1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa tuyên quang (năm thứ hai)

52 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Áp Dụng Quy Trình Phòng Bệnh Cho Trâu Khối Lượng Lớn Nuôi Tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang (Năm Thứ Hai)
Tác giả Tống Tuấn Linh
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Huê Viên, PGS.TS. Nguyễn Hưng Quang, PGS.TS. Từ Trung Kiên
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Thú Y
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng như ở nhiều nơi trong cả nước, chăn nuôi trâu là một nghề sản xuất truyền thống lâu đời, con trâu đã trở thành con vật thân thiết, là tài sản quý đối với mỗi người nông dân vì nó kh

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2021

Thái Nguyên, 2021

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2016 - 2021 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Huê Viên

Thái Nguyên, 2021

Trang 3

- Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y đã phân em về Trạm Chăn nuôi

và thú y huyện Chiêm Hóa thực hiện đề tài;

- Trạm Chăn nuôi và thú y huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện cho quá trình học tập, cũng như giai đoạn thực hiện đề tài;

- Ủy ban nhân dân các xã Yên Nguyên, Hòa Phú, Vinh Quang là các cơ quan quản lí nhà nước trên địa bàn triển khai thực hiện đề tài, đã tạo điều kiện tốt nhất để thực hiện nghiên cứu

Để hoàn thành bài khóa luận này em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

tới PGS.TS Trần Huê Viên là người thầy hướng dẫn về khoa học, đã giúp đỡ

tôi tận tình và có trách nhiệm trong quá trình nghiên cứu cũng như hoàn thiện

bài khóa luận, PGS.TS Nguyễn Hưng Quang, PGS.TS Từ Trung Kiên đã

chỉ bảo tận tình trong quá trình thực nghiệm nghiên cứu cũng như thực hiện bài khóa luận này

Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình thực hiện của các thú y xã

và các hộ dân tham gia đề tài để em hoàn thành nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp

Do bản thân còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu xót

Em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô, các bạn để đề tài của

em được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 12 năm 2020

Sinh viên

Tống Tuấn Linh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Số lượng và sự phân bố đàn trâu qua các năm 27

Bảng 4.2 Quy mô đàn trâu nuôi trong nông hộ 28

Bảng 4.3 Cơ cấu đàn trâu theo lứa tuổi 29

Bảng 4.4 Thực trạng tình hình chuồng trại trong chăn nuôi trâu 30

Bảng 4.5 Kết quả tập huấn kỹ thuật chăn nuôi trâu sinh sản 31

Bảng 4.6 Kết quả tiêm phòng vacxin cho đàn trâu của huyện 33

Bảng 4.7 Kết quả tiêm vacxin LMLM cho đàn trâu cái sinh sản ở 3 xã 34

Bảng 4.8 Kết quả tiêm vacxin THT cho đàn trâu cái sinh sản ở 3 xã 34

Bảng 4.9 Kết quả tiêm vacxin LMLM cho đàn trâu đực sinh sản ở 3 xã 35

Bảng 4.10 Kết quả tiêm vacxin THT cho đàn trâu đực sinh sản ở 3 xã 36

Bảng 4.11 Kết quả tiêm phòng vacxin cho đàn trâu sinh sản mô hình 37

Bảng 4.12 Kết quả tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu cái sinh sản đại trà 38

Bảng 4.13 Kết quả tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu đực sinh sản đại trà 38

Bảng 4.14 Kết quả tẩy ký sinh trùng cho trâu sinh sản khảo nghiệm 39

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LMLM : Lở Mồm Long Móng UBND : Ủy ban nhân dân NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn KH&CN : Khoa học và công nghệ

Cs : Cộng sự

KG : Ki-lô-gam

F : Pasciola THT : Tụ Huyết Trùng

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

PHẦN 1 1

MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của chuyên đề 2

1.3 Ý nghĩa của chuyên đề 2

PHẦN 2 3

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước về con trâu 3

2.2 Một số đặc điểm chung của địa bàn triển khai chuyên đề nghiên cứu 7

2.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 7

2.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp 9

2.3 Cơ sở khoa học về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 10

2.3.1 Phòng bệnh 10

2.3.2 Điều trị bệnh 12

2.4 Một số bệnh thường gặp chủ yếu ở trâu sinh sản 14

2.4.1 Bệnh giun đũa bê, nghé 14

2.4.2 Bệnh sán lá gan 15

2.4.3 Bệnh lở mồm long móng 18

2.4.4 Bệnh tụ huyết trùng trâu bò 20 PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

Trang 7

3.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Thời gian nghiên cứu 25

3.1.3 Địa điểm nghiên cứu 25

3.2 Nội dung nghiên cứu 25

3.3 Phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1 Phương pháp tổ chức nghiên cứu 25

3.3.2 Một số chỉ tiêu theo dõi 26

3.4 Xử lí số liệu 26

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

4.2.1 Tổ chức tuyên truyền phổ biến kỹ thuật chăn nuôi trâu 31

4.2.2 Kết quả tổ chức tiêm phòng vác xin và tẩy ký sinh trùng cho trâu 32

4.2.2.1 Kết quả tiêm phòng vác xin cho đàn trâu đại trà của huyện 32

4.2.2.2 Kết quả tiêm phòng vác xin cho đàn trâu sinh sản ở 3 xã có mô hình 33

4.2.2.3 Kết quả tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu sinh sản 37

4.2.2.4 Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh 39

PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 41

5.1 Kết luận 41

5.2 Tồn tại và đề nghị 41

PHỤ LỤC

Trang 8

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong sản xuất nông nghiệp nước ta, con trâu chiếm một vị trí hết sức quan trọng "con trâu là đầu cơ nghiệp" Trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt, con trâu không chỉ cung cấp sức kéo trên đồng ruộng, sử dụng để vận chuyển hàng hoá vùng nông thôn, miền núi, cung cấp phân bón cho sản xuất cây trồng; nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp mà còn cung cấp cấp thịt có chất lượng cao

