Ngành công nghiệp trang sức của Việt Nam: Một ngành công nghiệp lớn và tăng trưởng cao nhưng mức độ phân mảnh cao: Đồ trang sức của Việt Nam được ước tính có quy mô thị trường là 3,7 tỷ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước khi bắt đầu vào bài phân tích nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn thầy DươngKha đã tạo cơ hội để chúng em tìm hiểu và phân tích về công ty của bài thu hoạch cũngnhư tạo điều kiện để nhóm có thể làm việc nhóm cùng nhau Chúng em sẽ luôn ghi nhớcông ơn dưỡng dục của thầy Xin cảm ơn thầy rất nhiều
I PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH:
1 Nền kinh tế thế giới:
Trong các báo cáo chính thức, tất cả các tổ chức quốc tế đều tỏ ra bi quan về triển vọngtăng trưởng kinh tế toàn cầu thời gian tới trong bối cảnh ảnh hưởng của đại dịch Covid19
Báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày 24-6-2020 cho biết, kinh tế toàn cầu có thểphải trải qua cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc đại suy thoái diễn ra vào những năm 1930 và có thể tăng trưởng âm 4,9% trong năm 2020, không loại trừ cả các nước ASEAN vốn có tốc độ tăng nhanh nhất thế giới hàng năm
Theo dự báo của IMF, cả châu Á chỉ có Trung Quốc tăng trưởng khoảng 1% GDP và Việt Nam tăng khoảng 2% GDP… Sang năm 2021, kinh tế thế giới có thể sẽ phục hồi vớimức tăng trưởng từ 0,5 đến 8,4% và cũng chưa chắc chắn IMF khuyến cáo các chính phủcần tiếp tục tiến hành các gói hỗ trợ doanh nghiệp và hộ gia đình
Ngân hàng Thế giới (WB) trong dự báo tháng 6-2020 về triển vọng kinh tế toàn cầu cũngkhẳng định, năm 2020 nền kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng âm tới -5,2% và đây sẽ là cuộcsuy thoái kinh tế tồi tệ nhất kể từ Chiến tranh Thế giới lần thứ II
Thu nhập bình quân đầu người sẽ giảm 3,6% và khiến 100 triệu người người rơi vào tìnhtrạng nghèo đói cùng cực (riêng Mỹ có 45,7 triệu người đã nộp đơn xin thất nghiệp).Nếu đại dịch bị đẩy lùi thì tăng trưởng toàn cầu sẽ tăng trở lại mức 4,2% vào năm 2021
và triển vọng này cũng rất không chắc chắn Chính phủ các nước phải tăng cường chất lượng dịch vụ y tế song song với chú trọng hỗ trợ khu vực tư nhân và trợ cấp tiền mặt chonhững người bị ảnh hưởng trực tiếp
2
Trang 3Còn theo JPMorgan (4-2020), nền kinh tế thế giới sẽ mất 5,5 nghìn tỷ USD, tương đương8% GDP vào cuối năm 2021 Tất cả các nền kinh tế phát triển đều có mức suy giảm nghiêm trọng và tốc độ tăng trưởng âm trong năm 2020.
Đặc biệt, trong báo cáo mới nhất (6-2020), OECD đã cho rằng triển vọng kinh tế toàn cầutương ứng với hai kịch bản: một là dịch bệnh được kiểm soát; hai là làn sóng Covid-19 lần thứ hai trong năm 2020
Theo đó, với kịch bản thứ nhất, trong trường hợp dịch bệnh được kiểm soát, nền kinh tế thế giới sẽ giảm 6% trong năm nay và tăng 5,2% trong năm tới Ở trường hợp thứ hai, lànsóng Covid-19 lần thứ 2 tấn công, nền kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng âm 7,7% trong năm 2020 trước khi tăng trưởng dương trở lại vào năm 2021 ở mức 2,8%
2 Phân tích vĩ mô tình hình nền kinh tế Việt Nam:
2.1 Triển vọng kinh tế Việt Nam: tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ:
Việt Nam là một trong những ngôi sao đang lên trong bối cảnh toàn cầu trong những nămqua Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam ở mức ổn định 6-7% / năm, lớn hơn khoảng 5%/năm của ASEAN và 3%/năm của thế giới Trong đại dịch Covid-19, Việt Nam đã có
