1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN Đề tài số 1 THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

20 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 444,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LUẬT TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN Đề tài số 1 THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM Họ tên Nguyễn Hà My Mã sinh viên 11202626 Lớp Kinh tế chính trị Mác Lênin (220) 25 Khóa 62 Hà Nội, 62021 1 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 LÝ DO LỰA CHỌN VẤN ĐỀ 3 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 4 I DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 4 1 Khái niệm 4 2 Vai trò của doanh nghiệp nhà nư.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN

KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

Đề tài số 1 THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

Họ tên: Nguyễn Hà My

Mã sinh viên: 11202626 Lớp: Kinh tế chính trị Mác-Lênin_(220)_25 Khóa: 62

Hà Nội, 6/2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

LÝ DO LỰA CHỌN VẤN ĐỀ 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 4

I DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 4

1 Khái niệm 4

2 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước 4

II KHÁI NIỆM CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 5

1 CÔNG TY CỔ PHẦN 5

1.1 Khái niệm công ty cổ phần 5

1.2 Tính ưu việt của công ty cổ phần 5

2 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 6

2.1 Khái niệm cổ phần hóa 6

2.2 Vai trò của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 8

I THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 8

1 Các giai đoạn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam 8

2 Tiến độ và lộ trình cổ phần hóa 8

3 Nguyên nhân của những hạn chế 10

II ĐÁNH GIÁ THÀNH TỰU, HẠN CHẾ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 11

1 Đánh giá về những thành tựu của doanh nghiệp nhà nước 11

2 Đánh giá về những hạn chế của doanh nghiệp nhà nước 12

III NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC CỦNG CỐ, SẮP XẾP CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 12

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP TIẾN HÀNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 14

I CÁC QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ VẤN ĐỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 14

II CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN TIẾN HÀNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 15

1 Giải pháp cho các doanh nghiệp còn gặp khó khăn về tài chính và quản lý 15

2 Giải pháp cho những tồn tại về mặt tư tưởng 15

3 Giải pháp cho vấn đề dôi dư lao động trong doanh nghiệp sau khi tiến hành cổ phần hóa 17

3.1 Đối với doanh nghiệp: 17

3.2 Đối với Nhà nước nên hạn chế hỗ trợ trực tiếp tăng cường hỗ trợ gián tiếp .17

KẾT LUẬN 18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Sau hơn ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu như kinh

tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, uy tín Việt Nam trên trường quốc

tế được nâng cao Tuy nhiên, với xuất phát điểm từ nông nghiệp với nền kinh tế bao cấp, tập trung hóa nên nền kinh tế nước ta có quy mô nhỏ, quá trình hòa nhập quốc tế đang gặp phải nhiều khó khăn Vì vậy, để khắc phục thực trạng yếu kém và phát huy thế mạnh hiện

có nước ta đã phát triển nền kinh tế thị trường để hiện đại hóa đất nước Trong đó, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã và đang là một hướng áp dụng có hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Hầu hết các doanh nghiệp ở trong tình trạng không có vốn nhưng cũng không có cách nào để huy động Đối mặt với những khó khăn đó, cổ phần hóa được coi là một giải pháp nhằm tạo ra môi trường huy động vốn dài hạn cho các doanh nghiệp để đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ Vì vậy đây là lựa chọn tất yếu có tính khách quan Cổ phần hóa là một nội dung quan trọng trong công cuộc đổi mới Cổ phần hóa thu hút được một nguồn vốn nhất định trong công nhân viên tại doanh nghiệp và ngoài xã hội, tạo ra một động lực trong quản lý và phát huy tốt hơn tính sáng tạo, cần cù của người lao động việc làm của người lao động đảm bảo tốt hơn nên doanh thu lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách, tích lũy vốn của doanh nghiệp và chính thu nhập của người lao động sẽ tăng lên chuyển đổi hình thức sở hữu với quy chế quản lý mới,người lao động sẽ phát huy ý thức kỷ luật, tự giác, chủ động tinh thần tiết kiệm trong lao động góp phần làm cho hiệu quả trong sản xuất kinh doanh ngày càng cao, mang lợi ích thiết thực cho bản thân mình, công ty Nhà nước và

xã hội

Trong bối cảnh đó, việc học tập và nghiên cứu môn kinh tế chính trị mà sẽ góp phần giải quyết những vướng mắc trong quá trình phát triển các thành phần kinh tế cũng như quá trình vận dụng vào việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta

Trang 4

LÝ DO LỰA CHỌN VẤN ĐỀ

Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức sản xuất tiến bộ trong nền kinh tế thị trường Ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, việc sắp xếp chuyển đổi một số doanh nghiệp thành công ty cổ phần, tiến tới hình thành các tập đoàn đa quốc gia mạnh, hoạt động có hiệu quả ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế là con đường hữu hiệu

để đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước

Thực tế cho thấy, khi tiếp nhận chương trình “Tư nhân hoá”, hầu như tất cả các chính phủ của các quốc gia trên thế giới đều có một mục đích chung, bắt nguồn từ sự thất vọng

về hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước Tất cả đều nhận thức được rằng “Tư nhân hoá” sẽ

có nhiều mặt tích cực như: (i) làm tăng hiệu quả kinh tế; (ii) giúp giảm thiểu sự căng thẳng trong ngân sách (liên quan trực tiếp đến sự kém hiệu quả); (iii) cải thiện hệ thống tài chính công

Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 02/02/2017 về việc đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016-2020 Chỉ thị nêu

rõ, sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước dù đã đạt được những kết quả nhất định, song nhìn chung tiến độ sắp xếp, đổi mới còn chậm và còn các vấn đề lý luận, thực tiễn cần nghiên cứu giải quyết Đặc biệt, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 khóa XII cũng đã bàn về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước Điều này cho thấy, Đảng, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến việc làm cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả, thực sự là sương sống nền kinh tế của Việt Nam

Theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước cần phải thực hiện chặt chẽ, có bước đi vững chắc, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, lấy hiệu quả làm mục tiêu; tiến độ và số lượng doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa chỉ là chỉ tiêu mang tính định hướng

Các vấn đề trên đã đặt ra những yêu cầu bức thiết cần phải giải quyết cả về lý luận

và thực tiễn đối với cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nhất là việc nghiên cứu, đánh giá việc thực hiện cổ phần hóa ở các doanh nghiệp nhà nước là đặc biệt cần thiết nên tôi đã

chọn vấn đề “Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam” làm tiểu luận cho

bộ môn Kinh tế chính trị Mác – Lênin

Trang 5

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN

KINH TẾ Ở VIỆT NAM

I DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1 Khái niệm

Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc, doanh nghiệp nhà nước được

định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhà nước là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước

hoặc do Nhà nước kiểm soát có thu nhập chủ yếu từ việc tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ”

Doanh nghiệp nhà nước có một số đặc điểm như:

(i) Chủ đầu tư: Nhà nước hoặc Nhà nước cùng với các tổ chức, cá nhân khác Sở hữu vốn: Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ 100%;

(ii) Trách nhiệm tài sản: Doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp Nhà nước chịu TNHH trong phạm vi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp;

(iii) Tư cách pháp lý: Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Điều 4), “Doanh nghiệp nhà nước là những

doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” Doanh nghiệp nhà nước là doanh

nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc cổ phần, vốn góp chi phối; được tổ chức và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2017)

2 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước

Hiện nay Việt Nam đang xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, các doanh nghiệp đều bình đẳng trong kinh doanh và trước pháp luật Nhưng không có nghĩa là chúng có vị trí như nhau trong nền kinh tế Phạm vi hoạt động của thành phần này càng ngày càng giảm nhưng vẫn giữ vai trò chủ đạo Nó tồn tại trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế để nhà nước có đủ sức thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường Doanh nghiệp nhà nước là công cụ vật chất để nhà nước can thiệp vào kinh

tế thị trường điều tiết thị trường theo mục tiêu của nhà nước đã đặt ra và theo đúng định hướng chính trị của nhà nước

Doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong những ngành, lĩnh vực kinh doanh mang lại ít lợi nhuận hoặc không có lợi nhuận (mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư), do

đó nó phục vụ nhu cầu chung của nền kinh tế, đảm bảo lợi ích công cộng

Trang 6

Hơn nữa, doanh nghiệp nhà nước còn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn lớn mà các thành phần kinh tế khác không đủ sức đầu tư, do đó mà doanh nghiệp nhà nước lại càng có vai trò quan trọng Việc đánh giá vai trò quan trọng của kinh tế nhà nước không chỉ dựa vào sự lời lỗ trước mắt mà phải tính đến hiệu quả kinh tế lâu dài Sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước là một tất yếu khách quan Để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò chủ đạo của mình, đòi hỏi nhà nước phải có chính sách quản lý thích hợp đối với doanh nghiệp nhà nước Nhưng cũng phải tôn trọng quy luật kinh tế khách quan, để các doanh nghiệp nhà nước không là gánh nặng cho nhà nước về kinh tế mà kinh tế nhà nước phải được sắp xếp lại cho hợp lý nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

