Phát triển khu kinh tế một số nước châu Á và kinh nghiệm cho khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh Phát triển khu kinh tế một số nước châu Á và kinh nghiệm cho khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh Phát triển khu kinh tế một số nước châu Á và kinh nghiệm cho khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh Phát triển khu kinh tế một số nước châu Á và kinh nghiệm cho khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh Phát triển khu kinh tế một số nước châu Á và kinh nghiệm cho khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh Phát triển khu kinh tế một số nước châu Á và kinh nghiệm cho khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VIỆT DŨNG
PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
VÀ KINH NGHIỆM CHO KHU KINH TẾ
NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2022
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VIỆT DŨNG
PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
VÀ KINH NGHIỆM CHO KHU KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nguyễn Việt Dũng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 8
1.1 Các nghiên cứu lên quan đến vai trò khu kinh tế 8
1.2 Các nghiên cứu liên quan kinh nghiệm xây dựng và phát triển khu kinh tế các quốc gia châu Á 9
1.3 Các nghiên cứu liên quan đến chính sách, định hướng, kinh nghiệm xây dựng và phát triển khu kinh tế tại Việt Nam 16
1.4 Đánh giá khái quát các nghiên cứu trước 25
1.4.1 Những vấn đề đã được thống nhất 25
1.4.2 Những vấn đề chưa được giải quyết 27
1.5 Những hướng nghiên cứu tiếp tục của Luận án 28
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU KINH TẾ 29
2.1 Cơ sở lý luận phát triển khu kinh tế 29
2.1.1 Khái niệm khu kinh tế 29
2.1.2 Đặc điểm của các loại hình khu kinh tế phổ biến 33
2.1.3 Mục tiêu xây dựng và phát triển khu kinh tế 35
2.1.4 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển khu kinh tế 37
2.1.5 Những điều kiện và khả năng để một khu kinh tế thành công 41
2.1.6 Nội dung cơ bản của việc xây dựng và phát triển khu kinh tế 47
2.1.7 Lộ trình xây dựng và phát triển các khu kinh tế 55
2.2 Cơ sở thực tiễn xây dựng và phát triển khu kinh tế 58
2.2.1 Sự cần thiết xây dựng và phát triển các khu kinh tế trên thế giới 58
2.2.2 Thực tiễn xây dựng và phát triển các khu kinh tế trên thế giới 68
Tiểu kết Chương 2 76
Trang 5Chương 3: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KHU
KINH TẾ Ở CÁC QUỐC GIA CHÂU Á 78
3.1 Đặc điểm xây dựng và phát triển khu kinh tế ở các quốc gia châu Á 78
3.2 Thực trạng xây dựng và phát triển một số khu kinh tế của Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia 85
3.2.1 Đặc khu kinh tế Thâm Quyến - Trung Quốc 85
3.2.2 Khu kinh tế tự do Incheon - Hàn Quốc 97
3.2.3 Đặc khu kinh tế Iskandar - Malaysia 108
3.2.4 So sánh bối cảnh hình thành, nội dung, kinh nghiệm xây dựng 115 3.3 Bài học kinh nghiệm xây dựng và phát triển khu kinh tế các quốc gia châu Á 119
3.3.1 Bài học xác định các điều kiện tạo thành công của khu kinh tế 119 3.3.2 Bài học về các nội dung xây dựng và phát triển khu kinh tế 121
Tiểu kết Chương 3 122
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 123
4.1 Sự cần thiết, quan điểm, định hướng xây dựng và phát triển Khu kinh tế phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh 123
4.1.1 Sự cần thiết xây dựng và phát triển Khu kinh tế phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh 123
4.1.2 Quan điểm, định hướng phát triển khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh 126
4.2 Điều kiện và khả năng cho việc xây dựng và phát triển một khu kinh tế ở khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh 129
4.2.1 Về vị trí và qui mô 130
4.2.3 Cơ sở hạ tầng 135
4.2.4 Khả năng tập trung ngành nghề và phạm vi cạnh tranh 139
4.2.5 Khả năng gắn kết với nền kinh tế trong nước 139
Trang 64.2.6 Khả năng chống chịu với các thách thức của môi trường quốc tế 141
4.2.7 Quyết tâm chính trị của chính quyền Thành phố 141
4.3 Những giải pháp chủ yếu để xây dựng và phát triển một khu kinh tế tại khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh 143
4.3.1 Các giải pháp định hình khung pháp lý cho Khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh 143
4.3.2 Đề xuất địa bàn xây dựng và phát triển Khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh 145
4.3.3 Các giải pháp thiết kế và triển khai xây dựng Khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh 146
4.3.4 Các giải pháp thu hút nguồn nhân lực cho Khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh 148
4.4 Kiến nghị 149
4.4.1 Đối với Chính phủ 149
4.4.2 Đối với chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh 149
Tiểu kết Chương 4 150
KẾT LUẬN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
PHỤ LỤC 164
Trang 7COVID -19 Coronavirus Disease 2019 Bệnh virus corona 2019
DFZ Duty Free Zone Khu phi thuế quan
ĐKKT
ĐKKT-HC
Đặc khu kinh tế Đặc khu Kinh tế - Hành chính
DWT Dead Weight Tonnage Trọng tải toàn phần
EPZ Export Processing Zone Khu chế xuất
EU European Union Liên minh châu Âu
EZ Enterprise Zone Khu doanh nghiệp
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do FTZ Free Trade Zone Khu mậu dịch tự do
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GRDP Gross Regional Domestic
Trang 8ICT Information &
R&D Research & Development Nghiên cứu và phát triển
SEZ Special Economic Zone Đặc khu kinh tế
SF Single Factory Khu đơn xưởng
Trang 9SJER South Johor Economic
Region
Vùng Kinh tế Nam Johor
SMEs Small and Medium-sized
Enterprises
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
SPCT Saigon Premier Container
Terminal
Cảng Container Quốc tế Trung tâm Sài Gòn
SZ Specialized Zone Khu chuyên dụng
TNCs Transnational Corporations Công ty xuyên quốc gia
UAE United Arab Emirates Các Tiểu vương quốc Ả Rập
Thống nhất
UNCTAD United Nations Conference
on Trade and Development
Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển UNESCO United Nations Educational
Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
UNIDO United Nations Industrial
United States Dollar Đồng đô la Mỹ
Văn hóa - xã hội
WB World Bank Ngân hàng Thế giới
WEPZA World Export Processing
Zone Association
Hiệp hội Khu chế xuất thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Những loại hình khu kinh tế truyền thống châu Á 80Bảng 3.2 Các khu kinh tế châu Á theo loại hình, lĩnh vực và nguồn vốn 82Bảng 3.3 Các chính sách ưu đãi của Khu kinh tế tự do Incheon 107Bảng 3.4 Bối cảnh hình thành 3 khu kinh tế của Trung Quốc, Hàn Quốc
và Malaysia 115Bảng 3.5 So sánh nội dung xây dựng và phát triển giữa 3 khu kinh tế của Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia 116Bảng 3.6 So sánh bài học kinh nghiệm của 3 khu kinh tế của Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia 118 Bảng 4.1 Điểm đánh giá mức độ đạt được của các tiêu chí phát triển Khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh 130Bảng 4.2 Số đơn vị hành chính tại khu kinh tế phía Nam Thành phố phân theo phường/xã/thị trấn đến năm 2019 131Bảng 4.3 Dân số các quận/huyện trong khu vực phía Nam Thành phố giai đoạn 2015 - 2019 134Bảng 4.4 Dân số nữ trung bình phân theo quận/huyện 2015 - 2019 134
Trang 11
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Xu hướng tăng lên về số lượng các khu kinh tế trên thế giới 68
Hình 3.1 Số lượng khu kinh tế ở các quốc gia châu Á đến năm 2019 79
Hình 3.2 Đặc khu kinh tế Thâm Quyến - Trung Quốc 86
Hình 3.3 Khu kinh tế tự do Incheon - Hàn Quốc 99
Hình 3.4 Mô hình Ban quản lý Khu kinh tế tự do Incheon 101
Hình 3.5 Đặc khu kinh tế Iskandar - Malaysia 109
Hình 4.1 Vị trí địa lý Khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh 133
Hình 4.2 Cầu vượt hầm chui Nguyễn Văn Linh - Nguyễn Hữu Thọ 136
Hình 4.3 Cảng Container Quốc tế Trung tâm Sài Gòn (SPCT) 137
Hình 4.4 Một góc Khu Đô thị Phú Mỹ Hưng 138
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn 5 thập kỷ qua, làn sóng phát triển các khu kinh tế với nhiều dạng thức khác nhau đã và đang là một xu hướng phổ biến rộng rãi trên thế giới Một số quốc gia châu Á trong thời gian qua cũng đã lựa chọn phát triển khu kinh tế như một đột phá khẩu trong tiến trình đổi mới, mở cửa, hội nhập Chỉ sau vài thập niên họ đã làm nên những điều kỳ diệu với sự phát triển thành công một cách ngoạn mục của các đặc khu kinh tế nổi tiếng bậc nhất trên thế giới Điều gì
đã giúp các quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia,…làm nên sự phát triển thần kỳ với những kỳ tích đáng khâm phục đó?