sự sụt giảm về tăng trưởng GDP trong nửa đầu năm 2020, mức này vẫn chưa nghiêm trọng hơn các nước ASEAN khác và phần còn lại của thế giới Tuy nhiên, Việt Nam đang sẵn sàng phục hồi hình chữ V trong phần còn lại của năm 2020 và 2021 với tốc độ tăng trưởng GDP năm 2021 dự kiến là gần 7%
2.2 Nâng cao thu nhập và mở rộng tầng lớp trung lưu:
Tăng trưởng GDP đã cải thiện thu nhập bình quân đầu người cũng như mở rộng tầng lớpgiàu có trung bình (MAC) IMF dự báo GDP bình quân đầu người của Việt Nam sẽ tăng lên 3.931 USD vào năm 2024 từ mức 2.725 USD vào năm 2019 Cải thiện thu nhập khuyến khích chi tiêu của người tiêu dùng ở cả khía cạnh định lượng và định tính Ngoàiviệc nâng cao thu nhập, MAC còn đóng góp một vai trò quan trọng trong việc MAC chiếm 25% dân số Việt Nam năm 2017 và dự kiến đạt 45% vào năm 2030 Với sức tiêu thụ lớn, MAC đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ hàng xa xỉ, đặc biệt là trang sức
Trang 42.3 Niềm tin của người tiêu dùng cao và chi tiêu của người tiêu dùng mạnh mẽ:
Việt Nam luôn thể hiện niềm tin mạnh mẽ của người tiêu dùng với mức thu nhập kép cùng với sự gia tăng thu nhập kỳ vọng trong tương lai đã thúc đẩy hoạt động tiêu dùngcủa người Việt Nam, đặc biệt là nhu cầu tự thực hiện
Ngành bán lẻ được kỳ vọng sẽ được hưởng lợi từ sức mua mạnh mẽ và niềm tin của người tiêu dùng gia tăng trong những năm tới nhờ thu nhập bình quân tăng, điều kiện sống được cải thiện và dân số MAC mở rộng
3 Phân tích về ngành trang sức:
3.1 Nhu cầu ổn định về hàng trang sức:
Theo cơ sở dữ liệu của Reuter, tiêu thụ vàng trang sức của Việt Nam cho thấy tốc độ tăngtrưởng kép hàng năm là 2% trong giai đoạn 2010-2019 để đạt 4,17 tỷ USD trong năm
2019 Tiêu thụ vàng Nhờ sự ưa chuộng của người Việt, vàng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của người Việt như một phụ kiện phổ biến và là món quà không thể thiếu trong một số sự kiện đặc biệt như đám cưới Cùng với trang sức vàng, trang sức bạc thậm chí còn thể hiện tình hình hoạt động tốt hơn với CAGR 10 năm là 5,15% trong giai đoạn 2010-2019 Tuy nhiên, lĩnh vực này cực kỳ nhỏ so với vàng trang sức về mặt giá trị với tổng mức tiêu thụ năm 2019 là 2,5 triệu USD
Thị trường trang sức được hứa hẹn sẽ phát huy tiềm năng tươi sáng trong 5 năm tới nhờ nhu cầu kỳ vọng to lớn từ (1) thu nhập trung bình được cải thiện và dân số MAC (2) nhucầu tự hiện thực hóa cao (3) sức mua lớn từ thế hệ Millennials
3.2 Ngành công nghiệp trang sức của Việt Nam: Một ngành công nghiệp lớn và tăng trưởng cao nhưng mức độ phân mảnh cao:
Đồ trang sức của Việt Nam được ước tính có quy mô thị trường là 3,7 tỷ USD vào năm
2019 với tốc độ tăng trưởng cao 10-15% mỗi năm trong tương lai 70% thị phần thuộc về12.000 doanh nghiệp kinh doanh truyền thống không có thương hiệu nổi tiếng và chứngnhận chất lượng, trong khi 30% còn lại thuộc về một số công ty uy tín như PNJ, SJC, DOJI, Bảo Tín Minh Châu, Precita với đa dạng chiến lược từ cung ứng bán buôn sang định hướng bán lẻ
3.3 Ngành trang sức được thúc đẩy bởi định hướng bán lẻ:
Mặc dù có một số lượng lớn người chơi, nhưng hầu hết trong số họ là những nhà cung cấp nhỏ với các công ty kinh doanh thuần túy không có thương hiệu nổi tiếng hoặc thiếu
Trang 5cách tiếp cận với khách hàng tiềm năng Chỉ một số người chơi có thương hiệu như cáccông ty trang sức hàng đầu có khả năng tạo sự khác biệt với các công ty cùng ngành.Các công ty trang sức đang theo đuổi việc hoàn thiện chuỗi cung ứng, phát triển kênh phân phối, định vị thương hiệu và nâng cao chất lượng sản phẩm Một số thương hiệu hàng đầu đã kéo dài chuỗi cung ứng của họ sang các bước gia công trang sức thay vì chỉhoạt động kinh doanh.
