DANH SÁCH CÁC HÌNH Hình 2 1 Lưới điện phân phối đơn giản 6 Hình 2 2 Lưu đồ cho việc chọn địa điểm trạm14 Hình 3 1 Lưới điện kín và hở 31 Hình 3 2 Sơ đồ thực tế của 3 nhóm phụ tải 33 Hình 3 3 Lưu đồ giải thuật đề nghị 36 Hình 4 1 Mạng 1 nguồn có 7 nhánh 37 Hình 4 2 Dòng điện trên các nhánh của lưới điện38 Hình 4 3 Cấu hình lưới điện khi vận hành kín 39 Hình 4 4 Lưới điện khi vận hành hình tia, khóa mở 8 9 40 Hình 4 5 Cấu hình lưới khi tính bằng TOPO 40 Hình 4 6 Lưới điện được mở rộng đặt thêm trạ.
Trang 1Hình 2 1 Lưới điện phân phối đơn giản 6
Hình 2 2 Lưu đồ cho việc chọn địa điểm trạm14
Hình 3 1 Lưới điện kín và hở 31
Hình 3 2 Sơ đồ thực tế của 3 nhóm phụ tải 33
Hình 3 3 Lưu đồ giải thuật đề nghị 36
Hình 4 1 Mạng 1 nguồn có 7 nhánh 37
Hình 4 2 Dòng điện trên các nhánh của lưới điện38
Hình 4 3 Cấu hình lưới điện khi vận hành kín 39
Hình 4 4 Lưới điện khi vận hành hình tia, khóa mở 8-9 40
Hình 4 5 Cấu hình lưới khi tính bằng TOPO 40
Hình 4 6 Lưới điện được mở rộng đặt thêm trạm ở nút số 9 42Hình 4 7 Vận hành lưới điện kín 42
Hình 4 8 Vận hành với 2 khóa mở mới là khóa 4-5 và 12-13 43Hình 4 9 Lưới điện khi có thêm trạm biến áp sau khi chạy TOPO 44Hình 4 10 Một phần lưới điện hạ thế Trảng Dài 48
Hình 4 11 Sơ đồ vận hành lưới điện Trảng Dài hiện hữu 51
Hình 4 12 Cấu hình lưới sau khi tái cấu hình 52
Hình 4 13 Lắp đặt thêm trạm vào khu vực 153
Hình 4 14 Tái cấu hình sau khi lắp đặt thêm trạm vào khu vực 1 54Hình 4 15 Lắp đặt trạm vào khu vực 255
Hình 4 16 Tái cấu hình sau khi lắp đặt trạm vào khu vực 2 56Hình 4 17 Lắp đặt trạm vào khu vực 357
Hình 4 18 Tái cấu hình sau khi lắp đặt trạm vào khu vực 3 58
Trang 2Bảng 2 1 Phạm vi ứng dụng của các bài toán tái cấu trúc lưới 8
Bảng 2 2 Đặc tính của địa điểm đặt trạm biến áp 13
Bảng 23 Bảng giá thành san lấp đất và độ dốc với nhiều loại đất khác nhau 15Bảng 4 1 Số liệu của phụ tải 37
Bảng 4 2 Tổn thất công suất của lưới điện khi vận hành bình thường 38Bảng 4 3 Dòng điện tính toán khi đóng khóa điện 5-6, đường dây 7-6 39Bảng 4 4 Tổn thất công suất khi vận hành với khóa mở 8-9, đường dây 7-8 41Bảng 4 5 Tổn thất công suất khi có trạm biến áp mới trong lưới điện 43Bảng 4 6 Tóm tắt các trường hợp của lưới điện 15 nút 45
Bảng 4 7 Số liệu của phụ tải 45
Bảng 4 8 Tổn thất công suất của lưới điện khi vận hành bình thường 49Bảng 4 9 Tóm tắt các trường hợp của lưới điện Trảng Dài 59
Trang 312 Nội dung nghiên cứu 3
13 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 4
14 Phạm vi nghiên cứu 4
15 Phương pháp giải quyết bài toán 4
16 Điểm mới của đề tài 4
17 Giá trị thực tiễn của đề tài 4
18 Bố cục của chuyên đề 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
21 Lưới điện phân phối 5
211 Đặc điểm của lưới điện phân phối 5
212 Vận hành hở lưới điện phân phối 6
213 Các bài toán tái cấu trúc lưới điện phân phối ở góc độ vận hành 7
214 Thực trạng lưới phân phối 8
Trang 4228 Lối ra, vào trạm 16
23 Các phương pháp tái cấu hình lưới điện [3] 16
231 Giới thiệu 16
232 Mô hình toán học của DNRC: 18
233 Phương pháp Heuristic [5] 19
2331 Phương pháp trao đổi nhánh đơn giản 19
2332 Mô hình dòng chảy tối ưu 19
224 Phương pháp tối ưu kiến – Ant Colony Optimization Method [6] 20
24 Các phương pháp xác định tổn thất công suất [7]–[11] 22
311 Đánh giá mức độ cân bằng pha trên lưới điện 27
312 Đánh giá mức độ giảm điện trở đơn vị 28
313 Tái cấu hình lưới 28
CHƯƠNG 4: VÍ DỤ KIỂM TRA 37
41 Lưới điện 7 nhánh, 1 nguồn 37
42 Lưới điện P Trảng Dài – Biên Hòa – Đồng Nai 45
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
11 Đặt vấn đề
Với tốc độ tăng trưởng của phụ tải cao nên lưới điện thường xuyên phải đốimặt với tình trạng quá tải và điện áp thấp, ngoài ra trong những năm gần đây ngànhđiện lại đang tiếp nhận hệ thống lưới điện nông thôn, trong điều kiện địa bàn cấpđiện rộng, địa hình phức tạp, phân bố phụ tải không đồng đều giữa các vùng, thờitiết diễn biến phức tạp, lưới điện cũ nát, tồn tại nhiều cấp điện áp trung áp (35, 22,
10, 6 kV), tốc độ tăng trưởng phụ tải cao (từ 2001- 2014 tăng trưởng trung bình xấp
xỉ 14%/năm), biểu đồ phụ tải xấu (chênh lệch công suất giữa cao điểm và thấp điểmngày lên đến 50 - 60%), các phụ tải công nghiệp có yêu cầu rất khắt khe về độ ổnđịnh cung cấp điện và chất lượng điện năng Sự mất cân đối giữa tăng trưởng phụtải và đầu tư cải tạo lưới điện trong nhiều năm qua (kể cả lưới điện truyền tải) làvấn đề mà ngành điện đang phải đối diện dẫn đến tổn thất điện năng lớn, sự cốnhiều và độ tin cậy cung cấp điện của lưới điện thấp Một số giải pháp nhằm giảmtổn thất trên lưới phân phối Mục tiêu giảm tổn thất trên lưới điện phân phối đòi hỏiphải có nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó có cả các biện pháp quản lý, hành chínhnhằm giảm cả tổn thất thương mại, sau đây xin giới thiệu một số biện pháp nhằmgiảm tổn thất như sau:
+ Biện pháp quản lý kỹ thuật - vận hành: Không để quá tải đường dây, máybiến áp, thường xuyên theo dõi các thông số vận hành lưới điện, tình hình tăngtrưởng phụ tải để có kế hoạch vận hành, cải tạo lưới điện, hoán chuyển máy biến
áp đầy, non tải một cách hợp lý, không để quá tải đường dây, quá tải máy biến áptrên lưới điện Đảm bảo vận hành phương thức tối ưu: Thường xuyên tính toánkiểm tra đảm bảo phương thức vận hành tối ưu trên lưới điện Đảm bảo duy trì điện
áp trong giới hạn cao cho phép theo quy định hiện hành và khả năng chịu đựng củathiết bị Kiểm tra, bảo dưỡng lưới điện ở tình trạng vận hành tốtThực hiện kiểm trabảo dưỡng lưới điện đảm bảo các tiêu chuẩt kỹ thuật vận hành Thực hiện tốt côngtác quản lý kỹ thuật vận hành ngăn ngừa sự cố: Đảm bảo lưới điện không bị sự cố
để duy trì kết dây cơ bản có TTĐN thấp Thực hiện vận hành kinh tế máy biến áp:Đối với các khách hàng có TBA chuyên dùng mà tính chất của phụ tải hoạt độngtheo mùa vụ, đơn vị kinh doanh bán điện phải vận động, thuyết phục khách hàng