Việt Nam có vị trí chiến lược trong khu vực Đông Nam Á, với chiều dài bờ biển hơn 3.260 km, với những cảng biển nước sâu, với các đô thị lớn ven biển, rất thuận lợi cho việc phát triển thành các đặc khu kinh tế, các đặc khu kinh tế - hành chính Trong thời gian qua, phong trào phát triển các loại hình khu kinh tế tại Việt Nam không chỉ là điểm nhấn nổi bật trong tiến trình đổi mới, mở cửa, hội nhập mà còn là chìa khóa tạo động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế của từng địa phương, từng vùng và cả nước Tuy nhiên, do thiếu các nguồn lực cần thiết như: Tài chính, nhân lực, công nghệ,…đặc biệt
là thiếu cơ chế chính sách đúng đắn, phù hợp, nên mặc dù đã cải cách mở cửa khá lâu nhưng nước ta vẫn chưa phát triển được một đặc khu kinh tế nào mang tầm cỡ khu vực và thế giới
Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị đặc biệt - Một trung tâm kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục, khoa học công nghệ lớn của cả nước Thành phố còn là đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu tạo động lực có sức thu hút và lan tỏa lớn đối với Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cả nước Trong nhiều năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh luôn đi đầu trong mọi lĩnh vực đột phá tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế, đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của đất nước
Trang 13Tuy nhiên, trong những năm gần đây tăng trưởng kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh được đánh giá chưa tương xứng với vị trí, vai trò và tiềm năng của thành phố này Để thực sự đủ sức tiếp bước những thành công trong quá khứ, tạo động lực để vượt qua các rào cản và định hình các khuôn khổ hướng tới thành công trong tương lai, Thành phố Hồ Chí Minh cần phải tiếp tục có những đột phá mới Việc xây dựng và phát triển một khu kinh tế cũng
là một giải pháp tốt có thể được lựa chọn nhằm đạt được mục tiêu này
Hiện nay, Khu đô thị phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh được xem là khu vực phát triển rất năng động của Thành phố, với Khu chế xuất Tân Thuận
- Khu chế xuất đầu tiên của cả nước, Khu đô thị mới kiểu mẫu Phú Mỹ Hưng
và Khu đô thị công nghiệp cảng Hiệp Phước đang dần dần được hình thành Khu vực Nam Thành phố cũng được đánh giá hầu như hội đủ các điều kiện tiền đề để xây dựng và phát triển thành một khu kinh tế Việc xây dựng và phát triển thành công khu kinh tế tại khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi phải có cơ sở lý luận khoa học, trong đó kinh nghiệm thực tiễn của quốc tế, nhất là kinh nghiệm những quốc gia trong khu vực, những quốc gia đang phát triển có điều kiện chính trị, kinh tế và hoàn cảnh phát triển
tương đồng với Việt Nam Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là “Qua lăng kính
lý luận khoa học, những kinh nghiệm nào của một số quốc gia châu Á hữu ích cho Việt Nam và để áp dụng những kinh nghiệm đó thì cần những điều kiện gì?”
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài
“Phát triển khu kinh tế một số nước châu Á và kinh nghiệm cho khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sỹ của
mình, với mong muốn luận án này sẽ góp phần bổ sung những kết quả nghiên cứu mới trong lý luận và thực tiễn phát triển khu kinh tế, giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà thực tiễn, và các nhà nghiên cứu có thêm nguồn thông tin tham khảo
Trang 142 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Mục đích nghiên cứu chung: Mục đích nghiên cứu của Luận án là từ
những kinh nghiệm quốc tế và điều kiện thực tế Việt Nam, đề xuất những giải pháp thực tiễn nhằm xây dựng và phát triển thành công Khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh
- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
Để đạt được mục đích trên, Luận án cần hoàn thành được các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:
+ Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu làm cơ sở
khoa học cho việc xây dựng và phát triển các khu kinh tế, chỉ ra những điều kiện và những tiêu chí để xây dựng và phát triển thành công một khu kinh tế
+ Phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng và phát triển các khu kinh tế tại một số quốc gia châu Á, đúc kết những kinh nghiệm xây dựng và phát triển một khu kinh tế
+ Phân tích, đánh giá những khả năng và điều kiện của Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong việc đáp ứng các tiêu chí xây dựng và phát triển thành công khu kinh tế tại khu vực này
+ Trên cơ sở đó, gợi mở một số quan điểm, định hướng và giải pháp để xây dựng và phát triển thành công Khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
về xây dựng và phát triển khu kinh tế trên thế giới, đặc biệt các khu kinh tế tiêu biểu ở một số quốc gia châu Á, cũng như các điều kiện cần thiết để xây dựng và phát triển một khu kinh tế tại khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu từ những năm 1980, khi
đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung Quốc được được nghiên cứu thành lập
Trang 15+ Về không gian: Nghiên cứu khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí
Minh, các khu kinh tế ở châu Á tiêu biểu như: Đặc khu kinh tế Thâm Quyến (Trung Quốc), Khu kinh tế tự do Incheon (Hàn Quốc), và Đặc khu kinh tế Iskandar hay Vùng Kinh tế Nam Johor - SJER (Malaysia)
+ Về nội dung: Vì việc phát triển một thực thể kinh tế không thể thành
công được, nếu thực thể đó không được xây dựng trên một nền tảng tốt; điều
đó có nghĩa là để có được một thực thể kinh tế tốt, việc phát triển và xây dựng chúng phải luôn đi liền, gắn chặt và tác động lẫn nhau một cách chặt chẽ Do
đó, dù tên Luận án là đề cập đến việc Phát triển khu kinh tế, song trên thực tế Luận án sẽ nghiên cứu không chỉ việc Phát triển mà nghiên cứu cả việc Xây dựng khu kinh tế Trong đó, nhấn mạnh đến việc nghiên cứu cơ sở lý luận về khu kinh tế, nghiên cứu thực tiễn xây dựng và phát triển một số khu kinh tế châu Á; và những điều kiện hình thành và phát triển một khu kinh tế tại khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận và cách tiếp cận: Luận án tiếp cận đề tài qua lăng
kính lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin: Chủ nghĩa Duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử,…và lý luận của các ngành: Kinh tế quốc tế, Kinh tế phát triển, Địa lý kinh tế, và Lịch sử kinh tế,… để thể hiện được vấn đề với góc nhìn kinh nghiệm quốc tế góp phần xây dựng căn cứ thực tiễn cho việc phát triển thành công Khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh Luận án cũng sẽ kết hợp nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, kinh nghiệm quốc tế
về thành công lẫn thất bại, cũng như những điều kiện thành công, những nguyên nhân thất bại của các khu kinh tế tiêu biểu tại các quốc gia châu Á
- Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích định tính như: Phương pháp tổng thuật, hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case
Trang 16Study), Phương pháp so sánh tổng hợp, Phương pháp chuyên gia, Phương pháp điều tra cho điểm,…
+ Phương pháp tổng thuật, hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu: Tài
liệu được tập hợp, hệ thống và phân tích, kết hợp nghiên cứu tại bàn để xử lý các thông tin liên quan đến các nội dung: Vai trò khu kinh tế, kinh nghiệm xây dựng và phát triển khu kinh tế và điều kiện, khả năng khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh để xây dựng và phát triển một khu kinh tế
+ Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case Study): Các trường hợp
được nghiên cứu là một số khu kinh tế của Trung Quốc, Hàn Quốc và Malaysia Những nội dung được nghiên cứu trong các trường hợp này là: Bối cảnh hình thành, quá trình xây dựng và phát triển các khu kinh tế, những kinh nghiệm đúc kết được từ các khu kinh tế này
+ Phương pháp so sánh: Nhằm so sánh hiện trạng khu vực phía Nam
