1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao hiệu quả sử dụng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh đến năm 2010

45 602 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả sử dụng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2010
Trường học Trường Đại học Bắc Ninh
Chuyên ngành Kinh tế và Quản lý Công nghiệp
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Bắc Ninh
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 763 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về Khu công nghiệp Khu công nghiệp KCN là một lãnh địa được phân chia và phát triển có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung ứng các thiết bị kỹ thuậtcần thiết, cơ sở

Trang 1

Nâng cao hiệu quả sử dụng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2010”

CHƯƠNG I: HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

I Khái niệm và đặc trưng cơ bản của Khu công nghiệp

1 Khái niệm về Khu công nghiệp

Khu công nghiệp (KCN) là một lãnh địa được phân chia và phát triển

có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung ứng các thiết bị kỹ thuậtcần thiết, cơ sở hạ tầng, phương tiện công cộng phù hợp với sự phát triểncủa một liên hiệp các ngành công nghiệp nhằm đạt hiệu quả trong sản xuấtcông nghiệp và kinh doanh

Ở Việt Nam, theo Điều 2 trong “Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế

xuất, khu công nghệ cao” được Chính phủ ban hành năm 1997 có quy định:

“KCN là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, chuyên sản xuất hàngcông nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giớixác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chínhphủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có Khu chế xuất (KCX)”

2 Đặc trưng cơ bản của Khu công nghiệp

KCN là một tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp luôn gắn liềnphát triển công nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng và hình thành mạng lưới

đô thị, phân bố dân cư hợp lý KCN có những đặc điểm chính sau đây:

Thứ nhất, KCN có vị trí xác định, là nơi tập trung các doanh nghiệp

công nghiệp, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụcho sản xuất công nghiệp

Thứ hai, trong KCN thường có những chính sách kinh tế, chính sách

ưu đãi đặc thù (thông thường mỗi KCN có thể có các chính sách khuyếnkhích khác nhau) Tuy nhiên, các chính sách đó phải phù hợp với khuôn khổchung của cả nước Nhằm thu hút vốn đầu tư cả trong và ngoài nước; tạomôi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn cho phép các đầu tư sử dụng nhữngphạm vi đất đai nhất định đã có trong khu quy hoạch để thành lập các nhà

Trang 2

máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi về thủ tục xincấp phép và thuế đất (giảm hoặc miễn thuế),…

Thứ ba, nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu thu hút từ các

doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Thông thường Chínhphủ thường bỏ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng như: san lấp mặt bằng, làmđường giao thông,…Tuy nhiên, có một số KCN ở Việt Nam thì kinh phí sanlấp mặt bằng, xây dựng đường giao thông, hệ thống điện,… cũng kêu gọicác nhà đầu tư ở trong và ngoài nước

Thứ tư, sản phẩm của các nhà máy, xí nghiệp trong KCN thường là các

sản phẩm có chất lượng cao, đối tượng chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu vàthay thế hàng nhập khẩu trong nước

Thứ năm, KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành

phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song: doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức hợp đồng, hợp tác kinhdoanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, và cảdoanh nghiệp 100% vốn trong nước

II Vì sao phải tăng cường hiệu quả sử dụng các Khu công nghiệp tại địa phương

1 Vai trò của Khu công nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình thực hiện CNH- HĐH đấtnước (theo Nghị quyết Trung ương khoá VIII) Để thực hiện được mục tiêunày, chúng ta cần thực hiện sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế toàn diện phù hợpvới hoàn cảnh cụ thể của đất nước và cơ cấu kinh tế quốc dân trên tất cả cáclĩnh vực Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy, khai thác thành công

mô hình KCN sẽ là nhịp cầu nối liền nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu vớinền kinh tế công nghiệp hiện đại; thúc đẩy phát triển trên tất cả các lĩnh vựckinh tế, xã hội và môi trường

Đối với lĩnh vực kinh tế, với thuận lợi về vị trí, ưu đãi về chính sách và

cơ chế, KCN khuyến khích thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu

tư vào các KCN Sự phát triển của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanhtrong các KCN là một trong những điều kiện mang tính quyết định đến sựphát triển lĩnh vực công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế địa phươngnói chung

Đối với lĩnh vực xã hội, phát triển KCN sẽ góp phần quan trọng tạo

công ăn việc làm; thu hút lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang côngnghiệp; góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp và nâng cao thu nhập cho

Trang 3

người dân Thực tế đã chứng minh, đối với người lao động có việc làm vàthu nhập ổn định là một trong những điều kiện quan trọng góp phần hạn chếnhững tệ nạn xã hội (như: trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, …) do cuộc sống

“nhàn rỗi” và thiếu thốn gây nên Có thể nói, phát triển KCN đã tác độngđến mọi mặt của đời sống xã hội từ giải quyết tình trạng thất nghiệp, nângcao thu nhập của người dân đến góp phần ổn định trật tự và an ninh xã hội

Đối với lĩnh vực môi trường, phát triển KCN tạo điều kiện thuận lợi

để tập trung xử lý nước thải, khói bụi,… do hoạt động sản xuất công nghiệptạo ra

Trước đây, khi chưa phát triển KCN thì các doanh nghiệp sản xuấtcông nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hoá chất) “tự do” xảnước thải, hoá chất, khói bụi,… mà chỉ qua xử lý sơ sài, thậm chí còn chưaqua xử lý Điều đó, dẫn tới hậu quả tất yếu là huỷ hoại môi trường, ô nhiễmnguồn nước,… đã gây tác động xấu đến cuộc sống của người dân

Mặc dù, hiện nay với việc ban hành các tiêu chuẩn môi trường (như:tiêu chuẩn về nước thải, khói bụi,…) có thể thải ra môi trường, các doanhnghiệp đã đầu tư hệ thống xử lý chất thải, làm gia tăng chi phí sản xuất củacác doanh nghiệp Nếu mỗi doanh nghiệp đều đầu tư một hệ thống xử lý chấtthải riêng rẽ sẽ khiến các doanh nghiệp mất một khoản chi phí rất lớn, thậmchí hiệu quả xử lý còn không cao Một trong những giải pháp quan trọngnhằm khắc phục tình trạng này là phát triển các KCN Bởi phát triển cácKCN tạo điều kiện tập trung xử lý chất thải, góp phần giảm thiểu chi phítrong quá trình xử lý chất thải cho các doanh nghiệp Đồng thời còn gópphần nâng cao hiệu quả xử lý

Vì vậy, làm thế nào để có thể xây dựng và sử dụng một cách có hiệuquả các KCN là điều trăn trở của các nhà quản lý vĩ mô Thành công tronglĩnh vực này sẽ nhanh chóng đưa địa phương mở cửa bước ra hoà nhập mộtcách bình đẳng với các thành phố khác trong khu vực và trên thế giới

Phát triển KCN tác động mạnh đến tất cả các mặt, các lĩnh vực củađời sống xã hội Phát triển KCN sẽ góp phần:

1.1 Thu hút đầu tư trong và ngoài nước

KCN với những chính sách ưu đãi đặc biệt so với sản xuất trong nước

đã trở thành môi trường hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài

sẽ góp phần giúp địa phương có thêm vốn đầu tư; tiếp cận kỹ thuật và công

Trang 4

nghệ mới; học hỏi được kinh nghiệm, phương cách quản lý tiến tiến, khoahọc của nước ngoài Theo Ngân hàng Thế giới, các dự án thực hiện trong cácKCN phần lớn do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài( khoảng 40% các dự án do đầu tư trong nước thực hiện, 29% do liên doanhvới nước ngoài và 31% do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện) Do vậy,KCN đã đóng góp đáng kể trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI).

