Theo tổng kết tiêu chuẩn của một số nước cho thấy, một công ty hoạt động đầu tư chiếm ít nhất 10% hoặc 25% sở hữu tài sản của một công ty nước ngoài thì đầu tư đó có thể được xếp vào hạn
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình toàn cầu hoá đang thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nướcvào nền kinh tế thế giới và khu vực Có thể nói, hiện nay hầu như không có quốcgia nào đứng ngoài quá trình hội nhập quốc tế nếu không muốn tự cô lập mình vàrơi vào nguy cơ tụt hậu Với truyền thống lịch sử lâu đời và nền văn hoá đậm đàbản sắc dân tộc, cộng thêm vị trí địa lý quan trọng ở Đông Nam Á, Việt Nam cóthể giúp EU rất nhiều trong việc mở rộng và đẩy mạnh mối quan hệ cần thiết đốivới Việt Nam trong ngưỡng cửa của thế kỷ mới, nhất là trong nền kinh tế tri thứchiện nay
Xu thế hiện nay của thế giới là tự do hoá thương mại và đầu tư, trong đóđầu tư trực tiếp nước ngoài là một hoạt động có vị trí ngày càng quan trọng đốivới cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Khai thác sử dụng ĐTNN một cách
có hiệu quả đang là mục tiêu ưu tiên hàng đầu của nhiều nước trên thế giới, nhất
là đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987,không ai có thể phủ nhận những đóng góp to lớn mà nguồn vốn này đã mang lạicho sự phát triển kinh tế ở Viêt Nam Nói cách khác, Việt Nam không thể thiếunguồn vốn này cho sự phát triển kinh tế nếu muốn hoà nhập vào nền kinh tế thếgiới và không muốn tụt hậu
Sau hàng loạt sự kiện xảy ra trong thập kỷ 90, đặc biệt là sự sụp đổ của cácnước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô cũ và cuộc khủng hoảng tài chính -tiền tệ Châu Á năm 1997, nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng hụt hẫng domất đi các thị trường truyền thống và sự suy giảm của các hoạt động kinh tế đốingoại Do đó, xuất hiện một yêu cầu mới là cần phải thường xuyên mở rộng vànâng cao hiệu quả quan hệ hợp tác, đầu tư với các nước trên thế giới, nhất là vớinhững nước phát triển cao, có công nghệ kỹ thuật tiên tiến như các nước EU Tuynhiên, cho đến nay dù các nhà đầu tư EU đã có nhiều dự án đầu tư lớn ở ViệtNam với 2 nước thành viên là Pháp và Hà Lan đứng trong top 10 nhà đầu tư lớn
Trang 2nhất ở Việt Nam, nhưng về tài chính cũng như kỹ thuật, lượng vốn đầu tư trựctiếp mà họ đưa vào Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng đầu tư trực tiếpcủa EU vào Việt Nam, phân tích những thành công cũng như trở ngại của hoạtđộng này không những sẽ giúp chúng ta hình dung đầy đủ hơn bức tranh ĐTNN
ở Việt Nam hiện nay, mà còn góp phần cung cấp những hiểu biết để đưa ranhững chính sách, kiến nghị góp phần tích cực vào việc thúc đẩy hơn nữa hoạtđộng này Đây sẽ là những căn cứ quan trọng để hoạch định chính sách kinh tếđối ngoại của Việt Nam với các nước thành viên EU
Với những lý do đó, đề tài “Giải pháp thu hút FDI của EU vào Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010” được chọn làm luận văn tốt nghiệp Bài viết được
thực hiện theo các phương pháp sau : phương pháp phân tích tổng hợp, phươngpháp so sánh, phương pháp quy nạp và diễn giải, phương pháp thống kê và môtả…
Luận văn được kết cấu thành 3 chương :
Chương I : Vốn FDI và vấn đề thu hút vốn FDI phát triển kinh tế Việt Nam
Chương II : Thực trạng thu hút FDI của EU vào Việt Nam giai đoạn 1988 –2004
Chương III : Giải pháp thu hút FDI của EU vào Việt Nam giai đoạn 2006 –
2010
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của GS.TS Vũ Thị NgọcPhùng, ThS Nguyễn Quỳnh Hoa, cùng các chuyên viên của Cục Đầu tư nướcngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong quá trình hoàn thành luận văn này
CHƯƠNG I :
Trang 3VỐN FDI VÀ VẤN ĐỀ THU HÚT FDI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VIỆT NAM
I/ Một số lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam
1 Khái niệm và phân loại đầu tư nước ngoài
1.1 Khái niệm về đầu tư nước ngoài (ĐTNN)
Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực nhằm sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Kết quả hoạt động đầu tư là sự tăng lên về giá trị của tài sản hữu hình hoặc
vô hình Kết quả này không chỉ chủ đầu tư mà còn cả nền kinh tế được thụ
hưởng
Vốn đầu tư là những tài sản Trên giác độ quốc gia, nguồn vốn đầu tư đượcchia làm hai loại là nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Do đó, hoạt động đầu tư cũng được phân chia thành hai hình thức cơ bản là đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước
ĐTNN là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hànhsản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận hoặc những mục tiêu phát triển khác
Về bản chất, ĐTNN là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung và
hỗ trợ nhau trong chiến lược thâm nhập chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn nước ngoài hiện nay
Hoạt động ĐTNN diễn ra ngày càng mạnh mẽ cả về quy mô lẫn tốc độ Cónhiều nguyên nhân tạo ra sự vận động của các dòng vốn trên thế giới Sau đây là một số nguyên nhân trực tiếp :
Thứ nhất, sự phát triển không đều về lực lượng sản xuất của các quốc gia
đã tạo ra những lợi thế khác biệt của mỗi nước Nhằm đạt được lợi ích cao nhất,
sự kết hợp lợi thế để tăng cường phát triển đã hình thành nên những quan hệ về đầu tư nói riêng và các quan hệ quốc tế nói chung
Trang 4Thứ hai, xu thế bảo hộ mậu dịch ngày càng gia tăng và tinh xảo nhằm vào
bảo hộ nền sản xuất trong nước Để vượt qua hàng rào bảo hộ này đầu tư trực tiếp là phương án hữu hiệu
Thứ ba, quy mô tích luỹ của các nước phát triển rất lớn, giá cả của lao
động và các yếu tố đầu vào khác rất cao làm giảm tỷ suất lợi nhuận Mặt khác, nhiều sản phẩm ở các nước này trở nên lỗi thời được các nhà tư bản chuyển qua các nước đang phát triển để sản xuất và tiêu thụ Việc sản xuất tại các nước đang phát triển không những giúp vượt qua hàng rào bảo hộ mà còn giúp các nhà tư bản tiết kiệm được chi phí về tài nguyên, lao động và mở rộng thị trường tiêu thụ
Thứ tư, các nước đang phát triển gặp khó khăn trong việc huy động vốn
cho phát triển kinh tế do tích luỹ nội bộ còn hạn chế Để phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH – HĐH) cần một lượng vốn đầu tư rất lớn Huy động vốn nước ngoài là giải pháp hiệu quả, không những rút ngắn thời gian phát triển mà còn tạo động lực cho sự tăng trưởng Chính phủ của các nước này đưa ra nhiều chính sách khuyến khích ĐTNN, chủ động thu hút các nguồn vốn từbên ngoài Những biện pháp đó đã tạo nhiều cơ hội bỏ vốn đầu tư, hấp dẫn các nhà ĐTNN
1.2 Phân loại đầu tư nước ngoài
ĐTNN được chia thành hai hình thức đầu tư : Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Đây là cách phân loại ĐTNN cơ bản theo mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn
1.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
FDI là hoạt động chủ yếu của ĐTNN, theo đó chủ ĐTNN đóng góp một sốvốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư Trong trường hợp này, quyền sử dụng vốn thống nhất với quyền sở hữu vốn Quyền lợi và nghĩa vụ tương xứng với tỷ lệ vốn góp
- Xét trên khía cạnh quyền sở hữu : FDI là một loại hình ĐTNN được thựchiện khi quyền sử dụng gắn liền với quyền sở hữu tài sản đầu tư Để nhận biết ĐTNN có phải là đầu tư trực tiếp hay không, mỗi nước đều đưa ra tiêu chuẩn xácđịnh riêng Ví dụ ở Mỹ, FDI bao gồm tất cả các dạng đầu tư, từ đầu tư chứng
Trang 5khoán đến cho vay, với điều kiện là công ty đầu tư phải nắm giữ hơn 10% sở hữutài sản của một công ty nước ngoài Theo tổng kết tiêu chuẩn của một số nước cho thấy, một công ty hoạt động đầu tư chiếm ít nhất 10% hoặc 25% sở hữu tài sản của một công ty nước ngoài thì đầu tư đó có thể được xếp vào hạng đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Xét trên khía cạnh cán cân thanh toán, FDI thường được hiểu là phầntăng thêm trên giá trị sổ sách của lượng đầu tư ròng ở một quốc gia được thựchiện bởi các nhà ĐTNN, đồng thời các nhà đầu tư này cũng chính là những người
sở hữu chính và nắm giữ quyền kiểm soát quá trình đầu tư đó
- Trên thực tế phần lớn FDI được thực hiện dưới dạng các công ty conhoặc các công ty trực thuộc các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và nhà đầu tư lànhững tổ chức chóp bu của các công ty này Một điều đáng lưu ý là ngày nayFDI còn được thực hiện bởi các công ty nhỏ và vừa Tuy nhiên, TNCs vẫn giữ
vai trò chủ đạo trong quá trình này Do đó, FDI có thể được hiểu là sự mở rộng
phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của TNCs trên phạm vi quốc tế Sự mởrộng đó bao gồm sự chuyển giao vốn, công nghệ, và các kỹ năng sản xuất và bíquyết quản lý tới nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện quá trình sản xuất kinhdoanh theo kế hoạch của dự án đầu tư
- Theo Điều 2 Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1996 : “FDI là việc nhàĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào để tiếnhành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”
Hình thức đầu tư này có một số đặc điểm cơ bản sau :
Thứ nhất, đây là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư
tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗlãi Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có nhữngràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế
Thứ hai, chủ ĐTNN điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanhtuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình Đối với nhiều nước trong khu vực, chủ đầu tưchỉ được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vựcnhất định và chỉ được tham gia bên liên doanh với số vốn cổ phần của bên nước
Trang 6ngoài nhỏ hơn hoặc bằng 49% ; 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ.Trong khi đó, Luật ĐTNN của Việt Nam cho phép rộng rãi hơn đối với hình thức100% vốn nước ngoài và quy định bên nước ngoài phải góp tối thiểu 30% vốnpháp định của dự án.
Thứ ba, thông qua FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ
thuật tiên tiến học hỏi kinh nghiệm quản lý… là những mục tiêu mà các hìnhthức đầu tư khác không giải quyết được
Thứ tư, nguồn vốn đầu tư này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của
chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà trong quá trình hoạt động, nó cònbao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũngnhư vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được
Ở Việt Nam, hình thức FDI chủ yếu là xây dựng mới Với một đất nướccòn nghèo nàn lạc hậu như Việt Nam, hình thức này phát huy nhiều ưu thế vàđược khuyến khích của chính phủ theo quy định của pháp luật
Hiệu quả tài chính của việc sử dụng vốn FDI thường rất cao So với việc
sử dụng vốn đầu tư gián tiếp, ở Việt Nam, chủ yếu là vốn ODA, hiệu quả trongquá trình sử dụng vốn FDI là thách thức đối với chính phủ và các cơ quan nhànước trong việc sử dụng vốn ODA Có nhiều lý do dẫn đến sự khác nhau trongviệc sử dụng vốn Lý do thứ nhất là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ đầu tưcho những dự án có độ tin cậy về tính hiệu quả cao dựa theo kinh nghiệm dàydạn trên thương trường của họ Lý do thứ hai là chủ sở hữu vốn trong hoạt độngFDI cũng chính là đối tượng thụ hưởng còn trong hoạt động đầu tư gián tiếp, đốitượng thụ hưởng trực tiếp từ dự án không phải là chủ đầu tư Những lý do đó tạonên tâm lý sợ trách nhiệm, phó mặc trong hoạt động đầu tư gián tiếp, hậu quả làtính hiệu quả kinh tế xã hội không cao
Bên cạnh những ưu điểm nổi bật trên, hình thức chuyển giao vốn này chứađựng khả năng các doanh nghiệp có vốn nước ngoài trở thành lực lượng thống trịnền kinh tế bản địa Trường hợp này xảy ra khi việc kiểm soát và điều tiết củachính phủ nước chủ nhà với hoạt động FDI lơi lỏng Việc cạnh tranh trong thuhút vốn FDI buộc chính phủ các nước có những biện pháp nới lỏng quản lý Khi
đó, khả năng chuyển giao công nghệ cho nước chủ nhà sẽ không được thực hiện
Trang 7theo mong muốn của nước chủ nhà, đặc biệt là với các doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài.