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi có số dân sống dựa và sản xuất nông nghiệp chiếm 78% Cũng như ở nhiều nơi trong cả nước, chăn nuôi trâu là một nghề sản xuất truyền thống lâu đời, con trâu đã trở thành con vật thân thiết, là tài sản quý đối với mỗi người nông dân vì nó không những mang lại giá trị kinh tế cao, vừa cung cấp sức kéo và phân bón trong sản xuất nông nghiệp

Tuy nhiên, theo kết quả Báo cáo thống kê của Sở NN&PTNT tỉnh Tuyên Quang năm 2020, tỉnh Tuyên Quang nói chung và huyện Chiêm Hóa nói riêng số lượng trâu đang bị giảm cả về số lượng và chất lượng Trước thực tế trên cùng với công tác giống và đảm bảo nguồn thức ăn dinh dưỡng thì công tác vệ sinh thú y, phòng và trị bệnh cho đàn trâu là nội dung có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp cho trâu có sức đề kháng, hạn chế được sự lây nhiễm và mắc bệnh, giảm những rủi ro, góp phần từng bước nâng cao số lượng và chất lượng đàn trâu nuôi tại địa phương

Nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về công tác vệ sinh thú y, phòng

và trị bệnh đảm bảo an toàn dịch bệnh cho đàn trâu nuôi tại địa phương, trong

phạm vi nội dung đề tài cấp Nhà nước "Nghiên cứu khai thác và phát triển

nguồn gen trâu có khối lượng lớn nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang, mã số NVQG-2018/13' chúng tôi thực hiện chuyên đề nghiên cứu "Nghiên cứu quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang (năm thứ 2)"

Trang 9

1.2 Mục tiêu của chuyên đề

Đánh giá được thực trạng tình hình chăn nuôi trâu và kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang

1.3 Ý nghĩa của chuyên đề

Kết quả của chuyên đề bổ sung nguồn thông tin về áp dụng biện pháp thú y phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang đòng thời góp phần nâng cao nhận thức cho người dân về việc áp dụng biện pháp thú y phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại địa phương

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước về con trâu

Từ những năm 1970, công tác tuyển chọn trâu phục vụ nhân thuần đã bắt đầu được chú ý Tại trại trâu Ngọc Thanh, Vĩnh Phúc họ đã chọn con có khối lượng lớn để làm giống với khối lượng sơ sinh có thể đạt 28,8kg (đực)

và 27,8kg (cái) Áp dụng một số biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng tốt giúp tăng khối lượng của nghé từ sơ sinh đến 6 tháng đạt 465 g/ngày

Khối lượng 12 tháng đạt 185,4kg (đực) và 182,6kg (cái); 24 tháng tuổi đạt 266,8kg (đực) và 254,3kg (cái); 36 tháng tuổi tương ứng 363,7 kg (đực)

và 333,7kg (cái) Trâu cái trưởng thành 451,6kg Nuôi nghé đực 18 tháng tuổi

đã có khả năng truyền giống, nhưng trên 2 năm tuổi chất lượng tinh mới tốt Nghé cái có biểu hiện động dục rõ bắt đầu vào lúc 2 năm tuổi, chu kỳ động dục 22 ngày, thời gian chịu đực kéo dài 21giờ Cho phối giống vào cuối giai đoạn chịu đực và phối kép 2 lần cách nhau 10-12 giờ cho tỷ lệ đậu thai trên 80% Thời gian mang thai trung bình 325 ngày Trâu sống tương đối thọ khoảng 20-22 năm, mỗi trâu cái cả đời có thể sinh 15-17 nghé con

Tuy nhiên trong thực tế sản xuất thì chỉ để trâu cái đẻ 5-6 nghé con sau

đó khoảng 13-16 tuổi bà con tiến hành loại thải Mùa sinh sản chính của trâu vào mùa thu đông chiếm 62% Tỷ lệ nuôi sống của nghé con đạt 87%, nguyên nhân gây chết chính do ỉa chảy, thiếu sữa và chết rét (Nguyễn Đức Thạc, 1983)

Khi kiểm tra 287 trâu cái trong tuổi sinh sản tại xã Tản Lĩnh (Ba Vì) và

xã Tự Lập (Mê Linh) có 92 con chiếm 32% có vấn đề liên quan cơ quan sinh sản, trong số này có 60% gặp vấn đề buồng trứng, số còn lại chủ yếu viêm tử cung Thí nghiệm trên 19 con trâu chậm sinh do buồng trứng kém phát triển

Trang 11

được điều trị bằng PMSG + HCG cho tỷ lệ đậu thai 36,3% thấp hơn so với lô đạt PRID đạt 62,5% Đối với trâu có buồng trứng duy trì thể vàng sử dụng PGF2α để điều trị và TTNT có kết quả đậu thai 60% ngay ở chu kỳ động dụng thứ 2, tương đương lô đặt PRID (Mai Văn Sánh, 2005)

Trịnh Văn Trung và ctv (2008) nghiên cứu dinh dưỡng cho trâu bằng việc bổ sung thức ăn xanh, bột sắn, sắn khô và rỉ mật giai đoạn 7-12 tháng tuổi bổ sung 30% thức ăn tinh trong khẩu phần nghé cho tăng khối lượng cao nhất (561 g/con/ngày) Bổ sung 18-25% bột lá sắn trong khẩu phần ăn của trâu tơ cho tăng khối lượng 545-578 g/ con/ngày Khi sử dụng bột sắn, bột lá sắn và rỉ mật vỗ béo trâu tăng khối lượng đạt 527 g/con/ngày và tỷ lệ thịt xẻ đạt 43,6% Vũ Duy Giảng (2009) cho biết, nuôi trâu giai đoạn 18-24 tháng tuổi đem vỗ béo trong 3 tháng có thể cho tăng khối lượng 680-700 g/con/ngày