Thành phố Hồ Chí Minh với điều kiện, khả năng đáp ứng các yếu tố thành công của một khu kinh tế, so sánh kinh nghiệm phát triển của Đặc khu kinh tế Thâm Quyến, Khu kinh tế tự do Incheon và Đặc khu kinh tế Iskandar với điều kiện của Thành phố Hồ Chí Minh
+ Phương pháp chuyên gia, điều tra cho điểm: Nhằm xây dựng các tiêu
chí thành công của một khu kinh tế và đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí thành công của khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh để phát triển thành một khu kinh tế Phương pháp này được thực hiện qua khảo sát và phỏng vấn thực tế các cán bộ, công chức làm việc tại các sở, ngành, quận/huyện, viện/trường có liên quan tại Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả điều tra, khảo sát
và phỏng vấn thực tế là thông tin sơ cấp được xử lý bằng phương pháp thống kê đơn giản với giá trị trung bình thể hiện mức độ đáp ứng các điều kiện, khả năng của khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh để trở thành một khu kinh tế
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng các nguồn dữ liệu thứ cấp là số liệu thống kê, số liệu báo cáo của các tổ chức, những nghiên cứu, các văn bản, các
Trang 17bài viết và báo cáo tham luận tại các cuộc hội nghị, hội thảo liên quan đến chính sách về khu kinh tế và phát triển khu kinh tế ở một số quốc gia châu Á và ở Việt Nam Số liệu sơ cấp là kết quả điều tra, khảo sát và phỏng vấn thực tế các chuyên gia là cán bộ, công chức làm việc tại các sở/ngành, quận/huyện, viện/trường có liên quan đến nội dung nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh
5 Đóng góp khoa học chủ yếu của luận án
- Luận án này cho rằng: Khu kinh tế có lịch sử hình thành khá lâu đời,
dù tồn tại với nhiều dạng thức khác nhau nhưng có một điểm chung là chúng đều được hưởng những cơ chế, chính sách ưu đãi đặc thù so với bên ngoài Khu kinh tế có những tác động cả tích cực lẫn tiêu cực, nhưng phát triển khu kinh tế vẫn đang là một xu hướng nổi trội ở nhiều quốc gia, đặc biệt đối với các nền kinh tế đang phát triển trên thế giới
- Phát triển một khu kinh tế thành công có thể nhanh chóng tạo nên một
sự bứt phá về mặt kinh tế và công nghệ của khu vực hay một quốc gia, qua đó
có thể tạo ra một tác động lan tỏa lớn đối với toàn bộ nền kinh tế
- Muốn phát triển thành công một khu kinh tế cần hội đủ các yếu tố cơ bản, song quyết định sự thành công vẫn là vấn đề thể chế phải đủ mạnh, thể hiện qua sự cam kết chính trị với một liên minh ủng hộ; và chính sách với sự can thiệp của nhà nước cùng với sự tham gia của khu vực tư nhân
Thành công của một khu kinh tế là phải đạt được mục tiêu đề ra ban
đầu và phải hội đủ các điều kiện cơ bản: Thứ nhất, có quy mô đủ lớn để có thể
quy tụ các doanh nghiệp cùng ngành và nhiều ngành, đồng thời đảm bảo cơ
sở hạ tầng tốt nhất nhằm giảm thiểu chi phí, tận dụng lợi thế kinh tế nhờ quy
mô và tích tụ Thứ hai, vị trí lựa chọn phải có khả năng kết nối, lan tỏa Thứ
ba, nguồn nhân lực được đảm bảo về chất lượng và số lượng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án là một công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa thiết thực về lý luận Công trình đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về khu kinh tế và
Trang 18phát triển khu kinh tế với những khía cạnh quan trọng một cách logic Nghiên cứu đã tổng hợp được các khái niệm, loại hình khu kinh tế qua nhiều góc nhìn khác nhau; Xác định được mục tiêu, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng sự thành công hay thất bại của khu kinh tế
Công trình nghiên cứu này còn mang những ý nghĩa thực tiễn thể hiện qua: Sự đánh giá vai trò, xu hướng và thực tiễn xây dựng và phát triển khu kinh
tế trên thế giới; Phân tích, đúc kết được những bài học kinh nghiệm xây dựng và phát triển khu kinh tế của một số quốc gia châu Á; và Đề xuất các giải pháp mang tính định hướng nhằm xây dựng và phát triển thành công một khu kinh tế tại khu vực phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và danh mục các bảng, các hình,… Luận án được cấu trúc làm 4 chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 1.1 Các nghiên cứu lên quan đến vai trò khu kinh tế
Trong vài thập niên trở lại đây có rất nhiều nghiên cứu của các tổ chức, các nhà kinh tế học trong và ngoài nước về vai trò, tác động của việc xây dựng và phát triển các loại hình khu kinh tế (KKT) trên thế giới và đặc biệt các nghiên cứu tập trung nhiều tại khu vực châu Á Những nghiên cứu này đã
đi từ những nhận xét rất tích cực cho đến những đánh giá tiêu cực trên tất cả các mặt của KKT như: Tăng trưởng, thương mại, đầu tư, lao động, năng suất, môi trường, và xã hội,… Aggarwal (2007) [47]; ILO (1998) [83]; Heron (2004) [77]
Những tác động của KKT được nghiên cứu từ thực tiễn ở nhiều quốc gia, từ những nước đang phát triển (ĐPT) như: Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh,…cho tới một số nền kinh tế mới công nghiệp hóa (CNH) ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương như Hàn Quốc, Đài Loan Tiêu biểu trong số
này có thể kể đến các nghiên cứu của Aggarwal, Aradhna (2010) “Tác động
kinh tế của các đặc khu kinh tế: Các quan điểm lý thuyết và phân tích đối với các đặc khu kinh tế mới nổi ở Ấn Độ” [48], của Lakshmana, L (2009) “Tiến hóa của các khu kinh tế và một số vấn đề: Kinh nghiệm của Ấn Độ” [89], của
Armas, E, B và Sadni Jallab, M (2002) “Đánh giá vai trò và tác động của
các khu chế xuất đối với thương mại thế giới: Trường hợp của Mexico” [54],
Báo cáo của Bộ Tài chính và Kinh tế Hàn Quốc (2003) “Các khu kinh tế tự
do ở Hàn Quốc: Tương lai của Đông Bắc Á”, của Chung Jin Kim (2007)
“Nghiên cứu về kế hoạch phát triển của Khu kinh tế tự do Incheon, Hàn Quốc: dựa trên so sánh với Khu kinh tế tự do Phố Đông, Trung Quốc” [60],
Ngoài ra, tác động của các KKT đối với phát triển kinh tế của quốc gia còn được nhiều tổ chức quốc tế nghiên cứu như Tổ chức Phát triển công nghiệp
Trang 20của Liên hợp quốc (UNIDO) với nghiên cứu “Các khu chế xuất: Nguyên tắc
và thực tiễn”, và số liệu về KKT được phân tích trong các báo cáo về đầu tư
quốc tế hàng năm của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) [106]; [107]; [108]; [109]
Nghiên cứu của Guang-weng, Meng (2003) “Những kinh nghiệm và
triển vọng của khu kinh tế tự do (KKTTD) Trung Quốc sau hơn 20 năm”,
nhìn lại một chặng đường hơn hai thập niên phát triển các đặc khu kinh tế (ĐKKT) của Trung Quốc, tác giả khẳng định rằng việc xây dựng các KKT với vai trò như cực tăng trưởng cho phát triển kinh tế, là cơ sở thí điểm, là công cụ cho cải cách và chính sách mở cửa của quốc gia [74]
Hay Joseph Fewsmith (1986) cho rằng, các ĐKKT được lập ra chính là nhằm để thu hút đầu tư nước ngoài, kích thích xuất khẩu, thu hút khoa học kỹ thuật tiên tiến và chuyển giao phương pháp quản lý mới [86]
Trong luận án tiến sỹ của Trịnh Mạnh Linh (2017), Đặc khu kinh tế:
Kinh nghiệm của Trung Quốc và đề xuất chính sách cho Việt Nam Tác giả
cho rằng, các mô hình KKT nói chung đã có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài, rất đa dạng về hình thức và các KKT ngày càng có vai trò tích cực đối với phát triển kinh tế quốc gia và khu vực [24]
Nhìn chung, qua các nghiên cứu trên, Luận án đã đúc kết được rằng:
Các loại hình KKT đã ngày càng phát huy vai trò tích cực đối với phát triển kinh tế của từng quốc gia và khu vực Các KKT không chỉ đóng góp cho tăng trưởng qua thúc đẩy thương mại, đầu tư phát triển mà còn tham gia giải quyết vấn đề lao động tạo việc làm, ổn định xã hội Ngày nay, KKT còn là một công
cụ thử nghiệm chính sách cải cách và thu hút, chuyển giao công nghệ mới
1.2 Các nghiên cứu liên quan kinh nghiệm xây dựng và phát triển khu kinh tế các quốc gia châu Á
Xuất phát từ thực tiễn khách quan, nhiều quốc gia châu Á đã xây dựng
và phát triển các KKT với cách thức rất đa dạng Đã có không ít những công