Trang 7lắp đặt thêm MBA có công suất nhỏ riêng phù hợp phục vụ cho nhu cầu này hoặccấp bằng nguồn điện hạ thế khu vực nếu có điều kiện để tách MBA chính ra khỏivận hành Hạn chế các thành phần không cân bằng và sóng hài bậc cao: Thực hiệnkiểm tra đối với khách hàng gây méo điện áp trên lưới điện Trong điều kiện gâyảnh hưởng lớn đến méo điện áp, yêu cầu khách hàng phải có giải pháp khắc phục+ Đảm bảo phụ tải đúng với từng đường dây, từng khu vực Giảm tổn thấtđiện năng luôn là mục tiêu quan trọng của các đơn vị Điện lực, vì vậy ngoài cácbiện pháp và giải pháp truyền thống thì việc tiếp cận và làm chủ công nghệ cũng làbiện pháp đang đem lại hiệu quả giúp nâng cao năng lực cho công tác giám sát vàvận hành lưới điện để giảm tổn thất
Hiện nay có nhiều biện pháp để giảm tổn thất công suất trong quá trình phânphối điện năng như: bù công suất phản kháng, nâng cao điện áp vận hành lưới điệnphân phối, hoặc tăng tiết diện dây dẫn Tuy nhiên, các biện pháp này đều mangtính khả thi về kỹ thuật nhưng lại tốn các chi phí đầu tư và lắp đặt thiết bị khi thựchiện Mục tiêu đặt ra là giảm tổn thất công suất, cấy thêm trạm biến áp kết hợp vớitái cấu trúc hình lưới điện phân phối phù hợp còn có thể nâng cao chất lượng điện,hạn chế sụt áp ở cuối đường dây và giảm thiểu rủi ro cho các hộ tiêu thụ điện khi
có sự cố mất điện khi có sự cố hay khi cần sửa chữa, bảo đưỡng đường dây
Trong khi đó, biện pháp tái cấu hình lưới thông qua việc chuyển tải bằng cáchđóng/mở các cặp khoá điện có sẵn trên lưới kết hợp với việc cấy thêm trạm biến ápnhằm mở rộng lưới phối khi phụ tải tăng dần cũng có thể giảm tổn thất điện năngđáng kể khi đạt được cân bằng công suất giữa các tuyến dây và đáp ứng với việcphụ tải tăng dần mà không cần nhiều chi phí để cải tạo toàn bộ lưới điện và từ đólựa chọn hình lưới vận hành trong một thời gian dài để vận hành nhằm mang lạitính khả thi về kỹ thuật và mang lại lợi ích kinh kế Ngoài mục tiêu giảm tổn thấtcông suất, cấy thêm trạm biến áp kết hợp tái cấu trúc lưới điện phân phối phù hợpcòn có thể nâng cao khả năng mang tải của lưới điện, làm giảm sụt áp cuối đườngdây và giảm thiểu rủi ro cho một số lượng hộ tiêu thụ bị mất điện khi có sự cố haykhi cần sửa chữa đường dây
Trong thực tế việc mở rộng lưới điện thông qua cấy thêm trạm là việc lựa chọn
vị trí để cấy thêm trạm biến áp cần phải thực hiện thỏa mãn về các yêu cầu kỹ thuậtràng buộc về điện áp, dòng điện, độ tin cậy, thuận lợi về thi công, tính khả thi của
Trang 8việc mở rộng… Trong khi đó, việc tái cấu hình lưới điện trong điều kiện phải thoảmãn các ràng buộc kỹ thuật với hàng trăm khoá điện trên lưới điện phân phối là điều
vô cùng khó khăn đối với các điều độ viên Do đó, để kết hợp việc tái cấu hình cóxem xét đến cấy thêm trạm biến áp luôn cần một phương pháp đề xuất phù hợp vớilưới điện phân phối thực tế và cần có một giải thuật đủ mạnh để kết hợp việc cấythêm trạm biến áp kết hợp với tái cấu trúc lưới nhằm đạt được mục tiêu giảm tổn thấtcông suất trong lưới điện phân phối Do đó, việc xây dựng một giải thuật tái cấu hìnhlưới điện phân phối nhằm giảm tổn thất công suất khi các phụ tải thay đổi nhằm manglại hiệu quả kinh tế của lưới điện Việt Nam Trên cơ sở những kết quả của các côngtrình được nghiên cứu trước đây đã đạt được, đề tài:
Như vậy, việc tìm ra vị trí cấy trạm kết hợp với tái cấu hình lưới điện phân phốibằng giải thuật tái cấu hình nhằm tìm ra cấu hình tốt nhất với mục tiêu tổn thất côngsuất là bé nhất cũng như mang lại các lợi ích khác như có thể nâng cao khả năng mangtải của lưới điện, làm giảm sụt áp cuối đường dây và giảm thiểu rủi ro cho một sốlượng hộ tiêu thụ bị mất điện khi có sự cố hay khi cần sửa chữa đường dây Trên cơ
sở những kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây đã đạt được, đề tài “Xây
dựng giải thuật và dung lượng trạm biến áp 22/0,4kv cấy mới để giảm tổn thất công suất tác dụng trên lưới 0,4kv”, với mục đích nghiên cứu, áp dụng thuật toán nhằm
để lưới điện phân phối vận hành với tổn thất công suất là bé nhất nhằm mang lại lợiích cho Công ty quản lý lưới điện nói riêng và ngành điện nói chung
12 Nội dung nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là chọn một giải thuật phù hợp nhằm với vị trí, dung lượngphù hợp để cấy thêm trạm biến áp với tổn thất công suất là bé nhất
Tìm hiểu các nội dung cơ bản về lưới điện phân phối, lưới điện hạ thế, trạmbiến áp
Tìm hiểu về các giải thuật tái cấu hình lưới điện kết hợp với việc chọn vị trí
và dung lượng cấy trạm biến áp
Đề xuất phương pháp giải quyết bài toán
Kiểm tra trên lưới phân phối cụ thể trên phần mềm PSS- ADAP để kiểmchứng
Trang 913 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu việc: Đề xuất vị trí và dung lượng trạm biến
áp cấy vào lưới điện nhằm giảm tổn thất trên lưới điện hạ thế
14 Phạm vi nghiên cứu
- Vị trí và dung lượng của trạm biến áp
- Thuật toán tái cấu hình
- Đề xuất phương pháp giải quyết bài toán
- Sử dụng phần mềm PSS- ADEPT kiểm chứng
15 Phương pháp giải quyết bài toán
-Khảo sát một lưới điện
Đề xuất các phương án giải quyết bài toán
16 Điểm mới của đề tài
- Đề xuất giải thuật
- Áp dụng kiểm tra trên lưới điện
17 Giá trị thực tiễn của đề tài
- Cung cấp một phương pháp cấy thêm trạm biến áp có xét đến tái cấu hình lướiđiện
- Làm tài liệu tham khảo cho các công tác nghiên cứu
18 Bố cục của chuyên đề
Đề tài gồm 5 chương
Chương 1 : Mở đầu
Chương 2 : Cơ sở lý thuyết
Chương 3 : Phương pháp đề xuất
Chương 4 : Ví dụ kiểm tra
Chương 5 : Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 10CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
21 Lưới điện phân phối
211 Đặc điểm của lưới điện phân phối