Muốn khắc phục được những hạn chế trên, nước chủ nhà cần có đội ngũcác nhà quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi để tiếp nhận và quản lý vốn FDI.Kinh nghiệm phát triển của các nước Đông Á cho thấy, vốn FDI có vai trò trongquá trình tăng trưởng thần kỳ của họ Có nghĩa là vấn đề về hiệu quả sử dụng vốntuỳ thuộc vào cách huy động và quản lý sử dụng vốn ở nước tiếp nhận chứ khôngchỉ phụ thuộc vào ý đồ của nhà ĐTNN
Như vậy, FDI với tư cách là phương thức hoạt động chủ đạo của TNCskhông chỉ đơn thuần là sự chu chuyển tài chính quốc tế, mà cùng với nó là sựchuyển giao công nghệ và các tài sản vô hình khác Về thực chất, đây chính lànhân tố tạo nên sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong dài hạn
1.2.2 Đầu tư gián tiếp (FPI)
Đầu tư gián tiếp là một hình thức của ĐTNN, trong đó chủ sở hữu vốnkhông trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn đầu tư
Loại hình đầu tư này có hai phương thức thực hiện là cho vay và viện trợ.Cho vay được thực hiện qua hai dạng là vay với lãi suất thường và vay ưu đãi.Vốn từ hình thức vay ưu đãi và vốn viện trợ không hoàn lại là bộ phận cầu thànhvốn phát triển chính thức (ODA)
Đầu tư gián tiếp có 5 đặc điểm cơ bản sau :
- Vốn của các tổ chức quốc tế, chính phủ nước ngoài thường có ưu đãi vàmột số ràng buộc nhất định, thông thường tài trợ qua hình thức ODA Mục tiêucủa chủ đầu tư chủ yếu là nâng cao mức sống của nhân dân bằng việc đầu tư pháttriển kết cấu hạ tầng, nâng cao dân trí, sức khoẻ, bảo vệ môi trường…
- Vốn của tư nhân tập trung vào việc cho vay, đầu tư chứng khoán Thôngthường, việc đầu tư cho cổ phần bị ràng buộc bởi tỷ lệ vốn góp
- Chủ đầu tư nước ngoài không trực tiếp điều hành hoạt động của cácdoanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, do đó bên tiếp nhận đầu tư có toàn quyền chủđộng hoàn toàn trong kinh doanh
Trang 8- Chủ ĐTNN thu lợi nhuận qua lãi suất cổ phiếu không cố định, tuỳ thuộcvào kết quả kinh doanh.
- Tuy doanh nghiệp đầu tư không có khả năng, cơ hội tiếp thu công nghệ,
kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm quản lý nhưng thay vào đó, doanh nghiệp có khảnăng phân tán rủi ro kinh doanh trong những người mua cổ phiếu, trái phiếudoanh nghiệp Do đó mà chủ đầu tư ít chịu sự rủi ro hơn hình thức FDI
Kết quả của hoạt động đầu tư gián tiếp là bước chuẩn bị quan trọng choviệc thu hút và sử dụng hiệu quả vốn FDI
Bên cạnh đó, đầu tư gián tiếp cũng có những nhược điểm nhất định :
- Nước nhận vốn đầu tư có thể sử dụng sai mục đích, hiệu quả sử dụng vốnkhông cao hoặc sử dụng lãng phí để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ sau
- Với các hình thức mua cổ phần, chủ đầu tư bị hạn chế ở tỷ lệ cổ phầnđược phép sở hữu đã làm giảm khả năng thu hút vốn
- Nước nhận vốn không tiếp thu được công nghệ và kinh nghiệm quản lý.Với các nước đang phát triển (LDCs), vốn ODA có vai trò to lớn trongviệc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành năng lượng, góp phầngiải quyết tình trạng đói nghèo, lạc hậu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụngcác nguồn vốn khác Vấn đề đặt ra đối với các LDCs và các tổ chức tài trợ là việc
sử dụng hiệu quả phục vụ mục tiêu phát triển
2 Các hình thức FDI tại Việt Nam
Luật ĐTNN Việt Nam quy định 3 hình thức FDI vào Việt Nam như sau :
2.1 Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hoặc nhiều bên hợp tácthành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định giữa chínhphủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài; hoặc do doanh nghiệp liên doanh haydoanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hợp tác với các doanh nghiệp khác hoặc chủĐTNN trên cơ sở hợp động liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo mô hình công ty trách nhiệmhữu hạn Mỗi bên chịu trách nhiệm tương xứng với tỷ lệ vốn góp trong liên
Trang 9doanh Doanh nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân và được hoạt động từ khi
có giấy phép đầu tư
Vốn pháp định của liên doanh ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư Đối vớinhững doanh nghiệp hoạt dộng trong lĩnh vực chính phủ khuyến khích đầu tư, tỷ
lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn đầu tư
Tỷ lệ đóng góp của bên nước ngoài do các bên thoả thuận nhưng khôngthấp hơn 30% vốn pháp định của liên doanh Những lĩnh vực chính phủ khuyếnkhích đầu tư , tỷ lệ này có thể thấp hơn nhưng không dưới 20% vốn pháp định
2.2 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữucủa nhà ĐTNN lập tại Việt Nam, tự tổ chức quản lý và chịu trách nhiệm về kếtquả hoạt động kinh doanh của mình
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), mang tư cách pháp nhân Việt Nam
Vốn pháp định của doanh nghiệp ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư; trừtrường hợp đầu tư vào những vùng khó khăn tỷ lệ này có thể thấp đến 20% vốnđầu tư
Trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định, tăng vốn phápđịnh phải xin phép
2.3 Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa 2 bên hoặc nhiều bênquy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hànhđầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân
Thực hiện chính sách khuyến khích ĐTNN tại Việt Nam, Luật ĐTNN vàcác luật chuyên ngành quy định nhiều hình thức của hợp đồng hợp tác kinhdoanh Nhà ĐTNN có thể lựa chọn cách đầu tư phù hợp nhất, đó là :
- Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT) : là văn bản ký
kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với các nhà ĐTNN đểxây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian xác định
Trang 10Hết thời hạn, nhà ĐTNN chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhànước Việt Nam.
- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao – kinh doanh (BTO) : là văn bản ký
kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam với nhà ĐTNN để xâydụng công trình kết cầu hạ tầng, sau khi xây dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giaocông trình đó cho nhà nước Việt Nam, chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tưquyền kinh doanh công trình đó trong một thời gian xác định để thu hút vốn vàlợi nhuận hợp lý
- Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) : là văn bản ký kết giữa cơ quan
nhà nước có thẩm quyền với nhà ĐTNN để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng.Sau khi xây dựng xong, nhà ĐTNN chuyển giao công trình đó cho nhà nước ViệtNam, chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác đểthu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
- Hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC) : là văn bản ký kết giữa pháp
nhân Việt Nam với nhà ĐTNN để xây dựng các công trình nhằm tìm kiếm vàkhai thác dầu mỏ và các khoáng sản theo uỷ quyền của chính phủ, nếu phát hiệndầu mỏ hay khoáng sản thì được phép liên kết với cơ quan nhà nước có thẩmquyền hoặc các pháp nhân kinh tế được uỷ quyền khai thác và phân chia sảnphẩm trong khoảng thời gian xác định theo hợp đồng
Các hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh tại Việt Nam ngày càng đadạng đảm bảo tính thông thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm tạo điềukiện thu hút ngày càng nhiều và sử dụng có hiệu quả vốn FDI tại Việt Nam
II/ Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam :
1 Quan điểm của Việt Nam trong việc thu hút vốn FDI phát triển kinh tế :
1.1 Đánh giá đúng vị trí quan trọng của vốn FDI trong nền kinh tế quốc dân
Vốn FDI là bộ phận quan trọng trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội VốnFDI không thể thay thế các nguồn vốn khác nhưng có thế mạnh riêng của nó Rõràng vốn FDI khác với vốn ODA là không gây ra tình trạng nợ nần cho các thế
hệ sau Trong quan hệ làm ăn với các đối tác nước ngoài, hai bên cùng có lợi và
Trang 11cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp là nguyên tắc cơ bản Trong quá trình thuhút vốn FDI cần tránh những quan điểm sai lầm sau :
Thứ nhất, coi nhẹ thậm chí lên án hoạt động FDI như là nhân tố có hại cho
nền kinh tế độc lập tự chủ Vì lo sợ nguồn vốn này là nguyên nhân gây chệchhướng xã hội chủ nghĩa tạo nên tâm lý trên ở một số cán bộ cao cấp của nhànước, gây khó khăn trong việc thu hút vốn FDI vào Việt Nam Mọi vấn đề đều cótính hai mặt, nếu chỉ nhìn thấy mặt hại mà không thấy mặt lợi của hoạt động FDI
là điều cần phê phán Thu hút nguồn vốn này là nhu cầu bức bách cho phát triểnkinh tế
Thứ hai, ảo tưởng về tính màu nhiệm của vốn FDI, gán cho nó vai trò tích
cực tự nhiên, bất chấp điều kiện bên trong của đất nước, tách rời những cố gắngcải thiện môi trường đầu tư Mặc dù nhiều nước trên thế giới đã coi nguồn vốnnày như là chìa khoá vàng cho tăng trưởng kinh tế Ngay cả các nước có trình độphát triển cao như Mỹ, EU vẫn cần vốn FDI Nhưng không vì ỷ lại vốn FDI màkhông khai thác tốt các lợi thế bên trong
1.2 Quan điểm “mở” và “che chắn” trong chính sách thu hút FDI :
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, mục tiêu của việc thu hútFDI có đạt được hay không, còn phụ thuộc vào vấn đề đảm bảo an ninh, chínhtrị, kinh tế và xã hội Để giải quyết mối quan hệ này phải bắt đầu từ cách đặt vấn
đề an ninh kinh tế, chính trị trong quá trình thu hút vốn FDI
Trong một số trường hợp, vì lợi ích tối đa lợi nhuận, các chủ đầu tư hỗ trợtối đa cho việc thực hiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đồngđều các vùng, áp dụng công nghệ tiên tiến, khai thác hơp lý tài nguyên, bảo vệmôi trường Nhưng một số nhà ĐTNN đã lợi dụng sự yếu kém của chính phủ cácLDCs về năng lực quản lý, những sơ hở của hệ thống pháp luật để kiếm lời bấtchính
Thời đại ngày nay, trong các mối quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ đầu
tư trực tiếp với nước ngoài, nguyên tắc bình đẳng hai bên cùng có lợi là yêu cầukhách quan Do đó, vần đề an ninh được đặt ra và trở nên quan trọng cho cả haiphía Đối với các nước tiếp nhận vốn cần có an ninh chính trị, kinh tế khôngnhững phục vụ cho sự phát triển kinh tế, mở rộng quy mô thu hút vốn FDI mà
Trang 12còn giữ vững độc lập chủ quyền, bảo vệ bản sắc dân tộc, giữ vững định hướngchính trị.