Trang 21trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề xây dựng và phát triển KKT tại các quốc gia châu Á Những nghiên cứu trên đạt được nhiều kết quả quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn
Các nghiên cứu gần đây cho thấy, mục tiêu phát triển các KKTTD đều phải thống nhất với các chính sách phát triển kinh tế tổng thể của đất nước,
của một địa phương Nghiên cứu của Chung Jin Kim (2007) “Nghiên cứu kế
hoạch phát triển của Khu kinh tế tự do Incheon, Hàn Quốc: Dựa trên so sánh với Khu kinh tế tự do Phố Đông, Trung Quốc” cho thấy những yếu tố quyết
định đến sự thành công để phát triển Khu kinh tế tự do Phố Đông có thể khái quát đó là: Quy hoạch tổng thể là yếu tố chủ yếu góp phần tạo nên sự thành công của Phố Đông; Khung khổ pháp lý cho việc hình thành KKTTD trôi chảy; Ưu đãi đầu tư mạnh mẽ sẽ thu hút được nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài;
và Cải cách táo bạo để trở thành nơi thử nghiệm chính sách, cũng như địa điểm địa lý thuận lợi tiếp cận vốn, nhân tài dồi dào, thị trường lao động rẽ góp phần làm nên sự thịnh vượng của Phố Đông [60]
Jong Cheol Lee (2014) trong “Khu kinh tế tự do Incheon (Hàn Quốc)”
[84] Nghiên cứu đã phân tích tổng quan về Khu kinh tế tự do Incheon; Nêu bật những đặc điểm tự nhiên, hạ tầng, nguồn nhân lực, tài chính, khoa học công nghệ (KHCN),…và bài học thành công của KKT này, trong đó có các yếu tố như niềm đam mê và tầm nhìn để phát triển được ĐKKT Nếu không
có đam mê, nhiệt huyết và tầm nhìn thì không thể đạt được sự thành công Cần phải liên tục nhất quán thực hiện từ chính quyền trung ương tới địa phương Lãnh đạo chính phủ trung ương cần phải hiểu được tại sao cần có ĐKKT ở đây và có thể hỗ trợ phát triển thành công các KKT như thế nào? Cần phải có sự phối hợp của chính phủ trung ương và chính quyền địa phương để có thể xây dựng thành công KKT
Trong nghiên cứu của Farole, T và G Akinci, Ngân hàng Thế giới (WB), (2011) [65], đã nêu các vấn đề về thu hút đầu tư và tạo việc làm - mô
Trang 22hình cũ và những thách thức mới, trong đó nêu bài học kinh nghiệm từ Bangladesh, Honduras, châu Mỹ, Trung Quốc, Singapore,…; Việc có thể thay đổi cấu trúc phát triển khu kinh tế đặc biệt (KKTĐB); Phát triển bền vững xã hội và môi trường Nghiên cứu đồng thời nêu những phân tích về cải cách thể chế, thúc đẩy cải cách và phát triển kinh tế thông qua hoạt động các KKTĐB; Vấn để đảm bảo phát triển xã hội và bảo vệ môi trường bền vững, đây là vấn đến mới nổi lên trong quá trình xây dựng, hoạt động các KKT; Đề cập đến ba vấn đề hết sức quan trọng đối với hoạch định chính sách, đó là: Làm thế nào
để KKT thành công trong việc thu hút các doanh nghiệp, tạo việc làm; Làm thế nào để đảm bảo rằng các KKT bền vững về mặt kinh tế và mang lại tác động tích cực, trong đó đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ cấu và cải cách kinh tế; Làm thế nào để đảm bảo rằng các KKT bền vững về thể chế, xã hội
và môi trường
Nghiên cứu về mô hình, quy mô của KKT để nó phát huy được tác dụng, tạo dựng không gian để phát triển hoạt động kinh tế đa ngành Ngụy
Đạt Chí (2014) trong “Thực hiện chuyển đổi chiến lược mô hình phát triển
kinh tế từ hướng ngoại sang mở cửa” [111], đã phân tích về mô hình kinh tế
mở cửa là một thể chế áp dụng để tham gia vào sự phân công, cạnh tranh quốc
tế trong bối cảnh toàn cầu hóa (TCH) nền kinh tế, nó nhấn mạnh sự điều phối,
mở cửa giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế, chú trọng đến vai trò sắp xếp cơ bản của nền kinh tế thị trường (KTTT) đối với với nguồn tài nguyên trong nước, nhấn mạnh sự phát triển tự do của thương mại, đầu tư mang tính toàn cầu, chú trọng các thể chế thương mại đa phương, chuẩn tắc quốc tế trong việc vận hành nền kinh tế mang tính toàn cầu, chú trọng lợi thế
so sánh, ưu thế cạnh tranh của một quốc gia trong thể chế phân công, hợp tác
quốc tế, phát triển “mô hình kinh tế mở cửa” trở thành sự lựa chọn chủ yếu
của các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, do mức độ rộng rãi của các quy tắc thương mại đa phương của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra và
Trang 23thực hiện, hầu như có liên quan đến các mặt của kinh tế thế giới, dẫn đến việc cần tăng cường hơn nữa hợp tác song phương, đa phương, khu vực, tiểu vùng
Vì vậy, mô hình trong tương lai cũng cần phải dẫn đầu kinh tế mở cửa, thông qua hợp tác trong liên kết ngành để hình thành nên cực tăng trưởng kinh tế mới
Kinh nghiệm về việc lựa chọn vị trí thích hợp là một yếu tố rất quan trọng để phát triển một KKT, khẳng định quan điểm này có nghiên cứu của
Ota, Tatsuyuki (2003) đã nhấn mạnh: “Với nhận thức đúng đắn trên, năm
1979 và 1980 Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng 4 ĐKKT ven biển vùng Đông Nam - Trung Quốc Với ý tưởng ban đầu là dựa vào ưu thế địa lý ven biển, gần với các khu vực kinh tế phát triển và nhân tố người Hoa để xây dựng các ĐKKT, như Đặc khu kinh tế Thâm Quyến có vị trí địa lý gần Hồng Kông, Đặc khu kinh tế Chu Hải gần với Ma Cao, Đặc khu kinh tế Hạ Môn gần với Đài Loan và Đặc khu kinh tế Sán Đầu là quê hương của nhiều Hoa Kiều” [94]
Hay nghiên cứu của Alan Smart (2000) về các ĐKKT của Trung Quốc cũng chỉ rõ, việc lựa chọn vị trí các ĐKKT có tính đặc thù rất rõ ràng, do sự lo lắng
việc nước ngoài có thể mang đến những “ô nhiễm tinh thần” nên không lựa
chọn những khu vực đã phát triển mà lựa chọn những khu vực nông thôn lạc hậu, ven biển, có tính biệt lập [51]
Nói đến những kinh nghiệm phát triển một KKTTD với các ngành nghề mũi nhọn, những ngành được coi là quan trọng chiến lược cho quốc gia Quan điểm của Andrew và Wei (2003) cho rằng: Phát triển khu kinh tế phải dựa trên
sự phát triển tổng thể về kinh tế, xã hội và sinh thái theo phương thức bền vững Phát triển ngành nghề thì ưu tiên cho tài chính, thương mại, các dịch vụ hiện đại, công nghệ cao và du lịch có chú trọng đến các NĐT lớn Phát triển đô thị là tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng (CSHT) và môi trường sinh thái Quy hoạch
đô thị và phát triển công nghiệp phải liên kết với việc chấn hưng các khu cũ Khi nói đến những điều kiện tiền đề tạo dựng cho sự thành công phát triển KKT chính là sự ủng hộ chính trị mạnh mẽ của chính phủ trung ương
Trang 24Hay nghiên cứu của Đại học Thâm Quyến (2014) Kinh nghiệm phát
triển thành công mô hình đặc khu kinh tế Trung Quốc - Sáng tạo trong cải cách tài chính Thâm Quyến [100], đề cập chủ yếu đến 3 vấn đề lớn: Giới
thiệu khái quát cơ bản 30 năm phát triển ngành tài chính của Đặc khu kinh tế Thâm Quyến; Kinh nghiệm phát triển thành công sự sáng tạo trong cải cách ngành tài chính của Thâm Quyến; Xu thế phát triển trong tương lai của sáng tạo trong cải cách ngành tài chính Trung Quốc hiện nay Nghiên cứu sâu về đặc điểm các giai đoạn phát triển ngành tài chính của Đặc khu kinh tế Thâm Quyến: Doanh nghiệp tài chính thực hiện tăng trưởng đột phá; Quy mô gửi tiền, vay tiền ngoại tệ, nội tệ rất lớn; Xây dựng được hệ thống thị trường chứng khoán nhiều cấp độ do thị trường sàn chính, sàn doanh nghiệp vừa và nhỏ, hệ thống chuyển nhượng cổ phần đại diện, sàn khởi nghiệp cấu thành; Lượng giao dịch thành công trên thị trường tài chính Nghiên cứu khẳng định: Cùng với phát triển vốn của Trung Quốc, là việc cải cách thị trường hóa lãi suất, xây dựng thị trường chứng khoán thống nhất, xây dựng các trung tâm tại nước ngoài như những trung tâm tài chính quốc tế, một loạt các thí điểm này đều được đẩy nhanh, đều thể hiện một hệ thống tài chính rất tốt cho Thâm Quyến và toàn bộ Hồng Kông; Đây chính là cơ hội để Thâm Quyến bay cao,
từ đó Thâm Quyến càng có lí do tiến hành tìm tòi và đột phá lớn hơn, đồng thời nâng cao địa vị của mình tại trung tâm tài chính quốc tế
Cùng với quan điểm KKT phải được xây dựng trên một thể chế vượt trội với một quyết tâm rất cao từ chính phủ, tác giả Lương Thu Hương (2018) khi nghiên cứu về mô hình ĐKKT nhìn từ Trung Quốc, tác giả cho rằng: Sự cam kết và hỗ trợ của chính phủ trong việc đẩy mạnh các cải cách kinh tế theo hướng thị trường Chính quyết tâm tạo ra sự khác biệt thông qua những cải cách liên tục đã dẫn tới sự tin tưởng vào một môi trường kinh tế vĩ mô cởi mở