Cùng với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, với thuận lợi về vị trí,

ưu đãi về chính sách và cơ chế, KCN còn khuyến khích thu hút các nhà đầu

tư trong nước, một nguồn vốn tiềm tàng rất lớn trong dân chúng (theo thống

kê hiện nay nước ta vẫn còn khoảng trên 30% nguồn vốn tiết kiệm trongdân) Nguồn vốn này có ý nghĩa rất quan trọng và cũng là nguồn vốn rất lớncòn chưa được khai thác và sử dụng một cách xứng đáng KCN sẽ tạo môitrường và cơ hội phát huy năng lực về vốn cũng như sản xuất kinh doanhtrong cùng một điều kiện ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài Thôngqua việc liên doanh, liên kết các doanh nghiệp trong nước có điều kiện cũngnhư cơ hội tiếp thu kinh nghiệm quản lý, trình độ điều hành, sử dụng cáctrang thiết bị và công nghệ hiện đại của nước ngoài, bồi dưỡng nhân tài, thửnghiệm các phương án cải cách nhằm tiến ra trình độ thế giới

Ngoài ra, phát triển KCN góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, thay thế nhậpkhẩu; thu hút các nhà đầu tư nước ngoài là một trong những điều kiện quantrong giúp nước chủ nhà tăng nguồn thu ngoại tệ phục vụ phát triển kinh tếtrong nước

1.2 Tạo công ăn việc làm cho người lao động

Theo thống kê, tình trạng phổ biến của các nước kém phát triển cũngnhư các nước đang phát triển là dân số tăng hết sức nhanh chóng, song tốc

độ tăng trưởng kinh tế lại rất chậm, tỉ lệ tích luỹ và đầu tư thấp Tình trạng

đó dẫn tới hậu quả tất yếu là thiếu việc làm, nạn thất nghiệp ngày càng ratăng, trở thành sức ép rất lớn đối với Chính phủ Để giải quyết vấn đề này,một trong những giải pháp quan trọng mà các nhà quản lý vĩ mô hướng tới làphát triển các KCN Với mong muốn tận dụng sự phát triển của các KCN đểgiải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động

Điều này hoàn toàn có thể làm được vì các chủ đầu tư cả trong vàngoài nước đều mong muốn tận dụng nguồn lao động dồi dào và rất rẻ củanước chủ nhà để tăng lợi nhuận trong quá trình sản xuất kinh doanh Tuynhiên, cũng tuỳ thuộc vào từng loại ngành nghề mà có lao động ở các trình

độ khác nhau Ngành nghề càng đa dạng càng thu hút được nhiều lao độngnhàn rỗi Ngoài một bộ phận được đào tạo, còn có một tỉ lệ lao động đáng kể

Trang 5

là lao động phụ nữ trẻ chưa lập gia đình, không có tay nghề và một bộ phậnlớn lao động chuyển từ nông thôn ra làm việc (theo kết quả điều tra củaNgân hàng Thế giới, đến nay trung bình số việc làm trong các KCN của tất

cả các nước trên thế giới chiếm khoảng trên 40% tổng số việc làm)

Hầu hết các nước đang phát triển, đều là các nước có nền kinh tế lạchậu, có tỉ lệ bán thất nghiệp cao Ngoài ra, do sức ép phát triển kinh tế, tạicác nước này có tốc độ đô thị hoá nhanh chóng, dẫn tới tình trạng diện tíchđất đai dùng cho phát triển nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp.Thêm vào đó,

số người thất nghiệp ở đô thị ngày càng tăng và chủ yếu là những người vừađến tuổi lao động do dân số tăng nhanh

Chính vì vậy, một trong những vấn đề cấp thiết nhất hiện nay là phảitạo công ăn việc làm, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp và nâng caothu nhập cho người dân Do đó, phát triển các KCN nhằm thu hút lao động

từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp là một trong những biện pháp hữuhiệu nhất nhằm giải quyết tình trạng trên và phát triển kinh tế theo hướngcông nghiệp - dịch vụ

1.3 Tiếp nhận kỹ thuật công nghệ tiên tiến và phương pháp quản lý hiện đại

Theo thống kê, hiện nay hầu hết các nước đang phát triển đều rơi vàotình trạng phổ biến là thiết bị sản xuất cũ, quy trình công nghệ lạc hậu.Trong khi những yếu tố này lại đóng vai trò rất quan trọng trong quá trìnhCNH-HĐH đất nước Do đó, họ coi việc tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản

lý hiện đại một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất không chỉ là nhiệm vụtruớc mắt mà còn là mục tiêu có tính chiến lược

Kinh nghiệm phát triển kinh tế của các nước đi trước cho thấy, việcứng dụng tiến bộ công nghệ của nước ngoài là một trong những bí quyếtphát triển Sao chép những phương pháp hiệu quả hơn, đưa chúng vào ápdụng trong nước thường là một giải pháp mang tính truyền thống của cácnước phát triển Bởi các nước phát triển có nguồn vốn, công nhân và kỹ sưlành nghề,…thường rất dồi dào

Nhưng đối với các nước nghèo thì phương pháp trên lại không thể dễdàng áp dụng được Bởi cho dù các nước nghèo có thể có các chuyên gia kỹthuật được trang bị những tri thức công nghệ tiên tiến nhưng vẫn không thểthực hiện được vì còn quá nhiều hàng rào ngăn cản như: vốn đầu tư thấp,công nhân và nhiều kỹ sư lành nghề hầu như rất ít,…không đáp ứng đượcyêu cầu Chính vì vậy, một phương pháp thay thế hữu hiệu phương pháp

“sao chép” mà các nước phát triển vẫn làm là phát triển các KCN Qua đó,

Trang 6

các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đưa vào KCN những thiết bị kỹ thuật tiên tiến,quy trình công nghệ hiện đại nhằm sản xuất ra các sản phẩm đạt tiêu chuẩnquốc tế có đủ sức mạnh cạnh tranh trên thị trường Từ đó, góp phần thúc đẩycác doanh nghiệp của các vùng, các khu vực đổi mới thiết bị và công nghệ,nâng cao từng bước chất lượng sản phẩm.

Xuất phát từ trang thiết bị hiện đại, công nghệ kỹ thuật tiên tiến, cáccán bộ quản lý, các công nhân kỹ thuật và viên chức làm việc tại các KCN sẽđược đào tạo lại, đào tạo bổ xung cho thích hợp Và họ cũng là lực lượngtrực tiếp tiếp thu tác phong công nghiệp, kinh nghiệm quản lý, phương phápkiểm tra chất lượng hiện đại,… nhằm thích ứng với cơ chế thị trường và đạthiệu quả cao Những kết quả này không chỉ mang lại tại các KCN mà theohiệu ứng lan truyền nó còn tác động mạnh đến sự thay đổi đến các doanhnghiệp hoạt động bên ngoài KCN, làm cho các doanh nghiệp này cũng thayđổi theo

1.4 Tăng cường các mối liên kết và tác động ngược trở lại nền kinh

tế

Phát triển KCN là một trong những điều kiện tiền đề để thúc đẩy sựphát triển toàn diện trong vùng, mở của nền kinh tế trong nước cho hệ thốngmậu dịch và tài chính quốc tế phát triển, hợp tác kinh tế đối ngoại,… nhằmđẩy mạnh công cuộc CNH - HĐH đất nước Theo đánh giá của các chuyêngia kinh tế, các KCN được coi như một bộ phận cầu nối giúp nước chủ nhà

mở cửa nhìn ra thế giới bên ngoài; tăng cường mối liên kết trao đổi hànghoá, dịch vụ và kỹ thuật với thế giới bên ngoài