Do đó, mở cửa hội nhập quốc tế nhưng không quên những biện pháp chechắn cần thiết Tư tưởng trên chi phối toàn bộ tinh thần Luật ĐTNN tại ViệtNam Một “hành lang” dù có rộng rãi đến đâu vẫn có khuôn khổ của nó Bêncạnh những điều khoản thông thoáng có tính chất khuyến khích ĐTNN, thường
có những quy định mang tính che chắn
Vấn đề đặt ra trong thi hành Luật ĐTNN tại Việt Nam là không để phíanước ngoài lợi dụng sự rộng rãi để vượt qua khuôn khổ Mặt khác, cũng không vìnhững biện pháp che chắn để đặt ra quá nhiều sự ràng buộc chồng chéo làm giảmsức hấp dẫn về môi trường đầu tư của nền kinh tế với các nhà ĐTNN Rộng rãihay che chắn, đầu tư phải tính tới lợi ích của hai phía theo nguyên tắc bình đẳng
Phù hợp với tương quan về nhu cầu và khả năng mỗi bên
Có tính đến những điều kiện về môi trường đầu tư, bảo đảm pháthuy có hiệu quả thế mạnh của mỗi bên Trong đó, điều quan trọng nhất đối vớichủ ĐTNN là vốn được bảo đảm và có lợi nhuận
Nhằm thực hiện những yêu cầu trên, trong quá trình triển khai dự án FDIphải chú ý tới những khả năng dẫn tới mâu thuẫn trong nội bộ tổ chức Mâuthuẫn đó xuất phát từ sự khác nhau về quan hệ sở hữu vốn
Vốn nước ngoài chủ yếu có nguồn gốc từ các công ty, tổ chức mang tính
tư nhân trong quan hệ sở hữu Vì vậy, mọi hành động của các nhà đầu tư đềunhằm tới lợi ích cao nhất cho họ Tinh thần làm việc và yêu cầu công việc của họrất cao nhằm nâng cao năng suất lao động
Trang 13Trong khi đó, bên Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước, vốnthuộc sở hữu Nhà nước Quyền sử dụng vốn tách rời quyền sở hữu Những chínhsách hiện hành chưa trở thành động lực cho đội ngũ lãnh đạo phía Việt Namtrong liên doanh phát huy được năng lực cao nhất Ngoài ra, kinh nghiệm và tínhnăng động của phía Việt Nam cần tránh những quan điểm mơ hồ khi thu hút FDI
Không muốn trả giá, chỉ đứng về lợi ích của bên mình, muốn ăn cả,điều này trái với nguyên tắc hai bên cùng có lợi Hậu quả là không thể thu hútFDI vào Việt Nam
Trả giá không tính toán, trả bất cứ giá nào miễn là tranh thủ đượcvốn và công nghệ mà không tính tới hiệu quả kinh tế và mặt trái của FDI
1.4 Hiệu quả kinh tế được coi là tiêu chuẩn cao nhất trong thu hút FDI
Thông thường, các chủ ĐTNN chỉ quan tâm đến hiệu quả tài chính Vấn đềquan tâm của các nhà ĐTNN là doanh thu, chi phí… Do đó, để thu hút vốn FDI,nước sở tại cần tạo điều kiện cho nhà đầu tư thu được lợi nhuận hợp lý
Tuy nhiên, trên giác độ nền kinh tế quốc dân và quản lý nhà nước, dự ánFDI được phê duyệt không chỉ có hiệu quả tài chính cho chủ đầu tư mà còn phải
có hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế phản ánh lợi ích nền kinh tế thu được lớnhơn những hao phí về nguồn lực
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn kém phát triển, dự án FDI nhìnchung phải đáp ứng được các yêu cầu : vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệmquản lý, giải quyết việc làm và tạo ra thu nhập cho người lao động, đáp ứng nhucầu của xã hội Trong các yêu cầu trên, với điều kiện hiện tại, mục tiêu tạo nhiều
cơ hội việc làm được chính phủ ưu tiên Điều đó có nghĩa là công nghệ sử dụngnhiều lao động được khuyến khích phát triển Đây cũng là điều kiện cho việc tíchluỹ vốn cho phát triển ở bước tiếp theo Tuy vậy, ở một số ngành mũi nhọn, việc
áp dụng công nghệ tiên tiến là cần thiết nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên thiênnhiên và tăng sức cạnh tranh
1.5 Đa dạng hoá hình thức FDI :
Thu hút vốn FDI dưới nhiều hình thức nhằm tạo điều kiện cho các nhàĐTNN dễ dàng trong kinh doanh vì lợi ích của họ và của Việt Nam Vì lợi ích
Trang 14quốc gia, hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh và doanh nghiệp liên doanh ítchịu các điều kiện ràng buộc hơn doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Hình thứchợp đồng hợp tác kinh doanh ngày càng được đa dạng trong phương thức thựchiện Chính phủ khuyến khích các nhà đầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp.
Mỗi hình thức đầu tư đều có điểm mạnh và điểm yếu Việc lựa chọn hìnhthức cụ thể tuỳ thuộc vào mục tiêu của đối tác và điều kiện của Việt Nam Đadạng hoá hình thức đầu tư phải gắn với quản lý chặt chẽ của nhà nước Quản lýnhà nước được thực hiện ngay từ việc quy hoạch sử dụng vốn nước ngoài vàtrong quá trình triển khai thực hiện dự án đầu tư
2 Vai trò của nguồn vốn FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
2.1 Là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế :
Kinh tế học hiện đại thống nhất với quan điểm của mô hình Harrod –Domar về mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế được thể hiện theocông thức rút gọn sau :
k ICOR k
S k
Trong đó : gk: tốc độ tăng trưởng của GDP thời kỳ kế hoạch
sk-1 : tỷ lệ tiết kiệm thời kỳ trước thời kỳ kế hoạch
ICORk : hệ số gia tăng giữa vốn và sản lượng kỳ kế hoạch
Hệ số ICOR ít thay đổi trong năm và có thể dự báo được dựa vào xuhướng thay đổi công nghệ Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tỷ
lệ tiết kiệm thời kỳ k-1 trước thời kỳ kế hoạch (k) Giả sử toạn bộ tiết kiệm đượcgiành cho đầu tư thì vốn đầu tư có vai trò quyết định tới tốc độ tăng trưởng kinh
tế Vốn đầu tư phát triển nền kinh tế quốc dân được lấy từ 2 nguồn trong và ngoàinước Theo quan điểm của nhà nước Việt Nam, vốn trong nước là quyết định,vốn nước ngoài là quan trọng
Nguồn vốn nước ngoài tạo ra lực phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế : các
dự án ĐTNN hiện chiếm 35% giá trị sản lượng công nghiệp của Việt Nam; cụthể : khu vực ĐTNN chiếm 100% các dự án khai thác dầu thô, sản xuất lắp ráp ô
Trang 15tô; sản xuất máy giặt, tủ lạnh, máy điều hoà nhiệt độ; thiết bị văn phòng, máytính Các dự án ĐTNN chiếm 60% sản lượng thép cán; 55% sản xuất sợi các loạiphục vụ cho ngành công nghiệp dệt may; 49% sản lượng sản xuất da và giày dép;76% dụng cụ y tế chính xác; 33% về sản xuất máy móc thiết bị điện; 28% tổngsản lượng xi măng; 25% về thực phẩm và đồ uống
ĐTNN là kênh vốn quan trọng góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế :thời kỳ 1991-1995 vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 25% tổng vốn đầu tư xãhội; Thời kỳ 1996 – 2000 số vốn ĐTNN tăng 1,8 lần so với giai đoạn trước đó(chiếm 40%), trong đó vốn FDI chiếm 24% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tươngđương với 60% tổng vốn ĐTNN Như vậy, vốn đầu tư nước ngoài đặc biệt là vốnFDI là nguồn vốn bổ sung không thể thiếu nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởngnhanh Đây cũng là một kênh cần thiết thực hiện chuyển giao công nghệ, tậndụng lợi thế lịch sử của nước đi sau
Vốn đầu tư nói chung và vốn FDI nói riêng tác động thuận chiều đến nềnkinh tế Trong quá trình vốn đầu tư chuyển thành vốn sản xuất, tổng cầu nền kinh
tế tăng lên, nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới ở đó giá trị sản xuất cao hơnlúc ban đầu Như vậy vốn đầu tư và vốn sản xuất tuy tác động thuận chiều vớisản lượng nền kinh tế nhưng cách tác động khác nhau Việc thu hút được càngnhiều vốn đầu tư đặc biệt là vốn FDI sẽ tạo ra cú huých tăng trưởng mạnh mẽđến nền kinh tế quốc dân
2.2 Tăng thu ngân sách, góp phần cải thiện cán cân thanh toán và cán cân vãng lai của quốc gia
Khu vực có vốn FDI đóng góp tích cực và ngày càng lớn cho ngân sáchnhà nước Tỷ lệ đóng góp của các dự án FDI trong GDP tăng dần qua các năm :năm 1993 đạt 3,6%; năm 1995 đạt 6,3%; năm 1996 đạt 7,4%; năm 1998 đạt10,1%; năm 1999 đạt 11,8%; từ năm 2000 đến năm 2003 mỗi năm đều đạt trên13% GDP Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì giai đoạn 1996 – 2000thu từ khu vực FDI chiếm 6 – 7% nguồn thu ngân sách quốc gia (nếu kể cả ngành
Trang 16dầu khí thì chiếm gần 20% thu ngân sách), đạt khoảng 1,45 tỷ USD, gấp 4,5 lần
so với 5 năm trước đó, với nguồn thu bình quân khoảng 290 triệu USD/năm
Bảng 1 : Đóng góp của các dự án FDI đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 200
0
200 1
1995, lên 48% thời kỳ 1996 – 2000 và đạt 50% vào năm 2002
Bảng 2 : Tình hình xuất khẩu của khu vực có vốn FDI
Đơn vị : triệu USD
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Xuất
khẩu
(a) 52 112 269 352 336 788 1.790 1.982 2.547 3.300 3.670 4.500Xuất
Trang 17(%)
Nguồn : http:// www.vneconomy.com.vn/statistic
(a) Xuất khẩu không kể dầu thô
2.3 Các dự án FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng CNH – HĐH
Ở những năm 1988 – 1995 FDI chủ yếu thực hiện trong các ngành kinhdoanh bất động sản như xây dựng khác sạn, khu nghỉ mát, khu chế xuất, vănphòng cho thuê… thì thời kỳ 1996 – 2003 FDI thực hiện nhiều hơn vào cácngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ (chiếm 53% vốn đăng ký và 73% vốnthực hiện), các dự án đầu tư vào dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ kỹ thuậttăng 1,4 lần ở thời kỳ này (Nguồn : http//www.mpi.gov.vn) Hiện khu vực FDIchiếm gần 35% sản lượng công nghiệp của Việt Nam với tốc độ tăng trưởnghàng năm trên 20% Đặc biệt, FDI đã tạo ra nhiều ngành nghề, sản phẩm mới vớicông nghệ hiện đại, chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, góp phần tăng đáng kểnăng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam Đã xuất hiệnnhiều ngành sản xuất quan trọng như thăm dò, khai thác dầu khí; lắp ráp - sảnxuất ô tô, xe máy; sản xuất xi măng; phát triển viễn thông quốc tế và nội hạt…Hiện nay năng lực sản xuất của khu vực FDI chiếm 100% về khai thác dầu thô,sản xuất ô tô, các sản phẩm điện dân dụng, thiết bị văn phòng máy tính…, ngoài
ra còn chiếm 60% sản lượng thép cán và khoảng 30% về xi măng, 33% về sảnxuất máy móc thiết bị điện - điện tử Trong công nghiệp nhẹ, FDI chiếm 55% vềsản xuất sợi các loại, 30% vải các loại, 18% sản phẩm may, 49% về giày dép và25% về thực phẩm và đồ uống
Thông qua hoạt động FDI đã hình thành bước đầu hệ thống các khu côngnghiệp, khu chế xuất Đây là hướng đi đúng, góp phần phân bổ đầu tư hợp lýnâng cao hiệu quả đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu
2.4 Các dự án FDI đóng góp quan trọng nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ của Việt Nam
Đầu tư trực tiếp chính là phương thức hiệu quả nhất để phát triển côngnghệ của các LDCs Cùng với “phần cứng” máy móc, thiết bị, nhà đầu tư sẽ cungcấp cả “phần mềm” bí quyết công nghệ và kỹ năng quản lý cho nước tiếp nhận
Trang 18đầu tư Thông qua FDI, các LDCs không phải tốn kém cho đầu tư nghiên cứu màvẫn có thể nâng cao năng lực sản xuất của mình Năng suất lao động tăng lênđồng thời với sự xuất hiện của nhiều ngành mới mà trước đây trong nước chưa cókhả năng phát triển.