Trong phát triển kênh phân phối, định hướng bán lẻ là xu hướng chính của ngành trang sức với việc mở rộng các cửa hàng truyền thống cũng như hệ thống bán hàng trực tuyến.Với tình hình đó, thị trường trang sức Việt Nam đang trở nên sôi động và cạnh tranh hơntrong tương lai gần
3.4 Sự tin cậy và quan tâm đến chất lượng: các đặc điểm hành vi chính của khách hàng:
Trang sức là vật liệu có giá trị cao, có tính chuyên môn hóa cao đòi hỏi kiến thức chuyên sâu mới có thể đánh giá được đầy đủ Khách hàng không có khả năng xem xét kỹ lưỡng
và xác minh chất lượng thực tế, hàm lượng và độ tinh khiết của các sản phẩm trang sức Không còn nghi ngờ gì nữa, khách hàng có xu hướng lựa chọn những thương hiệu uy tín,
có thành tích nổi tiếng trên thị trường thay vì chỉ tập trung vào giá của sản phẩm
3.5 Một ngành có rào cản gia nhập cao:
Vàng bạc đá quý là ngành có điều kiện theo Luật Doanh nghiệp 2014 do NHNN quản lý
do đặc thù của hoạt động thiết kế, sản xuất và kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến tính minh bạch và ổn định của thị trường tài chính trong nước Trong đó, lĩnh vực sản xuất trang sức đặc biệt phải xin phép NHNN theo quy định tại Điều 5, Nghị định số 14/2012 Đối với hoạt động kinh doanh nữ trang, các điều kiện kinh doanh thấp hơn hoạt động sảnxuất và không bắt buộc phải xin phép NHNN
Tuy nhiên, các công ty kinh doanh nữ trang phải đáp ứng các yêu cầu về địa điểm, cơ sở
hạ tầng và cơ sở giao dịch nhất thiết cho hoạt động giao dịch
Đối với sản phẩm vàng miếng, đây là sản phẩm được NHNN quản lý chặt chẽ với nhiềuyêu cầu thông thường Các công ty đủ điều kiện phải đáp ứng các điều kiện sau: (1) vốnđiều lệ tối thiểu 100 tỷ đồng (2) có ít nhất 2 năm kinh nghiệm trong ngành kinh doanh vàng (3) thu nhập thuế 2 năm liên tiếp gần nhất trên 500 triệu đô la Mỹ (4) hệ thống thương hiệu hoặc điểm bán hàng tại ít nhất 3 thành phố cấp Nhà nước
Trang 6Với hệ thống yêu cầu phức tạp, các nhà chức trách đặt ra những rào cản cao đối với những người mới tham gia vào ngành này Nó cho thấy một tiềm năng lớn đối với các doanh nghiệp hiện tại trong ngành làm giảm khả năng cạnh tranh của ngành Tuy nhiên,ngành này nhạy cảm hơn với sự thay đổi của quy định
3.6 Cửa hàng truyền thống là kênh phân phối chủ chốt trong ngành kim hoàn:
Do đặc điểm của sản phẩm trang sức có giá trị cao và độ phức tạp về mặt vật lý nên khách hàng cần thận trọng cân nhắc trước khi quyết định mua Theo đó, khách hàng thích
sờ và kiểm tra sản phẩm trang sức trực tiếp hơn so với mua hàng trực tuyến, do đó kênh ngoại tuyến thông qua hệ thống cửa hàng truyền thống là kênh phân phối thống trị.Tuy nhiên, các công ty trang sức đang áp dụng mô hình bán hàng đa kênh cho phép họ sửdụng trang web của công ty, phương tiện truyền thông xã hội và nền tảng thương mại điện tử để công khai hình ảnh và đặc điểm của sản phẩm theo sở thích của khách hàng.Chiến lược này được kỳ vọng sẽ mang lại lợi ích cho cả khách hàng và công ty Ở góc độkhách hàng, họ có thể đang chủ động tìm kiếm và cân nhắc kỹ lưỡng sản phẩm trước khi ghé thăm các cửa hàng Theo quan điểm của công ty, chiến lược này có thể giảm chi phí thông qua việc giảm thiểu số lượng nhân viên trong mỗi cửa hàng và nâng cao hiệu quả của các hoạt động
4 Chiến lược kinh doanh của PNJ:
Định hướng chiến lược của công ty tập trung vào hai trụ cột:
(1) Đối phó và phục hồi trong đại dịch Covid-19;