Thực tế đã chứng minh, phát triển KCN còn tạo ra sự tác động ngượctrở lại đối với sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước thông quaviệc cung cấp các dịch vụ như: cung cấp nguyên vật liệu; lắp ráp, chế biếnsản phẩm;… cho các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN

Ảnh hưởng của các KCN đối với phần còn lại của nền kinh tế thôngqua hiệu ứng số nhân của Keynes Ví dụ, một KCN đi vào hoạt động trựctiếp đem lại việc làm cho người lao động (làm việc trong KCN) còn gián tiếptạo việc làm cho các địa phương xung quanh thông qua việc cung cấp cácdịch vụ phục vụ sự phát triển của các doanh nghiệp hoạt động trong cácKCN Nếu một năm một KCN trả lương cho công nhân (trong vòng mộtnăm) là 10 triệu USD Với tiền mua nguyên vật liệu, mua các dịch vụ ở địaphương sẽ gián tiếp tạo việc làm cho khoảng 10.000 lao động Và nếu tỉ lệtiêu dùng là 2/3 thu nhập thì 10 triệu USD của công nhân sẽ góp phần tăngthu nhập của các khu vực lân cận lên tới 30 triệu USD

Trang 7

Như vậy, phát triển KCN là một trong những giải pháp quan trọng

nhằm phát triển công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế của địa phươngnói chung Đồng thời, phát triển KCN là nhịp cầu nói giúp địa phương mởcủa hoà nhập với nền kinh tế thế giới

2 Vì sao phải tăng cường hiệu quả sử dụng các KCN

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, việc quy hoạch phát triểnKCN chỉ là điều kiện cần còn vấn đề cốt lõi ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng phát triển KCN nói riêng và ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế củađịa phương nói chung chính là hiệu quả sử dụng của chúng Vì vậy, giảipháp nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng KCN đang là vấn đề quan tâmhàng đầu của các nhà quản lý

Thứ nhất, nếu khi quy hoạch phát triển các KCN, các nhà quản lý chỉ

chú trọng đến số lượng cũng như diện tích trong quy hoạch Nhưng khả năng

“lấp chỗ trống” thấp sẽ dẫn đến tình trạng diện tích đất đai quy hoạch thì rấtlớn trong khi khả năng sử dụng thì hạn chế

Điều này sẽ gây lãng phí nguồn lực đất đai rất lớn trong quá trình pháttriển kinh tế Bởi vì: đất đã được đưa vào quy hoạch KCN (mặc dù chưa sửdụng) nhưng người nông dân vẫn không thể tiếp tục sử dụng vào mục đíchcanh tác nông nghiệp mà phải để hoang hoá Đất đai trong các KCN chưađược sử dụng cũng đồng nghĩa với việc sản xuất kinh doanh trên lĩnh vựccông nghiệp chưa phát triển Điều này là một trong những nguyên nhânkhiến người nông dân chưa có điều kiện cũng như cơ hội chuyển đổi nghềnghiệp khi đã chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang côngnghiệp, khiến cho cuộc sống của người nông dân ngày càng khó khăn

Thứ hai, một trong những vấn đề mang tính quyết định đến hiệu quả

sử dụng các KCN chính là tỉ lệ vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích

Như đã biết, hệ thống cơ sở hạ tầng trong KCN như: hệ thống giaothông vận tải, hệ thống cung cấp điện, cấp thoát nước,… là một trong nhữngđiều kiện cần thiết ban đầu khi một doanh nghiệp trong KCN đi vào hoạtđộng Vì vậy, nếu đầu tư một cách “dàn trải” trong khi nguồn kinh phí thì eohẹp sẽ gây ra tình trạng cơ sở hạ tầng trong KCN thô sơ, không đáp ứngđược yêu cầu của nhà đầu tư Điều này sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả sửdụng KCN

Ngoài ra, trong xu hướng khoa học công nghệ phát triển như vũ bãohiện nay Một doanh nghiệp sản xuất nói riêng và nền kinh tế của một đấtnước nói chung chỉ có thể phát triển theo hướng ứng dụng trình độ khoa học

Trang 8

kỹ thuật công nghệ tiên tiến để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, đápứng được yêu cầu của người tiêu dùng Để thực hiện được mục tiêu này thìmột trong những vấn đề mang tính quyết định là nguồn vốn đầu tư phải rấtlớn Điều đó cho thấy, suất đầu tư cao mới có khả năng đáp ứng được nhucầu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất của các doanh nghiệp.Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy, phát triển KCN nói chung

và nâng cao hiệu quả sử dụng KCN nói riêng chính là con đường mở cửagiúp địa phương hoà nhập bình đẳng vào nền kinh tế, tạo điều kiện tiền đề đểthực hiện thành công công cuộc CNH – HĐH đất nước

III Thước đo hiệu quả sử dụng các KCN

Các khái niệm cơ bản về hiệu quả sử dụng KCN

Khai thác có hiệu quả mô hình KCN đang là vấn đề được quan tâmhàng đầu đối với các quốc gia đang trong thời kỳ CNH – HĐH Có khánhiều các quan niệm khác nhau về hiệu quả sử dụng các KCN

Theo tạp chí kinh tế và phương pháp toán của Viện toán kinh tế viện hàn lâm khoa học Liên Xô cũ, hiệu quả sử dụng KCN là chỉ tiêu phản ánh

mối quan hệ giữa diện tích đất đai đã sử dụng và tổng diện tích đất đai đãđược đưa vào quy hoạch KCN

Theo họ, hiệu quả sử dụng KCN được tiếp cận trên phương diện: Xácđịnh diện tích đất đai đã cho thuê tại các KCN Ưu điểm của phương pháptiếp cận này là so sánh được diện tích có ích (đã được sử dụng) trên tổngdiện tích được cấp phép xây dựng Qua đó, so sánh được sự thành công trênphương diện sử dụng đất đai giữa các KCN trong quá trình phát triển

Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp là không thể đánh giá, so sánhđược hiệu quả sử dụng KCN trên các phương diện khác như: suất đầu tư trênmột đơn vị diện tích, hiệu quả đóng góp của các KCN đối với sự phát triểnkinh tế của địa phương,… Từ đó chưa thể đánh giá một cách chính xác tínhhấp dẫn trong thu hút vốn đầu tư, hiệu quả đất đai đã sử dụng,… của cácKCN

Theo quan điểm của Ban quản lý các KCN, KCX Việt Nam, hiệu quả

sử dụng KCN là chỉ tiêu so sánh biểu hiện mức độ tiết kiệm chi phí trongmột đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khối lượng hữu ích của hoạt độngsản xuất tại KCN trong một thời kỳ nhất định

Ưu điểm của phương pháp tiếp cận này, gắn kết quả với chi phí, coihiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí

Trang 9

Nhược điểm của phương pháp, chưa rõ ràng và thiếu tính khả thi ởphương diện xác định và tính toán Bởi vì: Muốn xác định được mức độ tiếtkiệm thì phải có ít nhất hai phương án để so sánh và phải có tiêu chuẩn để sosánh Điều này chỉ có trong lĩnh vực kế hoạch khi lựa chọn dự án sản xuấthoặc dự án đầu tư Trong thực tế, với từng đối tượng trong một phạm vi thờigian cụ thể chỉ có một kết quả và một chi phí cụ thể Như vậy, làm sao biếtđược mức độ tiết kiệm chi phí sản xuất Tính không rõ ràng trong phươngpháp xác định trên là do không phân biệt giữa kế hoạch và thực tế, giữatương lai và quá khứ khi đưa ra các yêu cầu lớn nhất và bé nhất trong quátrình phân tích, đánh giá đối tượng.

