/HKD = 5,5080
- Số tiền HKD công ty thu được từ việc bán 1,000,000 USD theo tỷ giá thị trường:
1,000,000 * 5,5080 = 5,508,000 (HKD)
- Nếu thực hiện hợp đồng quyền chọn thì công ty sẽ lời:
5,585,000 – 5,508,000 = 77,000 (HKD) > 20,000 (phí quyền chọn)
=> Công ty vẫn thực hiện hợp đồng
*Ví dụ “Bán quyền chọn bán”
Có một nhà kinh doanh ngoại hối Hong Kong dư đoán USD có khả năng tăng giá nên ông ta đã
ký một hợp đồng bán quyền chọn bán 1,000,000 USD trong 3 tháng tới cho một nàh xuát khẩu, với số tiền đảm bảo là 0,02 HKD cho mỗi USD và tỷ giá thực hiện USD/HKD = 5,6050 Ngoài
ra, không có thêm bất kỳ phí nào nữa và kiểu hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ Giả sử cho tỷ giá thị trường trong 3 tháng tới:
A) USD/HKD = 5,6080
B) USD/HKD = 5,6020
C) USD/HKD = 5,5080
*Nếu thực hiện quyền chọn thì:
- Phí quyền chọn mà nhà kinh doanh thu được = 1,000,000 * 0,02 = 20,000 (HKD)
- Số tiền HKD NKD bỏ ra để mua được 1,000,000 USD: 1,000,000 * 5,6050 = 5,605,000 (HKD)
- Tổng số tiền khi thực hiện quyền chọn: 5,605,000 - 20,000 = 5,585,000 (HKD)
A) USD/HKD = 5,6080 (tỷ giá thị trường 3 tháng sau)
Trang 7- Số tiền HKD NKD bỏ ra để mua được 1,000,000 USD vào thời điểm 3 tháng sau:
1,000,000 * 5,6080 = 5,608,000 (HKD)
- Nếu thực hiện hợp đồng thì NKD sẽ lời:
5,608,000 – 5,585,000 = 23,000 (HKD) > 20,000 (phí quyền chọn)
=> Nếu người mua quyền chọn thực hiện hợp đồng thì số tiền thu được là 5,585,000 < 5,588,000 khi mua theo tỷ giá thị trường (đã tính phí quyền chọn) Người mua quyền sẽ huỷ bỏ hợp đồng
để giới hạn khoản lỗ đúng bằng mức phí (20,000 HKD).Trong thực tế nhà kinh doanh chỉ lời 20,000 HKD vì người mua quyền đã hủy bỏ hợp đồng
B) USD/HKD = 5,6020
- Số tiền HKD NKD bỏ ra từ việc mua 1,000,000 USD theo tỷ giá thị trường:
1,000,000 * 5,6020 = 5,602,000 (HKD)
- Nếu người mua thực hiện hợp đồng quyền chọn thì nhà kinh doanh sẽ lời:
5,602,000 – 5,585,000 = 17,000 (HKD) < 20,000 (phí quyền chọn)
=> Người mua quyền vẫn thực hiện hợp đồng Vì nếu thực hiện HĐ thì người mua thu về 5,585,000 HKD còn nếu ko thực hiện thì người mua sẽ chịu mất phí 20,000 HKD và lúc này người mua quyền chỉ thu về được 5,582,000 HKD Nhà kinh doanh vẫn được thực hiện hợp đồng vì trong thực tế người mua quyền chấp nhận thực hiện hợp đồng
C) USD/HKD = 5,5080
- Số tiền HKD NKD bỏ ra từ việc mua 1,000,000 USD theo tỷ giá thị trường:
1,000,000 * 5,5080 = 5,508,000 (HKD)
- Nếu người mua thực hiện hợp đồng quyền chọn thì nhà kinh doanh sẽ lỗ:
5,508,000 – 5,585,000 = - 77,000 (HKD)
=> Người mua quyền vẫn thực hiện quyền chọn vì thực hiện quyền chọn người mua quyền sẽ có lời (5,585,000 > 5,488,000 đã tính phí quyền chọn) Vì vậy, nhà kinh doanh vẫn phải chấp nhận hợp đồng theo nghĩa vụ đối với người mua quyền