(2) Nhanh chóng bứt phá để lập kỳ tích lớn với các mục tiêu phát triển bền vững.Thắt chặt chi phí và tối ưu hóa chặt chẽ hoạt động để đảm bảo tài chính lành mạnh: PNJhướng đến 3 hoạt động chính, bao gồm đẩy mạnh kênh đa kênh: (1) Giảm chi phí: PNJcắt giảm chi phí hoạt động bằng cách đàm phán giảm giá thuê 15-20% trong 3-6 tháng,
và 40% đối tác của nó đã chấp nhận điều chỉnh giá thuê Ngoài ra, PNJ còn cắt giảm 50%lương cho quản lý và tạm thời giảm 2 ngày làm việc của nhân viên mỗi tuần (2) Cơ cấulại các khoản vay và dừng các dự án đầu tư mới vào năm 2020 để tối ưu hóa dòng tiền;(3) Cơ cấu hàng tồn kho: PNJ ưu tiên sản xuất các sản phẩm trang sức có hàm lượngvàng cao, có tính thanh khoản tốt hơn, đồng thời ngừng nhập hàng mới Nhờ bản chất củangành là có tính thanh khoản cao cùng với lợi thế của Công ty là sở hữu toàn bộ chuỗicung ứng tích hợp, giá trị hàng tồn kho của PNJ có tính thanh khoản cao và ít bị lỗi thời
và lạc hậu
Trang 7Tái cơ cấu sản phẩm chủ lực đáp ứng nhu cầu tích trữ của người tiêu dùng: PNJ đặt mụctiêu tái cơ cấu sản phẩm chủ lực và điểm bán lẻ bằng cách đẩy mạnh kinh doanh vàngmiếng từ tháng 3/2020 cũng như mở rộng phân khúc khách hàng Cụ thể, Công ty tíchcực sản xuất các sản phẩm trang sức mới có hàm lượng vàng cao để đáp ứng nhu cầu tíchtrữ của người tiêu dùng trong thời kỳ đại dịch Tuy nhiên, đó là chiến lược tạm thời vàolúc này.
Chinh phục các mục tiêu phát triển bền vững bằng cách (1) Xây dựng vững chắc vị trí số
1 tại thị trường Cấp 1 và mở rộng vị thế tại thị trường Cấp 2 & 3 bằng cách tích cực mởrộng cửa hàng; (2) Đẩy nhanh sự phát triển của quản lý nguồn nhân lực và làm giàu nănglực bán lẻ, sản xuất, quản lý tài chính; (3) Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ IoT, Phân tích
dữ liệu, AI và Nền tảng ERP-SAP để nắm bắt kỷ nguyên số, hiện đại hóa quy trình sảnxuất cũng như thúc đẩy sự phát triển của tiếp thị và chuỗi cung ứng
Tình hình của PNJ trong đại dịch covid19:
Trong bối cảnh khó khăn chung, Công ty Cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) ghinhận doanh thu thuần khá khả quan, đạt 3.922 tỷ đồng trong quý III/2020, chỉ giảm 0,3%
so với cùng kỳ năm ngoái Lợi nhuận sau thuế đạt 202 tỷ đồng, giảm 2,8%
Lũy kế 9 tháng năm 2020, doanh thu thuần đạt 11.668 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,09% so vớicùng kỳ năm ngoái Lợi nhuận sau thuế đạt 642 tỷ đồng, giảm 20,3%
Trên thực tế, doanh thu mảng bán sỉ của PNJ cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19 và những hệ quả của dịch, khi giảm tới 40% trong quý III và giảm 27% lũy kế
Trong báo cáo phân tích công bố mới đây, VCBS dự báo doanh thu thuần và lợi nhuậnsau thuế cả năm 2020 của PNJ ước tính lần lượt đạt 16.933 tỷ đồng (giảm nhẹ 0,4% sovới cùng kỳ năm ngoái) và 974 tỷ đồng (giảm 18,4%)
Triển vọng ngành trang sức cho PNJ phát triển mạnh
Ngành trang sức sinh lời hấp dẫn và còn phân mảnh với tốc độ tăng trưởng cao từ 10- 15% / năm trong tương lai Là công ty dẫn đầu thị trường với khoảng 20% thị phần trong
Trang 8ngành này, PNJ có thể dễ dàng mở rộng thị phần khi (1) các nhà cung cấp truyền thống bịxóa sổ khỏi ngành do đại dịch Covid-19 và (2) PNJ có các yếu tố thành công chính như thương hiệu mạnh, kênh phân phối lớn nhất về số lượng cửa hàng và độ phủ, sản phẩm đadạng, chất lượng Do đó, có thể cho rằng triển vọng ngành trang sức khởi sắc sẽ có lợi cho PNJ trong dài hạn.