Theo các thành viên trong Ban quản lý (BQL) KCN của tỉnh Bắc Ninh,

hiệu quả sử dụng các KCN là chỉ tiêu phản ánh sự đóng góp của các KCNđối với sự tăng trưởng kinh tế trên địa bàn, tức là tổng giá trị sản lượng củaKCN so với tổng GDP của địa phương

Ưu điểm của cách xác định này là đánh giá được tổng giá trị sản lượngcủa các KCN đối với quá trình tăng trưởng kinh tế trên địa bàn Qua đó, thấyđược tầm quan trọng của phát triển các KCN đối với địa phương

Nhưng nhược điểm của phương pháp là không thể đánh giá được hiệuứng dây truyền của các hoạt động của hệ thống cung cấp dịch vụ đi kèm vớiquá trình hoạt động của các KCN Điều đó được biểu hiện thông qua hiệuứng số nhân của Keynes

Trở lại ví dụ trên, khi một KCN đi vào hoạt động sẽ tạo việc làm giántiếp cho các địa phương xung quanh thông qua việc cung cấp các dịch vụ.Nếu trong một năm một KCN hoạt động trả lương cho công nhân trongKCN là 10 triệu USD Với tiền mua các linh kiện và dịch vụ ở địa phương,theo hiệu ứng số nhân có thể cung cấp việc làm cho hơn 10.000 công nhânbên ngoài Và nếu tỉ lệ tiêu dùng là 2/3 thu nhập thì sẽ góp phần tăng thêmthu nhập cho các khu vực lân cận lên tới 30 triệu USD

Nhược điểm lớn nhất của ba khái niệm trên là không xác định được tínhhữu ích ở dạng tổng thể gộp lớn Bởi một KCN khi đi vào hoạt động sẽ gópphần thu hút nguồn vốn đầu tư, tạo công ăn việc làm cho người lao động,tăng cường các mối liên kết và tác động ngược trở lại tới các bộ phận còn lạicủa nền kinh tế,…

Vì thế, để khắc phục những nhược điểm trên trong chuyên đề này, hiệu

quả sử dụng các KCN được hiểu là chỉ tiêu phản ánh đầy đủ hơn kết quảhoạt động kinh tế của các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN ở tầmhiệu quả kinh tế - xã hội Tức là, hiệu quả sử dụng các KCN là chỉ tiêu phản

Trang 10

ánh tổng hợp không chỉ khả năng “lấp chỗ trống” trong các KCN, hiệu quảđầu tư trên một đơn vị diện tích còn có cả phần đóng góp cho ngân sách nhànước ở dạng thuế, tiền lương, tiền thưởng cho người lao động.

2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các KCN

Hiện nay, có khá nhiều cách xác định hiệu quả sử dụng các KCN.

Nhưng trong khuôn khổ chuyên đề này, tôi chỉ sử dụng một số chỉ tiêu đánhgiá hiệu quả sử dụng KCN như sau:

2.1 Tỉ lệ diện tích được lấp đầy

Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:

Tỉ lệ Diện tích đã cho thuê * 100%

lấp đầy Tổng diện tích KCN

Chỉ tiêu này, cho biết phần diện tích có ích trên tổng diện tích đượccấp phép theo quy hoạch KCN Theo các nhà kinh tế, nếu tỉ lệ lấp đầykhoảng 70% trở lên thì hiệu quả sử dụng KCN trên phương diện sử dụngđất đai đạt hiệu quả rất cao; còn nếu nhỏ hơn 30% thì hiệu quả sử dụng quáthấp gây lãng phí nguồn lực đất đai rất lớn

Chỉ tiêu này còn cho phép đánh giá được hiệu quả sử dụng đất đai tạicác KCN Đồng thời, so sánh được sự thành công trong lĩnh vực sử dụng đấtđai giữa các KCN

2.2 Tỉ lệ vốn đầu tư trên một đơn vị diện tích

Chỉ tiêu này cho biết, suất đầu tư trên từng đơn vị diện tích Được xácđịnh theo công thức sau:

Tỉ lệ Tổng vốn đầu tư (triệu USD; triệu đồng) VĐT Tổng diện tích (ha)

Tỉ lệ VĐT càng cao chứng tỏ doanh nghiệp đã ứng dụng khoa học, kỹthuật công nghệ tiến tiến vào sản xuất bởi nguồn vốn đầu tư lớn tạo điềukiện thuận lợi giúp doanh nghiệp áp dụng những thành tựu khoa học tiếntiến vào sản xuất

Suất đầu tư dùng để đánh giá, so sánh hiệu quả thu hút vốn đầu tư trênmột đơn vị diện tích Từ đó, đánh giá được tính hấp dẫn trong việc thu hútvốn giữa các KCN với nhau một cách chính xác

Trang 11

2.4 Số lao động làm việc trong các KCN

Chỉ tiêu này cho biết số lượng lao động làm việc tại KCN, lợi ích trongviệc giải quyết tình trạng thất nghiệp và lao động dôi dư ở các địa phương cóKCN Đồng thời cho biết khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làmgiữa các KCN với nhau

Chỉ tiêu này phụ thuộc vào sự phát triển công nghiệp của địa phương.Tuy nhiên theo các nhà kinh tế, số lao động càng cao chứng tỏ khả năng thuhút lao động, giải quyết việc làm của KCN càng lớn Nếu số lao động chiếmkhoảng trên 40% tổng số lao động của địa phương, chứng tỏ khả năng tạoviệc làm của các KCN là rất lớn

Các chỉ tiêu trên đây, cho phép nhìn nhận một cách tổng quát nhằm sosánh, đánh giá một cách chính xác hiệu quả sử dụng các KCN

IV Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các KCN

Cũng như bất kỳ mô hình phát triển kinh tế nào, để nângcao hiệu quả sử dụng KCN đòi hỏi phải thoả mãn những điều kiện cần thiết

Đó là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo cơ sở cho sự thành công trongviệc sử dụng các KCN Cũng tuỳ tính chất của từng KCN mà đòi hỏi phảiđáp ứng các yếu tố khác nhau Nhưng nhìn chung, các nhân tố chủ yếu ảnhhưởng đến hiệu quả sử dụng các KCN như sau:

1 Nhóm các vấn đề về khung pháp lý

1.1 Về cơ chế chính sách

Kinh nghiệm cho thấy, các nhà đầu tư (đặc biệt là các nhà đầu tư nướcngoài) nhiều khi không coi những ưu đãi về kinh tế là quan trọng hàng đầu

Trang 12

mà cái chính là sự ổn định về chính trị xã hội, chính sách của nhà nước trongviệc bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể tham gia kinhdoanh và đầu tư.