Dinh dưỡng cho khẩu phần vỗ béo cho trâu chủ yếu là thức ăn dễ kiếm, ngoài cỏ tươi có thêm một lượng nhất định cám gạo, sắn lát hay sắn tươi Chất lượng thịt trâu ngày càng được đánh giá cao trên thị trường thế giới và được nhiều người ưa chuộng, kể cả một số nước châu âu và Mỹ vì nhiều nạc, ít mỡ, lượng cholesterol ít hơn thịt bò 41% Tỷ lệ thịt xẻ của trâu cũng khá cao với 43-48% Một nghiên cứu về độ ngon được tiến hành trên 28 bữa ăn với 3 loại thịt (1) thịt trâu, (2) thịt bò lai, (3) thịt bò loại 1 từ châu Âu không được cho biết trước tại Trinidad

Kết quả cho thấy có 14/28 người đánh giá thịt trâu ngon nhất, 7 người đánh giá thịt bò loại 1 nhập khẩu châu Âu ngon nhất, 5 người chọn thịt bò lai

và có 2 người đánh giá thịt trâu và thịt bò lai ngon như nhau và ngon hơn thịt

bò loại 1

Đặc điểm chung của trâu nội ở các địa phương nước ta là tầm vóc nhỏ, sinh trưởng chậm (khả năng tăng trọng thấp) và thành thục muộn Trâu Việt

Trang 12

Nam có khối lượng trưởng thành nhỏ: trâu đực 400-450 kg/con trâu cái

330-350 kg/con và tỷ lệ thịt xẻ 43-45%

Do chăn nuôi đặc biệt là công tác giống hầu như chưa được quan tâm đúng mức nên tầm vóc trâu có xu hướng giảm: Số liệu điều tra từ năm 1985 đến năm 2000 cho thấy tầm vóc của trâu đực đã giảm 11,3%: từ 476kg xuống 422,3kg và trâu cái giảm 14,6%: từ 406kgn xuống 346,5kg Đây là vấn đề rất đáng báo động về tình trạng suy thoái trâu Việt Nam (Cục Chăn nuôi, 2010)

Thời gian qua, công tác giống trâu đã được chú trọng hơn, nhưng cần phải xây dựng đàn hạt nhân nhằm tạo vùng giống trâu có năng suất, chất lượng cao để cung cấp trâu giống trong vùng và các vùng phụ cận Một vài nghiên cứu được tiến hành để cải tạo tầm vóc đàn trâu địa phương, sử dụng trâu đực ngoại hình to làm giống

Kết quả về cải tạo tầm vóc trâu bản địa thông qua sử dụng trâu đực và cái giống khối lượng to đã làm tăng khối lượng sơ sinh, 3, 6, 12 và 24 tháng tuổi của nghé thế hệ 1 lên 10% so với đàn đại trà, và thế hệ 2 lên 5-7% so với thế hệ 1 (Trịnh Văn Trung và ctv, 2010) Đinh Văn Cải (2013) cho biết nghé nội sinh ra từ đực có khối lượng lớn lúc 6 và 12 tháng tuổi cao hơn 7,2% và 9,3%, TKL từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi cao hơn 10% so với đại trà

Trung tâm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật Nghệ An (2016) đã tuyển chọn thông qua bình tuyển, đánh giá quần thể trâu Thanh Chương được 70 con trâu giống (20 đực và 50 cái) đưa vào đàn bảo tồn, kết quả một số chỉ tiêu đạt được như sau: Trâu cái 24-30 tháng tuổi đã bắt đầu động dục và có khả năng phối giống Khối lượng sơ sinh nghé đực 27,79kg và nghé cái 24,7kg, KL trưởng thành của trâu đực 513,1- 541,9kg, trâu cái 439,0-482,0kg Khoảng cách 2 lứa đẻ 14-18 tháng chiếm 50% Tỷ lệ thịt xẻ của trâu cái là 42,83% và trâu đực là 47,6%; tỷ lệ thịt tinh của trâu cái là 31,3% và trâu đực là 32,08% (Đặng Văn Quát và ctv, 2016)

Trang 13

Phạm Văn Giới và ctv (2017) cho biết, chăn nuôi trâu ở Việt Nam chủ yếu ở quy mô nông hộ nhỏ lẻ thường dưới 5 con/hộ, rất ít hộ nuôi trên 10 con/hộ Trong đàn, trâu cái sinh sản chiếm 46,43-48,64%; tỷ lệ trâu đực giống trong quần thể thấp (1,81-3,58%) Phương thức nuôi bán chăn thả tận dụng các loại cây cỏ, thức ăn tự nhiên là chủ yếu, tỷ lệ các hộ trồng cỏ, dự trữ và bổ sung thức ăn cho trâu còn thấp

Khối lượng trâu trưởng thành đạt 370-385 và 430-455kg đối với trâu cái và đực Tuổi đẻ lứa đầu 3-4 năm, khoảng cách lứa đẻ 18-24 tháng Khi áp dụng giải pháp dinh dưỡng bổ sung mức protein thô 8,92%, xơ thô 7,81%, caxi 0,09%, photpho 0,63% và ME là 2.682,2 kcal/kg, áp dụng các biện pháp

về chọn giống đã làm tang khối lượng của đàn con cao hơn 9,89%, tăng khối lượng cao hơn 4,83-18,75% ở các giai đoạn từ 6 tháng tuổi trở lên, khi áp dụng phối giống có kiểm soát giúp đạt khoảng cách lứa đẻ chỉ còn 15,34 tháng và trong vỗ béo nuôi trâu áp dụng phương thức nuôi nhốt cho hiệu quả kinh tế đạt cao nhất