Hệ thống điện phân phối là lưới điện chuyển tải điện năng trực tiếp từ các trạmbiến thế trung gian đến khách hàng Đường dây truyền tải thường được vận hànhmạch vòng hay mạch tia, còn các đường dây phân phối điện luôn được vận hành hởtrong mọi trường hợp Nhờ cấu trúc vận hành hở mà hệ thống relay bảo vệ chỉ cần sửdụng loại relay quá dòng Để tái cung cấp điện cho khách hàng sau sự cố, hầu hết cáctuyến dây đều có các mạch vòng liên kết với các đường dây kế cận được cấp điện từmột trạm biến áp trung gian khác hay từ chính trạm biến áp có đường dây bị sự cốViệc khôi phục lưới được thực hiện thông qua các thao tác đóng/cắt các cặp khoáđiện nằm trên các mạch vòng, do đó trên lưới phân phối có rất nhiều khoá điệnMột đường dây phân phối luôn có nhiều loại phụ tải khác nhau và các phụ tảinày được phân bố không đồng đều giữa các đường dây Mỗi loại tải lại có thời điểmđỉnh tải khác nhau và luôn thay đổi trong ngày, trong tuần và trong từng mùa Vìvậy, trên các đường dây, đồ thị phụ tải không bằng phẳng và luôn có sự chênh lệchcông suất tiêu thụ Điều này gây ra quá tải đường dây và làm tăng tổn thất trên lướiđiện phân phối [1]
Để giảm tổn thất điện năng và chống quá tải trên đường dây, các điều độ viên
sẽ thay đổi cấu trúc lưới điện vận hành bằng các thao tác đóng/cắt các cặp khoá điệnhiện có trên lưới Vì vậy, trong quá trình thiết kế, các loại khoá điện sẽ được lắp đặttại các vị trí có lợi nhất để khi thao tác đóng/cắt các khoá này vừa có thể giảm chi phívận hành và vừa giảm tổn thất điện năng Hay nói cách khác, hàm mục tiêu trong quátrình vận hành lưới điện phân phối là cực tiểu chi phí vận hành bao gồm cả chi phíchuyển tải và tổn thất điện năng
Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển, phụ tải liên tục thay đổi, vì vậy xuấthiện nhiều mục tiêu vận hành lưới điện phân phối để phù hợp với tình hình cụ thểTuy nhiên, các điều kiện vận hành lưới phân phối luôn phải thoả mãn các điều kiện:-
Trang 11- Đường dây, máy biến áp và các thiết bị khác không bị quá tải
Hình 21 mô tả một lưới điện phân phối đơn giản gồm có 2 nguồn và nhiều khoáđiện Khoá SW1, SW5 và RC3 ở trạng thái mở để đảm bảo lưới điện vận hành hởCác đoạn tải LN2 và LN6 nằm ở cuối lưới của nguồn điện SS2 Để cải thiện chấtlượng điện năng ở cuối lưới, bộ tụ bù được lắp giữa LN4 và SW2 và máy biến thếđiều áp được lắp giữa LN3 và LN9 Tất nhiên, các thiết bị này đều có thể được vậnhành ở chế độ thông số không đổi trong thời gian vận hành hay thông số thay đổibằng cách điều khiển từ xa hay tại chỗ
LN3
SW1 LN1
LN8 CB1
SS2
CB2 SW4 LN16
LN13
SW6
LN4 C1 SW2
và mở SW2 để chuyển các đoạn tải LN5 và LN6 từ nguồn SS2 sang SS1 Việc phântích lựa chọn các cách chuyển tải này là nội dung của các giải thuật tái cấu trúc lướiTrên lưới điện phân phối thực tế có hàng trăm khoá điện, việc tìm ra cách chuyển tảitốt nhất trong tổ hợp các khoá điện khi chuyển tải sẽ cần một thời gian rất dài và cònphải xem xét đến các điều kiện ràng buộc kỹ thuật Vì vậy cần thiết phải có một giảithuật tái cấu trúc lưới để có thể nhanh chóng tìm ra cấu trúc vận hành tốt nhất cholưới điện theo các mục tiêu điều khiển
212 Vận hành hở lưới điện phân phối
Lưới điện phân phối thường được vận hành hở vì lưới phân phối có các nétđặc trưng như sau [2]:
- Số lượng phần tử như lộ ra, nhánh rẽ, thiết bị bù, phụ tải của lưới phân phối nhiềuhơn lưới truyền tải từ 5-7 lần nhưng mức đầu tư chỉ hơn từ 2-25 lần
Trang 12- Có rất nhiều khách hàng tiêu thụ điện năng với công suất nhỏ và nằm trên diệnrộng, nên khi có sự cố, mức độ thiệt hại do gián đoạn cung cấp điện ở lưới điện phânphối gây ra cũng ít hơn so với sự cố của lưới điện truyền tải
Do những nét đặc trưng trên, lưới điện phân phối cần vận hành hở dù có cấu trúcmạch vòng vì các lý do như sau:
- Tổng trở của lưới điện phân phối vận hành hở lớn hơn nhiều so với vận hànhvòng kín nên dòng ngắn mạch bé khi có sự cố Vì vậy chỉ cần chọn các thiết bị đóngcắt có dòng ngắn mạch chịu đựng và dòng cắt ngắn mạch bé, nên mức đầu tư giảmđáng kể
- Trong vận hành hở, các relay bảo vệ lộ ra chỉ cần dùng các loại relay đơn giản rẻtiền như relay quá dòng, thấp áp… mà không nhất thiết phải trang bị các loại relayphức tạp như định hướng, khoảng cách, so lệch… nên việc phối hợp bảo vệ relay trởnên dễ dàng hơn, nên mức đầu tư cũng giảm xuống
- Chỉ cần dùng cầu chì tự rơi (FCO) hay cầu chì tự rơi kết hợp cắt có tải (LBFCO)
để bảo vệ các nhánh rẽ hình tia trên cùng một đoạn trục và phối hợp với Recloser đểtránh sự cố thoáng qua
-Khi sự cố, do vận hành hở, nên sự cố không lan tràn qua các phụ tải khác
Do được vận hành hở, nên việc điều khiển điện áp trên từng tuyến dây dễ dànghơn và giảm được phạm vi mất điện trong thời gian giải trừ sự cố
- Nếu chỉ xem xét giá xây dựng mới lưới phân phối, thì phương án kinh tế là cáclưới hình tia
213 Các bài toán tái cấu trúc lưới điện phân phối ở góc độ vận hành
Các bài toán vận hành lưới điện phân phối mô tả các hàm mục tiêu tái cấu trúclưới điện như sau:
- Bài toán 1: Xác định cấu trúc lưới điện theo đồ thị phụ tải trong 1 thời đoạn để chiphí vận hành bé nhất
- Bài toán 2: Xác định cấu trúc lưới điện không thay đổi trong thời đoạn khảo sát đểtổn thất điện năng bé nhất
- Bài toán 3: Xác định cấu trúc lưới điện tại 1 thời điểm để tổn thất công suất bé
nhất
Trang 13Tên bài toán 1 2 3 4 5 6Khoá điện được điều khiển từ xa
Chi phí chuyển tải thấp, không mất
Chi phí chuyển tải cao, mất điện
Lưới điện thường xuyên bị quá tải
Lưới điện hầu như không quá tải
- Bài toán 4: Tái cấu trúc lưới điện cân bằng tải (giữa các đường dây, máy biến thế
nguồn ở các trạm biến áp) để nâng cao khả năng tải của lưới điện
- Bài toán 5: Khôi phục lưới điện sau sự cố hay cắt điện sửa chữa
- Bài toán 6: Xác định cấu trúc lưới theo nhiều mục tiêu như: tổn thất công suất bé
nhất, mức độ cân bằng tải cao nhất, số lần chuyển tải ít nhất, sụt áp cuối lưới bé nhấtcùng đồng thời xảy ra (đây là hàm đa mục tiêu)