và ổn định Khối trung ương cố gắng phân quyền, giúp tạo ra một hệ thống pháp lý mở và hiệu quả cho các đặc khu Chính quyền cấp địa phương cố
Trang 25gắng xây dựng cơ chế hành chính thông thoáng, minh bạch (cơ chế một cửa) cho các NĐT và tạo cơ sở vật chất tốt cho khu vực [20] Nghiên cứu này cũng khẳng định, một trong những giải pháp tạo nên cái vượt trội của một KKT chính
là chính sách đất đai: “Tại Thâm Quyến, trước năm 1981, tất cả đất đai thuộc
quyền quản lý của nhà nước và tập thể Tuy nhiên, từ năm 1981, Chính phủ Trung Quốc đã cho phép các đặc khu cho NĐT thuê đất với thời hạn từ 20 - 50 năm và có thể gia hạn sau đó Hệ thống đấu giá đất đai cũng được thành lập cho tất cả loại đất thương mại và đất công nghiệp nhằm đảm bảo việc sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai” [20]
Kinh nghiệm huy động, thu hút các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân để cùng phát triển KKT có nghiên cứu của Andrew
Grant (2014), Các biện pháp thu hút nguồn lực xây dựng và phát triển đặc
khu kinh tế [52], đã đề cấp đến vai trò của KKT đến phát triển hiệu quả nền
kinh tế, một số yếu tố thành công, trong đó có tầm nhìn và đầu tư dài hạn; Những điều cần tránh để không muốn bị thất bại trong phát triển ĐKKT; Phân tích về mối quan hệ giữa việc có một môi trường pháp lý thông thoáng với tăng trưởng kinh tế, với nền kinh tế thì việc tạo việc làm vô cùng quan trọng Nghiên cứu chỉ ra những yếu tố chung để đảm bảo thành công như: Cần phải xây dựng CSHT cần thiết, chứ không nên xây dựng tất cả trước khi NĐT đến; Các doanh nghiệp đầu tư lâu dài đóng vai trò hết sức quan trọng; Cần nguồn vốn dài hạn cho CSHT, không có đường tắt nào cho các ĐKKT mà phải xây dựng CSHT một cách dài hạn; Tính cạnh tranh là vô cùng quan trọng; Các ĐKKT cần phải gần với các trung tâm kinh tế hiện nay Nghiên cứu đã khuyến nghị 8 vấn đề trong phát triển ĐKKT, trong đó có việc thu hút, xúc tiến đầu tư, xây dựng thương hiệu, giải quyết các rào cản về đầu tư và thủ tục hành chính,…
Những vấn đề liên quan đến kinh nghiệm quản lý, vận hành trôi chảy
một KKT có nghiên cứu của Fredric William Swierczek (2014), Quản trị,
Trang 26phát triển nhân lực và tính cạnh tranh của các đặc khu kinh tế: sự phối hợp giữa các doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục [69], đã phân tích vai trò quan
trọng của nguồn nhân lực, làm sao phải đào tạo, thu hút nguồn nhân lực có chất lượng, trong đó những chương trình đào tạo, cơ sở đào tạo do chính những doanh nghiệp mở ra để đào tạo nhân viên cho mình, đáp ứng nhu cầu
về nguồn nhân lực cho công ty; Một số vấn đề liên quan đến quản trị của các KKT, nhất là những chính sách không được mang tính cạnh tranh khiến tăng chi phí cho các doanh nghiệp Ở cấp độ các tỉnh/thành, nghiên cứu nêu một số khía cạnh liên quan đến khả năng cạnh tranh của các tỉnh/thành; Nhấn mạnh đến khía cạnh dịch vụ công, cần phải đáp ứng được nhu cầu giảm thời gian phục vụ với người dân và tỉnh/thành cần có trách nhiệm như thế nào với tính minh bạch đối với các dịch vụ đó KKT phải tạo ra được việc làm, nhưng điều quan trọng hơn là phải tạo ra thêm giá trị gia tăng của công việc đó Việc này sẽ giúp gia tăng năng suất, lợi nhuận của ĐKKT Thời gian, chi phí của những quy định cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của doanh nghiệp, đồng thời cần loại bỏ những chi phí không chính thức, những vấn đề liên quan đến đất đai, chi phí để gia nhập, tham gia vào các đặc khu đều là các yếu tố thu hút NĐT nước ngoài
Laura Stone (2015), trong Phát triển đặc khu kinh tế [90], nghiên cứu
đã phân tích cách tiếp cận của chính phủ khi thành lập KKT, ĐKKT; Những vấn đề lưu ý gồm: Cụm ngành công nghiệp, các khu chế xuất (KCX) đồng bộ, điện, nước, giao thông, CSHT, ưu đãi thuế quan, tinh giản thủ tục hành chính, khu miễn hải quan, mở rộng khả năng tiếp cận thì trường trong và ngoài nước, lao động,…Trong đó khẳng định: Bên cạnh đầu tư cho CSHT, cần cấp bách đầu tư phát triển nhân lực địa phương chất lượng cao, đặc biệt đội ngũ quản lý cấp trung trở lên Việt Nam ngày càng cần đội ngũ quản lý lãnh đạo khi nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng và tạo ra hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao và ở phân khúc cao cấp Điều này có thể đạt được thông qua đầu tư cho các cơ sở đào tạo truyền thống và đào tạo nghề
Trang 271.3 Các nghiên cứu liên quan đến chính sách, định hướng, kinh nghiệm xây dựng và phát triển khu kinh tế tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, các nghiên cứu, các bài viết về KKT ở Việt Nam phát triển mạnh từ khi việc thành lập các KKT thu hút được sự chú ý của giới nghiên cứu, hoạch định chính sách và công luận Về nội dung, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung phân tích về chủ trương, định hướng, các nhân tố tác động đến sự thành công hay thất bại của các loại hình KKT tại Việt Nam trong thời gian qua Các nghiên cứu còn đúc kết nhiều kinh nghiệm nước ngoài để phát triển KKT tại Việt Nam
Lê Xuân Bá (2010), Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền
vững ở Việt Nam [1], nghiên cứu chỉ rõ để phát huy tiềm năng, lợi thế của
từng vùng với tầm nhìn dài hạn, tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng theo quy hoạch, khắc phục đầu tư trùng lặp, thiếu liên kết; Tăng cường liên kết, phối hợp giữa các vùng để cùng phát triển; Đẩy mạnh phát triển các vùng lãnh thổ trọng điểm tạo động lực cho nền kinh tế cần phải tập trung đầu tư phát triển các KKT trọng điểm, tạo tiền đề cho sự bùng nổ và lan tỏa phát triển kinh tế vùng; Khuyến khích các tỉnh/thành chủ động, sáng tạo trong phát triển kinh tế địa phương trên cơ sở phát huy lợi thế riêng có của địa phương, của vùng
Ngô Doãn Vịnh (2012), đề tài khoa học “Xây dựng tiêu chí phát triển
lãnh thổ đầu tàu lôi kéo sự phát triển nền kinh tế - từ kinh nghiệm nước ngoài (Trung Quốc, Nga) và yêu cầu thực tiễn của Việt Nam” [44], đã nghiên cứu
các kinh nghiệm của quốc tế về phát triển lãnh thổ đầu tàu, trong đó các kinh nghiệm về xây dựng các ĐKKT của Trung Quốc đặc biệt hữu ích trong việc phát triển các lãnh thổ đầu tàu của Việt Nam, kể cả về mục tiêu hình thành, lựa chọn địa điểm, bước đi và cơ chế, chính sách đối với các ĐKKT Một trong các đóng góp của đề tài này là phân tích, đánh giá về tình hình phát triển các lãnh thổ có tính chất động lực trong thời gian qua ở nước ta, cụ thể là các
Trang 28vùng kinh tế trọng điểm, các KKT ven biển Đóng góp quan trọng khác của
đề tài này là đã luận giải về bộ tiêu chí hình thành lãnh thổ đầu tàu - cần có vị trí địa kinh tế thuận lợi, giao lưu dễ dàng với bên ngoài (trong nước và quốc tế), có diện tích đủ lớn để phát triển tổng hợp (công nghiệp, du lịch, dịch vụ, ), hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển (về kết cấu hạ tầng, khả năng cung ứng lao động, nguyên vật liệu cho sản xuất, ) Tuy nhiên, một lãnh thổ chỉ thực sự trở thành đầu tàu khi lãnh thổ đó thu hút đầu tư hình thành ngành chủ lực, đặc biệt là phải thu hút được các NĐT lớn, các công ty xuyên quốc gia (TNCs) lớn nhất đến đầu tư, đặc biệt là vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, có giá trị gia tăng lớn Trên cơ sở đó, các lãnh thổ trên có đóng góp lớn cho nền kinh tế cả nước (thu ngân sách, giá trị xuất khẩu, giá trị sản xuất công nghiệp, giải quyết việc làm, ) Đồng thời phải là nơi được áp dụng các cơ chế, chính sách mới có tính chất vượt trội so với trước đây và chung cho cả nước để tạo điều kiện phát triển nhanh, đi trước một bước, đồng thời cũng là nơi thử nghiệm các chính sách mới, trước khi đem ra ứng dụng ở các địa bàn khác
Bùi Tất Thắng (2011), Vấn đề xây dựng đặc khu kinh tế [31], chỉ rõ
trong thời đại TCH, các ĐKKT vẫn đang tiếp tục ra đời và thành công, kể cả