FDI đã góp phần nâng cao năng lực công nghệ của nền kinh tế Việt Nam.Nhiều công nghệ mới, hiện đại đã được du nhập vào nước ta thông qua chuyểngiao công nghệ, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành nghề, nhất là trong cáclĩnh vực dầu khí, hoá chất, viễn thông, điện tử, tin học, ô tô…, tạo ra một bướcngoặt quan trọng cho sự phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước,như công nghiệp khai thác dầu khí ngoài khơi, lắp đặt tổng đài kỹ thuật số, rôbốt, dây chuyền tự động lắp ráp hàng điện tử… Nhìn chung, phần lớn trang thiết
bị đồng bộ, có trình độ cao hơn hoặc ít nhất là bằng các thiết bị tiên tiến đã cótrong nước và thuộc loại phổ cập ở các nước trong khu vực Các dự án FDI đónggóp đáng kể để tăng khả năng cạnh tranh của công nghệ Việt Nam trong bối cảnhhội nhập kinh tế quốc tế
Ngoài ra, sự sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại ở các dự án FDI, cũngtạo ra sự kích thích các doanh nghiệp nội địa phải đầu tư đổi mới công nghệ đểtạo được những sản phẩm có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của các doanhnghiệp có vốn nước ngoài trên thị trường nội địa và xuất khẩu
Các mô hình quản lý và các phương thức kinh doanh hiện đại của cácdoanh nghiệp có vốn FDI thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đổi mới tư duyquản lý kinh doanh và công nghệ để tăng khả năng cạnh tranh
2.5 Các dự án FDI thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập nhanh với nền kinh tế thế giới
FDI đã góp phần mở rộng hợp tác đầu tư với nước ngoài, nâng cao quan hệquốc tế, tăng cường thế và lực của Việt Nam, đẩy nhanh tiến trình hội nhập củaViệt Nam vào nền kinh tế thế giới và khu vực Cho đến giữa năm 2003 đã có 74quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam, trong đó có trên 80TNCs nằm trong 500 TNCs hàng đầu thế giới có năng lực về tài chính và côngnghệ Đồng thời, chúng ta cũng chú trọng thu hút vốn FDI của các doanh nghiệpvừa và nhỏ, vì đây là những đơn vị năng động, thích ứng với biến động của
Trang 19thương trường, phù hợp với phía Việt Nam về khả năng góp vốn, tiếp thu côngnghệ, kinh nghiệm quản lý Chính những dự án này có tác động không nhỏ tớithay đổi cơ chế chính sách quản lý kinh tế Việt Nam theo hướng hội nhập quốc
tế, chúng tác động đến xoá bỏ sự bao vây, cấm vận quốc tế đối với Việt Nam, hỗtrợ Việt Nam gia nhập ASEAN, ký kết trên 180 hiệp định song phương và đaphương trong đó có Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ
Ngoài ra, trên 50% trị giá sản phẩm của các dự án FDI được xuất khẩu rathị trường thế giới góp phần nâng cao thị phần sản phẩm và uy tín của Việt Namtrên thị trường quốc tế
2.6 Các dự án FDI góp phần giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao mức sống và trình độ cho người lao động
Không những thu hút một lượng lao động lớn, doanh nghiệp có vốn FDIcòn gián tiếp ảnh hưởng đến cơ hội việc làm ở những ngành có liên quan Số laođộng làm trong các doanh nghiệp có vốn FDI ngày càng gia tăng (bảng 3) Khuvực FDI này không chỉ thu hút được nhiều lao động trực tiếp mà còn thu húthàng chục vạn lao động gián tiếp khác trong xây dựng, cung ứng dịch vụ… vàmột số lượng lao động lớn hơn thế trong các ngành công nghiệp phụ trợ và cácdịch vụ đầu vào và đầu ra Một số lượng đáng kể các nhà quản lý kinh doanh vàngười lao động được đào tạo trong và ngoài nước góp phần làm cho chất lượnglao động tăng lên, đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài Đây là nhân tố quantrọng góp phần làm cho môi trường đầu tư của Việt Nam nâng cao khả năng cạnhtranh
Bảng 3 : Số lượng việc làm do khu vực FDI tạo ra
Đơn vị : 1000 người
Năm 1991-1995 199
6
199 7
199 8
199 9
2000 2001 2002
Giải quyết việc làm (a) 200 220 250 270 296 379 439 472
Nguồn : http:// www.vneconomy.com.vn/staticstic (a) tính tới cuối năm báo cáo, không kể lao động gián tiếp
Tuy có hiện tượng “chảy máu” chất xám ngay trong nước từ các khu vựckhác vào khu vực có vốn ĐTNN nhưng điều không thể phủ nhận được là cácdoanh nghiệp có vốn ĐTNN nói chung, các dự án FDI nói riêng đã rèn luyện một
Trang 20lượng lớn cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật Các nhà quản lý Việt Namđược cọ sát với người nước ngoài ngay trong dự án và trên thị trường đã gópphần nâng cao nghiệp vụ, kinh nghiệm, gây biến chuyển tư duy Đội ngũ cán bộViệt Nam trong lĩnh vực ĐTNN ngày một trưởng thành và tích luỹ kinh nghiệmquản lý Quan hệ lao động trong doanh nghiệp ĐTNN từng bước được cải thiện.Các tổ chức đoàn thể trong các doanh nghiệp có vốn FDI đã dần được hình thành
và tổ chức hoạt động tốt, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh vànâng cao đời sống tinh thần của người lao động
Ngoài ra, các dự án FDI thông qua lương mang lại thu nhập cho người laođộng, góp phần cải thiện đời sống Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tưnăm 2003, lương bình quân của công nhân Việt Nam trong các dự án ĐTNN là
76 – 80 USD/tháng; của kỹ sư là 220 – 250 USD/tháng; của cán bộ quản lýkhoảng 490 – 510 USD/tháng Tổng thu nhập của người lao động của các dự ánFDI hàng năm trên 500 triệu USD, đây là nhân tố góp phần tăng sức mua cho thịtrường xã hội
III/ Sự cần thiết thu hút vốn FDI của EU để phát triển kinh tế Việt Nam
1 Giới thiệu về EU
Liên minh Châu Âu (EU) đã có lịch sử 53 năm hình thành và phát triển
Từ tổ chức tiền thân là Cộng đồng than và sắt thép Châu Âu, gọi tắt là CECA(18/4/1951) Năm 1992 các nguyên thủ của 12 nước thành viên EC đã ký hiệpước Maastrich (Hà Lan) để thống nhất Châu Âu, mở đầu cho sự thống nhất chínhtrị, kinh tế và tiền tệ Ngày 1/1/1994 Cộng đồng Châu Âu (EC) được đổi tênthành Liên minh Châu Âu gọi tắt là EU, trở thành một Liên minh thống nhất đầutiên trên thế giới về kinh tế, tiền tệ, chính trị, an ninh và quốc phòng, xoá bỏ trênthực tế đường biên giới quốc gia giữa các nước thành viên, thực hiện thống nhấtcác chính sách xã hội…
EU là một trung tâm kinh tế hùng mạnh, có vai trò rất lớn trong nền kinh
tế thế giới Kinh tế EU không chỉ lớn về quy mô, vững mạnh về cơ cấu, tăngtrưởng ổn định (GDP tăng trưởng dao động ở mức trên dưới 2,5%/năm; lạm pháttrung bình ở mức 1,6 – 1,8%/năm) mà còn có đồng tiền mạnh (đồng EURO) cókhả năng chuyển đổi toàn thế giới và đang cạnh tranh nghiêng ngửa với đồng
Trang 21đôla của Mỹ (USD) EU cũng không chỉ có nguồn nhân lực trình độ cao và lànhnghề (số lao động có trình độ cao và lành nghề chiếm khoảng 25% trong cơ cấulao động tại nghiệp), có thị trường nội địa với sức mua lớn, mà còn có tiềm lựckhoa học công nghệ vào loại mạnh nhất thế giới Năm 1998, tổng chi phí choR&D của toàn thế giới đạt 479 tỷ USD, riêng EU chiếm 28%, năm 1995 tỷ lệ ấnphẩm khoa học tính bằng ấn phẩm chiếm 35,8% so với toàn thế giới, sản phẩmcông nghệ tính bằng Patăng chiếm 47,4% của toàn thế giới EU có số lượng lớncác TNCs hàng đầu thế giới EU có khoảng 2.000 TNCs trong tổng số 11.000TNCs trên toàn thế giới (thập kỷ 80) Trong 50 công ty xuyên quốc gia hàng đầuthế giới, EU có 14 công ty Năm 1999, trong 10 nền kinh tế có khả năng cạnhtranh kinh tế mạnh nhất thì EU đã có 7 nước chỉ đứng sau Mỹ và Singapore.
EU có vai trò rất quan trọng trong nền thương mại thế giới Tuy dân số chỉchiếm khoảng 7% dân số thế giới nhưng EU chiếm tới 1/5 trị giá thương mạitoàn cầu Hiện nay, EU là khối thương mại mở lớn nhất thế giới và là thành viênchủ chốt của WTO EU đang chủ trương huỷ bỏ biên giới nội địa và khuyếnkhích sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước thành viên : gắn liền với xoá bỏ cácrào cản là sự di chuyển tự do tư bản, hàng hoá và dịch vụ với phần còn lại của thếgiới EU có nền ngoại thương phát triển lớn thứ hai thế giới sau Mỹ (là thị trườngxuất khẩu lớn nhất và thị trường nhập khẩu lớn thứ hai) Hàng năm, EU nhập mộtkhối lượng hàng hoá từ khắp thế giới và cũng xuất khẩu hàng hoà đi khắp thếgiới với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu là gần 17%/năm
EU là cái nôi của nền văn minh công nghiệp, là nơi khởi phát và khai sinhFDI, hiện nay vẫn đang đi tiên phong trong lĩnh vực này Số vốn đầu tư của EUchiếm 1/3 tổng số lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của toàn thế giới
Ngày 1/5/2004, EU mở rộng sang phía Đông với việc kết nạp thêm 10thành viên mới, dân số tăng 75 triệu người (tăng 29%), bằng 20% dân số hiện có,diện tích lãnh thổ tăng thêm 34%, đây sẽ là lần mở rộng thứ 5 lớn nhất từ trướctới nay, “một thời kỳ hợp nhất chưa từng có” Như vậy, 57 năm sau Chiến tranhthế giới II và 13 năm sau khi bức tường Berlin sụp đổ, Châu Âu thực hiện một sựkiện lịch sử : thống nhất 25 nước thành một khối Đây được coi là thời khắcmang tính lịch sử, là dấu mốc xoá bỏ di chứng của Chiến tranh lạnh, đưa 10 nướchội nhập vào hệ thống châu Âu vốn bị chia cắt từ hàng trăm năm qua Điều này
Trang 22không chỉ thể hiện sự đoàn kết của Châu Âu, mà còn là một dấu hiệu cho thấycác thành viên của EU muốn hàn gắn những thương tổn chính trị phát sinh trongcuộc chiến ở Irắc, khiến cho EU chia rẽ Như vậy, hiện nay EU có tất cả 25 nướcthành viên với thị trường 545 triệu dân (chiếm khoảng 7% dân số thế giới), sảnxuất hơn 20% lượng hàng hoá và dịch vụ thế giới EU trở thành một thị trườnglớn nhất trên thế giới, đồng thời củng cố vị trí của mình trong WTO, IMF,OECD Điều này làm cho sức ảnh hưởng của EU tới các nền kinh tế trên thế giớităng lên.