II PHÂN TÍCH QUẢN TRỊ:
TGĐ Công ty Cổ phần TIE, Chủ tịch HĐQT CTCP Thẻ Thông minhVina, Chủ tịch Công ty Kiều hối Đông Á, Phó TGĐ Ngân hàng TMCP Đông Á Nguyễn
Kế toán viên - Công tyTNHH XD TM Trangtrí nội thất Song Lê
NV Kiểm soát nội bộ,Phó Phòng Kiểm soátnội bộ, Trưởng Bộ phận Quản trị chất
Trang 9lượng – P.Quản trị chất lượng, Trưởng Bộ phậnKiểm soát nội bộ – P.Quản trị hiệu quả - PNJ
Các thành viên đứng đầu trong PNJ đều là những cá nhân có trình độ học vấn cao
và nhiều năm kinh nghiệm về lĩnh vực kim hoàn, quản trị và kinh doanh trước khinắm giữ các vị trí trong PNJ Có thể nói đây là những cá nhân xuất sắc góp phần phát triển ngành kim hoàn tại Việt Nam nói chung và PNJ nói riêng ngày càng phát phát triển trong tương lai
Ngoài ra, PNJ có cơ cấu quản trị ít rủi ro và mang lại lợi ích cho cổ đông: (1) hìnhthức HĐQT và quản lý riêng biệt, (2) sự hỗ trợ đắc lực từ 3 thành viên HĐQT độclập, (3) tỷ lệ cổ đông tổ chức cao, (4) chia cổ tức đều đặn và (5) quản lý quan hệ cổđông tốt Nhờ những yếu tố này, PNJ có uy tín tốt và tính minh bạch cao, trong khirủi ro bị ban lãnh đạo thao túng hay xung đột lợi ích giữa Công ty với một số cổđông lớn gần như được kiểm soát
III PHÂN TÍCH KẾ TOÁN
1 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ
NỢ VAY
Trang 10Trong giai đoạn 2016 – 2019, ta chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu nguồn vốncủa công ty khi nợ giảm mạnh.
ngắn hạn) Các khoản nợ trong Nợ phải trả ngắn
hạn phần lớn là từ các đối tác quan thuộc, công ty
luôn duy trì khả năng thanh toán tốt qua các năm.Tuy nhiên, có thay đổi đột biến cần lưu ý sau:
Khoản mục Vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn
chính yếu từ vay ngân hàng, trong năm 2019 cótổng khoản vay (tín chấp) lớn từ cá nhân gần 272
tỷ đồng (số dư nợ cuối năm còn 129,118,090,430đồng) theo Bản thuyết minh là từ cán bộ viên chức của công ty
2 Nợ dài hạn
Nợ dài hạn của PNJ giảm mạnh, Nợ
dài hạn trong năm 2019 chỉ còn
khoảng 11.88% so với thời điểm 2016
Về cơ cấu, nợ dài hạn của công công
ty chủ yếu đến từ Vay và nợ thuê tài
chính dài hạn, việc khoản mục này
giảm mạnh đã ảnh hưởng lớn đến cơ
cấu nợ dài hạn của PNJ
Trang 11VỐN CHỦ SỞ HỮU
Ta chứng kiến một sự gia tăng
đều đặn trong Vốn chủ sở hữu
của PNJ, ngoài ra công ty luôn
duy trì một tỷ lệ đáng kể (từ 7%
đến 10% Vốn chủ sở hữu) Qũy
đầu tư phát triển, nhằm phục vụ
mở rộng hoạt động và đầu tư
theo chiều sâu của Tập đoàn
Dưới đây là Vốn chủ sở hữu của
công ty qua các năm và thay đổi
trong số lượng cổ phần cổ phần
của nó
(*) Một điểm lưu ý là trong năm
2020, PNJ đã thông qua việc
gia
tăng Vốn chủ sở hữu thông qua việc phát hành mới (bao gồm cổ phần ESOP
cho nhân viên) nhưng chưa được UBCKNN thông qua.