ở những nền kinh tế đã phát triển Phải chăng, thể chế kinh tế thế giới hiện
vẫn còn chưa đủ “tự do” nên các ĐKKT vẫn còn phát huy tác dụng? Hay
phải chăng bản thân các ĐKKT cũng đang được làm mới cả từ quan niệm lẫn thực tiễn? Phân tích cho thấy những đặc điểm chủ yếu của các KKT thành công, cụ thể là: Vị trí địa lý hấp dẫn; Kết cấu hạ tầng thuận lợi; Luật pháp và các chính sách rõ ràng, ổn định; Có nguồn lao động đủ về số lượng, đáp ứng
về chất lượng; Có sự đảm bảo về xã hội và điều kiện làm việc; Chất lượng dịch vụ cao; Logistics; Thông tin công nghệ tốt; Hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) tốt; Có sự hợp lực tốt giữa trong và ngoài KKT Tác giả cũng đề cập đến những bài học kinh nghiệm các ĐKKT trên thế giới trong vài thập kỷ gần
Trang 29đây, đó là Thâm Quyến (Trung Quốc), Dubai (Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất) và Incheon (Hàn Quốc), qua đó đề tài đã kiến nghị chính sách, đưa ra ý kiến về xúc tiến xây dựng KKT ở Việt Nam
Võ Đại Lược (2010), Nghiên cứu về khu kinh tế đặc biệt [26], nhận
định điều quan trọng nhất khi xây dựng ĐKKT là phải có một khung thể chế, chính sách hiện đại, tương thích với các NĐT muốn kêu gọi Nghĩa là thể chế đưa ra phải được dựa trên đề xuất của các NĐT chiến lược, phù hợp với các quy định của pháp luật Nghiên cứu về phát triển các khu kinh tế mở (KKTM) trên thế giới phân tích đặc điểm hình thành và đánh giá thực trạng việc xây dựng các KKTM, KKTTD ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế (HNKTQT) Tác giả cũng cho rằng trong thời gian qua, ở Việt Nam đã có nhiều khu công nghiệp (KCN), KCX, KKT, nhưng tất cả đều chưa đáp ứng được yêu cầu của một KKTTD, đặc biệt là về vấn đề thể chế Vì vậy, để xây dựng các ĐKKT ở Việt Nam thành công thì cần phải giải quyết 3 vấn đề quan
trọng là: (1) Xây dựng thể chế; (2) Xác định địa điểm, mục tiêu phù hợp và các tuyến phát triển; (3) Kêu gọi và tìm kiếm NĐT
Nguyễn Xuân Thắng (2014), Vấn đề xây dựng đặc khu kinh tế trong
thời đại toàn cầu hóa [32], đã nêu tổng quan vấn đề xây dựng ĐKKT, phân
tích yếu tố cốt lõi trong phát triển KKT là căn cứ vào nhu cầu thực sự của nền kinh tế và xuất phát từ NĐT; Nghiên cứu đã đề xuất các vấn đề về đổi mới thể chế: Tôn trọng các nguyên tắc thị trường, tạo ra một môi trường đầu tư, kinh doanh mang tính quốc tế; Vai trò của chính phủ trong kiến tạo và phục vụ cho
sự thay đổi thể chế; Cơ cấu kinh tế đặc biệt quan tâm đến việc phát huy các yếu tố con người, vị trí địa lý và thể chế; Khả năng tạo lập kết nối, trung chuyển, tham gia vào chuỗi giá trị Tác giả đã kiến nghị một số vấn đề quan trọng như: Đã thí điểm là phải làm bằng được, đến cùng để tạo đột phá; Luật hóa để đảm bảo hành lang pháp lý, tạo cơ chế và khung khổ chung; Vai trò định hướng, quyết định của nhà nước cần rõ nét và quyết đoán; Làm thế nào
Trang 30để có môi trường tốt, thể chế tốt cho các NĐT chiến lược, có thể vào đây làm đại bản doanh và nhất là phải coi đổi mới thể chế chính là tạo đột phá cho phát triển KKT
Đặc biệt, đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp Nhà nước “Xây dựng khu
kinh tế mở ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do Võ Đại
Lược làm chủ nhiệm (2010) đã tiến hành nghiên cứu, phân tích và tổng kết, khái quát các mô hình kinh tế của Trung Quốc và Hàn Quốc Đề tài này đã đánh giá, thể chế và CSHT cho KKT nước ta còn nhiều bất cập là nguyên nhân chính dẫn tới các KKT ven biển của Việt Nam hoạt động kém hiệu quả, nghiên cứu cũng đã đưa ra các kiến nghị cho việc xây dựng mô hình ĐKKT ở Việt Nam [28]
Vương Đình Huệ (2014), Vấn đề xây dựng các đặc khu kinh tế ở Việt
Nam [19], đã đề cập khái quát đến tình hình chung phát triển ĐKKT của nước
ta, một số vấn đề về bối cảnh, cơ hội, thách thức và xu hướng phát triển KKT của nước ta; Xác định tầm quan trọng của việc hoàn thiện thể chế, lựa chọn địa điểm và không gian phát triển KKT, KKTĐB, lựa chọn đối tác chiến lược
có tiềm lực và kinh nghiệm trong phát triển KKT
Ngân hàng Thế giới (2014) trong báo cáo, Nâng cao khả năng cạnh
tranh trong việc phát triển các đặc khu kinh tế khắp nơi trên thế giới [114], đã
đặt vấn đề về phát triển ĐKKT tại Việt Nam, dẫn giải một số kinh nghiệm cụ thể của các nước như Singapore, Ấn Độ,…đề cập các gợi ý cho Việt Nam, quan tâm đến xây dựng kế hoạch, nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu phát triển, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, sự liên kết thành chuỗi giá trị, cải thiện CSHT và nhấn mạnh về vai trò của nhà nước trong phát triển KKT
Bên cạnh những nghiên cứu, bài viết về chủ trương, định hướng, chiến lược phát triển các loại hình KKT tại Việt Nam, những nghiên cứu gần đây chủ yếu tập trung sâu hơn vào việc đúc kết, chia sẻ những kinh nghiệm phát
Trang 31triển KKT tại Việt Nam và các địa phương đang trong tiến trình thành lập các ĐKKT
Đặng Thị Phương Hoa (2011), trong luận án tiến sĩ với đề tài “Thực
tiễn phát triển các khu kinh tế tự do ở một số nước châu Á và gợi ý cho Việt Nam” Tác giả đã phân tích và làm rõ kinh nghiệm xây dựng, phát triển, quản
lý các KKTTD của Ấn Độ và Trung Quốc, qua đó rút ra những bài học cho sự phát triển các ĐKKT ở Việt Nam: Cần chú trọng đến hợp tác công - tư trong huy động vốn và phát triển, trong đó sự tham gia vốn của chính phủ đóng vai trò là bằng chứng cam kết; Có chế độ tuyển dụng theo năng lực làm việc; Có
cơ chế đào tạo, bồi dưỡng, khuyến khích nhân tài; Liên kết doanh nghiệp và viện nghiên cứu, trường đại học; Hiện đại hóa các thể chế về tiền tệ, tài chính, bất động sản, hải quan, đảm bảo sự lưu chuyển tự do, thông thoáng của các dòng tiền tệ, vốn, hàng hóa; Giám sát chặt chẽ từng giai đoạn phát triển của các ĐKKT, đảm bảo không chệch hướng mục tiêu; Có cơ chế hợp tác vùng để các ĐKKT không ngừng mở rộng về quy mô địa lý, lĩnh vực kinh tế, thị trường và nguồn lực [16]
Đào Nhất Đào (2014), trong Những đóng góp lịch sử và chia sẻ bài học
kinh nghiệm của Đặc khu kinh tế Thâm Quyến trong công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc [103], đã phân tích những bài học thành công trong cách
xây dựng, triển khai mô hình Đặc khu kinh tế Thâm Quyến nói riêng, thể chế xây dựng ĐKKT của Trung Quốc nói chung và bài học cho Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh Nghiên cứu này chỉ rõ những kết quả mang tính lịch sử như:
Xây dựng một “thể chế hoàn toàn mới” góp phần phát triển kinh tế xã hội
của Trung Quốc, đó là KTTT xã hội chủ nghĩa (XHCH), từ đó tạo ra cơ chế cho cải cách; thúc đẩy cuộc cách mạng đổi mới quan niệm ảnh hưởng đến hàng tỷ người, thúc đẩy việc hình thành quan niệm phù hợp với KTTT XHCN
và cải cách sáng tạo văn hóa
Trang 32Nghiên cứu của Đan Thu Vân (2015) “Xây dựng các khu kinh tế: Kinh
nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam” giúp các nhà hoạch định và quản lý
Việt Nam lựa chọn và xây dựng được những KKT mang tầm cỡ quốc tế Tác giả cũng chỉ ra được rằng, các KKT là thể chế đặc biệt, nơi tích hợp tối ưu các lợi thế và huy động có hiệu quả các nguồn lực phát triển dưới áp lực cạnh tranh quốc tế và TCH Nghiên cứu một lần nữa khẳng định Việt Nam cũng có nhiều lợi thế và điều kiện để thành lập các KKT [40]
Tác giả Cù Chí Lợi (2013), trong Khu kinh tế tự do: Những vấn đề lý
luận và thực tiễn, cho rằng “Khu kinh tế tự do chỉ có thể thành công nếu hội
tụ đủ ba nhân tố sau: (1) Một hệ thống pháp lý hành chính - kinh tế tiên tiến theo chuẩn quốc tế; (2) Một hệ thống hạ tầng vượt trội của một trung tâm kinh tế lớn của châu lục và khu vực; và (3) Một địa bàn hấp dẫn thu hút các công dân đẳng cấp quốc tế đến sinh sống và làm việc” [25]
Trong Đặc khu kinh tế: Kinh nghiệm của Trung Quốc và đề xuất chính
sách cho Việt Nam của Trịnh Mạnh Linh (2017) cũng chỉ ra rằng, để một
KKT thành công cần phải đảm bảo 7 yếu tố, đó là: (1) Quyết tâm chính trị; (2)