2 Sự cần thiết thu hút vốn FDI của EU để phát triển kinh tế Việt Nam
Thực ra, việc huy động vốn FDI để phát triển là tận dụng điều kiện kháchquan cực kỳ thuận lợi mà thế giới đã tạo ra Thay vì phải bỏ ra hàng trăm nămphát triển để vượt qua thời kỳ tích luỹ ban đầu lâu dài và gian khổ, như nướcAnh, Pháp trước đây, hay gần đây hơn, như Australia chẳng hạn, các nước đi sau
có thể “mượn sức” những nước đi trước để thực hiện thành công chiến lược “rượtđuổi”
Việt Nam đang ở giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Hiện nay chúng
ta đang thực hiện CNH – HĐH đất nước nhằm đưa nước ta trở thành một nướccông nghiệp vào năm 2020 Để thực hiện quá trình này cần một khoản vốn lớn đểđầu tư nhằm mục tiêu hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình nềntảng cho sự phát triển kinh tế lâu dài Trong khi đó, mức thu nhập bình quân đầungười ở nước ta nhìn chung là thấp nên khả năng tiêu dùng cũng như tích luỹ đềurất khiêm tốn Do đó, thường tồn tại khoảng cách lớn giữa đầu tư và tiết kiệm(thiếu tiết kiệm) Hơn nữa, trong giai đoạn này, do nền công nghiệp của đất nướcchưa phát triển nên hàng hoá xuất khẩu đa phần là sản phẩm sơ cấp (nông sản,hàng thủ công và nguyên liệu thô), có giá trị gia tăng thấp
Ngược lại, về phía nhập khẩu, nhu cầu phát triển đòi hỏi phải nhập hàngcao cấp, gồm các máy móc, thiết bị đắt tiền, mua kỹ thuật công nghệ, các loạihoá chất, phân bón hoá học, … là những thứ có giá trị gia tăng cao Cán cânthương mại và cán cân thanh toán, vì thế, hầu như luôn nằm trong tình trạngthâm hụt Đây là một thách thức thuộc loại khó giải quyết đối với Việt Nam Đểđáp lại thách thức này, ngoài việc cần có các chính sách kinh tế vĩ mô trong nướchợp lý, hướng tới chỗ làm dịu áp lực ngoại tệ, cần thiết phải huy động nguồn vốn
Trang 23nước ngoài, coi đây như một giải pháp chiến lược quan trọng Bởi lẽ, trong mộtthế giới biến đổi nhanh như hiện nay, nếu chỉ trông chờ vào “tự lực cánh sinh”thì hậu quả khó tránh khỏi sẽ là sự tụt hậu phát triển Do đó, huy động và sử dụngnguồn lực từ bên ngoài, cụ thể là vốn và kỹ thuật từ các nước phát triển cao hơn,
để nâng cao năng lực đầu tư cho nền kinh tế là yêu cầu cấp thiết được đặt ra
Hiện nay trên thế giới có 3 cường quốc lớn về kinh tế là Mỹ, EU và NhậtBản Cả 3 đều có trình độ phát triển cao vào loại nhất thế giới Trong đó, lớn nhất
là thị trường EU với 25 nước thành viên trong đó có 15 quốc gia ở Tây Âu rấtphát triển Do đó, nguồn vốn từ EU là rất lớn Đây chính là điều mà Việt Namchúng ta đang cần Hơn nữa, công nghệ nguồn từ EU rất hiện đại, EU được coi là
có thế mạnh trong các lĩnh vực đòi hỏi trình độ công nghệ, kỹ thuật cao Tậndụng vốn đầu tư từ EU là Việt Nam đã tận dụng được công nghệ, kỹ thuật hiệnđại cùng nguồn vốn lớn cho sự phát triển kinh tế nước nhà
Ngày nay, sự lớn mạnh của EU là khó cạnh tranh, bởi EU không chỉ có thịtrường rộng lớn mà còn có đồng tiền mạnh (EURO) cạnh tranh ngang ngửa vớiđồng USD của Mỹ Sự lớn mạnh của các cường quốc một phần thể hiện qua sốlượng các TNCs, hay là phần siêu lợi nhuận mà các công ty này đem về chínhquốc thông qua hoạt động FDI EU có số lượng TNCs hàng đầu thế giới Trongkhi đó, sự gia tăng mạnh mẽ ĐTNN trong thời gian qua là kết quả trực tiếp của
sự tăng cường đầu tư ra nước ngoài của các TNCs Hiện nay, khối lượng đầu tư
ra nước ngoài của các TNCs chiếm khoảng 80% trong tổng vốn đầu tư nướcngoài trên toàn thế giới Do đó, thu hút vốn FDI từ EU là Việt Nam thu hút được
sự quan tâm chú ý của các công ty này, tức là thu hút được công nghệ cao vànguồn vốn lớn cho đất nước
Ngoài ra, EU và Việt Nam đều là thành viên của diễn đàn hợp tác Á – Âu(ASEM) Việc chúng ta thu hút đầu tư từ EU cũng là nhằm tăng cường hoạt độngcủa tiến trình hợp tác này Thu hút được FDI của EU, Việt Nam không chỉ cóđược nguồn vốn để phát triển kinh tế đất nước mà còn góp phần nâng cao nănglực cạnh tranh của nền kinh tế, do các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầuvới các cuộc cạnh tranh để tồn tại và phát triển ở thị trường của cả hai khu vực(ASEM và EU) Và cuối cùng là vị trí của Việt Nam trên thị trường quốc tếkhông ngừng được cải thiện
Trang 24Như vậy, nguồn vốn đầu tư từ EU đóng vai trò rất quan trọng trong quátrình thực hiện CNH – HĐH ở Việt Nam Do đó, Việt Nam cần thiết phải cóchính sách phù hợp để tăng cường thu hút FDI từ họ để phục vụ đắc lực cho pháttriển kinh tế nước nhà Muốn vậy, cần thiết phải xem xét thực trạng đầu tư củacác nước EU tại Việt Nam trong thời gian qua để có thể đưa ra những đánh giánhận xét xác thực, từ đó đề ra những quyết sách khả thi nhằm tăng cường hơnnữa quan hệ hợp tác đầu tư giữa hai bên trong thế kỷ mới.
CHƯƠNG II :
THỰC TRẠNG THU HÚT FDI CỦA EU VÀO VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 1988 - 2004
I/ Thực trạng FDI của EU ở Việt Nam từ 1988 đến 2004
Quan hệ Việt Nam và EU phát triển khi hai bên thiết lập quan hệ ngoạigiao chính thức ngày 22/10/1990, nhưng mối quan hệ này đã phát triển một cáchnhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu Ngày 15/12/1992, Hiệp định dệt mayđược ký kết tại Brussel Hai bên đã ký kết Hiệp định khung hợp tác (FrameworkAgrrement Cooperotion) Đây là những cơ sở pháp lý rất quan trọng phát triển
Trang 25quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu Đến nay Việt Nam đã kýchính thức Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần và trốn thuế với 8 nước EU.
Trong thời gian qua Việt Nam và EU đã triển khai Chiến lược hợp tác giaiđoạn 1996 – 2000 và hiện nay đang thực hiện Chiến lược hợp tác giai đoạn 2001– 2005 nhằm phát triển một cách toàn diện quan hệ hợp tác Việt Nam – EU saocho phục vụ tốt nhất cho lợi ích vì sự phát triển lâu dài và bền vững của 2 bên.Trên thực tế quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và EU khôngngừng phát triển và mở rộng
Về đầu tư, EU là những nhà đầu tư khá sớm vào Việt Nam sau khi ViệtNam ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, và thuộc số những nhà đầu tưhoạt động tích cực nhất ở Việt Nam Cho đến nay, quan hệ đầu tư giữa Việt Nam
và EU là mối quan hệ một chiều, chủ yếu là từ phía EU đầu tư sang Việt Nam.Hiện nay, EU là nhà đầu tư lớn và quan trọng ở Việt Nam, với 2 quốc gia thànhviên là Pháp và Hà Lan là 2 trong 10 nhà ĐTNN lớn nhất tại Việt Nam (Pháp xếpthứ 7, Hà Lan thứ 8) trong tổng số 69 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tạiViệt Nam
1 Quy mô và tốc độ tăng FDI của EU vào Việt Nam giai đoạn 1988 – 2004 ;
Tính đến 23/6/2004, các nước EU (kể cả 10 nước mới gia nhập EU) đã có
540 dự án được cấp phép đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 8,2 tỷ USD.Tính bình quân mỗi năm EU đầu tư 31,76 dự án với mức vốn đăng ký 482,353triệu USD Nhìn chung các dự án đều có quy mô vừa nhỏ, vốn trung bình chomột dự án đạt mức 15,187 triệu USD Tuy nhiên, cũng có nhiều dự án quy môlớn (trên 40 triệu USD) như : Hợp đồng dầu khí Nam Côn Sơn (607 triệu USD);Công ty Amata Power (110 triệu USD); Công ty Prudential (60 triệu USD)
Đồ thị 1 : Đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam theo các năm
(các dự án được cấp phép)
Trang 26Nguồn : Niên giám thống kê từ 1994 đến 2003; MPI (2004)
Nhìn vào đồ thị trên ta thấy vốn đầu tư của EU vào Việt Nam diễn biếnthăng trầm, không ổn định : năm 1995 tăng lên một chút (năm 1994 là 605 triệuUSD, năm 1995 là 714,7 triệu USD) thì năm 1996 lại giảm tương đối (346,7 triệuUSD), sau đó lại tăng khá cao vào năm 1997 (862,6 triệu USD), rồi lại giảm vàocác năm 1998, 1999, đặc biệt là năm 1999 giảm mạnh (360,7 triệu USD) Đếnnăm 2000, năm 2001 tình hình FDI của EU vào Việt Nam tuy đã có chuyển biếntheo chiều hướng tốt hơn (năm 2001 tăng mạnh nhất từ trước tới nay, đạt 1008triệu USD), nhưng sang năm 2002 thì chiều hướng đó không những không duytrì được mà lại diễn biến xấu đi một cách khá rõ Năm 2002 tuy là năm đạt đỉnhcao về số lượng dự án đầu tư (49 dự án, chỉ thấp hơn năm 2003 với 54 dự án)nhưng lại là điểm “cực tiểu” về lượng vốn đầu tư (56,6 triệu USD), vì vậy đâycũng là năm có quy mô bình quân của dự án cũng ở mức “cực tiểu” kể từ trướctới nay (1,2 triệu USD/dự án)
Với 540 dự án được cấp giấy phép (8,2 tỷ USD), EU là một trong nhữngnhà đầu tư quan trọng của Việt Nam, chiếm 10,86% về số dự án và 16,38% tổngvốn đầu tư FDI vào Việt Nam, nếu kể cả vốn đầu tư thông qua các doanh nhân ởSingapore, Hồng Kông, hoặc British Virgin Island thì tỷ lệ này còn cao hơn.Hiện EU đã thực hiện được 4,46 tỷ USD, đạt 54,6% vốn đầu tư đăng ký, đây là
tỷ lệ thực hiện tương đối cao so với tỷ lệ vốn thực hiện của các nước khác đầu tưvào Việt Nam và tỷ lệ vốn thực hiện của tổng số các nước đầu tư vào Việt Nam
Bảng 4 : Các dự án FDI được cấp phép của EU vào Việt Nam theo nước
Trang 2725.612.300
Nguồn : Niên giám thống kê và Cục ĐTNN
Trong số 25 quốc gia thuộc EU, đã có 14 nước có dự án đầu tư vào ViệtNam, trong đó, Pháp là nhà đầu tư hàng đầu của EU tại Việt Nam (và là nhà đầu