Nguyễn Công Định và ctv (2018) đã nghiên cứu cải tiến kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và áp dụng các kỹ thuật mới nhằm nâng cao khả năng sinh sản

và khối lượng của trâu cho biết: thụ tinh nhân tạo cho tỷ lệ chửa trên 50%, thời điểm phối giống thích hợp cho cao nhất, đó là 10-12 giờ kể từ khi trâu cái bắt đầu chịu đực và sử dụng phương pháp phối kép Đồng thời ứng dụng đặt CIDR và tiêm PMSG cho trâu cái tơ độ tuổi 32-33 tháng tuổi cho kết quả rút ngắn tuổi động dục và phối giống lần đầu 2,6-7,4 tháng so với tự nhiên

Đối với những con bị viêm đường sinh dục, trâu cái chậm sinh khi buồng trứng kém phát triển, thể vàng tồn lưu và u nang buồng trứng dùng CIDR và tiêm các loại hooc môn PMSG, PGF2 α, HCG để điều trị cho kết quả tỷ lệ động dục trung bình 74,81%; thời gian động dục trở lại sau đẻ 144,60-157,44 ngày, tỷ lệ phối giống có chửa 54,76% Kết hợp thụt rửa tử

Trang 14

cung, âm đạo và bổ sung thức ăn cho trâu cái sau khi đẻ rút ngắn được thời gian động dục lại sau khiđẻ là 34,40 ngày, tỷ lệ phối giống có chửa đạt trung bình 57,14% Cai sữa sớm cho nghé tốt nhất lúc 5 tháng tuổi Tỷ lệ động dục lại sau đẻ 80%, thời gian động dục lại sau đẻ 5,9 tháng và tỷ lệ phối giống có chửa trung bình 2 chu kỳ phối đạt 63,63% rút ngắn khoảng cách lứa đẻ từ 1-1,6 tháng và nghé con sau cai sữa sinh trưởng phát triển bình thường Ngoài

ra, khi sử dụng trâu đực giống KL lớn ghép phối với trâu cái được tuyển chọn

đã nâng cao được KL và tốc độ sinh trưởng của đời con so với đại trà

Diện tích tự nhiên toàn huyện là 146.061,82 ha, chiếm 24,88% diện tích

tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang Huyện Chiêm Hoá có 25 xã và 1 thị trấn, phân bố trên địa bàn khá rộng, xã xa nhất cách trung tâm huyện trên 45 km

Trang 15

song đất đai màu mỡ, thuận lợi cho việc xây dựng các điểm dân cư, phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp Chiêm Hoá có nhiều dãy núi cao Phía Đông có đỉnh cao nhất là núi Khau Bươn (thuộc địa phận xã Kiên Đài, có độ cao 957m), phía Tây có đỉnh cao nhất là núi Cham Chu có độ cao 1.587 m (thuộc địa phận xã Tân An, Hà Lang, Trung Hà) là ranh giới giữa huyện Chiêm Hóa, huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang) và huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang)

2.2.1.3 Khí hậu thủy văn

Chiêm Hoá thuộc vùng khí hậu nhiệt đới thấp, được phân chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, thường có nhiều mưa và mưa rào tập trung từ tháng 5 đến tháng 8, mùa này thường hay xẩy ra lũ lụt; mùa đông kéo dài từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau, thường có gió mùa Đông Bắc, sương mù và sương muối

2.2.1.4 Điều kiện giao thông, thủy lợi

Đường giao thông huyện Chiêm Hóa chủ yếu là đường bộ có nhiều đèo, dốc khó khăn cho việc vận chuyển hàng hóa Hệ thống đường bộ đã đến tận các trung tâm xã Các tuyến đường liên thôn chủ yếu là đường dân sinh đi lại gặp nhiều khó khăn nhất là mùa mưa

Sông, suối của Chiêm Hoá có độ dốc cao, hướng chảy khá tập trung, các con suối, ngòi đều đổ dồn về sông Gâm và sông Lô Con sông lớn nhất là sông Gâm, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, huyện Na Hang, chảy qua Chiêm Hoá với độ dài 40 km và là đường thuỷ duy nhất nối huyện với tỉnh lỵ Tuyên Quang và các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc

Bộ Cùng với các con suối lớn, nhiều khe nhỏ tạo thành một nguồn thuỷ sinh phong phú, cung cấp nước, thuỷ sản phục vụ đời sống, sản xuất của nhân dân

và là con đường giao thông, vận tải khá quan trọng

Trang 16

2.2.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp

2.2.2.1 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt

Trồng trọt là ngành sản xuất chủ lực của huyện, tuy nhiên do trình độ dân trí còn có những hạn chế, tập quán canh tác manh mún nhỏ lẻ mang tính truyền thống, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên việc sản xuất ngành trồng trọt của huyện còn gặp nhiều khó khăn

Diện tích đất nông nghiệp lớn với cây lương thực lúa nước là chủ yếu, ngoài ra còn các loại cây trồng khác như: ngô, đậu tương, lạc Ngoài cây nông nghiệp huyện Chiêm Hóa còn đẩy mạnh mở rộng diện tích cây công nghiệp là cây mía đường cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường Tuyên Quang

Ngoài ra huyện còn hình thành được một số vùng trồng các loại cây ăn quả như: cây cam, bưởi…