Vị trí địa - kinh tế; (3) Thể chế kinh tế vượt trội; (4) Cơ cấu sản xuất và nguồn nhân lực; (5) Chính sách ưu đãi; (6) Hỗ trợ ban đầu của chính phủ trong xây dựng kết cấu hạ tầng; và (7) Qui mô và lộ trình phát triển Những yếu tố này
có vai trò khác nhau trong sự thành công nhưng chúng bổ sung cho nhau, một KKT càng đạt được nhiều yếu tố thì khả năng thành công càng lớn [24] Cũng
trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng: “Lợi thế cạnh tranh của các KKT hiện
đại ngày nay đang chuyển dần từ chỗ dựa vào các chính sách ưu đãi truyền thống (như ưu đãi về thuế, tiền tệ,…) sang chỗ dựa vào sự vượt trội nhờ hệ thống thể chế có mức độ tự do, tự chủ cao và môi trường kinh doanh thông thoáng” [24]
Luận về quan điểm phát triển các KKT trong nước thời gian qua,
nghiên cứu của Huỳnh Thế Du (2014) “Từ khu kinh tế đến phát triển và liên
Trang 33kết vùng: Tạo đột phá thể chế” cho rằng, các ưu đãi trực tiếp như đất đai hay
thuế khóa gần như đã được sử dụng hết ở các địa phương Nói chung, chẳng còn gì để ưu đãi nữa, cửa gần như đã mở hết Cuộc chạy đua giữa các địa phương trước nay, thực ra giờ đã chạm đáy nên có lẽ không phải đặt ra vấn đề
ưu đãi nữa, mà câu hỏi giờ đây là bước tiếp theo sẽ như thế nào? Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của mô hình các KKT là tạo ra các đột phá, nhất là đột phá hay cải cách về thể chế Có được điều này thì những yếu tố khác thường kéo theo Tuy nhiên, các KKT ở Việt Nam thường chỉ chú trọng đến các lợi ích trực tiếp tính bằng số vốn, số doanh nghiệp, số việc làm, hay doanh số, trong khi các lợi ích mềm hay nhân tố động, đặc biệt là vai trò
“phòng thí nghiệm chính sách” lại chưa được quan tâm [12]
Nguyễn Xuân Thành (2014), trong Thu hút đầu tư và phát triển cơ sở
hạ tầng khu kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế [34], đã phân tích về tăng trưởng
kinh tế của Việt Nam và các địa phương trong thời gian qua, trong đó đề cập đến nhiều yếu tố trong tăng trưởng Nghiên cứu tập trung phân tích hai yếu tố quan trọng quyết định thành công trong mô hình phát triển KKT địa phương:
(1) thu hút đầu tư gắn vào cụm ngành và (2) phát triển CSHT; Trong đó dẫn
giải những kinh nghiệm thành công của một số nước trong khu vực; Cụm ngành du lịch, công nghiệp cơ khí, hóa dầu, đồ gỗ ngoài trời, chế biến thủy sản, chế biến thức ăn gia súc,…Việc thu hút đầu tư trong thời gian tới cần phải gắn vào những cụm ngành mà các địa phương có lợi thế cạnh tranh, thay
vì xúc tiến đầu tư theo hướng bóp méo thị trường; Cùng với đó, phát triển CSHT để làm nền tảng cho việc thu hút đầu tư và các hoạt động sản xuất Ở cấp độ địa phương, việc phát triển cần mang tính chiến lược từng bước với thứ tự ưu tiên bám theo nhu cầu thực tế của NĐT
Kinh nghiệm riêng cho Đặc khu kinh tế Vân Đồn có nghiên cứu của Hà
Tôn Vinh (2014), Kinh doanh thương mại và đầu tư trong đặc khu kinh tế:
Kinh nghiệm các nước và hướng phát triển cho Đặc khu kinh tế Vân Đồn
Trang 34[43], nghiên cứu đưa ra vấn đề mục tiêu thành lập KKT là làm sao tận dụng sản phẩm, nhân lực và lao động địa phương để xuất khẩu, để có nguồn thu tăng ngân sách và làm cho thương mại của địa phương tốt hơn, nghiên cứu
cũng chỉ rõ: “Bốn yếu tố chính để đảm bảo cho việc xây dựng và phát triển
KKT gồm: Vai trò của chính quyền địa phương và chính quyền Việt Nam; Khung pháp lý rõ ràng nhất là luật; Có công trình hạ tầng tối thiểu sân bay, cầu cảng, điện nước,…; Cần có NĐT chiến lược và làm sao để có NĐT chiến lược, vai trò của tư nhân,…”
Đề tài luận án tiến sĩ của Cao Tường Huy (2014) “Kinh nghiệm Đông
Á về phát triển khu kinh tế và bài học cho phát triển Khu kinh tế Vân Đồn”
[21] Trong nghiên cứu này, tác giả đã tổng kết nhiều vấn đề về KKT và phát triển các KKTTD trên thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Á, nghiên cứu đã đưa ra những bài học nhằm phát triển Khu kinh tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh trở thành một ĐKKT có mức độ tự do, tự chủ cao và có khả năng cạnh tranh cao Nghiên cứu một lần nữa khẳng định yếu tố quan trọng có thể giải thích
sự thành công hay thất bại của các KKT ở Đông Á chính là thể chế Ngoài ra, các yếu tố khả năng kết nối của KKT với bên ngoài, quyết tâm chính trị của chính phủ cũng có tác động không nhỏ đến sự thành công của các KKT Chiến lược phát triển các KKT của các quốc gia thực chất là chiến lược cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư nước ngoài Đối với các nền kinh tế ĐPT, sự thu hút được của các NĐT chiến lược có tầm cỡ quốc tế vào đầu tư là yếu tố quyết định đối với sự thành công hay thất bại của các KKT này
Hay nghiên cứu của Lê Hồng Giang (2019), “Đổi mới mô hình phát
triển khu kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế quốc tế”, tác giả đã luận giải các yếu tố tác động đến mô hình phát triển KKT trên
địa bàn một địa phương cấp tỉnh Từ đó đưa ra các phương hướng, quan điểm
và đề xuất các giải pháp đổi mới mô hình phát triển KKT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong HNKTQT [14]
Trang 35Một nghiên cứu lên quan đến phát triển khu Nam TP.HCM với một mô hình nào? Một nghiên cứu khác của Huỳnh Thế Du (2014) cũng cho rằng
“Phát triển Khu Nam Thành phố Hồ Chí Minh gắn với cải cách thể chế và liên kết vùng” thay vì KKTĐB theo kiểu truyền thống Xa hơn nữa, để có thể
tạo ra sự hợp tác và liên kết vùng trong khuôn khổ luật pháp hiện tại,…hay
“Tạo cơ chế và các khuyến khích cần thiết để có thể thu hút được những người có khả năng tham gia và phát huy được tinh thần khởi nghiệp, tinh thần sáng tạo của họ” [12]
Tiếp cận theo quan điểm phát triển KKT trong bối cảnh TCH và hội
nhập hiện nay, tác giả Cù Chí Lợi cho rằng: “Mặc dù các KKT truyền thống
có thể tạo ra một số hấp dẫn, nhưng trong bối cảnh TCH, mô hình này khó có thể tạo ra những đột phá phát triển cho nền kinh tế” Tác giả cho rằng, để tạo
ra “đầu tàu” tăng trưởng cho nền kinh tế, KKTTD ở Việt Nam cần phải được
xây dựng trên một cách tiếp cận mới - như một trung tâm kinh tế của khu vực
và châu lục, dựa trên những lợi thế riêng có của nó cùng với một cơ chế cởi
mở, thông thoáng [25]
Để xác định một mô hình KKT nào phù hợp đối với Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay, tác giả Cù Chí Lợi (2013) cho rằng: “Tiến trình hội nhập
kinh tế toàn cầu đang san lấp toàn bộ những khoảng trống chính sách và vì vậy tương lai cũng như số phận của các KKT đang bị đặt nhiều dấu hỏi Các công cụ thuế quan và phi thuế quan không còn nhiều tác dụng, các chính sách
ưu đãi tạo dựng các “thiên đường doanh nghiệp” cũng trở thành khá phổ thông, các KKT đang “tràn lan” khắp các nền kinh tế Trong bối cảnh đó, nhiều câu hỏi đặt ra cho chiến lược xây dựng KKTTD của Việt Nam rằng, liệu mô hình KKTTD áp dụng xưa nay còn hữu hiệu trong bối cảnh TCH hay không?; Mô hình KKTTD trong bối cảnh TCH sẽ như thế nào?; Và đặc biệt
là Việt Nam có thể xây dựng KKTTD được hay không?” [25]
Trang 36Nhìn chung, đối tượng và mục tiêu của các nghiên cứu liên quan đến đề
tài xây dựng và phát triển KKT trong nước thời gian qua rất đa dạng, các nghiên cứu trong nước có tham khảo kinh nghiệm xây dựng và phát triển KKT từ các quốc gia có điều kiện chính trị, kinh tế, và điều kiện phát triển tương đồng với Việt Nam như: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Malaysia,…Về nội dung nghiên cứu, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào định hướng, chính sách, thể chế, hay xây dựng mô hình nào cho KKT
Theo quan điểm của một số tác giả, những ưu đãi truyền thống trước đây đã quá cao và không còn phù hợp, thay vào đó là những đổi mới nhằm tăng cường độ tự chủ cho KKT Các nghiên cứu ban đầu cũng chỉ ra được những điều kiện cần để một KKT thành công, đó là: Sự lựa chọn vị trí xây dựng là yếu tố quyết định ban đầu của sự thành công; Phải có kế hoạch tốt, bao gồm cả kế hoạch xây dựng, phát triển, vận động quảng cáo, xây dựng thể chế,…; Đảm bảo tốt về CSHT, dịch vụ; Xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn, chi phí thấp; Vận hành quản lý nhanh nhạy, gọn nhẹ; Thực hiện tốt liên kết với nội địa Ngoài ra, các nghiên cứu cũng xem sự ủng hộ chính trị mạnh mẽ