Các bài toán xác định cấu trúc vận hành của một lưới điện phân phối cực tiểutổn thất năng lượng hay cực tiểu chi phí vận hành thoả mãn các điều kiện kỹ thuật
vận hành luôn là bài toán quan trọng và kinh điển trong vận hành hệ thống điện Bảng
21 trình bày phạm vi ứng dụng của các bài toán tái cấu trúc theo đặc điểm lưới điệnphân phối
Bảng 2 1 Phạm vi ứng dụng của các bài toán tái cấu trúc lưới
214 Thực trạng lưới phân phối
Hiện nay, lưới phân phối hiện nay của Việt Nam có nhiều cấp điện áp khác
nhau, chi phí chuyển tải lớn và phải cắt điện khi chuyển tải vì:
-Do lịch sử phát triển, ở mỗi miền đất nước có nhiều cấp điện áp phân phối và giữacác miền các cấp điện này cũng khác nhau (66, 10, 15, 22, 35 kV)
Recloser và máy cắt có tải (LBS) không được điều khiển từ xa và có số lượng
không đáng kể nên chí phí đóng/cắt lớn và thời gian chuyển tải lâu
Trang 14Cực tiểu hàm F = CCijL Cij
- Các tổ đấu dây của máy biến áp tại các trạm trung gian không thống nhất, nên
phải cắt điện khi chuyển tải, điều này làm gián đoạn việc cung cấp điện và gây
khó chịu cho khách hàng sử dụng điện
Việc chuyển tải chỉ xảy ra khi:
-Chống quá tải đường dây, trạm biến áp trung gian ở những nơi phụ tải phát triển
nhanh, vào giờ cao điểm hay khi có công tác sửa chữa các mạch vòng truyền tải
Tái cấu trúc lưới khôi phục cung cấp điện sau khi cô lập sự cố hay sửa chữa, cải
tạo đường dây và trạm biến áp theo định kỳ
Vì các khó khăn trên, mục tiêu vận hành lưới điện phân phối phù hợp với điềukiện Việt Nam hiện nay có thể đề nghị như sau:
-Xác định cấu trúc lưới điện không thay đổi trong thời đoạn khảo sát để tổn thất
điện năng bé nhất – bài toán 2
Tái cấu trúc lưới điện chống quá tải, cân bằng tải (giữa các đường dây, máy biến
thế nguồn ở các trạm biến áp) để nâng cao khả năng tải của lưới điện–bài toán 4
Khôi phục lưới điện sau sự cố hay cắt điện sửa chữa – bài toán 5
Xác định cấu trúc lưới theo nhiều mục tiêu như: tổn thất công suất bé nhất, mức
độ cân bằng tải cao nhất, số lần chuyển tải ít nhất, sụt áp cuối lưới bé nhất cùng
đồng thời xảy ra – bài toán 6: hàm đa mục tiêu
Để giải quyết bài toán tái cấu trúc lưới thống điện phân phối, trước tiên phải xâydựng hàm mục tiêu Ví dụ mục tiêu là cực tiểu hóa tổn thất công suất trên toàn hệ
thống Vấn đề tái cấu trúc hệ thống cũng tương tự như việc tính toán phân bố công
suất tối ưu Tuy nhiên, tái cấu trúc yêu cầu một khối lượng tính toán lớn do có nhiều
biến số tác động đến các trạng thái khóa điện và điều kiện vận hành như: Lưới điện
phân phối phải vận hành hở, không quá tải máy biến áp, đường dây, thiết bị đóng
cắt… và sụt áp tại hộ tiêu thụ trong phạm vi cho phép Về mặt toán học, tái cấu trúc
lưới là bài toán qui hoạch phi tuyến rời rạc theo dòng công suất chạy trên các nhánh,như sau:
n Cn
Trang 15Số nút tải có trên lưới
Hệ số trọng lượng của tổn thất trên nhánh ijTổn thất của nhánh nối từ nút i đến nút jDòng công suất trên nhánh ij
Nhu cầu công suất điện tại nút j
Dòng công suất trên đường dây ft
Các đường dây được cung cấp điện từ máy biến áp t
Có giá trị là 1 nếu đường dây ft làm việc, là 0 nếu đường dây ft
không làm việcHàm mục tiêu (2-1) thể hiện tổng tổn thất công suất trên toàn lưới phân phối,
có thể đơn giản hoá hàm mục tiêu bằng cách xét dòng công suất nhánh chỉ có thành
phần công suất tải và điện áp các nút tải là hằng số Biểu thức (2-2) đảm bảo cung
cấp đủ công suất theo nhu cầu của các phụ tải Điều kiện chống quá tải tại trạm trunggian và sụt áp tại nơi tiêu thụ được trình bày qua (2-3) và (2-4) Biểu thức (2-5) đảm
bảo rằng các trạm biến thế hoạt động trong giới hạn công suất cho phép, trong khi
mạng phân phối hình tia được đảm bảo qua (2-6)
Với mô tả trên, tái cấu trúc hệ thống lưới điện phân phối là bài toán qui hoạch
phi tuyến rời rạc Hàm mục tiêu bị gián đoạn, rất khó để giải bài toán tái cấu trúc bằngphương pháp giải tích toán học truyền thống
Trang 1622 Trạm biến áp
221 Các trạm biến áp
Trạm biến áp là một phần tử quan trọng trong hệ thống điện, dung lượng cáctrạm biến áp trong toàn hệ thống điện lớn hơn gấp nhiều lần dung lượng các nhà máyđiện Các chỉ tiêu về kinh tế - kỹ thuật của hệ thống điện phụ thuộc nhiều vào: dunglượng; vị trí; số lượng; phương thức vận hành… của các trạm biến áp
- Theo cấp điện áp ta có các trạm biến áp như sau:
+ Cấp cao áp:
500 kV – dùng cho hệ thống điện quốc gia, nối liền ba miền
220 kV – dùng cho lưới điện truyền tải; lưới điện khu vực
110 kV – dùng cho lưới điện phân phối; cung cấp cho phụ tải lớn
Các lưới điện này đều là lưới điện ba pha trung điểm nối đất trực tiếp+ Các trung áp:
22 kV – lưới điện ba pha, trung điểm nối đất trực tiếp
35 kV – lưới điện ba pha, trung điểm cách đất
Dùng cho lưới điện địa phương, cung cấp điện cho các phụ tải vừa và nhỏhoặc các khu dân cư; dùng làm lưới điện phân phối trong các khu công nghiệp… Dolịch sử để lại, hiện nay nước ta (tại một số địa phương) cấp trung áp còn dùng: 35 kV;
15 kV; 10 kV; 66 kV; … Nhưng trong tương lai các cấp điện áp nêu trên sẽ được cảitạo, để dùng thống nhất một cấp: 22 kV hoặc 35 kV
+ Cấp hạ áp:
220/380V – Lưới điện ba pha, trung tính nối đất trực tiếp
110/220V – Lưới điện một pha hai dây và một pha ba dây
- Có thể phân chia trạm biến áp theo hình thức và cấu trúc của trạm biến áp
222 Vai trò trạm biến áp trong hệ thống điện
Trạm biến áp đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống điện, nó làmnhiệm vụ truyền tải và phân phối điện năng từ nơi sản xuất (nhà máy điện) đến nơitiêu thụ (phụ tải điện) Hầu hết các nhà máy điện đều nằm ở xa nơi tiêu thụ, phụ thuộcvào nguồn thủy năng của thiên nhiên Vấn đề đáng quan tâm là việc truyền tải điệnnăng từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ gây ra phí tổn công suất rất lớn trên đườngtruyền