2.2.2.2 Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi

Ngành chăn nuôi của huyện Chiêm Hóa chủ yếu phát triển theo quy mô nhỏ ở các hộ gia đình, vật nuôi chính là trâu, bò, lợn và gia cầm Chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm đang được các cơ quan chính quyền và nhân dân chú trọng đầu tư phát triển Do có diện tích rừng nhiều nên huyện Chiêm Hóa rất phù hợp với việc phát triển chăn nuôi trâu bò với mục đích cung cấp thực phẩm cho con người, cung cấp sức kéo và phân bón cho trồng trọt

- Tình hình chăn nuôi trâu, bò: Đàn đại gia súc của huyện tương đối lớn, chủ yếu chăn nuôi trâu do nguồn gốc bản địa thích nghi phù hợp với điều kiện tự nhiên tại vùng địa phương

- Tình hình chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn chủ yếu nhỏ lẻ quy mô nông

hộ, tận dụng các loại thức ăn sẵn có, phụ phẩm của nông nghiệp Hiện nay trên địa bàn huyện đã xuất hiện những trang trại chăn nuôi lợn được đầu tư chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn trên 100 con

- Tình hình chăn nuôi gia cầm, thủy cầm: Chủ yếu phát triển ở quy mô

Trang 17

hộ gia đình Các giống gia cầm, thủy cầm được nuôi chủ yếu là các giống địa phương Ngoài ra, ở huyện Chiêm Hóa cũng có một số mô hình chăn nuôi khác như ong, thỏ, chim bồ câu,… song ở quy mô nhỏ và tự phát

2.2.2.3 Công tác thú y

Chiêm Hóa là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nắng mưa thất thường, thời tiết biến đổi phức tạp nên dễ xảy ra dịch bệnh làm ảnh hưởng đến đàn gia súc, gia cầm trong huyện

Đội ngũ cán bộ thú y của huyện tương đối đông đảo và nhiệt tình trong công việc, mỗi thôn/xóm đều có 1 cán bộ thú y thôn bản Hàng năm, huyện tổ chức tiêm phòng bắt buộc theo quy định cho đàn gia súc gia cầm, trình độ nhận thức của người dân đã từng bước được nâng cao nhưng kết quả công tác phòng chống dịch bệnh vẫn còn hạn chế Hàng năm vẫn lẻ tẻ sẩy ra một số ổ dịch nhỏ với 1 số bệnh như: lở mồm long móng, tụ huyết trùng, đã gây ra những thiệt hại nhất định cho người chăn nuôi

Công tác kiểm dịch, vệ sinh gia súc còn hạn chế: hiện tượng gia súc ốm chết mổ thịt đem bán ra thị trường vẫn còn xẩy ra, vệ sinh chuồng trại chưa được thực hiện đầy đủ, hàng năm dịch bệnh vẫn còn xảy ra trên địa bàn gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi của địa phương

2.3 Cơ sở khoa học về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

2.3.1 Phòng bệnh

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, bệnh xuất hiện ở vật nuôi thường do nhiều nguyên nhân, có thể là bệnh truyền nhiễm hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Với phương châm "Phòng bệnh hơn chữa bệnh"‚ nên khâu phòng bệnh luôn được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh dịch xảy ra Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của con vật

Trang 18

Các biện pháp được xoay quanh các yếu tố chủ yếu là môi trường, mầm bệnh

và vật chủ

Hầu hết các vi khuẩn gây bệnh tồn tại trong môi trường Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, thức ăn, nước uống bi ̣nhiễm

vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, con vật giảm sức đề kháng nên dễ bi

cảm nhiễm bệnh

Chuồng nuôi phải đảm bảo ấm áp vào mùa đông, thoáng mát vào mùa

hè, xây dựng nơi cao ráo, khung chuồng và nền phải chắc chắn, mái lợp đảm

bảo Chuồng nuôi phải cách xa nhà ở, khu dân cư, cách xa nguồn nước sinh

hoạt và có nơi thu gom phân chuồng, có hố chứa nước thải Nền chuồng phải cao hơn mặt đất bên ngoài 20 - 30cm, có thể sử dụng nền láng xi măng hoặc nền đất nện Với nền chuồng bằng xi măng cần phải đảm bảo chắc chắn

và có độ nhám thích hợp, tránh làm quá trơn trâu sẽ khó đi lại và dễ bị té ngã Nền chuồng phải có độ dốc hợp lý khoảng 2 - 3% hướng về rãnh thoát nước Mái lợp có thể dùng tôn lạnh hoặc tôn fibro xi măng Nóc chuồng cao

so mặt đất khoảng 3m, đuôi mái cách mặt đất 1,8 - 2m Có thể làm kiểu chuồng 2 hoặc 4 mái, mái lợp phải rộng hơn khung chuồng để tránh mưa tạt

Khi có dịch phải tẩy uế chuồng trại, phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra ngoài môi trường Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

Đây là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất Theo Luật Thú y: "Vac-xin dùng trong thú y là chế phẩm sinh học chứa kháng nguyên, tạo cho cơ thể động vật khả năng đáp ứng miễn dịch, được dùng để phòng

Trang 19

bệnh" Nói cách khác, vacxin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…)

đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vacxin thế hệ mới, vacxin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho động vật, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vacxin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vacxin) mới có miễn dịch

2.3.2 Điều trị bệnh

2.3.2.1 Nguyên tắc điều trị bệnh

- Toàn diện, phối hợp nhiều biện pháp (hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc)

- Điều trị sớm, chẩn đoán chính xác, sớm khỏi bệnh và hạn chế lây lan

- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể có khả chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