từ chính phủ như là một yếu tố quyết định sự thành công của một KKT
1.4 Đánh giá khái quát các nghiên cứu trước
1.4.1 Những vấn đề đã được thống nhất
Qua tổng quan những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây có những nội dung liên quan đến những khái niệm, loại hình, vai trò KKT; Kinh nghiệm phát triển KKT các quốc gia châu Á; và Chủ trương, định hướng và kinh nghiệm phát triển KKT tại Việt Nam Mỗi đề tài, mỗi công trình nghiên cứu, mỗi bài viết có những góc độ tiếp cận khác nhau nhưng cơ bản đều đã thống nhất một số quan điểm như:
(i) KKT trên thế giới đã tồn tại lâu đời, qua nhiều loại hình phát triển,
và các KKTTD ngày nay được xem là một hình thức của KKT hiện đại Các KKTTD ngày nay không chỉ đơn thuần là khu vực chỉ tập trung cho sản xuất,
Trang 37thương mại mà nó có nội hàm rộng lớn hơn, là một khu vực được áp dụng thể chế kinh tế và hành chính đặc biệt để tạo ra một môi trường kinh doanh, môi trường sống hấp dẫn thu hút nguồn lực phục vụ cho tăng trưởng
(ii) Phát triển KKT đã và đang là một xu thế chung của các quốc gia
trên thế giới, đặc biệt là các nền kinh tế ĐPT Phát triển các KKT là một chính sách quan trọng trong cải cách, hội nhập và phát triển của các chính phủ, các chính quyền địa phương Tuy nhiên, việc phát triển các KKT đối với mỗi quốc gia, mỗi địa phương có thể có những mục tiêu cụ thể khác nhau như: Thí điểm cải cách, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chuyển giao công nghệ, tạo việc làm, hay tham gia sâu hơn vào mạng sản xuất khu vực và toàn cầu,… Nhìn chung, cho dù xuất phát từ mục tiêu gì, cuối cùng đều hướng tới mục tiêu chung là hội nhập, cải cách và phát triển
(iii) Quá trình phát triển các KCN, KKT tại các địa phương ở nước ta
trong thời gian qua là cần thiết, là đúng đắn, ảnh hưởng tích cực trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giảm nghèo Tuy nhiên, trong thời gian qua các KCN, KKT vẫn còn một số hạn chế nhất định như: Hàm lượng công nghệ còn thấp, tính phù hợp về ngành nghề trong cơ cấu đầu tư chưa cao; Các địa phương và chủ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN vẫn ưu tiên tập trung thu hút đầu tư lấp đầy KCN; Tính liên kết ngành của các doanh nghiệp, công nghiệp phụ trợ trong các KCN, KKT còn yếu,…
(iv) Điều kiện đảm bảo sự thành công của một KKT đó là: Lựa chọn vị
trí xây dựng thích hợp là yếu tố tiền đề của sự thành công; Phát triển KKT phải xây dựng được một thể chế đủ mạnh với những điểm vượt trội, có một
kế hoạch tốt, bao gồm cả kế hoạch xây dựng, phát triển, vận động quảng cáo; KKT phải đảm bảo là một môi trường đầu tư hấp dẫn, chi phí thấp; Vận hành quản lý KKT cần nhanh nhạy, gọn nhẹ; KKT phải được đảm bảo tốt về CSHT, dịch vụ; và Thực hiện tốt liên kết với nội địa Ngoài ra, các nghiên cứu cũng xem sự ủng hộ chính trị mạnh mẽ từ chính phủ cùng với sự tham gia của khu vực tư nhân như là một yếu tố quyết định nên sự thành công
Trang 381.4.2 Những vấn đề chưa được giải quyết
Các đề tài, công trình nghiên cứu về KKT trong và ngoài nước trước đây có những góc độ tiếp cận khác nhau Các nghiên cứu này còn những vấn
đề chưa được giải quyết hay khoảng trống trong nghiên cứu như sau: (1)
Chưa có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về xây dựng và phát triển một KKT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM)
(2) Những nghiên cứu xây dựng và phát triển KKT trước đây phần nhiều
mang tính ứng dụng thực tiễn hơn là tổng kết thực tiễn để xây dựng thành một
khung lý thuyết hoặc thiết kế mô hình (3) Chưa có nghiên cứu mô hình xây
dựng và phát triển KKT cho một tỉnh/thành như TP.HCM
Nhìn chung, các nghiên cứu về KKT và phát triển KKT ở Việt Nam
hiện nay rất phong phú, đa dạng Các nghiên cứu tổng thể, đi sâu về lý luận và đánh giá kinh nghiệm quốc tế thì ít gắn với việc áp dụng cụ thể vào Việt Nam, trong đó có Khu kinh tế Nam TP.HCM Ngược lại, một số nghiên cứu đánh giá thực trạng các KKT ở Việt Nam thì có các kiến nghị chính sách thì ít căn
cứ vào cơ sở lý luận và tham khảo kinh nghiệm quốc tế Những nghiên cứu gần đây chưa đề cập sâu về kinh nghiệm các quốc gia châu Á khi phát triển các KKT cụ thể: Quyết định thời điểm, loại hình KKT tương ứng với giai đoạn phát triển của quốc gia; Vị trí, qui mô, ngành nghề thu hút đầu tư vào KKT phù hợp với từng mô hình; Kinh nghiệm quản lý, vận hành một KKT với xây dựng chính sách, thể chế đặc thù,…có thể khái quát cho việc hình thành, xây dựng và phát triển một KKT cụ thể ở Việt Nam
Từ đó, những vấn đề cần đặt ra để tập trung tiếp tục giải quyết: (1) Hệ
thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển KKT trong điều kiện, tình
hình hiện nay (2) Phân tích và đánh giá thực trạng khả năng phát triển một KKT trên địa bàn phía Nam TP.HCM (3) Đề xuất định hướng, mô hình,
phương thức, và giải pháp xây dựng và phát triển Khu kinh tế Nam TP.HCM trong tình hình hiện nay
Trang 391.5 Những hướng nghiên cứu tiếp tục của Luận án
Xuất phát từ những vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết liên quan đến
đề tài xây dựng và phát triển KKT, Luận án đặt mục tiêu sẽ hệ thống hóa lại một số lý thuyết cơ bản về KKT, về xây dựng và phát triển KKT, tập trung nghiên cứu sâu, một cách có hệ thống các mô hình KKT hiện đại của một số quốc gia châu Á Luận án không chỉ dừng lại ở việc tổng kết kinh nghiệm mà
sẽ đưa ra các kiến nghị có tính định hướng cho việc thành lập một KKT cụ thể tại khu vực phía Nam TP.HCM trên cơ sở tham khảo và vận dụng các kinh nghiệm đó
Để thực hiện nhiệm vụ trên, Luận án phải trả lời các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Để xây dựng thành công một KKT, các quốc gia châu Á đã tạo những điều kiện nào?
- Các quốc gia châu Á đã làm gì và làm như thế nào để xây dựng và phát triển thành công các KKT?
- So sánh với kinh nghiệm của các quốc gia châu Á, làm rõ xem khu vực phía Nam TP.HCM đã có những điều kiện nào để có thể xây dựng thành công một KKT?
- Thành phố Hồ Chí Minh cần phải làm gì để tạo dựng và bổ sung thêm những điều kiện, tiền đề cần thiết để xây dựng thành công một KKT tại khu vực phía Nam trong thời gian tới?
Trang 40Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG
VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU KINH TẾ
2.1 Cơ sở lý luận phát triển khu kinh tế
2.1.1 Khái niệm khu kinh tế
Cho đến nay, một khái niệm KKT có nội dung bao quát nhất đã được
thể hiện trong nghiên cứu của Grube H, G (1984), “KKT là một khu vực
địa lý xác định mà các hoạt động kinh tế trong đó không phải áp dụng những quy định điều tiết và thuế của chính phủ như đang áp dụng chung cho toàn nền kinh tế quốc dân” [71]
Theo quan điểm của Madani, D (1999), KKT là một khu vực có ranh giới rõ ràng, khép kín, như là một khu vực thuế quan, có các lợi thế về địa
lý, có các hệ thống CSHT phù hợp cho các hoạt động thương mại và công nghiệp và có các nguyên tắc về thuế khóa đặc thù [92]
Còn theo quan điểm của Aggarwal, Aradhna (2007), KKT được giới hạn là vùng công nghiệp được hưởng một số chính sách ưu đãi đặc biệt
nhằm “sản xuất hướng ra xuất khẩu” [46]
Tương tự các quan điểm trên, trong báo cáo của WB năm 2008 cũng cho rằng: KKT là KCN khép kín, chuyên sản xuất để xuất khẩu và tạo cho các công ty ở đây những điều kiện về tự do thương mại và môi trường pháp
lý tự do [110]
Nhìn KKT với góc độ có sự khác biệt thì Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) xác định KKT là KCN có những ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, các nguyên vật liệu nhập khẩu vào KKT được qua một số công đoạn chế biến trước khi được tái xuất khẩu [83]
Trong một nghiên cứu của mình, Guang-wen, Meng (2003) đã tổng kết cho đến nay có không ít hơn 60 thuật ngữ được dùng để chỉ khái niệm