Mục đích của quá trình đầu tư kinh doanh chính là lợi nhuận Bởi vậy,bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cũng như tạo mọi điều kiện cho các nhàđầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh là một trong những điều kiệnhàng đầu mà các nhà đầu tư quan tâm khi quyết định đầu tư Bởi chính sáchnhất quán của các văn bản pháp lý ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệquyền sở hữu hợp pháp của các chủ thể khi tham gia kinh doanh

Tính nhất quán, rõ ràng của các văn bản pháp lý góp phần quyếtđịnh việc tiến hành các thủ tục hành chính ngay từ khi chủ thể bắt đầu thamgia kinh doanh Bởi thủ tục hành chính nhanh chóng, thuận tiện sẽ giúp cácnhà đầu tư giảm được chi phí cả về thời gian và tiền bạc khi đăng ký kinhdoanh Đặc biệt là hiện nay khi mà cơ hội kinh doanh là một nhân tố mangtính chất “sống còn” của doanh nghiệp Thủ tục nhanh chóng sẽ giúp doanhnghiệp nắm chắc cơ hội kinh doanh của mình

Một trong những nhân tố cũng góp phần quan trọng đến quyết định đầu

tư của các chủ thể kinh doanh chính là các chính sách ưu đãi Bởi nếu có cácchính sách ưu đãi như: miễn giảm thuế công ty, thuế xuất nhập khẩu,… thìcác nhà đầu tư sẽ giảm được một phần chi phí sản xuất Điều này, góp phầntăng lợi nhuận của các nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh

Qua phân tích cho thấy, cơ chế chính sách đóng vai trò quan trọngnhằm thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào các KCN nói riêng và đầu tư vào địaphương nói chung

1.2 Cơ chế phân cấp và uỷ quyền trong quản lý

Cơ chế phân cấp và uỷ quyền đối với các cơ quan quản lý hành chínhnhà nước là một trong những nguyên nhân chủ yếu quyết định đến các thủtục hành chính khi một doanh nghiệp tham gia kinh doanh Bởi cơ chế phâncấp khoa học sẽ tránh được thủ tục rườm rà, phức tạp; tránh tình trạng chồngchéo cũng như việc lạm dụng quyền hạn của các cán bộ quản lý trong quátrình xét duyệt các loại văn bản, hồ sơ của các nhà đầu tư

Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư tiết kiệm được chi phí cả về thời gian

và tiền bạc ngay từ khi bắt đầu tham gia sản xuất kinh doanh cũng như trongquá trình mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh của mình

2 Nhóm các vấn đề liên quan đến bộ máy quản lý của các KCN

Trang 13

Nhằm tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào các KCN để đẩynhanh hiệu quả sử dụng thì BQL các KCN cần phải hoạt động có hiệu quả,thủ tục hành chính phải gọn nhẹ, đơn giản,… Điều này phụ thuộc vào:

Thứ nhất, cơ cấu tổ chức của BQL vì: Cơ cấu tổ chức khoa học sẽ tạo

điều kiện giúp các thành viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Cũng nhưtạo điều kiện giúp các nhà đầu tư giảm thiểu chi phi phí cả về thời gian vàtiền bạc khi tham gia sản xuất kinh doanh trong các KCN

Thú hai, cơ sở vật chất của BQL: Điều kiện vật chất, trang thiết bị phục

vụ quá trình làm việc góp phần rất lớn giúp các nhân viên thực hiện nhanhchóng, chính xác trong quá trình xét duyệt các loại văn bản, giấy tờ liênquan đến quá trình sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư

Thứ ba, năng lực của từng cán bộ là một trong những điệu kiện chủ yếu

quyết định đến khả năng làm việc của BQL Điều này, ảnh hưởng trực tiếpđến hiệu quả trong quá trình quản lý các KCN và tác động đến hiệu quả sửdụng các KCN trên địa bàn

3 Nhóm vấn đề liên quan đến đất đai và hạ tầng cơ sở của KCN

3.1 Về đất đai

Giá thuê đất là một khoản chi phí khá lớn mà doanh nghiệp phải trả Do

đó giá thuê đất tại các KCN có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận kinh doanhcủa doanh nghiệp Như vậy, giá thuê đất thấp là một trong những điều kiệnmang tính chất quyết định đến khả năng thu hút đầu tư tại các KCN nói riêng

và tại địa phương nói chung

Với mục tiêu “lấp đầy”, các KCN ngoài biện pháp nhằm thu hút cácnhà đầu tư đầu tư vào các KCN thì một trong những biện pháp thúc đẩynhanh quá trình sử dụng các KCN chính là biện pháp hỗ trợ đối với cácdoanh nghiệp khi họ đã đầu tư sản xuất kinh doanh trong các KCN bởi: Nếudoanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất kinh doanh thì biện pháp hỗ trợ vềmặt đất đai sẽ là một trong những giải pháp hữu hiệu khuyến khích các nhàđầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh

Hiện nay, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong các KCN mới chỉđược trao cho các doanh nghiệp kinh doanh cơ sở hạ tầng Trong khi, doanhnghiệp đầu tư vào KCN phải trả tiền thuê đất một lần cho thời gian nhiềunăm nhưng không nhận được giấy chứng nhận “con”

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy chứng nhận “con”)đối với các doanh nghiệp thuê lại đất trong KCN cũng là một trong những

Trang 14

biện pháp hữu hiệu nhằm thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào KCN Bởi hiệnnay, các Ngân hàng đã cho phép các doanh nghiệp thế chấp quyền sử dụngđất để vay vốn Do đó, nếu các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong cácKCN được cấp giấy chứng nhận “con” để khi cần họ có thể sử dụng giấychứng nhận này thế chấp vay vốn.

3.2 Về cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng trong và ngoài KCN bao gồm: hệ thống điện, nước, giaothông, hệ thống cấp thoát nước, liên lạc,… Đây là những điều kiện ban đầucần thiết để các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh

Nếu như hệ thống cơ sở hạ tầng trong và ngoài KCN có chất lượng cao,đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư Điều đó, sẽ giúp các nhà đầu tưgiảm thiểu được một khoản chi phí đáng kể Bởi nếu doanh nghiệp phải xâydựng hệ thống các cơ sở hạ tầng thì doanh nghiệp sẽ phải thanh toán nhữngkhoản chi phí phát sinh không nhỏ Điều này làm gia tăng chi phí sản xuấtcủa doanh nghiệp lên khá lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kinhdoanh của doanh nghiệp

Như vậy, hệ thống cơ sở hạ tầng trong KCN ảnh hưởng trực tiếp đến

khả năng thu hút nhà đầu tư đầu tư vào các KCN

4 Nhóm các vấn đề liên quan đến dịch vụ

4.1 Dịch vụ trong KCN

Một trong những nhân tố quan trọng hấp dẫn các nhà đầu tư quyết địnhđầu tư vào các KCN là hệ thống cung cấp dịch vụ Việc quy hoạch các khudân cư dịch vụ KCN, khu đô thị gắn liền với KCN sẽ đảm bảo sự gắn kếtcác hạ tầng trong và ngoài KCN, đảm bảo cho sự phát triển bễn vững củaKCN

Ngoài ra, trong điều kiện có những hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội như:Nhà ở, trường học, hệ thống ngân hàng,… ở gần các KCN tạo điều kiệnthuận lợi trong việc thu hút các nhà đầu tư đầu tư cũng như thu hút lực lượnglao động có tay nghề cao làm việc trong các KCN

4.2 Hệ thống cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp

Trong xu hướng hội nhập hiện nay, thông tin ngày càng trở thành mộtyếu tố quan trọng trong việc củng cố và nâng cao khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, hiện nay thông tin

đã trở thành một trong những điều kiện quyết định đến sự thành hay bại của

Trang 15

V Kinh nghiệm sử dụng các KCN của một số tỉnh và bài học rút ra

Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền bắc, là cửangõ phía bắc của thành phố Hà Nội (cách trung tâm thành phố Hà Nộikhoảng 20 km) Đây là một trong những điều kiện quan trọng giúp tỉnh nângcao hiệu quả sử dụng các KCN nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.Qua tìm hiểu tôi được biết, mặc dù có những chính sách ưu đãi cũng nhưđiều kiện thuận lợi nhưng hiệu quả sử dụng các KCN trên địa bàn khôngcao Trong khi các tỉnh khác có cùng điều kiện như Bắc Ninh (tỉnh VĩnhPhúc, tỉnh Bình Dương, tỉnh Đồng Nai,…), hiệu quả sử dụng các KCN rấtcao Vấn đề đặt ra là nguyên nhân do đâu mà hiệu quả sử dụng các KCN trênđịa bàn Bắc Ninh lại thấp?