2.3.2.2 Quan điểm khi chữa bệnh

- Chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

- Những bệnh nguy hiểm cho người không có thuốc chữa thì không nên chữa

2.3.2.3 Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là

- Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ

sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

Trang 20

- Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy

thường dùng để can thiệp trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

- Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng

và một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

- Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng

ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên, sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần lưu ý những nguyên tắc sau đây:

+ Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

+ Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

+ Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian

để phát huy tác dụng của kháng sinh

Trang 21

2.4 Một số bệnh thường gặp chủ yếu ở trâu sinh sản

2.4.1 Bệnh giun đũa bê, nghé

Giun đũa là loại ký sinh trùng gây tác hại nhanh, mạnh và rõ nhất trên

bê, nghé Trong điều kiện bất lợi ở vụ đông xuân, tác hại của giun đũa lên bê nghé càng lớn và để lại những hậu quả nặng nề: Bê, nghé bị viêm ruột, ỉa chảy kéo dài, suy dinh dưỡng, còi cọc thậm chí gây chết bê, nghé Nguyên nhân và đặc điểm của bệnh: Bệnh giun đũa bê, nghé do loài giun tròn Neoascaris Vitulorum ký sinh trong tá tràng của bê nghé gây ra Ngoài ra, giun đũa cũng có thể ký sinh ở ruột của trâu bò trưởng thành, dê, cừu Bệnh lây lan qua đường tiêu hóa khi vật chủ nuốt phải ấu trùng giun Đối với bê, nghé, bệnh có thể lây truyền từ mẹ qua nhau thai Bệnh giun đũa có tính mùa

vụ Vào vụ đông xuân, do điều kiện ngoại cảnh khắc nghiệt, giá rét, thức ăn thiếu, mẹ thiếu sữa nên bệnh phát sinh và gây hại nặng Tuổi mắc bệnh phổ biến nhất của bê, nghé là vào lúc 25 - 35 ngày tuổi (64%) và sớm nhất có thể mắc lúc 14 ngày tuổi (23%)

Triệu chứng điển hình nhất của bê, nghé bị bệnh giun đũa là dáng vẻ lù

đù, đầu cúi, đuôi cúp, lưng cong, lông xù Theo dõi phân bệnh thấy chuyển từ đen sang vàng đất rồi trắng lỏng có mùi thối khắm đặc biệt Kèm theo đó bê nghé thường xuất hiện từng cơn đau bụng quằn quại, sau đó có thể ngã vật ra mất cảm giác Bệnh súc sốt 40 - 41oC, gầy sút rất nhanh Ở những thể bệnh này tỷ lệ chết của bệnh súc rất cao Thời gian tiến triển của bệnh thông thường vào khoảng 11 - 30 ngày, bệnh súc thường chết vào giai đoạn 8-10 ngày sau khi mắc bệnh nếu không điều trị kịp thời

2.4.1.1 Phòng bệnh

Cần giữ vệ sinh chuồng trại Gom phân trâu bò để ủ nhằm tận dụng nhiệt độ cao khi ủ làm mất hiệu lực gây bệnh của trứng và ấu trùng giun đũa Chú ý vệ sinh khi chăn thả, tránh các bãi chăn ẩm thấp, nhiều chất thải của

Trang 22

trâu bò Tẩy giun định kỳ cho trâu bò mẹ vào giữa mùa xuân (tháng 3 dương lịch) hằng năm để đề phòng bê nghé nhiễm giun qua nhau

2.4.1.2 Điều trị

* Đối với bê nghé dưới 2 tháng tuổi khi mắc bệnh sử dụng phác đồ sau:

- Levamisol: 1 ml/10 kg thể trọng, tiêm dưới da

- Vitamin ADE: 3 ml/con, tiêm bắp thịt

- Cafêin Natribenzoat: 5 ml/con, tiêm bắp thịt

Sau 1 tháng tiêm lặp lại lần 2 để chống tái nhiễm

* Đối với bê nghé trên 2 tháng tuổi có thể sử dụng Ivermectin với liều dùng 1 ml/12 kg thể trọng; tiêm dưới da để đồng thời tiêu diệt các loại ngoại

ký sinh trùng khác như ve, bét, rận Kết hợp dùng các thuốc trợ sức Vitamin ADE, Cafêin Natribenzoat

2.4.2 Bệnh sán lá gan

Bệnh sán lá gan là một bệnh khá phổ biến ở trâu, bò Bệnh thường ở thể mãn tính nên chỉ làm cho trâu, bò gầy yếu, chậm lớn mà không gây ốm cấp tính hoặc quỵ ngã ngay Ở nước ta, trâu bò bị nhiễm sán lá gan quanh năm và

xảy ra ở tất cả các lứa tuổi

2.4.2.1 Nguyên nhân

Bệnh sán lá gan ở trâu, bò do hai loài sán lá: Fasciola gigantica và

Fasciola hepatica gây ra

- Hình thái: Sán Fasciola gigantica: Cơ thể dẹp, hình lá, màu đỏ nâu;

có 2 giác bám: Giác miệng và giác bụng Sán Fasciola hepatica: hình dạng và

màu sắc giống loài trên nhưng ngắn hơn, sau đầu có hai vai phình rộng ra

- Vòng đời: Sán lá trưởng thành sống trong các ống dẫn mật, đẻ trứng

Trứng theo ống dẫn mật về ruột rồi thải ra ngoài theo phân Khi trứng gặp được các điều kiện thuận lợi như: rơi vào nước, thời tiết nóng ẩm thì trứng sẽ

nở thành mao ấu, di chuyển trong nước Mao ấu tìm và chui vào cơ thể ký

Trang 23

chủ trung gian là các loài ốc nhỏ, không có nắp, sống phổ biến ở ao hồ, mương máng, ruộng trũng Trong ốc mao ấu phát triển thành vĩ ấu và chui ra khỏi ốc Vĩ ấu ra ngoài tự nhiên, rụng đuôi, biến thành “kén” tức ấu trùng cảm nhiễm Kén trôi nổi trong nước hoặc bám vào các loài cây thủy sinh, khi gia súc uống nước, ăn phải cỏ, rau có kén sẽ nhiễm sán lá gan Vào cơ thể ký chủ màng kén bị phân hủy và giải phóng ấu trùng Ấu trùng tiếp tục di chuyển đến ống dẫn mật, ở lại đó và phát triển đến giai đoạn trưởng thành Thời gian từ khi trâu, bò nuốt phải kén đến khi thành sán trưởng thành khoảng 3 tháng