Trang 17hạ áp…
223 Vị trí trạm biến áp
Gần tâm phụ tải
o Giảm chi phí đầu tư và tổn thất năng lượng
o Giảm chi phí giải toả đền bù
Đảm bảo tính khả thi
Thuận lợi cho việc vận chuyển và thi công trạm biến áp
o Đường bộ, đường thuỷ
o Xây dựng đường công vụ ở những nơi chưa mở đường
Thuận lợi cho việc thiết kế và thi công các lộ vào và ra
o Rất quan trọng với các trạm trong thành phố
An toàn vận hành
Có khả năng mở rộng
Không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh
o Tiếng ồn, ô nhiễm dầu
o Phòng cháy chữa cháy
o Nhiễm từ
224 Địa điểm đặt trạm biến áp
Việc chọn lựa địa điểm thích hợp cho trạm là một công việc tổng hợp trên nhiềuyếu tố: kỹ thuật, kinh tế, môi trường, quản lý hành chính Lưu đồ hướng dẫn cho việcchọn lựa địa điểm trạm được chỉ ra như Hình 22 Vấn đề ở đây là phải chọn lựa đượcmột vị trí có diện tích đủ lớn, nơi mà sẽ được sử dụng để xây dựng trạm, với các
Trang 18Đặc điểm vị trí Ảnh hưởng đến vấn
đề thiết kế trạm Các ảnh hưởng liên quan
Diện tích đấtĐịa hình, địa thếĐặc tính địa chất của đấtCác tính chất thủy họcLối ra vào trạm
Hành lang đường dây
Yêu cầu thiết kế đặc biệtTăng khoảng cách antoàn, làm mát phụ trợ
Giá thành đắtThể tích đất di dờiGiá thành thi công móng
Giá thành HT thoát nướcGiá thành xây dựng và khinâng cấp trạm
Giá thành kết nối với thiết bịngoài trạm và độ tin cậyGiá thành thiết bị ảnh hưởngđến độ tin cậy
Giá thành chuẩn bị địa điểm,giá thành TBĐ cao áp, giáthành thi công XD
Giá thành TBĐ, cấu trúc vàthi công móng trạm
22 dưới đây:
Bảng 2 2 Đặc tính của địa điểm đặt trạm biến áp
Trang 19Địa hình Hành lang đường
đạt
YES
NO Tiếp tục quan tam NO
dừng Không vi phạm
YES
NO Tiếp tục quan tam NO
dừng
đạt
YES
NO Tiếp tục quan tam
YES
Xem xét về không gian và địa lý
YES
Tương thích
NO Tiếp tục quan tam
YES Thực hiện hiệu chỉnh cần thiết
Có hiệu quả
NO
Tiếp tục quan tam
NO
Tương thích Tiếp tục quan
tam Thực hiện hiệu chỉnh cần thiết
dừng
YES
So sánh giá thành với các phương án chọn địa điểm khác
NO dừng
Các điều kiện khác
Hình 2 2 Lưu đồ cho việc chọn địa điểm trạm
225 Diện tích khả dụng
Các yếu tố đầu tiên để dự tính diện tích khả dụng cho trạm là căn cứ vào sơ đồ
nối dây được lựa chọn Dự tính này có thể biến đổi tùy vào từng địa hình cụ thể, các
xuất tuyến liên quan và các ràng buộc về lối ra vào trạm
226 Địa hình, địa thế
Khu vực xây trạm phải thuận tiện cho nhiều mục đích khác nhau, từ việc xây
lắp, vận chuyển thiết bị, đến việc thuận tiện cho việc đấu nối các ngăn lộ và xuất
tuyến, ngoài ra phải có khả năng thoát nước như yêu cầu Để xác định được mặt bằng
trạm như yêu cầu là việc làm mất nhiều thời gian và chi phí, vì vậy tốt hơn là tìm
được vị trí đủ phẳng và không bị úng ngập trong mọi điều kiện thời tiết
Ngoài ra cần chú ý đến địa hình đồi núi vì có thể phải cần đến một số việc để
san lấp mặt bằng và ảnh hưởng của địa hình về không gian Ở các vùng đồi núi, trạm
Trang 20Loại đất Biện pháp xử lý Giá thành xử lý mặt
227 Các tính chất về địa lý và địa chất của đất
Đất khu vực trạm phải cho phép thỏa mãn các yêu cầu về các kết cấu móngtrong trạm và xây dựng đường đi cho trạm Áp lực bề mặt nhỏ nhất phải chịu được là
50 kN/m2 Chỉ cần có sự tồn tại của các nhược điểm về địa lý là đủ để loại bỏ phương
án chọn lựa địa điểm trạmNếu trạm nằm trên các khu vực có mìn còn vướng lại hiện trường vì nhiều lý dokhác nhau, có thể gây nên các sự cố rất nghiêm trọng và những vị trí như vậy cần hếtsức tránh
Vấn đề hệ quả do các vấn đề về địa lý và địa chất gây ra Việc so sánh về giáthành được nêu rõ trong Bảng dưới đây Việc đo điện trở đất là việc làm cần thiếttrước khi xây lắp Ngoài ra, việc tăng diện tích trạm và tăng cường hệ thống lưới nốiđất cũng là những công việc cần thiết
Bảng 23 Bảng giá thành san lấp đất (tính trên m3) và độ dốc với nhiều loại đất khác nhau
Trang 21228 Lối ra, vào trạm
Với những thiết bị siêu trường, siêu trọng như MBA lực hay kháng điện côngsuất lớn, việc vận chuyển là vấn đề đáng quan tâm
Với các MBA lực, với kích thước và khối lượng rất lớn, phải có phương ánnghiên cứu cụ thể để đảm bảo việc vận chuyển an toàn từ nơi sản xuất đến trạmPhương án vận chuyển thiết bị phải được nghiên cứu trong mọi trường hợp thiết bị đivào và đi ra khỏi trạm trong suốt thời gian tồn tại của trạm Những vướng mắc nhỏ
có thể giải quyết bằng cách thay đổi loại MBA, hoặc sử dụng phương tiện vận chuyểnthích hợp khác hoặc tăng cường cầu đường tạm thời
Trong những trường hợp nan giải, có thể dùng 3 MBA 1 pha thay cho 1 MBA
3 pha, tuy làm tăng số lượng MBA nhưng việc vận chuyển từng MBA 1 pha sẽ dễdàng hơn Hoặc trong một số trường hợp đặc biệt, việc sửa chữa nâng cấp quãngđường để vận chuyển cũng là việc làm cần thiết Một khía cạnh nữa cũng cần quantâm là đường đi lối lại cho nhân viên vận hành trạm (đối với trạm có người ĐK) hay
để thuận tiện cho các đội sửa chữa, bảo dưỡng (với những trạm vận hành tự động)
23 Các phương pháp tái cấu hình lưới điện [3]
đồ thị của G (N, B) có chứa một tập hợp các nút N và một tập hợp các nhánh B Mỗi
nút đại diện cho một nút nguồn hoặc một nút nơi nhận, trong khi một nhánh đại diệncho một đường nhánh có thể tải (khóa điện đóng) hoặc không tải (khóa điện mở) Docấu trúc lưới điện hình tia, vì vậy mà các nhánh tạo thành một tập dạng cây mà mỗinút tải được cung cấp từ duy nhất một nút nguồn Do đó, bài toán tái cấu hình lướiđiện phân phối là tìm ra một cấu hình vận hành hình tia mà tổn thất công suất là bé
Trang 22nhất trong khi vẫn thỏa mãn các ràng buộc vận hành Trong thực tế, tái cấu hình cóthể được xem như là bài toán xác định một dạng cây tối ưu của đồ thị cho trước
Rất nhiều thuật toán đã được sử dụng để giải bài toán tái cấu hình: phương phápHeuristic, hệ chuyên gia, tối ưu hóa tổ hợp với các nhánh riêng biệt và phương phápgiới hạn, lập trình tiến hóa hoặc thuật toán di truyền (GA) Năm 1975, Merlin và Back