Nghiên cứu tình hình phát triển các KCN ở một số tỉnh, đặc biệt ởnhững tỉnh có điều kiện tương tự Bắc Ninh nhằm tổng kết rút ra những ưu,nhược điểm và xu hướng vận động, phát triển các KCN là hết sức cần thiết Trong phạm vi đề tài này sẽ chọn hai tỉnh để nghiên cứu, đó là tỉnhBình Dương và tỉnh Vĩnh Phúc Đây là hai trong số những tỉnh có cùng điềukiện phát triển như Bắc Ninh

1 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương

Cũng giống như Bắc Ninh, tỉnh Bình Dương nằm trong vùng kinh tếtrọng điểm miền trung, có nhiều thuận lợi để phát triển công nghiệp KCN là

mô hình phát triển trọng điểm mà địa phương hướng tới trong quá trình pháttriển Tỉnh chủ trương xây dựng KCN ngay từ khi luật đầu tư nước ngoàiđược ban hành có hiệu lực KCN Sóng Thần lần đầu tiên được thành lập ởBình Dương (tháng 9/1995), đến nay trên toàn tỉnh đã có 18 KCN được

Trang 16

thành lập với diện tích quy hoạch 4916 ha (ước tính đến năm 2010 toàn tỉnh

có 21 KCN với diện tích quy hoạch là 4.921 ha)

Các KCN Bình Dương đều là các KCN đa ngành, trong KCN lại phânthành các KCN chuyên ngành riêng (khu cơ khí, điện tử, khu dệt may, khuchế xuất, khu công nghệ cao,…) nhưng trên thực tế các khu chức năngchuyên ngành đều chuyển thành KCN tổng hợp, nên phân khu chức năngkhông còn lại nữa

Ban đầu khi mới đi vào hoạt động, hiệu quả đóng góp của các KCNđối với sự phát triển kinh tế trên địa bàn của tỉnh Bình Dương không lớn.Mặc dù là tỉnh phát triển nhanh các KCN, nhưng vai trò đối với nông nghiệp

và nông thôn còn rất hạn chế Vì quy hoạch các KCN xây dựng tách rời dân

cư, chủ yếu bám vào các vùng ven đô thị có sẵn; chưa hình thành được mốiliên kết giữa nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp thông qua các KCN;chưa thu hút được nhiều các doanh nghiệp trong nước vào KCN (chỉ chiếm6% tổng vốn đăng ký vào KCN); … Điều này đã ảnh hưởng đến chính sáchphát huy nội lực và sự phát triển bền vững; chưa phát triển đồng bộ hệ thốngdịch vụ trong và ngoài KCN nhằm hỗ trợ đẩy nhanh tốc độ sử dụng cácKCN

Để khắc phục các nhược điểm này, Bình Dương đã thực hiện một sốbiện pháp sau:

Thứ nhất, thường xuyên nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện

quy hoạch; tổ chức xây dựng hợp lý và có hiệu quả hệ thống các cơ sở hạtầng KCN

Hệ thống cơ sở hạ tầng (hệ thống giao thông vận tải, hệ thống cung cấpđiện, nước,…) ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của các doanhnghiệp sản xuất và kinh doanh tại các KCN Chú trọng nâng cao chất lượngxây dựng, đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư là một trong những điều kiện cầnthiết thu hút các nhà đầu tư đầu tư vào các KCN

Thứ hai, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, xúc tiến

quảng bá và thu hút các dự án đầu tư hoạt động trong KCN,…

Môi trường đầu tư và kinh doanh trực tiếp quyết định đến lợi nhuận củadoanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi góp phần giúp doanhnghiệp tăng lợi nhuận trong quá trình sản xuất kinh doanh Điều này là mộttrong những yếu tố quan trọng hấp dẫn các nhà đầu tư cả trong và ngoàinước đầu tư vào các KCN

Trang 17

Thứ ba, hình thành KCN chuyên ngành (ví dụ KCN dệt Bình An), cụm

công nghiệp chuyên môn hoá trong KCN hoặc trong khu liên hợp nhằm đảmbảo sự liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất chính và doanh nghiệp sản xuất

phụ trợ Trong đó, Bình Dương đặc biệt chú trọng việc cung cấp các dịch vụ

trong và ngoài KCN, tạo điều kiện thuận lợi nhằm đảm bảo sự liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất chính và các doanh nghiệp sản xuất phụ trợ.

Trong điều kiện quốc tế hoá và toàn cầu hoá hiện nay, bất kỳ mộtdoanh nghiệp nói riêng và một quốc gia nói chung không thể tự mình đảmbảo tất cả các điều kiện trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh, màphải đảm bảo liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp Do đó, đảm bảo mốiliên hệ,hợp tác giữa các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh sẽ tạo điềukiện cho các doanh nghiệp cùng phát triển

Thứ tư, lựa chọn cơ cấu đầu tư có chọn lọc theo hướng dự án có trình

độ công nghệ cao, vốn lớn, tổ chức thành tổ hợp hoặc cụm chuyên môn hoá.Trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất quyết định trực tiếp đếnchất lượng sản phẩm cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Mộtdoanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải sản xuất ra những sản phẩm cóchất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng Vì vậy, lựa chọn các

dự án sản xuất kinh doanh có trình độ khoa học công nghệ cao là mọt trongnhững điều kiện quan trọng quyết định đến tính bền vững trong quá trìnhphát triển các KCN

Thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp trên, đã góp phần nâng caokhả năng sử dụng KCN lên rõ rệt Điều đó, có tác động thúc đẩy sản xuấtcông nghiệp phát triển (giá trị sản xuất của các KCN chiếm trên 80% tổnggiá trị sản xuất công nghiệp và chiếm khoảng trên 30% GDP của tỉnh)

1 Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc

Cũng giống như Bắc Ninh, Vĩnh Phúc là cửa ngõ phía nam của HàNội (cách trung tâm Hà Nội khoảng 30 km), tỉnh cũng phấn đấu đến năm

2015 trở thành tỉnh có nền kinh tế công nghiệp Nhằm thực hiện mục tiêutrên thì một trong các giải pháp hữu hiệu mà các nhà quản lý hướng tới đó làphát triển các khu, cụm công nghiệp Các khu, cụm công nghiệp của VĩnhPhúc đầu tư xây dựng theo mô hình các khu, cụm công nghiệp đa ngànhđược xây dựng từ sau ngày 01/01/1997 (sau khi tái lập tỉnh Vĩnh Phúc)