II KHÁI NIỆM CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CỔ PHẦN HÓA DOANH

NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

1 CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1 Khái niệm công ty cổ phần

Công ty cổ phần là sự hình thành một kiểu tổ chức doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, là kết quả tất yếu của quá trình tập trung tư bản, diễn ra một cách mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí và sự tự do cạnh tranh dưới Chủ nghĩa tư bản Đồng thời, trở thành một loại hình tổ chức sản xuất phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới Sự ra đời của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường diễn ra như một tất yếu khách quan

Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp trong đó các cổ đông đóng góp vốn kinh doanh và chịu trách nhiệm trong phạm vi phần góp vốn của mình trên cơ sở tự nguyện

để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận công ty cổ phần có những đặng trưng cơ bản về sở hữu, cơ cấu tổ chức quản lý và phân phối

1.2 Tính ưu việt của công ty cổ phần

Công ty cổ phần ra đời là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lực lượng sản xuất

xã hội và là hình thức doanh nghiệp rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường Từ khi ra đời đến nay, các công ty cổ phần đã đóng góp vai trò hết sức to lớn trong sự phát triển KT-XH

Thứ nhất, công ty cổ phần làm cho qui mô sản xuất được mở rộng một cách nhanh

chóng bằng việc thông qua phát hành cổ phiếu để huy động vốn xã hội một cách nhanh chóng

Thứ hai, thu hút rộng rãi vốn xã hội vào hoạt động sản xuất kinh doanh Ngoài các

nhà đầu tư lớn, công ty cổ phần còn tạo cơ hội để người lao động, kể cả người nghèo đều

có thể mua được cổ phiếu Như vậy công ty cổ phần là một hình thức để thu hút tiền nhàn rỗi trong xã hội phản ánh tính chất xã hội hóa các hàng hóa là yếu tố sản xuất

Thứ ba, công ty cổ phần lại đẩy nhanh xã hội hóa sản xuất, thu hút đông đảo lực

lượng xã hội hóa vào quản lý, đồng thời vẫn đề cao vai trò quản lý chuyên nghiệp

Trang 7

Thứ tư, công ty cổ phần tạo ra cơ chế phân bố rủi ro, đồng thời tạo khả năng tồn tại

lâu bền cho doanh nghiệp Cách thức huy động vốn của công ty cổ phần tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể mua cổ phiếu ở nhiều công ty khác, đầu tư vốn vào nhiều ngành nghề

để giảm bớt tổn thất nếu một doanh nghiệp nào đó không thể tồn tại được Mặt khác, do vốn của công ty cổ phần là vốn của nhiều cổ đông khác nhau, nên nếu công ty bị phá sản thì đây là cách chia sẻ rủi ro cho nhiều cổ đông

Như vậy, công ty cổ phần có khả năng tồn tại ổn định vì vốn góp cổ phần độc lập với các cổ đông Nhà đầu tư bỏ tiền ra mua cổ phiếu của công ty cổ phần nhưng không có quyền rút vốn, mà chỉ có quyền sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu Họ có thể tự do mua bán

cổ phiếu trên thị trường và có quyền thừa kế, quyền sở hữu cổ phiếu đó Vì thế khác với loại hình doanh nghiệp khác, vốn cổ phần đã góp tồn tại gắn liền với sự tồn tại của công ty

cổ phần

2 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

2.1 Khái niệm cổ phần hóa

Trước xu thế phát triển ngày càng cao của thị trường thế giới và những yêu cầu của nền kinh tế “mở” thì mô hình hoạt động cứng nhắc của các doanh nghiệp nhà nước không còn phù hợp đặc biệt là ở các nước đnag phát triển như Việt Nam Trên thế giới, xu thế cổ phần hóa đã diễn ra mạnh mẽ từ những năm 80, cổ phần hóa có thể hiểu là chuyển một doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu Nhà nước thành công ty cổ phần thuộc sở hữu tập thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và huy động vốn đáp ứng chon hu cầu đầu tư và phát triển