** 2,551,382 cổ phiếu ESOP hạn chế chuyển nhượng
Vốốn ch s h uủ ở ữ
5,000 4,500 4,000 3,500 3,000 2,500 2,000 1,500 1,000 500 -
Vốốn ch s h uủ ở ữ
Vốốn góp c a CSHủ
Qu đ u t phát ỹ ầ ư tri n ể
2016201720182019
Trang 12Số lượng cổ
phần đang
lưu hành
98,273,868 108,101,325 167,002,273 225,188,176 247,706,993
Trang 13vào tăng trưởng VCSH của PNJ là
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối.
Dấu hiệu dễ nhận thấy là tăng trưởng
trong lơi nhuận rất ấn tượng, đây là
thành qua cho việc mở rộng hoạt
động kinh
doanh của Tập đoàn Điều này hoàn
toàn hợp lý với việc Tập đoàn luôn duy
885
trì trả cổ tức hàng năm cho cổ đông
Công ty luôn duy trì trả cổ tức đều đặn
374
hàng năm thông qua 2 hình thức cổ tức
và tiền mặt (bảng 4) Trong năm 2019
vừa qua, công ty đã chi trả gần 557 tỷ
đồng cổ tức cổ phiếu và 344 tỷ đồng
cổ tức tiền Trong năm 2020, ngoài đợt chi trả cổ tức bằng tiền (khoản cổ tức 6% chưa thực hiện cho đến 8/12), công ty còn phát hành cổ phiếu ESOP thưởng cho nhân viên (bảng 3)
Đánh giá chung về hoạt động tài trợ của PNJ
B ng ả 4
* Về nợ, trong suốt giai đoạn 2016-2019, Tập đoàn giảm tỷ trọng nợ đáng kể Đặc biệttrọng giai đoạn này, Tập đoàn không phát hành Trái phiếu (cả ngắn hạn và dài hạn) dùđây là giai đoạn mà thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang nở rộ, các khoản nợ chủ yếucủa PNJ đến từ vay ngân (thế chấp và tín chấp) Trong năm 2020, Tập đoàn tiếp tục pháthành một lượng lớn cổ phiếu
2019
Trang 14* Về vốn cổ phần, Tập đoàn tăng trưởng lợi nhuận tốt, duy trì trả cổ tức đều đặn cho cổđồng, đồng thời liên tục gia tăng Vốn chủ sở hữu thông qua phát hành mới mới cổ phiếu.
Trang 15Tài sản ngắn hạn của PNJ từ năm 2016 – 2018 nhìn chung có xu hướng tăng, đạt khoảng
7333 nghìn tỷ vào năm 2019 và giảm nhẹ khoảng 6786 nghìn tỷ vào Q3/2020
Trong đó, các khoản mục biến động nhiều trong khoảng thời gian từ 2016-2018 có thể kể
đến như tiền và các khoảng tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn.
+ Tiền và các khoảng tương đương tiền: Trong khi năm 2016, khoản mục này vẫn còn
trống thì vào năm 2017, nó tăng lên đến 84,5 tỷ và giảm 24,2% xuống còn 64,5 tỷ vào năm 2018 Sự gia tăng chủ yếu này chủ yếu bắt nguồn từ khoản gửi kỳ hạn không quá 3 tháng ở ngân hàng với lãi suất là 5,5%/năm.
+ Đầu tư nắm giữ tới ngày đáo hạn : Trong khoảng từ năm 2016, khoản mục này chỉ có
65 triệu thì tới năm 2017, nó lên tới 160,065 triệu Khoản tiền 160,065 triệu vào năm
2017, là các khoản tiền gửi có kì hạn tại các ngân hàng Việt Nam với kì hạn 6 tháng, thời gian thu hồi tại ngày kết thúc niên độ kế toán dưới 3 tháng và hưởng lãi suất từ 6,7%/năm đến 7%/năm Tuy nhiên vào năm 2018, công ty dường như không nắm giữ thêm các khoản đầu tư ngắn hạn.