là những người đầu tiên đề xuất nhánh riêng biệt và phương pháp giới hạn để giảmtổn thất trong một lưới điện phân phối Do tính chất tổ hợp ngẫu nhiên của bài toán,
nó đòi hỏi phải kiểm tra một số lượng lớn các cấu hình cho một hệ thống thực
Shirmohammadi và Hong đã cải tiến phương pháp Heuristic đề cập trước đó bởiMerlin và Back Fan và các cộng sự kỹ thuật Heuristic, tìm kiếm đề xuất để khôi phục
hệ thống và cân bằng tải của nhiều nhánh Castro và Franca đề xuất các thuật toánHeuristic điều chỉnh để khôi phục hệ thống và cân bằng tải Các ràng buộc vận hànhđược kiểm tra thông qua giải bài toán phân bố công suất bằng phương pháp Newton-Raphson Baran và Wu đã trình bày một phương pháp tái cấu hình dựa trên phươngpháp trao đổi nhánh để giảm tổn thất và cân bằng tải trong các nhánh Để hỗ trợ việctìm kiếm, hai phương pháp phân bố công suất tương đối với mức độ chính xác khácnhau được sử dụng Ngoài ra, họ đề xuất một biểu thức đại số mà cho phép ước lượngviệc giảm tổn thất cho sự thay đổi cấu hình
Liu và các cộng sự đề xuất một hệ chuyên gia để giải bài toán phục hồi và giảmtổn thất trong hệ thống phân phối Mô hình bài toán tái cấu hình là bài toán tối ưu phituyến tổ hợp Để tìm ra giải pháp tối ưu, cần thiết phải xem xét tất cả các cấu trúc cây
có thể được tạo ra do sự đóng mở của các khóa điện hiện có trong mạng Nahman vàStrbac trình bày phương pháp Heuristic khác Thuật toán bắt đầu từ một mạng rỗnghoàn toàn, với tất cả các khóa điện và tất cả các tải bị ngắt kết nối Các điểm tải lầnlượt được kết nối vào các nhánh con hiện có Kỹ thuật tìm kiếm này cũng không đảmbảo tối ưu toàn cục Zhu và các cộng sự đề xuất phương pháp dựa trên các quy tắc đểnghiên cứu tái cấu hình lưới điện phân phối (DNRC) Mô hình DNRC với ràng buộccông suất của đường dây được thiết lập, trong đó mục tiêu là để giảm tổn thất côngsuất của hệ thống Các quy tắc được sử dụng để tái cấu hình tối ưu của lưới điện phânphối được hình thành dựa trên kinh nghiệm vận hành hệ thống và các loại nhánhchuyển đổi Gần đây, các phương pháp mới dựa trên thuật toán di truyền (GA) đã
Trang 23Min f= kl l lI 2
được sử dụng trong DNRC Các phương pháp dựa trên thuật toán GA tốt hơn so vớicác thuật toán Heuristic truyền thống trong việc tìm tối ưu toàn cục
232 Mô hình toán học của DNRC:
Thông thường DNRC quan tâm đến bài toán giảm tổn thất công suất [4] Môhình toán học của DNRC có thể được thể hiện bởi dòng điện nhánh:
NL l1
Vi: Điện áp nút tại nút i
kl: Đại diện cho trạng thái của các nhánh kl =1 nếu nhánh l đóng, và kl = 0 nếu
(a) Tính khả thi: Tất cả các nút trong mạng phải được kết nối bởi một số nhánh,tức là ở đó không có nút nào bị tách biệt
(b) Hình tia: Số lượng các nhánh trong mạng phải nhỏ hơn so với số lượng các
nút một đơn vị (k l * NL = N - 1)
Trang 24Do đó, cấu hình mạng cuối cùng phải được bố trí hình tia và tất cả các tải vẫnphải kết nối
233 Phương pháp Heuristic [5]
2331 Phương pháp trao đổi nhánh đơn giản
Ý tưởng cơ bản của phương pháp đổi nhánh Heuristic là tính toán sự thay đổicủa tổn thất công suất bằng cách vận hành một cặp các khóa điện (đóng một và mởmột khóa điện khác vào cùng một thời điểm) Mục đích là để giảm tổn thất công suất
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản và dễ hiểu Những nhược điểm:
+ Các cấu hình cuối cùng phụ thuộc vào cấu hình mạng ban đầu
+ Giải pháp là một tối ưu địa phương, chứ không phải là tối ưu toàn cục
+ Mất nhiều thời gian cho việc lựa chọn và vận hành từng cặp các khóa điệncũng như tính toán phân bố công suất trong mạng hình tia tương ứng
2332 Mô hình dòng chảy tối ưu
Nếu trở kháng của tất cả các nhánh trong mạng được thay thế bởi các điện trởcủa nhánh tương ứng, phân bố dòng công suất đáp ứng các định luật KCL và KVLđược gọi là một mô hình dòng chảy tối ưu Khi phân bố công suất trong một vòng kín
là dòng chảy tối ưu, tổn thất công suất trong mạng tương ứng sẽ là nhỏ nhất Do đó,
ý tưởng cơ bản của mô hình dòng chảy tối ưu là mở khóa điện của nhánh có dòngđiện thấp nhất trong vòng kín, các bước của thuật toán Heuristic dựa trên một môhình dòng chảy tối ưu là:
(1) Tính toán phân bố công suất của mạng hình tia ban đầu
(2) Đóng tất cả các các khóa điện thường mở để tạo thành các mạng vòng(3) Tính toán dòng điện tương đương bơm vào tất cả các nút trong một vòngthông qua phương pháp bơm dòng điện
(4) Thay thế trở kháng của nhánh tương ứng bằng điện trở của nhánh trong cácvòng kín và sau đó tính toán dòng chảy tối ưu
(5) Mở khóa điện của nhánh có dòng điện thấp nhất trong vòng kín Tính toánlại phân bố công suất phần còn lại của mạng
(6) Mở khóa điện trên nhánh tiếp theo và lặp lại bước (5) cho đến khi mạng trởthành một mạng hình tia
Những ưu điểm của phương pháp này là: (a) cấu hình mạng cuối cùng sẽkhông phụ thuộc vào cấu trúc mạng ban đầu; (b) tốc độ tính toán nhanh hơn nhiều
Trang 25so với các phương pháp đổi nhánh đơn giản; và (c) bài toán vận hành khóa điện tổhợp phức tạp trở thành một bài toán Heuristic bằng cách mở một khóa điện mỗi lầnTuy nhiên, có một số nhược điểm do bởi tất cả các khóa điện thường mở đượcđóng trong cấu hình mạng ban đầu, như là:
+ Nếu có nhiều khóa điện thường mở trong một mạng, nó có nghĩa là tính toáncủa dòng chảy tối ưu bao gồm rất nhiều vòng Giải pháp cuối cùng có thể không
được tối ưu do những tác động lẫn nhau giữa các vòng
+ Khi phân bố công suất được giải quyết bằng các phương pháp bơm dòng điệnvào, nó cần phải tính ma trận tổng trở Thevenin tương đương của mạng với nhiều nútĐiều này sẽ làm tăng gánh nặng tính toán
+ Cần phải tính toán phân bố công suất mạng điện kín hai lần cho mỗi lần
chuyển đổi một khóa điện (trước và sau khi mở một khóa điện)
224 Phương pháp tối ưu kiến – Ant Colony Optimization Method [6]