Sau 11 năm phát triển thì hiện nay, Vĩnh Phúc đã có khoảng 13 khu,cụm công nghiệp; trong đó xây dựng đồng bộ 07 KCN với tổng diện tích2.622 ha

Trang 18

Cũng như nhiều KCN trên địa bàn thành phố, các KCN trên địa bàntỉnh Vĩnh Phúc cũng có chung mặt bằng chính sách, cơ chế và các điều kiện

tự nhiên Tuy nhiên, để thu hút đầu tư nhằm đẩy nhanh quá trình xây dựngcũng như sử dụng các KCN là do tỉnh đã thực hiện đồng bộ một số giải phápsau đây:

Thứ nhất, ưu đãi các nhà đầu tư về vấn đề thủ tục hành chính khi đầu

tư Thủ tục khi các nhà đầu tư quyết định đầu tư vào đây thì việc đơn giảncủa họ phải làm là chuẩn bị đầy đủ các số liệu cần thiết cho phương án sảnxuất kinh doanh; các chuyên gia của KCN sẽ giúp họ thành lập các hồ sơ và

lo hoàn tất mọi thủ tục còn lại như giấy phép thành lập doanh nghiệp, giấyphép đầu tư (trong 1 tuần), chế độ ưu đãi doanh nghiệp kể cả giấy phép xâydựng Tất cả các chi phí trên đều do KCN tự bỏ tiền ra lo cho khách hàng màkhông thu bất ký khoản lệ phí nào

Theo phản ánh của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nướcngoài, một trong những nguyên nhân chính khiến họ do dự khi đầu tư vàoViệt Nam là do các thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp ngay từ khi doanhnghiệp bắt đầu đăng ký kinh doanh

Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, cơ hội kinh doanh mangtính quyết định đến sự “sống còn” của doanh nghiệp Thủ tục kinh doanhphiền hà, phức tạp khiến các chủ đầu tư mất rất nhiều cả về thời gian và tiềnbạc ngay từ khi doanh nghiệp mới bắt đầu kinh doanh Điều này, ảnh hưởngtrực tiếp đến cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp Giải pháp ưu đãi về thủtục hành chính là một giải pháp mang tính quyết định, là một trong nhữngnguyên nhân rất quan trọng hấp dẫn các nhà đầu tư đầu tư vào các KCNVĩnh Phúc, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài (nguồn vốn đầu tư trongnhững năm gần đây của tỉnh tăng đột biến, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàicao nhất trong các tỉnh thành trong cả nước)

Thứ hai, triển khai xây dựng các đô thị nhỏ nhằm cung cấp các dịch vụ

cần thiết cho các KCN, … Trong đó, Vĩnh Phúc đặc biệt chú trọng đến việc

tạo môi truờng thuận lợi để thu hút nguồn vốn đầu tư cũng như việc cung cấp các dịch vụ trong KCN.

Cung cấp các dịch vụ trong và ngoài KCN là một điều kiện cần thiếtgiúp các doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao Hiệu quả hoạt động củacác doanh nghiệp tại các KCN ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng củacác KCN Ngoài ra, việc thành lập hệ thống cung cấp dịch vụ sẽ góp phầntăng việc làm, giảm tỉ lệ thát nghiệp tại các vùng lân cận quanh KCN

Thứ ba, xúc tiến việc quảng bá và thành lập hệ thống cung cấp thông

Trang 19

tin (trung tâm tư vấn, trang Web,…) cho các doanh nghiệp khi họ muốn đầu

tư vào các KCN

Ngày nay, thông tin đã trở thành yếu tố quyết định đến cơ hội cũng nhưkhả năng kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, thành lập hệ thống cung cấpthông tin cho các doanh nghiệp sẽ giúp các chủ đầu tư yên tâm đầu tư vàocác KCN trên địa bàn

Sau một thời gian thực hiện đồng thời các giải pháp trên, hiệu quả sửdụng các khu, cụm công nghiệp đã được tăng lên rõ rệt Điều đó, được minhchứng thông qua: Nguồn vốn đầu tư vào các KCN trên địa bàn tăng nhanhchóng (như nguồn vốn FDI đầu tư vào Vĩnh Phúc cao nhất trong cả nước);giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng nhanh chóng (tốc độ tăng giá trịsản lượng công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng trên 20%)

2 Những bài học kinh nghiệm

Qua nghiên cứu một số KCN điển hình trong các địa phương có điềukiện tương tự như ở Bắc Ninh, ta có thể rút ra một số kinh nghiệm cần thiếtcho Bắc Ninh trong quá trình sử dụng các KCN như sau:

Thứ nhất, các thủ tục hành chính phải đơn giản, gọn nhẹ Giảm thiểu

những thủ tục rườm rà, phức tạp; tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuậnlợi; xúc tiến quảng bá, cung cấp thông tin cho các dự án đầu tư;… nhằm thuhút các dự án đầu tư đầu tư vào các KCN

Thứ hai, phải tiếp tục nghiên cứu đưa các chính sách, các chế độ ưu đãi

như: Thuế, giá thuê đất, để thu hút các nhà đầu tư Tuy nhiên, các chínhsách và chế độ ưu đãi phải phù hợp với khuôn khổ chính sách chung của nhànước (như: ưư đãi về thuế, giá thuê đất,… phải nằm trong giới hạn mà nhànước cho phép)

Thứ ba, phải xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng theo hướng đa dạng hoá,

chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư

Thứ tư, phải chú trọng xây dựng các đô thị nhỏ, hệ thống cung cấp dịch

vụ nhằm cung cấp các dịch vụ cả trong và ngoài phục vụ cho sự phát triểncủa các KCN

Thứ năm, tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, xúc tiến

quảng bá, cung cấp thông tin cho các dự án đầu tư,… nhằm thu hút các dự

án đầu tư đầu tư trong các KCN

Từ kinh nghiệm thực tiễn các tỉnh đi trước cho thấy, để nâng cao hiệu

Trang 20

quả sử dụng nói riêng và phát triển KCN nói chung, Bắc Ninh cần vận dụngsáng tạo chủ trương, chính sách chung của Đảng và nhà nước Đồng thời, kếthợp giữa việc phát huy các kinh nghiệm thực tiễn của các tỉnh đi trước vàcác thế mạnh của tỉnh về phát triển các làng nghề truyền thống với việc tậptrung sử dụng các KCN trên địa bàn.

Chương II: Thực trạng khai thác sử dụng các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ năm 2001 đến nay

I Sơ lược quá trình phát triển các KCN tại Bắc Ninh

1 Quá trình phát triển các cụm công nghiệp Bắc Ninh

Từ năm 1998 (sau 01 năm tái lập tỉnh), Bắc Ninh đã quyết định thựchiện thí điểm 04 cụm công nghiệp là: Cụm sản xuất thép Châu Khê – Đa hộiquy mô 13,5 ha; cụm sản xuất giấy Phong khê quy mô 12,7 ha; cụm sản xuất

đỗ gỗ mỹ nghệ Đồng Quang quy mô 12,7 ha và cụm công nghiệp đa ngànhĐình Bảng quy mô 14,7 ha Việc phát triển các cụm công nghiệp nói trên đãgiải phóng lực lượng sản xuất, chỉ trong thời gian ngắn đã lấp đầy và đòi hỏiphải mở rộng Qua đó, Bắc Ninh rút ra bài học có giá trị sâu sắc trong việcchỉ đạo xây dựng các KCN sau này