Như vậy, cố phần hóa chính là phương thức thực hiện xã hội hóa sở hữu, chuyển

đổi từ sở hữu toán dân sang sở hữu tập thể Đây là một công cụ huy động vốn đạt hiệu quả

cao, tạo điều kiện cho người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp

2.2 Vai trò của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là lối ra phù hợp với khu vực kinh tế Nhà nước,

nó có vị trí vai trò trên nhiều mặt sau:

- Cổ phần hóa giải tỏa được bế tắc khủng hoảng về vốn cho doanh nghiệp cổ phần hóa để tạo điều kiện cho nó mở rộng sản xuất kinh doanh, giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho Nhà nước, Nhà nước có thể thu hồi vốn đầu tư ở doanh nghiệp để chuyển sang đầu tư các hoạt động ưu tiên hơn nhằm tạo đòn bẩy sang đầu tư cho các hoạt động ưu tiên hơn nhằm tạo đòn bẩy thúc đẩy phát triển của toàn bộ xã hội, như đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật công trình phúc lợi, giáo dục khoa học

- Cổ phần hóa thông qua đa dạng hóa sở hữu tạo động lực cho người lao động Cổ phần hóa bảo đảm sở hữu hóa cho người lao động tại công ty, xí nghiệp bằng cách cho họ tham gia đầu tư mua cổ phiếu, thực hiện quyền làm chủ thực sự, có tính vật chất trên phần vốn đóng góp của họ và thực sự phấn đấu hăng hái cho nâng cao hiệu quả đồng vốn có

Trang 8

- Cổ phần hóa cho phép dứt bỏ được chế độ bao cấp ngân sách của Nhà nước, gạt

bỏ chỉ đạo nhiều chi phí kinh tế của các cơ quan chủ quản bên trên Đồng thời làm cho doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể kinh doanh, chỉ hoạt động vì mục tiêu của doanh nghiệp

- Cổ phần hóa tạo điều kiện cải tiến, đổi mới cộng tác lãnh đạo quản lý doanh nghiệp, tập trung vào đồng bộ thống nhất thực sự vì lợi ích chung, lợi ích riêng trong doanh nghiệp

- Cổ phần hóa tạo điều kiện cho doanh nghiệp cổ phần được tự chủ, chủ động trong quan hệ tự nguyện liên doanh, liên kết kinh tế với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, mở ra khả năng tự nguyện hợp tác kinh doanh

Như vậy, cổ phần hóa con đường ngắn nhất vừa bảo tồn vốn cho Nhà nước, giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển thực hiện những chủ trương của Đảng và Nhà nước, thu hút được nguồn vốn trong dân, còn tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, khuyến khích được mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển

Trang 9

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

I THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

1 Các giai đoạn cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam

Xét về yêu cầu và tính chất triển khai cổ phần hóa, có thể phân chia quá trình thực hiện cổ phần hóa trong 24 năm qua thành một số giai đoạn chính như sau:

- Giai đoạn thí điểm cổ phần hóa từ năm 1998 trở về trước: Quá trình thí điểm bắt

đầu từ Chỉ thị số 202/CT ngày 08/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đến khi văn bản pháp lý cao hơn là Nghị định số 28/CP ngày 07/5/1996 của Chính phủ và Nghị định số 25/1997/NĐ-CP ngày 26/3/1997 về sửa đổi một số điều của Nghị định số 28/CP ngày 07/5/1996 về chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công

ty cổ phần: Giai đoạn này có 123 doanh nghiệp được tiến hành cổ phần hóa

- Giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hóa từ giữa năm 1998 trở đi (khi ban hành Nghị định

số 44/1998/NĐ-CP) đến khi chuyển sang thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo chủ trương của Hội nghị Trung ương 3 khoá XI cuối năm 2011: Đây là giai đoạn có hàng loạt các doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp Nhà nước không cần nắm giữ 100 vốn được

cổ phần hóa, chuyển thành các doanh nghiệp đa sở hữu có hoặc không có cổ phần Nhà nước Trong giai đoạn này nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, được sửa đổi, bổ sung để tạo cơ sở pháp lý và hỗ trợ chính sách cho cổ phần hóa