tư lớn thứ 7 trong số 64 quốc gia/vùng lãnh thổ có dự án còn hiệu lực tại ViệtNam), với 139 dự án còn hiệu lực có tổng vốn đăng ký hơn 2,1 tỷ USD, chiếm34,6% vốn đăng ký của các nhà đầu tư EU tại Việt Nam Đứng thứ 2 là Hà Lanvới 52 dự án còn hiệu lực, vốn đăng ký gần 1,8 tỷ USD Thứ ba là các nhà đầu tư
từ Vương quốc Anh với 56 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 1,2 tỷ USD.Các nhà đầu tư EU hàng đầu tại Việt Nam thường đầu tư vào các dự án quy môlớn, bình quân vốn đầu tư cho 1 dự án của các nhà đầu tư Hà Lan là 34 triệuUSD, của các nhà đầu tư Anh quốc là 21 triệu USD, của các nhà đầu tư Pháp là
15 triệu USD Trong số các dự án của EU đã được cấp giấy phép đến nay có 401giấy phép đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký (kể cả tăng vốn) 6,1 tỷ USD,chiếm 8,6% tổng số dự án và 14,3% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực tại Việt Nam
Bảng 5 : Các dự án FDI của EU vào Việt Nam còn hiệu lực
Trang 28Nguồn : Cục ĐTNN – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực ASEAN, thì lượng vốn đầu tưcủa EU vào Việt Nam còn ở mức khiêm tốn, đứng ở vị trí thứ 8 trong số 10 nướcASEAN (chỉ trên Lào vì EU chưa đầu tư vào Campuchia) Theo EUROSTAT,giai đoạn 1995 – 2001, các nước tiếp nhận dòng vốn FDI nhiều nhất từ EU làSingapore, Indonesia, Thái Lan và Malaysia, chiếm 79,7% Trong số hơn 36,5 tỷUSD vốn FDI của EU vào ASEAN thì Singapore là nước chiếm tỷ lệ cao nhấtđạt mức 52,6%, đứng thứ hai là Thái Lan 10%, tiếp theo là Indonesia 9,2%;Malaysia 7,9%; Brunei 7,4%; Philippines 4,7%; Myanmar 4,4%; Việt Nam 3,6%
ba sau Nhật Bản và Mỹ Cho đến nay thì tất cả 25 nước thành viên EU đã có các
dự án đầu tư tại Trung Quốc, trong đó lớn nhất là Anh Hơn nữa, việc TrungQuốc chính thức gia nhập WTO sẽ làm tăng khả năng thu hút FDI nước này tănglên vì họ phải thực hiện cải cách toàn diện và mạnh mẽ hệ thống luật pháp, cơcấu nền kinh tế, các thể thức hành chính… để phù hợp với các cam kết củaWTO Tất cả các cải cách này làm cho môi trường đầu tư của Trung Quốc thuận
Trang 29lợi hơn nhiều so với các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam chúng ta, và
do vậy sẽ khuyến khích luồng FDI vào nước họ mạnh hơn
2 Cơ cấu vốn đầu tư :
2.1 Theo ngành :
Theo ngành thì hiện nay, các nhà đầu tư EU tập trung vào lĩnh vực côngnghiệp và xây dựng với 223 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 3,79 tỷ USD,chiếm 55,6% số dự án và 61,9% vốn đăng ký Vốn thực hiện trong lĩnh vực nàyđạt 2,87 tỷ USD, bằng 75,6% vốn đăng ký và chiếm 67,7% tổng vốn thực hiệncủa EU tại Việt Nam Lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp với 44 dự án và 434triệu USD, chiếm 10,97% về số dự án và 7,08% vốn đầu tư, vốn thực hiện chiếm7,61% Lĩnh vực dịch vụ có 134 dự án với 1,9 tỷ USD, chiếm 33,42% số dự án
và 31,02% vốn đầu tư, vốn thực hiện trong lĩnh vực này khá cao chiếm 25,14%
Đồ thị 2: Cơ cấu FDI của EU tại Việt Nam theo ngành ( dự án còn hiệu lực)
Nguồn : Cục ĐTNN – Bộ KH&ĐT
Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, công nghiệp nặng và côngnghiệp dầu khí thu hút lượng vốn đầu tư khá lớn của các nhà đầu tư EU, chiếm80% vốn đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng của EU Ngành dầu khí
là ngành thu hút lượng vốn đầu tư lớn nhất của EU (EU chiếm 1/2 số lượng các
dự án thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam) Các nước Anh, Pháp, Đức… đã
có những dự án lớn đầu tư cho ngành này với các tên tuổi lớn của EU trên thếgiới như Total (Pháp), Fina (Bỉ), OMV (Áo) Đặc biệt trong năm 2000, trong số
4 PSC về dầu khí thì có đến 3 PSC góp vốn vượt cam kết Vốn của EU đangchiếm vị trí quan trọng so với các nhà đầu tư khác Hiện có 7 dự án với tổng sốvốn 1.354 triệu USD Công nghiệp nhẹ có 64 dự án với 171,2 triệu USD vốn đầu
Trang 30tư, công nghiệp thực phẩm có 30 dự án với 354,8 triệu USD vốn đầu tư Tronglĩnh vực công nghiệp và xây dựng có nhiều dự án quy mô lớn, có thể kể đến là:Hợp đồng dầu khí Nam Côn Sơn (BP, Conoco), vốn cam kết tối thiểu 607 triệuUSD; Hợp đồng thăm dò khai thác lô 06-2 (BP, Statoil, ONGC), vốn cam kết
507 triệu USD; Công ty năng lượng Mê Kông (Phú Mỹ 2.2), vốn đăng ký 480triệu USD, do EDF (Pháp) và 2 đối tác Nhật Bản (Sumitomo và Tokyo ElectricPower) cùng đầu tư; Dự án BOT xây dựng Nhà máy điện Phú Mỹ 3, vốn đăng ký
450 triệu USD, do BP (Hà Lan), SembCorp Utilities và Kyuden (Nhật) cùng đầutư; Công ty liên doanh Amata Power (Đức), vốn đăng ký 110 triệu USD; Dự ánsản xuất thức ăn và thuốc thú y của Công ty liên doanh Việt – Pháp, vốn đầu tư là50,11 triệu USD
Trong lĩnh vực dịch vụ, vốn đầu tư của EU tập trung vào ngành giao thôngvận tải và viễn thông, quy mô bình quân 1 dự án trong lĩnh vực này lên tới gần
70 triệu USD, chỉ thấp hơn quy mô bình quân cho các dự án trong lĩnh vực thăm
dò và khai thác dầu khí (193 triệu USD) Các dự án lớn trong lĩnh vực này là:Hợp doanh khai thác mạng viễn thông với France Telecom (Pháp), tổng vốnđăng ký 615 triệu USD; Hợp doanh khai thác mạng thông tin di động vớiComvik (Thụy Điển), vốn đăng ký 424,6 triệu USD
Công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential (Anh) là doanh nghiệp lớn nhấttrong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ có vốn nước ngoài tại Việt Nam, vốn đăng ký
60 triệu USD Đầu tư của EU vào ngành bưu điện chiếm 4% số dự án toàn ngành
và 18,17% vốn đầu tư Các tên tuổi lớn như Siemen (Đức), Alcacl (Pháp),Kinnevik, Comvik (Thụy Điển) đã quen thuộc trên thị trường Việt Nam Cáchãng này ngay từ đầu đã mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực còn nhiều mới mẻ ở ViệtNam, trong khi các hãng viễn thông khác chỉ thực hiện các hợp đồng thương mạikhai thác dịch vụ viễn thông Đáng chú ý là hợp đồng hợp tác kinh doanh củaTổng Công ty bưu chính viễn thông Việt Nam với France Telecom (Pháp) vềmạng viễn thông nội hạt với giá trị 615 triệu USD; dự án BCC về thông tin diđộng giữa Tổng công ty bưu chính viễn thông Việt Nam và Comvik với tổng vốnđầu tư 341 triệu USD, chiếm 92% vốn đăng ký của Thụy Điển tại Việt Nam Cácngành khác như khách sạn, du lịch, văn hoá, tài chính, cũng thu hút được mộtnguồn vốn đáng kể
Trang 31Lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp, tuy chỉ chiếm 7% vốn đăng ký của các
dự án EU tại Việt Nam cũng có một số dự án quy mô lớn Dự án lớn nhất của EUtrong lĩnh vực này là dự án mía đường Bourbon Tây Ninh (Pháp), vốn đăng ký
113 triệu USD Về hoá chất, phân bón, dược phẩm có Akzo Nobel (Thụy Điển),Bayer AG (Đức) Nhìn chung các dự án đầu tư vào lĩnh vực này đều có kỹ thuậtsản xuất tiên tiến như giống mới, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật đểđạt năng suất cao
Bảng 6 : Đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam phân theo ngành (1000 USD)
(tính tới ngày 23/6/2004 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực )
Chuyên ngành Số DA %DA Vốn ĐK %VĐK Vốn TH %VTH Quy mô DA
CN & XD 223 55,6 3.793.060 61,9 2.866.440 67,3 17.009
CN nặng 93 23,2 1.695.240 27,7 1.114.769 26,2 18.228
CN dầu khí 7 1,7 1.354.583 22,1 1.367.809 32,1 193.512
CN thực phẩm 30 7,5 354.783 5,8 217.485 5,1 11.826 Xây dựng 29 7,2 217.241 3,5 60.038 1,4 7.491
CN nhẹ 64 16,0 171.212 2,8 106.339 2,5 2.675
Nông-Lâm-NN 44 11,0 434.094 7,1 324.214 7,6 9.866
Nông-Lâm nghiệp 40 10,0 431.094 7,0 324.164 7,5 10.777 Thủy sản 4 0,1 3.000 0,1 50 0,1 750
Dịch vụ 134 33,4 1.900.731 31,0 1.071.242 25,1 14.185
GTVT-Bưu điện 16 4,0 1.113.705 18,2 475.541 11,2 69.607 Dịch vụ 59 14,7 219.733 3,6 132.096 3,1 3.724 KS-Du lịch 19 4,7 208.128 3,4 177.792 4,2 10.954
TC - NH 14 3,5 193.050 3,2 188.256 4,4 13.789
XD VP-Căn hộ 7 1,7 97.679 1,6 66.475 1,6 13.954 VH-Ytế-GD 19 4,7 68,435 1,1 31.082 0,7 3.602
Tổng số 401 100 6.127.884 100 4.261.896 100 15.282
Nguồn : Cục ĐTNN - Bộ KH&ĐT
Nhìn chung, các dự án của EU đều triển khai tốt, có công nghệ tương đốitiên tiến Tỷ lệ vốn thực hiện của các nước EU khá cao, trong tổng số 6,1 tỷ vốnđăng ký, các nhà đầu tư đã giải ngân được 4,3 tỷ USD, bằng 70% vốn đăng ký,cao hơn mức giải ngân bình quân của các dự án nước ngoài tại Việt Nam (45%)
và mức giải ngân của các dự án của các nhà đầu tư ASEAN (46%) Trong một sốlĩnh vực, các nhà đầu tư EU là những nhà ĐTNN chủ yếu Vốn đầu tư của EUchiếm tới 71% tổng vốn nước ngoài vào Việt Nam trong ngành công nghiệp dầukhí, 42% tổng vốn nước ngoài trong lĩnh vực giao thông vận tải và viễn thông và32% trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Tuy nhiên, đầu tư của các nhà đầu tư
EU vào Việt Nam vẫn là con số khiêm tốn so với các nước trong khối ASEAN.Đầu tư của EU vào Việt Nam thấp hơn cả về số lượng và vốn đăng ký so với các
Trang 32nhà đầu tư ASEAN với 611 giấy phép còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 10,8 tỷUSD So với 4 nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam là Hàn Quốc, Nhật Bản, ĐàiLoan và Hồng Kông (hiện có 2649 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 18,8triệu USD) thì đầu tư của EU hiện nay có quy mô khá nhỏ (Xem đồ thị 3, NguồnCục ĐTNN), chưa tương xứng với vị thế và khả năng hợp tác giữa hai bên.