Đến nay trên địa bàn toàn tỉnh đã có 25 cụm công nghiệp với tổngdiện tích lên đến 654,1 ha; tổng vốn đăng ký 2 384 tỷ đồng và gần 3,5 tỷUSD; giải quyết cho 805 cơ sở sản xuất kinh doanh (trong đó 30,02% là các

tổ chức kinh tế, còn lại là các hộ kinh doanh cá thể)

Trong quá trình phát triển, các cụm công nghiệp Bắc Ninh đang ngàycàng gắn kết chặt chẽ với các KCN Các cụm công nghiệp Bắc Ninh chủ yếu

là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vừa linh hoạt vừa có khả năng tiếp cận đốivới các doanh nghiệp trong KCN để thực hiện các dịch vụ: Cung cấp nguyênvật liệu, gia công sản phẩm, thu gom chế biến phế liệu, cung cấp lao động,dịch vụ vận tải,…

Các cụm công nghiệp còn là bước đệm chủ yếu cho các doanh nghiệptrong nước phát triển và di dời vào các KCN Bởi vào các KCN có yêu cầunghiêm ngặt về môi trường, quy mô và chất lượng đầu tư Cho nên, tronggiai đoạn đầu các doanh nghiệp trong nước đều muốn vào các cụm côngnghiệp để tiết kiệm chi phí Nhưng khi sản xuất phát triển đến một trình độnhất định và ổn định về thị trường tiêu thụ thì các doanh nghiệp lại muốn mởrộng sản xuất vào các KCN để lấy hình ảnh, thương hiệu KCN nhằm tăng uy

Trang 21

tín trên thị trường; hưởng các chế độ ưu đãi, giảm thiểu chi phí và tăng lợinhuận trong quá trình sản xuất kinh doanh.

2 Quá trình phát triển các KCN

Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển các khu, cụm công nghiệptrên địa bàn Bắc Ninh tăng nhanh chóng Hiện nay, trên toàn tỉnh đã có 08KCN có quy mô lớn Các KCN đã được quy hoạch, xây dựng và phát triểngóp phần làm phân bố lại khu vực kinh tế; tạo thành hai khu vực phát triểncông nghiệp và nông nghiệp rõ rệt Cụ thể:

2.1 KCN Tiên Sơn

Được thành lập theo Quyết định số 1129/QĐ – TTg ngày 19/12/1998của Thủ tướng Chính phủ do Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng(Vigracera) làm chủ đầu tư KCN được khởi công vào tháng 12 năm 2000.Với vị trí thuận lợi, nằm giữa Quốc lộ (QL) 1A và QL1B, cách thủ đô HàNội khoảng 20 km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 30 km, cách cảng biển CáiLân 120 km

KCN Tiên Sơn được quy hoạch theo 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 với quy

mô là 350 ha, đến năm 2002 (sau 2 năm thành lập) KCN được mở rộng vớidiện tích quy hoạch đã lên đến 600 ha; tổng số vốn đầu tư hạ tầng 916,2 tỷđồng Đây là KCN sạch để tiếp nhận các dự án sản xuất hàng cơ khí điện tử,tiêu dùng, chế biến nông sản thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, vật liệu xâydựng,…

2.2 KCN đô thị Quế Võ

Được thành lập theo Quyết định số 1224/QĐ- TTg ngày 19/12/2002của Thủ tướng Chính phủ Diện tích đất quy hoạch là 636 ha (được chia làmhai giai đoạn, trong đó giai đoạn đầu là 336 ha ) Tổng vốn đầu tư là 531 tỷđồng do công ty cổ phần phát triển Kinh Bắc làm chủ đầu tư KCN đượckhởi công vào tháng 04/2003

KCN có vị trí thuận lợi, sát QL 18 tuyến sân bay Nội Bài – Thành phố

Hạ Long, gần QL 1B, cách Hà Nội 33 km, cách sân bay Quốc tế Nội bài 33

km, cảng Cái Lân Quảng Ninh 110 km, cảng Hải Phòng 100 km

Bên cạnh KCN là khu đô thị, dân cư, dịch vụ 120 ha để phục vụ choKCN

2.3 KCN Đại Đồng – Hoàn Sơn

Trang 22

Diện tích đất quy hoạch là 230,8 ha, được thành lập theo Văn bản số:319/TTg – CN ngày 28/03/2005 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số:1179/QĐ – CT ngày 01/07/2005 của Chủ tịch tỉnh Bắc Ninh KCN có vị trínằm gần nút giao thông lập thể giữa QL 1B và đường tỉnh lộ 295 Cách Thủ

đô Hà Nội 20 km, cách sân bay Quốc tế Nội bài 31 km, cách cảng biển CáiLân 122 km

KCN được thành lập để kêu gọi các dự án sản xuất cơ khí, điện, điện

tử, thủ công mỹ nghệ, dệt may và hàng tiêu dùng

2.4 KCN đô thị Yên Phong

Diện tích quy hoạch là 740,73 ha; trong đó diện tích dành cho xâydựng KCN là 340,73 ha Còn lại 400 ha dành cho xây dựng khu đô thị

KCN do tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng làm chủ đầu tư KCN

có vị trí nằm sát đường QL 18, tuyến đường cao tốc sân bay Nội Bài – thànhphố Hạ Long, cách Hà Nội 28 km, sân bay quốc tế Nội Bài 20 km

KCN được thành lập để kêu gọi vốn đầu tư thuộc các ngành nghề sảnxuất cơ khí, điện, điện tử, hàng tiêu dùng, chế biến nông sản thực phẩm vàvật liệu xây dựng cao cấp

2.5 KCN Quế Võ II

Quy mô xây dựng 300 ha, do Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đôthị làm chủ đầu tư KCN được khởi công xây dựng vào đầu năm 2006 Vàhiện nay vẫn đang trong quá trình xây dựng, chưa đưa vào sử dụng

2.6 KCN Công nghệ thông tin

Quy mô là 53 ha, do công ty cổ phần công nghệ viễn thông Sài Gònlàm chủ đầu tư KCN nằm sát nút giao thông lập thể giũă đường tỉnh lộ 295

và QL 1B, cách Hà Nội 19 km Hiện nay, cũng đang trong quá trình xâydựng chưa đưa vào sử dụng

2.7 KCN Nam Sơn - Hạp Lĩnh

KCN Nam Sơn với quy mô 300 ha, nằm sát đường QL 38, QL 1B và

QL 18; KCN đã được xây dựng đầu năm 2006.Hiện nay, đã bắt đầu đưa vào

sử dụng

2.8 KCN Thuận Thành

KCN Thuận Thành với quy mô 200 ha, nằm trên trụ đường QL 38 đi

Ngày đăng: 19/02/2014, 13:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp tình hình cho thuê đất tại các KCN Bắc Ninh - nâng cao hiệu quả sử dụng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh đến năm 2010
Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình cho thuê đất tại các KCN Bắc Ninh (Trang 24)
Bảng 2.4: Tổng hợp tình hình đầu tư vào các KCN tại Bắc Ninh - nâng cao hiệu quả sử dụng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh đến năm 2010
Bảng 2.4 Tổng hợp tình hình đầu tư vào các KCN tại Bắc Ninh (Trang 27)
Bảng 2.5: Bảng tổng hợp tỉ lệ đóng góp cho GDP toàn tỉnh giai đoạn 2001-2006 - nâng cao hiệu quả sử dụng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc ninh đến năm 2010
Bảng 2.5 Bảng tổng hợp tỉ lệ đóng góp cho GDP toàn tỉnh giai đoạn 2001-2006 (Trang 29)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w