Trang 8*Tại s cty chọn ptttoan này mà ko phải cái khác, cho lý do, giải thích, mô tả công việc nhà nhập khẩu/xuất khẩu cần làm liên quan đến thủ tục và chứng từ
1 Phương thức thanh toán L/C
*Có lợi cho nhà xuất khẩu:
• NH sẽ thực hiện thanh toán đúng như qui định trong thư tín dụng (khi việc xuất trình BCT được xem là phù hợp và ngân hàng phát hành xác nhận là hợp lệ) bất kể việc người mua có muốn trả tiền hay không
• Chậm trễ trong việc chuyển chứng từ được hạn chế tối đa
• Khi chứng từ xuất trình hợp lệ được chuyển đến NH phát hành, việc thanh toán được tiến hành ngay hoặc vào một ngày xác định (nếu là L/C trả chậm)
• KH có thể đề nghị chiết khấu L/C để có trước tiền sử dụng cho việc chuẩn bị thực hiện hợp đồng
• Người bán nếu hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và lập được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng thì ngân hàng sẽ đảm bảo thanh toán tiền hàng cho người bán
*Mô tả công việc của nhà xuất khẩu:
• Thứ nhất, kiểm tra kỹ các điều khoản trong L/C mà ngân hàng thông báo gửi tới
Trang 9• Thứ hai, nếu các nội dung và điều khoản của L/C đã phù hợp thì tiền hành gửi hàng đúng như quy định trong L/C (số lượng, chất lượng…) Nếu nội dung và các điều khoản của L/C có những điểm sai sót thì tiền hành tu chỉnh khi nào thấy phù hợp thì mới tiền hành giao hàng đúng như trong L/C đã tu chỉnh
• Thứ ba, lập bộ chứng từ phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng và gửi bộ chứng từ đến ngân hàng theo quy định của LC
*Có lợi cho nhà nhập khẩu:
• Người mua cũng được đảm bảo vì họ sẽ nhận được hàng đúng theo yêu cầu của thư tín dụng
• Chỉ khi hàng hóa thực sự được giao thì người nhập khẩu mới phải trả tiền
• Người nhập khẩu có thể yên tâm là người xuất khẩu sẽ phải làm tất cả những gì theo qui định trong L/C để đảm bảo việc người xuất khẩu sẽ được thanh toán tiền (nếu không người xuất khẩu sẽ mất tiền)
*Mô tả công việc của nhà nhập khẩu trong phương thức L/C:
• Thứ nhất, đến thời hạn quy định, người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng (Application for Documentary Credit) gửi đến ngân hàng của mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng ký quỹ hoặc không (tuỳ theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C)
• Thứ hai, nếu người xuất khẩu có yêu cầu về tu chỉnh L/C thì người nhập khẩu và ngân hàng phát hành xem xét lại nội dung và các điều khoản để tu chỉnh theo yêu cầu
• Thứ ba, bộ chứng từ người xuất khẩu xuất trình là hợp lệ thì tiến hành thanh toán cho Ngân hàng phát hành để nhận bộ chứng từ đi nhận hàng
2 Phương thức thanh toán D/P: (Có lợi cho nhà xuất khẩu – bất lợi cho nhà nhập khẩu)
*Có lợi cho nhà xuất khẩu
Khi ký hợp đồng nhà xuất khẩu nên chọn điều kiện D/P at sight
Lí do chọn điều kiện thanh toán này vì:
- Documents Againts Payment at sight là nhờ thu trả tiền giao ngay chứng từ nghĩa là bên mua phải thanh toán để được nhận chứng từ đi lấy hàng