Một sán lá trưởng thành có thể sống trong ống dẫn mật của gan 3 - 11 năm

2.4.2.2 Đặc điểm dịch tễ

Bệnh xảy ra ở tất cả các loài nhai lại Trâu, bò bị nhiễm bệnh nặng hơn

và ở mọi lứa tuổi Tỷ lệ trâu, bò nhiễm bệnh ở miền núi khoảng 30 - 35 %, vùng đồng bằng khoảng 40 - 70 % Bê, nghé non bị bội nhiễm sẽ phát bệnh ở thể cấp tính Với điều kiện khí hậu ở nước ta, bệnh có thể xảy ra quanh năm Hầu hết tất cả các trâu, bò nhập nội đều mắc bệnh sán lá gan, kể cả bò sữa Trâu, bò nhiễm sán lá gan khi gặp điều kiện không thuận lợi như: làm việc nặng, thiếu thức ăn thô xanh, thời tiết lạnh vào vụ Đông - Xuân sẽ dễ phát bệnh và người chăn nuôi thường nhầm lẫn là bệnh truyền nhiễm

2.4.2.3 Triệu chứng

- Thể cấp tính: Trâu, bò bỏ ăn, chướng hơi dạ cỏ, sau đó ỉa chảy dữ dội,

phân lỏng màu vàng xám, mùi tanh Chỉ vài ngày sau, súc vật bệnh nằm bệt không đi lại được, nếu không được điều trị kịp thời con vật có thể chết trong tình trạng mất nước, rối loạn điện giải và kiệt sức Hiện tượng này thường xảy

ra ở bê, nghé dưới 1 năm tuổi

- Thể mãn tính: Trâu, bò bị bệnh sẽ gầy dần, cơ thể suy nhược, ăn ít,

niêm mạc nhợt nhạt, lông xù, dễ rụng, thường thủy thũng ở mi mắt, yếm ngực, nhai lại yếu, thiếu máu, chướng bụng nhẹ, ỉa chảy kéo dài, có khi ỉa táo

Trang 24

bón, đôi khi có triệu chứng thần kinh Gia súc cái mất dần khả năng sinh sản

và cho sữa Trâu, bò cho sữa bị bệnh thì lượng sữa giảm tới 20 - 50% Trâu,

bò có thể chết do kiệt sức

Lưu ý: Cần phân biệt các triệu chứng trên với bệnh ký sinh trùng đường máu, đó là: trâu bò mắc bệnh ký sinh trùng đường máu cũng có các biểu hiện như: gầy yếu, thiếu máu, sản lượng sữa giảm, hoàng đản, tiêu chảy Nhưng bệnh ký sinh trùng đường máu trâu, bò thường sốt 40 - 420C, khi sốt cao thường thể hiện triệu chứng thần kinh: quay cuồng, đi vòng tròn, run rẩy từng cơn Trong khi bệnh sán lá gan trâu, bò thường ỉa chảy kéo dài, viêm ruột, phân lỏng xám có mùi tanh

2.4.2.4 Phòng bệnh

Để phòng bệnh sán lá gan cần thực hiện 4 quy trình như sau:

- Định kỳ tẩy sán bằng một trong hai loại thuốc trên với 1 - 2 lần/năm

Có thể thường dùng một trong các phác đồ với các loại thuốc sau:

- Phác đồ 1: Dùng Dertyl B với liều 6 - 8 mg/kg thể trọng Nếu dùng

viên Dertyl B của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y Hanvet thì dùng 1 viên (viên nén tròn có màu hồng) tẩy cho 50 kg thể trọng Cho trâu bò uống vào buổi sáng, uống xong có thể cho trâu bò đi chăn thả bình thường

- Phác đồ 2: Dùng thuốc Benvet 600 của Công ty TNHH Thú y xanh

Việt Nam, viên nén bầu dục có màu trắng Sử dụng 1 viên cho 60 kg thể trọng Cho uống vào buổi sáng sớm trước khi cho trâu bò đi chăn thả

Trang 25

Hai loại thuốc trên còn dùng để phòng định kỳ hàng năm cho trâu bò, thuốc sử dụng an toàn có hiệu quả phòng trị bệnh cao

Ngoài ra, có thể tẩy sán lá gan cho trâu, bò bằng thuốc Fasinex (Liều dùng: 12mg/kg thể trọng, cho uống hoặc trộn vào thức ăn), Fasciolid, Tolzan

F, Okazan Trong quá trình dùng thuốc điều trị bệnh cần sử dụng thêm thuốc bồi bổ, tăng sức đề kháng cho trâu, bò như: VTM C, B1, B12 tiêm theo liệu

trình từ 3 - 5 ngày và có chế độ dinh dưỡng tốt để nhanh hồi phục sức khỏe 2.4.3 Bệnh lở mồm long móng