Giải thuật kiến được đề xuất lần đầu bởi Dorigo vào đầu những năm 1990, sau
đó Carpento và Chicco trình bày một ứng dụng mới của giải thuật tìm kiếm của đànkiến cho bài toán tối ưu tái cấu hình lưới điện phân phối với mục tiêu cực tiểu tổnthất trên hệ thống phân phối với các ràng buộc trong quá trình vận hành Phương phápnày dựa trên hoạt động tìm kiếm thức ăn của một đàn kiến Ban đầu, số con kiến bắtđầu từ tổ kiến để đi tìm đường đến nơi có thức ăn Từ tổ kiến sẽ có rất nhiều con
đường khác nhau để đi đến nơi có thức ăn, nên một con kiến sẽ chọn ngẫu nhiên mộtcon đường đi đến nơi có thức ăn Quan sát loài kiến, người ta nhận thấy chúng tìmkiếm nhau dựa vào dấu chân mà chúng để lại trên đường đi Sau một thời gian, lượngdấu chân của mỗi chặng đường sẽ khác nhau Do sự tích lũy dấu chân của mỗi chặnđường cũng khác nhau Đồng thời với sự bay hơi của dấu chân ở đoạn đường kiến ít
đi Sự khác nhau này sẽ ảnh hưởng đến sự di chuyển của những con kiến sau đi trênmỗi đoạn đường Nếu dấu chân để lại trên đường đi nhiều thì sẽ có khả năng thu hútcác con kiến khác di chuyển trên đường đi đó, những chặng đường còn lại do khôngthu hút được lượng kiến di chuyển sẽ có xu hướng bay hơi dấu chân sau một thời gianqui định Điều đặc biệt trong cách hành xử loài kiến là lượng dấu chân trên đường đi
có sự tích lũy càng lớn thì cũng đồng nghĩa với việc đoạn đường đó là ngắn nhất từ
tổ kiến đến nơi có thức ăn Từ khi giải thuật kiến trở thành một lý thuyết vững chắctrong việc giải các bài toán tìm kiếm tối ưu toàn cục đã có nhiều ứng dụng thực tế
Trang 26cho giải thuật này như: tìm kiếm các trang web cần tìm trên mạng, kế hoạch sắp xếpthời khóa biểu cho các y tá trong bệnh viện, cách hình thành các màu khác nhau dựavào các màu tiêu chuẩn có sẵn, tìm kiếm đường đi tối ưu cho những người lái xehơi… Nói tóm lại, phương pháp này đưa ra để giải quyết các bài toán có không giannghiệm lớn để tìm ra lời giải có nghiệm là tối ưu nhất trong không gian nghiệm đóvới thời gian cho phép hay không tìm ra cấu hình tối ưu hơn thì dừng Phương phápnày cũng rất thích hợp để giải bài toán cấu hình để có thể tìm ra trong các cấu hình
có thể của mạng phân phối có một cấu hình có công suất tổn thất là nhỏ nhất
Có nhiều phương pháp để khôi phục cung cấp điện trên lưới điện như các giảithuật thuần Heuristic được trình bày trong các nghiên cứu, hay sử dụng cơ sở tri thứcCác mạng nơron hay các thuật toán Meta Heuristic như giải thuật di truyền cũng như
lý thuyết mờ cũng được áp dụng để giải bài toán này Tuy nhiên, việc đảm bảo số lầnchuyển tải cũng như số lượng khách hàng bị mất điện là ít nhất để thời gian khôi phụclưới là ít nhằm giảm thiểu chi phí đền bù cho khách hàng chưa được đề cập rõ ràngtrong các nghiên cứu trên
Đối với các phương pháp tiếp cận Heuristic, là thước đo bằng trực giác, để hạnchế không gian tìm kiếm, chủ yếu dựa vào kiến thức và kinh nghiệm của các chuyêngia vận hành trên LĐPP thực tế được biên dịch thành các chương trình máy tính Tuynhiên, điều này cho thấy có những khó khăn lớn trong việc ứng dụng vào các LĐPPkhác vì tính chuyên gia của chương trình và kích thước của phần mềm lớn cũng nhưthuật toán phức tạp
Đối với các chương trình sử dụng hệ chuyên gia, về cơ bản bao gồm hai thànhphần chính là cơ sở tri thức và phương pháp suy diễn Mặc dù, cho đến nay, phươngpháp tiếp cận hệ chuyên gia có thể được coi là phương pháp tiếp cận thành công đểgiải quyết vấn đề tái cung cấp điện trên LĐPP, nhưng không chắc rằng phương phápnày luôn luôn có thể tìm thấy một cấu hình tối ưu về số lần chuyển khóa Hơn nữabảo trì các hệ chuyên gia quy mô lớn có chi phí tốn kém
Đối với các nghiên cứu tập trung vào các kỹ thuật như mạng nơron, thuật toán
di truyền và lý thuyết mờ, mặc dù các phương pháp tính toán dựa trên phần mềm,dường như đầy hứa hẹn, tuy nhiên khi giải quyết trên lưới điện có quy mô lớn thì bàitoán tối ưu tổ hợp cần quá nhiều thời gian tính toán để đưa ra lời giải không phù hợpvới thực tiễn vận hành trong tình huống khôi phục cung cấp điện
Trang 27có khả năng nâng cao việc cân bằng tải, giảm thiểu số lượng hộ tiêu thụ bị mất điệnkhi có sự cố hay cách ly phần tử bị sự cố để sửa chữa
Trong quá trình vận hành, thực tế việc tái cấu hình khôi phục lưới điện để phục
vụ tối ưu cung cấp điện cho hộ tiêu thụ trong điều kiện ràng buộc kỹ thuật với hàngtrăm khóa điện trên LĐPP là vô cùng khó khăn đối với các điều độ viên Do đó, luôncần có một phương pháp phân tích phù hợp với lưới điện phân phối thực tế và mộtgiải thuật đủ mạnh để tái cấu trúc lưới thỏa mãn các mục tiêu điều khiển của các điều
độ viên
24 Các phương pháp xác định tổn thất công suất [7]–[11]
241 Phương pháp xác định theo τ
Đây là phương pháp đơn giản và sử dụng thuận tiện nhất Trong các trạng thái,
ta chọn trạng thái có ΔP lớn nhất và tính tổn thất ở trạng thái này, tổn thất tươngP lớn nhất và tính tổn thất ở trạng thái này, tổn thất tươngđương gây ra bởi dòng điện cực đại chạy trong mạng với thời gian tổn thất cực đạitheo công thức :
∆A = 3I2maxR10-3 τ = ΔP lớn nhất và tính tổn thất ở trạng thái này, tổn thất tươngPmaxτ
Trong đó: Imax – Dòng điện cực đại chạy trong mạng (A)
τ – Thời gian tổn thất công suất cực đại, tức là nếu mạng điện liên tụctải Imax hay Pmax trong khoảng thời gian này thì sẽ gây ra tổn thất điệntrong mạng vừa đúng bằng tổn thất trên thực tế
Phương pháp này cũng gặp trở ngại là thời gian tổn thất cực đại thay đổi phụthuộc vào tính chất phụ tải, hệ số công suất, thời gian sử dụng công suất cực đại vv
… Vì vậy việc tính toán tổn thất điện năng theo công thức nêu trên cũng mắc sai sốlớn Giá trị thời gian tổn thất cực đại được xác định theo đồ thị phụ tải như sau :
Trang 28T : Thời gian khảo sát
Khi sử dụng phương pháp này ta coi đồ thị phụ tải của công suất tác dụng vàcông suất phản kháng đồng thời cực đại, giả thiết này dẫn đến sai số lớn trong tínhtoán