Trang 16a Hàng tồn kho:
Hàng tồn kho của công ty chiếm tỷ trọng lớn, rơi vào khoảng 95% giá trị tài sản của công
ty, chứng tỏ rằng tính thanh khoản của hàng tồn kho khá thấp Điều đó khá dễ hiểu vì mặthàng của công ty chủ yếu là các mặt hàng trang sức,… và nhắm tới một số đối tượng người tiêu dùng nhất định, nên việc thanh khoản thấp là điều khó tránh khỏi
Nhìn vào diễn biến quy mô hàng tồn kho, có thể thấy, PNJ có xu hướng ngày càng tích trữ tồn kho nhiều hơn Theo đó, giá trị hàng tồn kho chỉ là 3.936 tỷ đồng vào cuối quý II/2018, nhưng sau 1 năm, đã tăng thêm hơn 25% Theo diễn biến năm, hàng tồn kho củaPNJ tăng đều qua các năm: tăng 32,9% trong năm 2016, tăng tiếp 19,8% trong năm 2017
và tăng 46% trong năm 2018
Trong nửa đầu năm 2019, cơ cấu hàng tồn kho của PNJ có sự thay đổi Hàng tồn kho dưới dạng chi phí sản xuất dở dang tại thời điểm 31/12/2018 có giá trị tới 1.011 tỷ đồng, nhưng đã giảm còn 104,8 tỷ đồng (giảm 90,5%) Điều này được lý giải bởi sự tăng mạnhcủa nhóm hàng tồn kho dưới dạng thành phẩm, với giá trị tăng từ 397,3 tỷ đồng hồi đầu năm lên mức 2.817 tỷ đồng (tăng 609%)
Trong khi đó, hàng tồn kho là hàng hóa giảm mạnh từ 3.165,4 tỷ đồng xuống còn 1.709,5
tỷ đồng (giảm 46%) Sự tăng mạnh của hàng tồn kho là thành phẩm, trong khi hàng tồn kho là hàng hóa giảm một phần có thể cho thấy PNJ có xu hướng tăng dần việc kinh doanh các mặt hàng tự sản xuất và giảm dần việc kinh doanh thương mại (mua hàng có sẵn về để bán)
Điều đó cho thấy, PNJ đang có bước chuyển dịch khá rõ từ một doanh nghiệp thương mạithuần túy sang doanh nghiệp sản xuất, chế tác Một trong những động thái này là từ giữa năm 2018, PNJ đã tách nhà máy sản xuất ra thành một công ty con (PNJ Production) do PNJ nắm 100% vốn
Ngoài ra, mức tăng của lượng hàng tồn kho các năm gần đây còn có lý do đến từ việc mởrộng hệ thống cửa hàng nhanh chóng của PNJ, nên lượng hàng cần dồi dào để cung cấp cho các cửa hàng
Trang 17Tính đến tháng 6/2019, PNJ có 339 cửa hàng đang hoạt động, tăng 15 cửa hàng so với
cuối năm 2018 Ngoài các cửa hàng vàng, bạc, kim hoàn, PNJ có 21 cửa hàng bán đồng
hồ, tập trung tại một số địa bàn trọng điểm như TP.HCM, Bình Dương, Hà Nội, chủ yếu
theo mô hình shop-in-shop
b Các khoản phải thu ngắn hạn:
Trái ngược với hàng tồn kho, các khoản phải thu ngắn hạn của PNJ chỉ chiếm một tỷ
trọng nhỏ trong tài sản ngắn hạn, khoản từ 1%-2% tổng tài sản ngắn hạn Điều này chứng
tỏ chính sách thu tiền và chính sách tín dụng của PNJ rất tốt Các khoản phải thu ngắn
hạn của PNJ chủ yếu từ các công ty như công ty TNHH Total Gaz Vietnam, công ty FH Trautz GmBh, công ty DC&D,… Trong suốt khoảng thời gian từ năm 2016 tới năm
2019, công ty không có bất kỳ khoản phải thu nào quá hạn hoặc chưa quá hạn nhưng khóđòi Tại Q3/2020, các khoản phải thu ngắn hạn từ việc bán trang sức tại các Trung tâm
thương mại sẽ được các Trung tâm này thu hộ và thanh toán cho PNJ theo định kỳ
Bên cạnh đó, tỷ trọng của các tài sản thiếu đang chờ xử lý của công ty khá thấp, chiếm
khoảng 0.03% tổng tài sản ngắn hạn của công ty, chủ yếu là vàng (chỉ) đang đợi xử lý
Nhìn chung, tài sản dài hạn của PNJ biến động nhiều ở giai đoạn từ năm 2017 – 2018,
tăng lên khoảng 47,64, chủ yếu tăng nhiều tại phần tài sản cố định vô hình Ở đây, quyền
sử dụng đất từ năm 2017 – 2018 đã tăng hơn 50% (tăng khoảng 179 tỷ VNĐ) làm cho tàisản dài hạn tăng lên Tính đến Q3/2020, PNJ đã khấu hao hết 127,962,349,202 VNĐ tài
Trang 18sản cố định hữu hình, trong đó máy móc chiếm phần lớn (khoảng 107 tỷ VNĐ), hơn 7 tỷtài sản cố định vô hình.