Đồ thị 3 : Quy mô bình quân dự án FDI của EU vào Việt Nam theo ngành
Tuy nhiên, các số liệu trên vẫn chưa phản ánh hết đầu tư của EU vào ViệtNam do một số nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào Việt Nam thông qua các nướcthứ ba Theo thống kê sơ bộ của Cục ĐTNN, có khoảng 20 dự án của EU đầu tưthông qua nước thứ 3 với tổng vốn đăng ký 538 triệu USD Một số dự án lớn đầu
tư qua nước thứ 3 là : Heineken đầu tư vào Việt Nam qua công ty tại Singapore,
dự án Công ty bia Việt Nam có tổng vốn đăng ký 93 triệu USD; Mercedes (Đức)đầu tư vào Việt Nam thông qua công ty tại Singapore, dự án CTLD Mercedes-Benz Việt Nam có vốn đăng ký 70 triệu USD; Schmidt (Đức) đầu tư vào ViệtNam thông qua công ty tại B.V.Islands, Trung tâm công nghệ quốc tế có vốnđăng ký 94,4 triệu USD; Bệnh viện Việt Pháp, vốn đăng ký 39 triệu USD, cũngđược 1 công ty Pháp đầu tư thông qua công ty tại Hồng Kông; Công ty La Vieđầu tư vào Việt Nam thông qua La Vie Hồng Kông, vốn đăng ký 13,3 triệu USD
2.2 Cơ cấu vốn đầu tư theo vùng :
Theo lãnh thổ thì tính đến 23/6/2004, đầu tư của EU đã có mặt ở 39 địaphương trên cả nước Các dự án tập trung ở các tỉnh phía Nam : thành phố Hồ
Trang 33Chí Minh, Bình Dương, Quảng Nam, Đà Nẵng Thành phố Hồ Chí Minh có 145
dự án với vốn đầu tư 1889,15 triệu USD, chiếm 30,83% vốn FDI, là thành phố có
số vốn lớn nhất trong cả nước Hà Nội là thành phố đứng sau thành phố Hồ ChíMinh về số dự án (84 dự án) nhưng đã tỏ ra rất hấp dẫn các nhà đầu tư với các dự
án viễn thông, du lịch, khách sạn có quy mô lớn Đây là hai thành phố được cácnhà đầu tư EU tập trung sự chú ý, do có nguồn vốn phù hợp với các dự án và cóthị trường tiêu thụ lớn, có lợi thế cho công nghệ cao Bà Rịa – Vũng Tàu tuy chỉthu hút được 9 dự án nhưng lại đứng thứ hai về vốn đầu tư (964,29 triệu USD)sau thành phố Hồ Chí Minh (không kể lĩnh vực dầu khí) Đứng thứ 4 là ĐồngNai với 27 dự án và 394,7 triệu USD Tiếp theo là Bình Dương (với 37 dự án,vốn đầu tư là 182,53 triệu USD) và Tây Ninh (chỉ có 1 dự án nhưng vốn đầu tư là
113 triệu USD) Các địa phương còn lại, vốn đầu tư thấp
Bảng 7 : Cơ cấu đầu tư của EU tại Việt Nam phân theo địa phương
(tính đến 23/6/2004 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực) Đơn vị : USD
tt Địa phương Số DA %DA Vốn đăng ký %VĐK Vốn thực hiện %VTH
Trang 34là Công ty quốc tế Thái Bình (sản xuất đá vôi của Luxembourg ở Quảng Nam) đãchuyển sang hình thức 100% vốn nước ngoài từ ngày 18/5/1994; Công tyPrezioso (sản xuất bao bì, sơn chống gỉ của Pháp ở Tp Hồ Chí Minh) chuyển đổihình thức đầu tư vào tháng 7/1995 Điều này chứng tỏ sự tin tưởng hơn vào cácchính sách khuyến khích đầu tư của Việt Nam cũng như chứng tỏ năng lực thamgia quản lý yếu kém của phía Việt Nam trong liên doanh với EU.
Bảng 8 : Đầu tư trực tiếp của EU vào Việt Nam phân theo hình thức đầu tư
(tính tới ngày 23/6/2004 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực) ĐV: USD
Hình thức đầu tư Số DA %DA Vốn đăng ký % VĐK V ốn thực hiện %VTH
100% vốn EU 241 60,1 1.439.828.360 23,5 814.744.996 19,1 Liên doanh 137 34,2 1.211.410.420 19,8 770.000.496 18,1 Hợp đồng hợp tác KD 20 5,0 2.401.645.322 39,2 1.800.053.122 42,2 Hợp đồng BOT,BT,BTO 3 0,7 1.075.000.000 17,5 877.097.119 20,6
Tổng số 401 100 6.127.884.102 100 4.261.895.733 100
Nguồn : Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhìn vào bảng trên cho thấy, hình thức 100% vốn nước ngoài cho đến nayvẫn là hình thức phổ biến được các nhà đầu tư EU lựa chọn, hiện có 241 dự ánvới số vốn đầu tư 1,4 tỷ USD, chiếm 60,1% về số dự án và 23,5% vốn đầu tư của
EU vào Việt Nam Việc lựa chọn hình thức đầu tư này phù hợp với những dự ánnhư khách sạn, bưu điện, tài chính (như dự án của công ty TNHH Kỹ nghệ phầnmềm COCO Việt Nam và công ty Commonda Baustoff, công ty bảo hiểm nhânthọ Prudential) Các dự án 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam thường có quy mô
Trang 35nhỏ Hình thức liên doanh cũng được các nhà đầu tư EU lựa chọn nhiều vì nóphù hợp với thị trường Việt Nam, giúp cho các nhà đầu tư có thể giảm được cácrủi ro Hiện nay có 137 dự án liên doanh với vốn đầu tư 1,2 tỷ USD, chiếm34,16% về số dự án và 19,77% số dự án của EU vào Việt Nam Hình thức hợpđồng hợp tác kinh doanh được áp dụng phổ biến cho các dự án Hiện nay có 20
dự án với vốn đầu tư 2,4 tỷ USD (9 hợp đồng đã hết hạn) Đây là hình thứcchiếm tỷ lệ vốn đầu tư lớn (42,2%) là do các dự án có quy mô lớn, tập trung chủyếu vào lĩnh vực bưu chính viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí (lô 05-2 với
BP và Statoil của Anh và Na Uy trị giá 103 triệu USD) Hình thức này ít đượccác nhà đầu tư chú ý Hình thức BOT, BT, BTO chiếm tỷ trọng nhỏ, chỉ có 3 dự
án chiếm 0,75% về số dự án và 17,5% vốn đầu tư, hình thức này không hấp dẫncác nhà đầu tư EU Có thể thấy tỷ trọng của các hình thức đầu tư trong tổng vốnđầu tư và tổng vốn thực hiện của các dự án đầu tư còn hiệu lực (tính tới tháng6/2004) của EU vào Việt Nam qua đồ thị dưới đây (Nguồn: Cục ĐTNN)
Đồ thị 4 : Tỷ trọng của các hình thức đầu tư của EU
Có được những thành tựu kể trên là do những nhân tố sau tác động tới kết
quả thu hút FDI của EU vào Việt Nam, đó là:
Hoạt động của ASEM đã thúc đẩy EU và Việt Nam tăng cườngquan hệ hợp tác toàn diện nhằm giúp nhau cùng phát triển và thực hiện mục tiêucủa ASEM Để thực hiện mục tiêu thiết lập một điểm tựa mới trong tương lai ởChâu Á, EU đã tăng cường ảnh hưởng của mình ở một nước có vị trí địa lý trungtâm như Việt Nam, mà cụ thể ở đây là EU đã tăng đầu tư vào Việt Nam
Trang 36 Đồng EURO đã thực sự trở thành một đồng tiền mạnh trên thịtrường tiền tệ thế giới, cạnh tranh ngang ngửa với đồng USD, do đó những tácđộng tích cực của nó đến môi trường đầu tư của Việt Nam đã được phát huy rõràng và hiệu quả.