a Ưu điểm:
- Tính toán đơn giản
- Giá trị Imax hay Pmax xác định bằng tính toán hoặc đo đếm
- Nếu một đường dây cấp điện cho các trạm tiêu thụ có tính chất giống nhau thìkhối lượng đo đếm không lớn
- Cho biết tình trạng làm việc của toàn lưới, xác định được phần tử nào làm việckhông kinh tế
b Nhược điểm:
- Việc xác định chính xác giá trị τ rất khó nếu không có đồ thị phụ tải
- Khi không có đồ thị phụ tải ta phải xác định τ theo Tmax thông qua các côngthức thực nghiệm dẫn đến kết quả tính toán có sai số lớn
- Trên lưới điện có nhiều phụ tải để xác định được giá trị của τ ứng với nhiềuphụ tải sẽ tốn rất nhiều công sức và thời gian
Trang 29- Để xét đến điều kiện trên người ta dùng phương pháp xác định tổn thất điệnnăng theo τp và τq
- Trong công thức ∆A = ΔP lớn nhất và tính tổn thất ở trạng thái này, tổn thất tươngPmaxτ tổn thất công suất cực đại được phân tích thànhhai thành phần ΔP lớn nhất và tính tổn thất ở trạng thái này, tổn thất tươngPp (tổn thất do công suất tác dụng P gây ra) và ΔP lớn nhất và tính tổn thất ở trạng thái này, tổn thất tươngPq (tổn thất do côngsuất phản kháng Q gây ra) Thời gian tổn thất công suất cực đại τ cũng được phântích thành τp, τq Khi đó tổn thất điện năng được xác định theo công thức:
ΔP lớn nhất và tính tổn thất ở trạng thái này, tổn thất tươngA = ΔP lớn nhất và tính tổn thất ở trạng thái này, tổn thất tươngPpτp + ΔP lớn nhất và tính tổn thất ở trạng thái này, tổn thất tươngPqτq
- Khó khăn đối với phương pháp này là đồ thị công suất phản kháng ít khi đượcxây dựng nên phương pháp này ít được sử dụng
243 Tính bằng phương pháp 2τ
- Để tính theo phương pháp này người ta xét đến trạng thái phụ tải cực đại vàcực tiểu Trong đồ thị phụ tải ngày đêm người ta chia làm hai phần theo khoảng thờigian tmax và tmin, tmax là khoảng thời gian phần đồ thị có công suất cực đại, tmin là phầnthời gian còn lại trên đồ thị phụ tải tương ứng với phần có công suất cực tiểu
- Điện năng tiêu thụ trong một ngày đêm Anđ có thể viết theo công thức:
Anđ = Pmaxtmax + Pmintmin
Trong đó: tmax + tmin = 24 giờ
Trang 30𝐴𝑡𝑏𝑛đ - điện năng ngày đêm trung bình để tính toán
𝐴𝑛đ - điện năng ngày đêm của ngày chọn để tính toán
𝐴𝑇 : Điện năng cung cấp trong thời gian T
- Hệ số tổn thất (Loss factor): Là tỉ số giữa tổn thất công suất trung bình trên tổnthất công suất lớn nhất ứng với công suất phụ tải cực đại (ký hiệu LsF)
𝐿𝑠𝐹 = ∆𝑃𝑡𝑏
∆𝑃𝑚𝑎𝑥 = ∆𝐴𝑇
∆𝑃𝑚𝑎𝑥 𝑇Trong đó:
∆𝐴𝑇 : Tổn thất điện năng trong thời gian T (ví dụ 1 năm)
- Quan hệ giữa Tmax, τ với LF và LsF: Từ định nghĩa LF và LsF có thể suy ranhững mối quan hệ sau:
Trang 31𝐼𝑡𝑏𝑏𝑞 = √ ∫ 𝐼𝑡2 𝑑𝑡0
Trong đó:
𝐼𝑡𝑏𝑏𝑞: Dòng điện trung bình bình phương
1 𝑇 𝑇
- Quan hệ giữa LF và LsF được xây dựng dưới dạng các hàm thực nghiệm chocác loại lưới điện và phụ tải khác nhau
Nhìn chung ta có LF2 < LsF < LF
Một số hàm thực nghiệm hay được sử dụng:
LsF = cLF + (1 – c) LF2
Trong đó:
c = 0,3 : Đối với lưới truyền tải
c = 0,15 : Đối với lưới phân phối
Ở Anh và Úc sử dụng công thức:
LsF = 0,2LF + 0,8 LF2
- Tính toán tổn thất điện năng theo hệ số tổn thất:
Từ đó thể suy ra: ∆AT = ΔP lớn nhất và tính tổn thất ở trạng thái này, tổn thất tươngPmax T LsF (222)
Trang 32r0: điện trở trên 1 km của dây dẫn
L: chiều dài dây dẫn
Pn, Qn : công suất tác dụng và phản kháng truyền trên nhánh 3 pha
Như vậy, để giảm tổn thất công suất, hiện nay có rất nhiều phương pháp đểgiảm tổn thất công suất
311 Đánh giá mức độ cân bằng pha trên lưới điện
Công thức (31) cho thấy đây là tổn thất được tính trên lưới điện 3 pha cân bằngNếu xuất hiện sự mất cân bằng giữa các pha, sẽ xuất hiện dòng điện trên dây trungtính ngay cả khi lưới điện đang vận hành hình tia Điều này sẽ làm tăng tổn thất côngsuất
Việc duy trì cos giữa các pha có thể dễ dàng thực hiện bằng cách bù trên lưới
hạ thế để cos0,95 Tuy nhiên việc duy trì biên độ dòng điện giữa các pha bằngnhau là điều khó khăn ngay cả gần bằng nhau Vì vậy việc cân bằng pha cần đượcxem xét trước tiên, đặc biệt là lưới điện khi có sự phát triển của lưới 1 pha dẫn đếnviệc mất cân bằng khá lớn trên các pha trên 2 phát tuyến
Trang 33 2 2
Qn Pn 1
312 Đánh giá mức độ giảm điện trở đơn vị
Để giảm tổn thất công suất, biện pháp khá đơn giản là giảm r0 trên đường dâybằng cách tăng tiết diện dây dẫn Tuy nhiên, điều này dẫn đến chi phí đầu tư khá lớnDựa và biểu thức (31) khi công suất chuyển tải tăng gấp 2 mà vẫn muốn giữa nguyên
tỷ sốP/P hayA/A mà không có một tác động ngoài giải pháp này thì việc tăng gấpđôi tiết diện dây là điều hiển nhiên
313 Tái cấu hình lưới
Việc tái cấu hình lưới điện phân phối là một trong nhưng biện pháp mạnh mẽtrong việc tác động trực tiếp lên biểu thức (31) nhằm giảmP hayA bằng cách cânbằng lại Pn, Qn và L giữa các nhánh và tuyến dây Cũng có thể tận dụng giải pháp này
để cân bằng giữa các pha trên tuyến dây mà không cần phải đầu tư thêm bất cứ mộtchi phí xây dựng cơ bản nào ngoài việc thay đổi các trạng thái khoá điện trên các pháttuyến nhằm tái cấu hình lưới điện phân phối hạ áp
Đánh giá mức độ ảnh hưởng lên biểu thức (31) Vì lưới cung cấp điện hạ thếgần như không liên thông với nhau nên việc giảm tổn thất điện năng trên lưới rất khó
áp dụng giải pháp này mà chủ yếu là cân bằng giữa các pha, bù công suất phản kháng
và lắp thêm trạm biến áp 22/0,4 kV mới (chia lại lưới hạ thế) nên cos đo tại trạmkhá cao sau khi các giải pháp kiện toàn lưới hạ thế được hoàn tất
Do cos = 0,95 tại phía hạ thế nên khi qua MBA 22/0,4 kV, hệ số công suấtnày cũng không giảm đáng kể vì tổn haoQ của MBA không đáng kể Vì vậy quan
hệ giữa Pn và Qn được biểu diển tại (34) Dựa vào quan hệ của (31) và (34), ảnh
hưởng của bù công suất phản kháng trực tiếp lên lưới trung thế để giảm tổn hao côngsuấtP hayA là rất ít so với việc cân bằng lại Pn và L giữa các tuyến dây