2 Tiến độ và lộ trình cổ phần hóa

Cổ phần hóa là chuyển đổi sở hữu từ Nhà nước sang sở hữu khác - chủ yếu là sở hữu của tư nhân trong nước và sở hữu nước ngoài Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam diễn ra rất thận trọng và rất chậm Bắt đầu bằng Chỉ thị số 202/CT ngày 08/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), đến nay cổ phần hóa đã triển khai được gần 25 năm

Tuy nhiên, việc thực hiện sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn chậm Trong thời gian 4 năm, từ 2011 đến 2014 mới có 260 doanh nghiệp cổ phần hóa, đạt quá nửa (60%) kế hoạch cổ phần hóa giai đoạn 5 năm 2011-2015 theo đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước của Quyết định 929/QĐ- TTg Còn lại 271 doanh nghiệp, chiếm gần một nửa (40) số doanh nghiệp phải hoàn thành cổ phần hóa trong năm 2015

Giai đoạn 2011 - 2015, cổ phần hóa 499 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp (đạt 96,3% kế hoạch) Như vậy, tổng số doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp từ trước đến hết năm 2015 là 5.950 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa là 4.460 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp Riêng trong năm 2016, cổ phần hóa được 55 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp Qua sắp xếp, tính đến 31/12/2016, cả nước còn 718 doanh nghiệp nhà nước (Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, 2016)

Trang 10

Ở đây nảy sinh thách thức kép: vừa phải hoàn thành tiến độ và kế hoạch cổ phần hóa, vừa phải đảm bảo chất lượng cổ phần hóa, trong đó nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cổ phần hóa là tạo ra động lực mới nhờ đổi mới quản trị doanh nghiệp (quản trị doanh nghiệp) và sự đột phá do có sự tham gia của nhân tố nhà đầu tư - cổ đông chiến lược Một vấn đề đáng lưu ý là để đảm bảo và giảm áp lực về tiến độ thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, có thể dẫn đến chất lượng quản trị lẫn tính minh bạch đều không được cải thiện Thậm chí, có ý kiến cho rằng, đó chỉ là thay đổi cơ chế huy động vốn chứ chưa phải là cổ phần hóa thực sự; thậm chí có người còn nói cổ phần hóa như là “bình mới

- rượu cũ”

Một cách tổng quát, quá trình cổ phần hóa không đạt được mục tiêu có một số hạn chế chủ yếu sau:

Thứ nhất, tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước vẫn chậm chạp

+ Cơ chế chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp hiện hành chưa được hoàn chỉnh Trong thời gian tới, đối tượng thực hiện cổ phần hóa giai đoạn tiếp theo là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước, công ty mẹ - con có qui mô vốn lớn, tình hình tài chính phức tạp nên đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện cổ phần hóa

+ Việc thực hiện nhiệm vụ của bộ, ngành cơ quan, tổng công ty, địa phương liên quan đến cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước có qui mô lớn chưa được như mong muốn Hiệu quả của cổ phần hóa chưa được đánh giá đầy đủ và kịp thời

+ Các bộ, ngành và địa phương chưa công khai danh sách và tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp một cách đầy đủ, kịp thời Công tác giám sát, kiểm tra chưa tốt nên không thể kịp thời xử lý các vấn đề vướng mắc phát sinh tại doanh nghiệp

+ Chậm chễ trong cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan hay những “nút thắt” vướng mắc trong chính sách, qui định cũng là những rào cản đối với tiến độ cổ phần hóa

+ Một số cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp còn tâm lý e ngại chần chừ, sợ có những vấn

đề sau khi cổ phần hóa, vị trí của mình như thế nào, điều này ảnh hưởng kết quả cổ phần hóa

Thứ hai, chất lượng cổ phần hóa chưa đạt như mong muốn

Cổ phần hóa không phải chỉ để chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, kết thúc ở đăng ký là doanh nghiệp cổ phần, mà là một quá trình bao gồm cả thoái vốn Nhà nước, cải thiện quản trị doanh nghiệp … Tuy nhiên, “về chất lượng cổ phần hóa chưa đảm bảo yêu cầu Việc chuyển đổi thực sự từ phương thức quản lý doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần theo kinh tế thị trường cũng chưa đạt yêu cầu Bởi lẽ, trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, có doanh nghiệp mới chỉ bán được khoảng vài ba phần trăm cổ phần, như thế chưa thể nói là đã thực sự được cổ phần hóa”

Ngày đăng: 20/04/2022, 22:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w