Việc mở rộng thêm nhiều cửa hàng cũng làm cho PNJ phải mua thêm nhiều tài sản cố định, đặc biệt là phần mềm và quyền sử dụng đất Nhìn lại giai đoạn trước, có thể thấy, sốlượng cửa hàng của PNJ đã tăng rất nhanh, từ 189 cửa hàng năm 2015 lên 219 cửa hàng vào năm 2016, lên 269 vào năm 2017 và lên 324 vào cuối năm 2018
3 Chứng khoán thị trường:
Vào năm 2016, công ty cổ phần Địa ốc Đông Á được thanh lý theo Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần số 01/2016/HĐCN-DALAND ngày 12 tháng 10 năm 2016 với giá chuyển nhượng là 7000 đồng/cổ phiếu Số tiền thu được từ thanh lý khoản Đầu tư vàoCông ty Địa ốc Đông Á vào ngày 26 tháng 10 năm 2016 là 64.306.410.000 đồng.Ngoài ra, từ năm 2016 – Q3/2020, PNJ nắm giữ 7,69% tỷ lệ phần sở hữu đối với NgânHàng TMCP Đông Á, với giá trị là 395.271.613.400 VNĐ
3 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
1 Doanh thu và lợi nhuận
PNJ kết thúc Q3/2020 với 256 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, giảm 4.5% so với cùng kỳ năm trước, lợi nhuận sau thuế cũng giảm 2.8% đạt 202 tỷ đồng Nguyên nhân là do dù làn sóng thứ hai của Covid đã được kiểm soát tốt, tuy nhiên việc đóng cửa các cửa hàngkinh doanh tại Đà Nẵng trong tháng 8 đã ảnh hưởng đến công ty Trong kỳ doanh thu
Trang 19vàng miếng tăng 19.1%, tuy nhiên nhu cầu phân khúc thấp vẫn chưa được hồi phục (giảm40%), do đó giảm đi doanh thu cùng với đó là lợi nhuận tương ứng.
PNJ đã hoàn thành 80.6%% kế hoạch doanh thu và 77.4% kế hoạch lợi nhuận trước thuế2020
Nhìn tổng quan hơn, doanh thu từ HĐKD của PNJ có tốc độ tăng trưởng mạnh từ năm
2017, tăng trưởng khoảng 32.9% vào năm 2018 và 16.8% vào năm 2019 Đồng thời lợinhuận từ HĐKD cũng tăng 33.5% và 25.1% tương ứng
Với đà doanh thu 3 quý 2020, dự kiến doanh thu và lợi nhuận năm nay giảm nhẹ so vớinăm 2019
2 Các loại chi phí
+) Giá vốn hàng bán
Lũy kế giá vốn hàng bán2020
Lũy kế giá vốn hàng bán2019
tỷ đồng
Phân tích chỉ dựa trên sự thay đổi trong 1 năm và chỉ mang tính chất tạm thời, để phân tích một cách hiệu quả hơn chúng ta cần phân tích phần chi phí này qua các năm để thấyđược xu hướng thay đổi từ đó có một cái nhìn tổng quan hơn
Từ năm 2016 đến năm 2019 cùng với tốc độ tăng doanh thu từ 8,615 tỷ đồng lên 17,144
tỷ đồng thì tỷ trọng giá vốn hàng bán trên doanh thu có xu hướng giảm từ 83.5% năm
2016 giảm xuống chỉ có 79.6% ở năm 2019 từ đó cho thấy công ty đã có một chính sáchhợp lý trong việc tiết kiệm giảm thiểu tối đa chi phí giá vốn hàng bán nhưng luôn đảm bảo doanh thu vẫn tăng và được tối đa nhất có thể
Trang 20+) Chi phí tài chính
Lũy kế chi phí tài chính
Cùng chiều với chiều hướng giảm tỷ trọng của giá vốn hàng bán thì chi phí tài chính cũng
có chiều hướng giảm Năm 2016 chi phí tài chính chiếm 2.12% nhưng đến 2019 chỉ còn 0.79% Có thể thấy công ty đã hạn chế các khoản vay để cung cấp cho hoạt động kinh doanh của mình mà thay vào đó là bằng chính nguồn lực của công ty Tuy nhiên, do ảnh hưởng của Covid mà con số này đang có xu hướng tăng trở lại với 1.1% trong 3 quý năm 2020
T tr ng giá vốốn hàng bán/Doanh thu thuâồnỷ ọ
Trang 21+) Chi phí quản lý, bán hàng theo yếu tố
Lũy kế CPQL,BH năm2020
Lũy kế CPQL,BH năm2019
Chi phí lương, trích theo
lương
T tr ng chi phí tài chính/Doanh thu thuâồnỷ ọ