- Điều kiện này sẽ hạn chế rủi ro cho người xuất khẩu khi họ đã giao hàng nhưng người nhập khẩu lại không thanh toán Và D/P at sight bên ngân hàng sẽ khống chế bộ chứng
từ, đến khi bên mua thanh toán tiền hàng thì ngân hàng mới giao bộ chứng từ cho người nhập khẩu đi lấy hàng
- Trường hợp mà bên mua không thanh toán thì bên bán có thể ký hậu để bán lại cho đối tác khác
*Bất lợi cho nhà nhập khẩu:
Trang 10- Hàng hóa có thể đã không được kiểm định, chưa được bảo hiểm đầy đủ, hay không phù hợp với hợp đồng
- Bộ chứng từ giả, có sai xót, hay cố tình gian lận thương mại
- Sau khi chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn (hay phát hành kỳ phiếu) người NK có thể
bị người XK kiện ra tòa nếu không thanh toán đúng hạn
- Rủi ro tỷ giá
3 Phương thức thanh toán D/A: (Bất lợi cho nhà xuất khẩu – có lợi cho nhà nhập khẩu)
*Bất lợi cho nhà xuất khẩu:
Khi nhà xuất khẩu ký hợp đồng với điều kiện thanh toán này thì nhà xuất khẩu sẽ bất lợi
Lí do không chọn điều kiện này:
- Documents against acceptance là nhờ thu chấp nhận thanh toán giao chứng từ nghĩa là bên mua chỉ cần ký chấp nhận hối phiếu hoặc cam kết trả tiền bằng văn bản thì ngân hàng sẽ giao bộ chứng từ cho bên nhập khẩu đi nhận hàng
- Điều kiện này sẽ gây rủi ro cho nhà xuất khẩu khi họ đã giao hàng nhưng đến thời hạn thanh toán bên nhập khẩu lại không thanh toán hoặc trả tiền chậm, trả tiền thiếu hoặc trả tiền kèm theo điều kiện nào đó mà người bán phải giảm giá hàng
- Nếu tỷ giá tương lại thấp hơn tỷ giá hiện tại thì bên xuất khẩu sẽ nhận được tiền hàng ít hơn so với thời điểm giao hàng
- Trong trường hợp ngân hàng hoặc bên nhập khẩu phá sản thì bên xuất khẩu phải chịu thiệt hại về giá trị lô hàng đã bán
*Có lợi cho nhà nhập khẩu:
- D/A 30 days là nhờ thu chấp nhận thanh toán giao chứng từ nghĩa là bên nhập khẩu chỉ cần ký chấp nhận hối phiếu hoặc cam kết trả tiền bằng văn bản thì ngân hàng sẽ giao bộ chứng từ cho bên nhập khẩu đi nhận hàng
- Điều kiện này sẽ hạn chế gây rủi ro cho nhà nhập khẩu vì họ nhận được hàng xong đến thời hạn mới phải thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu có một khoảng thời gian để chuẩn bị tiền trả cho nhà xuất khẩu
4 T/T in advance (Có lợi cho nhà xuất khẩu – bất lợi cho nhà nhập khẩu)
*Có lợi cho nhà xuất khẩu:
- T/T in advance là chuyển tiền trả trước nghĩa là nhà nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu trước khi nhận hàng
- Điều kiện này sẽ hạn chế rủi ro cho người xuất khẩu vì họ nhận được tiền thanh toán rồi mới giao hàng
*Bất lợi cho nhà nhập khẩu:
– Rủi ro trong việc bị nhà xuất khẩu chuyển hạng sai, thiếu, kém chất lượng, thậm chí
là không giao hàng
– Nếu TT trả trước toàn bộ đồng nghĩa với việc toàn bộ số tiền của người bán bị ném 1 chỗ, khả năng xoay vòng vốn bằng 0