Việt Nam là một nước XHCN có chế độ chính trị ổn định do mộtĐảng Cộng sản duy nhất lãnh đạo Các nhà đầu tư EU đến Việt Nam để khai thácmột thị trường XHCN rộng lớn ở Trung Quốc hay các nước XHCN khác có quan
hệ thân thiết với Việt Nam
Dầu khí là lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cũng như vốn cao mà đây làlợi thế của EU Hơn nữa lĩnh vực này còn cho lợi nhuận cao, có thể mang về chođất nước họ nguồn tài nguyên năng lượng lớn có giá trị kinh tế cao Đầu tư vàoViệt Nam, EU đã đạt được mục tiêu chiếm lĩnh thị trường do đó họ càng có đầu
tư nhiều vào Việt Nam, đặc biệt là các dự án có quy mô tương đối lớn
II/ FDI của một số nước EU tại Việt Nam
1 FDI của Pháp :
Việt Nam chính thức lập quan hệ ngoại giao với Pháp vào ngày 12/4/1973
và từ đó đến nay, quan hệ giữa hai nước luôn phát triển và mở rộng thể hiện ởnhiều thoả thuận quan trọng như : Hiệp định khung về hợp tác kinh tế – văn hoá -khoa học kỹ thuật (1989); Hiệp định khuyến khích và bảo đảm đầu tư (1992);Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (1993); Hiệp định hợp tác về dịch vụ (1996)
Pháp coi Việt Nam là một quốc gia được ưu tiên trong chính sách đốingoại của mình ở Châu Á và Pháp đóng vai trò đi đầu trong việc nối lại viện trợphát triển, tăng cường và mở rộng quan hệ với Việt Nam, hỗ trợ và giải toả cácquan hệ của Việt Nam với các tổ chức tài trợ quốc tế, ủng hộ Việt Nam trongviệc thiết lập và tăng cường quan hệ với EU Pháp bắt đầu đầu tư trực tiếp vàoViệt Nam từ năm 1988 Sau khi Việt Nam thực hiện đổi mới, mở cửa nền kinh tế
và ban hành Luật ĐTNN FDI của Pháp tăng nhanh từ năm 1993, sau chuyếnthăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Pháp Francoise Mitterrand
Pháp là nước đứng thứ 7 trong số các nước đầu tư vào Việt Nam Tính tớingày 31/3/2004, Pháp đã đầu tư vào Việt Nam tất cả 189 dự án với tổng số vốnđăng ký đạt 2,7 tỷ USD Trừ 3 dự án hết hạn và 48 dự án giải thể trước thời hạn,còn 138 dự án đang hoạt động với số vốn đầu tư hơn 2 tỷ USD, trong đó tỷ lệ
Trang 37vốn thực hiện khá cao đạt 49,3% (1.045,2 triệu USD) Trong khối EU, Pháp lànước có FDI dẫn đầu vào Việt Nam, chiếm 43,15% số dự án; 40,83% tổng sốvốn đầu tư và 27,34% vốn đầu tư thực hiện của EU Các dự án của Pháp có quy
mô bình quân 15,4 triệu USD cho một dự án
Các nhà đầu tư Pháp có mặt trong hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tếquốc dân, nhưng vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực dịch vụ với 51 dự
án có tổng vốn đầu tư trên 1 tỷ USD, chiếm 37,8% về số dự án và 49,5% tổngvốn đầu tư Trong lĩnh vực dịch vụ, ngành giao thông vận tải – bưu điện thu hútđược nhiều dự án đầu tư của Pháp nhất, với 657,3 triệu USD, chiếm 31% vốnđầu tư (Pháp hiện đang đứng thứ 6 trong lĩnh vực này tại Việt Nam, sau ĐàiLoan, Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản) Tiếp đến là lĩnh vực côngnghiệp và xây dựng với 64 dự án có tổng vốn đầu tư 810 triệu USD, chiếm46,38% về số dự án và 38,2% tổng vốn đầu tư; trong đó công nghiệp nặng thuhút 34 dự án với 570,62 triệu USD, chiếm 26,9% vốn đầu tư Các dự án còn lạitập trung trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và chế biến thuỷ sản
Bảng 9 : FDI của Pháp phân theo ngành vào Việt Nam (1000 USD)
(Tính tới 31/3/2004, chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Công nghiệp nặng 34 24,6 570.620 26,90 300.593 28,80 Xây dựng 6 4,3 151.270 7,10 39.988 3,80
CN dầu khí 1 0,7 36.600 1,70 89.111 8,50
CN nhẹ 18 13,0 29.590 1,40 19.141 1,80
CN thực phẩm 5 3,6 21.900 1,030 5.321 0,50 Nông – lâm nghiệp 21 15,2 269.812 12,70 197.427 18,88 Thuỷ sản 2 1,5 2.600 0,10 50 0,02 GTVT – Bưu điện 7 5,1 657.287 31,00 107.161 10,30 Khách sạn – Du lịch 11 8,0 143.219 6,70 146.419 14,00 Dịch vụ khác 18 13,0 76.110 3,60 39.154 3,70 Tài chính – Ngân hàng 5 3,6 55.300 2,60 55.136 5,30 XDVăn phòng-Căn hộ 1 0,7 54.000 2,55 21.600 2,10 Văn hoá-Ytế-Giáo dục 9 6,5 53.474 2,52 24.076 2,30
Nguồn : Cục ĐTNN - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Các dự án của Pháp có mặt tại 24 tỉnh, thành phố trong cả nước, tập trungchính ở một số vùng trọng điểm kinh tế, nơi có đầy đủ các điều kiện về cơ sở hạ
Trang 38tầng cũng như về phát triển kinh tế Chỉ tính riêng 4 tỉnh, thành phố là Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu đã có 98 dự án với tổngvốn đầu tư trên 1,8 tỷ USD, chiếm 71% về số dự án và 86% tổng vốn đầu tư Cáctỉnh và thành phố còn lại tiếp nhận 14% tổng vốn FDI Trong 4 tỉnh thành nóitrên, thành phố Hồ Chí Minh là nơi tiếp nhận FDI của Pháp nhiều nhất với 56 dự
án, chiếm hơn một nửa tổng vốn FDI (924,9 triệu USD) Thành phố này vốn làtrung tâm kinh tế lớn của Việt Nam, với các điều kiện về hạ tầng cơ sở tương đốithuận lợi Các dự án ở đây chủ yếu là sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp nhẹ
và gia công chế biến Các dự án này đã tạo việc làm cho số lượng lớn lao độngcủa thành phố và các vùng lân cận Tiếp theo là Hà Nội với 23 dự án chiếm12,5% tổng vốn FDI (224,9 triệu USD) Đầu tư trực tiếp của Pháp tại Hà Nội chủyếu tập trung vào các lĩnh vực khách sạn, thầu xây dựng và công nghiệp nhẹ TâyNinh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai là những khu vực có nguồn nguyên liệuphong phú, giao thông thuận lợi, chi phí lao động thấp và lực lượng lao động dồidào Vì vậy các dự án sản xuất lớn thường tập trung ở những địa phương này
Có thể thấy đa số vốn FDI của Pháp tập trung ở các vùng trọng điểm kinh
tế phía Nam Sự lựa chọn này cho thấy đánh giá cao của các doanh nhân Pháp về
cơ hội đầu tư và khả năng sinh lời ở khu vực này
Hình thức đầu tư chủ yếu của Pháp là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàivới 84 dự án, chiếm 60,8% về số dự án; tiếp đến là hình thức liên doanh với 44
dự án, chiếm 31,9%; số dự án còn lại đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp táckinh doanh và hợp đồng BOT, BT, BTO Các dự án của Pháp nói chung đềuđược đánh giá là hoạt động tốt, có hiệu quả Theo Cục Đầu tư nước ngoài thìhiện nay 137 dự án đã có doanh thu (trừ ngành thuỷ sản chưa có doanh thu) đạthơn 2.201,9 triệu USD, thu hút gần 15 vạn lao động trực tiếp và hàng vạn laođộng gián tiếp khác
2 FDI của Hà Lan :
Hà Lan là nước đứng thứ 8 trong số các nước đầu tư vào Việt Nam vàđứng thứ 2 trong khối EU Đầu tư của Hà Lan từ chỗ chỉ có 3 dự án với tổng sốvốn đầu tư 110 triệu USD năm 1991 đã lên tới 460 triệu USD năm 1996 và 1,835
tỷ USD vào năm 2004 (53 dự án) Nhìn chung các nhà đầu tư Hà Lan có mặt tạiViệt Nam muộn hơn so với Pháp và Anh (từ 1991) Lĩnh vực đầu tư chủ yếu của
Trang 39các nhà đầu tư Hà Lan là dầu khí, công nghiệp thực phẩm (sản xuất bia, kem,sữa…), xây dựng, ngân hàng… Hà Lan cũng đầu tư vào lĩnh vực khai thác vàthăm dò dầu khí với 4 dự án và gần 920 triệu USD chiếm hơn một nửa tổng sốvốn đầu tư của Hà Lan vào Việt Nam Ngành công nghiệp thực phẩm với 477triệu USD chiếm 26% vốn đầu tư và công nghiệp nặng với 367 triệu USD chiếm20% vốn đầu tư Điều này rất thuận lợi cho việc phát triển các ngành côngnghiệp mũi nhọn của Việt Nam Đặc biệt, có 2 dự án lớn trong lĩnh vực nôngnghiệp với tổng số vốn đăng ký trên 69 triệu USD.
Ngoài ra, Hà Lan còn có một số dự án khác như hãng bia nổi tiếngHeineken (sản xuất bia Heineken và bia Tiger) ra đời cách đây 120 năm đã liêndoanh với Công ty thực phẩm số 2 thành phố Hồ Chí Minh lập nhà máy bia tạiViệt Nam Một dự án liên doanh có tổng số vốn là 50 triệu USD được thực hiệnvới thành phố Hồ Chí Minh để sản xuất chất tẩy rửa và hoá mỹ phẩm tại ViệtNam; Dự án liên doanh khách sạn Cột Cờ Thủ Ngữ tại thành phố Hồ Chí Minhvới vốn đầu tư 81,5 triệu USD, do khó khăn về thị trường nên hiện nay chưa triểnkhai Ngoài ra còn có các dự án sản xuất kem ăn và đá khô với Công ty TNHHWall’s Việt Nam vốn đầu tư 30 triệu USD và dự án Công ty sữa Foremost có vốnđầu tư 49,5 triệu USD đang hoạt động tốt
Về phương thức đầu tư : Hà Lan chủ yếu đầu tư theo hình thức liên doanh,với 19 dự án, chiếm 69% vốn đầu tư Hình thức 100% vốn nước ngoài có 14 dự
án, chiếm 18% vốn đầu tư Nói chung, các dự án đầu tư của Hà Lan có vốn đầu
tư vừa và nhỏ
Bảng 10 : FDI của Hà Lan vào Việt Nam phân theo hình thức đầu tư
(tính tới 23/6/2004 - chỉ tính các dự án còn hiệu lực) Đơn vị: triệu USD
Hình thức đầu tư Số DA %DA Vốn đầu tư %VĐT Vốn TH %VTH
Liên doanh 19 35,9 1266,0 69,0 1328,0 67,2 100% vốn Hà Lan 14 26,4 330,3 18,0 353,0 17,9 Hợp đồng hợp tác kinh doanh 12 22,6 138,7 7,6 157,0 8,0 Hợp đồng BOT, BTO, BT 8 15,1 100,0 5,4 136,0 6,9
Nguồn : Cục ĐTNN - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Về địa bàn đầu tư, cũng như các quốc gia khác, Hà Lan chủ yếu đầu tư vàocác thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ ChíMinh là nơi tập trung nhiều vốn đầu tư nhất Các ngành đầu tư chủ yếu của HàLan đều tập trung tại khu vực này như hãng bia nổi tiếng Heineken, tập đoàn
Trang 40Unilever, Shell… đây là trung tâm kinh tế lớn của Việt Nam, với các điều kiện
về cơ sở hạ tầng tương đối thuận lợi Còn ở Hà Nội, tuy số lượng dự án cũngnhiều nhưng số vốn đầu tư không nhiều, chủ yếu vào các ngành như khách sạn,xây dựng và công nghiệp nhẹ
FDI của Hà Lan vào Việt Nam đang tăng Hiện có 53 dự án còn hiệu lựcvới vốn đầu tư là 1,835 tỷ USD, đã thực hiện 1,974 tỷ USD (đạt 107,57%), tạoviệc làm cho gần 4000 lao động Quy mô trung bình của mỗi dự án là 34,62 triệuUSD Với những kết quả đạt được khi đầu tư vào Việt Nam, hy vọng rằng trongthời gian tới Hà Lan sẽ tăng cường đầu tư hơn nữa vào Việt Nam
3 FDI của Anh :
Các nhà đầu tư Anh có mặt tại Việt Nam ngay từ năm đầu ban hành LuậtĐTNN tại Việt Nam (1988) dưới hình thức các hợp đồng phân chia sản phẩmdầu khí (PSC) Một thời gian ngắn sau đó, Anh đã trở thành một trong số cácnước đầu tư lớn của EU vào Việt Nam (đứng thứ 3 sau Pháp và Hà Lan) Anh vàViệt Nam đã ký kết một số hiệp định liên quan tới đầu tư, đó là Hiệp định tránhđánh thuế trùng giữa Việt Nam và Anh (ký ngày 9/4/1994 và có hiệu lực ngày15/12/1994); Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Anh(được ký kết ngày 1/8/2002), theo Hiệp định này, Việt Nam dành cho nhà đầu tưAnh đối xử quốc gia (NT) – là một trong số ít các Hiệp định đã ký kết có cam kếtdành NT cho nhà ĐTNN
Anh là một trong những nước có đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam, songcác nhà đầu tư Anh chỉ đặc biệt tập trung vào những ngành trọng điểm như dầukhí, xây dựng, viễn thông, công nghiệp chế biến… Đó là thuận lợi lớn cho ViệtNam vì trong khi các nhà đầu tư nước khác tập trung vào khai thác các ngànhcông nghiệp nhẹ, dịch vụ, du lịch, khách sạn… thì các nhà đầu tư Anh lại chú ýgiúp xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn theochiều hướng lâu dài Điển hình là dự án hợp doanh khai thác mạng lưới viễnthông nội hạt với Cable và Wireless có vốn đầu tư 289 triệu USD; dự án hợpdoanh thăm dò khai thác dầu khí lô số 6, 19, 12E của Ongc Videsh, BP, và DenNorske khai thác lô số 05-3 với vốn đầu tư là 42 triệu USD, vốn thực hiện là 138triệu USD Dự án hợp doanh khai thác lô số 05-3 của BP và Statoil (Na Uy) có
số vốn đăng ký là 103 triệu USD, thực tế phía nước ngoài đầu tư 197 triệu USD