2.4.3.1 Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh lở mồm long móng (LMLM) hay còn viết tắt là FMD do một loại virut thuộc họ Foot & Mouth disease gây ra Đây là loại bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm do virut gây ra trên động vật móng vuốt chẵn như lợn, trâu, bò, hươu hay dê và gây nhiều thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi Dịch lở mồm long móng típ O xuất hiện cả trên trâu, bò và lợn còn tip A chỉ gây bệnh trên trâu, bò Virut lở mồm long móng luôn tồn tại trong môi trường, nó chỉ chờ điều kiện thuận lợi để phát sinh và gây bệnh

Virut xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, virut vào cơ thể qua niêm mạc miệng, ngoài ra virut có thể xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương trên

da nhất là da ở vú Khi virut xâm nhập vào cơ thể nó nhân lên trước tiên ở trong lớp tiểu bì Trong quá trình virut nhân lên nó sẽ làm phân hủy các tế bào thượng bì và hình thành mụn nước sơ phát, sau đó virut lở mồm long móng chứa trong mụn nước sẽ tiến vào máu và phủ tạng Khi virut vào máu sẽ gây sốt, cuối giai đoạn sốt virut nhân lên và gây ra các mụn nước thứ phát ở nơi các tế bào thượng bì đang phân chia mạnh như niêm mạc, khoang miệng, móng, vú Mụn nước sẽ loét khi nhiễm khuẩn kế phát, vi khuẩn sinh mủ gây

hoại tử xâm nhập ăn sâu vào trong có khi gây bại huyết, con vật có thể chết

Trang 26

Tại vùng có dịch virut lở mồm long móng tồn tại trong không khí và vật chủ, nó ủ bệnh và đợi điều kiện thuận lợi sẽ bùng phát Virut tồn tại trong vật chủ từ 2 - 10 ngày sẽ phát tán ra môi trường và tồn tại khá lâu trong điều kiện tự nhiên Virut lở mồm long móng sau khi bãi thải ra môi trường trong điều kiện ẩm ướt và rét có thể tồn tại ở môi trường từ 2 - 3 tháng vẫn có khả năng gây bệnh kể cả những con trâu bò đã được chữa khỏi triệu chứng lâm sang thì virut vẫn tồn tại trong cơ thể và có khả năng bãi thải ra từ 2 - 3 năm Nguy hiểm hơn virut lở mồm long móng có thể di chuyển theo gió đi khoảng 200km, vì thế vùng dịch cũng mở rộng nhanh chóng và khó kiểm soát

2.4.3.2 Triệu chứng của bệnh

Trâu, bò, dê khi bị bệnh sẽ sốt cao 40 - 420C kéo dài 2 - 3 ngày, ăn ít, di chuyển nặng nề, sau thời gian 3 - 4 ngày mụn nước bắt đầu xuất hiện ở niêm mạc miệng, chân và chỗ da mỏng, gia súc thường bị mọc mụn ở núm vú, đầu

vú Mụn nước có kích thước bằng hạt đậu xanh, hạt bắp có khi lớn bằng đầu ngón tay Mụn nước lúc đầu có màu trong vàng, dần dần chuyển sang màu vẩn đục, sau vài ngày mụn nước bị vỡ ra làm cho niêm mạc bong ra từng mảng thượng bì để lộ những vết loét đỏ Nếu những vết loét không bị nhiễm tạp khuẩn thì khoảng 2 - 3 ngày sẽ hồi phục và để lại sẹo Dịch trong mụn loét hòa với nước dãi chảy liên tục ra hai bên mép trông giống như bọt xà phòng,

đôi khi giống những tia máu

Nếu như điều kiện môi trường xung quanh không được sạch sẽ, mất vệ sinh những vết loét quanh móng chân có thể bị nhiễm trùng sinh mủ tạo thành những vết loét rất sâu và làm sút móng

Bê, ghé bị bệnh sẽ biểu hiện những triệu chứng viêm ruột cấp tính gây

ỉa chảy nặng, xuất huyết đường tiêu hóa, viêm phế quản hoặc viêm phổi cấp tính làm cho bê, ghé chết sau 2 - 3 ngày

Ngày đăng: 20/04/2022, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2016), Quyết ðịnh 476/QÐ-BNN- TY 2016, ngày 17 tháng 2 nãm 2016 Phê duyệt Chýõng trình quốc gia phòng chống bệnh lở mồm long móng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết ðịnh 476/QÐ-BNN-TY 2016", ngày 17 tháng 2 nãm 2016
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2016
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2016), Thông tư 07/2016/TT- BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm năm 2016 Quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 07/2016/TT-BNNPTNT" ngày 31 tháng 5 năm năm 2016
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2016
4. Cục Thú y (2003), Sổ tay phòng chống bệnh lở mồm long móng gia súc, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phòng chống bệnh lở mồm long móng gia súc
Tác giả: Cục Thú y
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Nguyễn Tiến Dũng (2000), Bệnh lở mồm long móng, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập 7, tr. 8 - 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lở mồm long móng
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2000
6. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
7. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (Giáo trình dùng cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp Hà Nội, tr. 123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2008
8. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1999), Bệnh ở trâu bò và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội tr. 176 - 177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở trâu bò và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
10. Phan Thanh Phượng (2000), Bệnh tụ huyết trùng gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống, KHKT Thú y, 7 (2), tr 87 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tụ huyết trùng gia súc, gia cầm và biện pháp phòng chống
Tác giả: Phan Thanh Phượng
Năm: 2000
11. Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam, Tập 2: Giun sán ở động vật nuôi, Nxb khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tr. 91, 259 - 275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam, Tập 2: Giun sán ở động vật nuôi
Tác giả: Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb khoa học kỹ thuật
Năm: 1978
12. Nguyễn Xuân Trạch (2007), Giáo trình chăn nuôi trâu bò, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội.II. Tài liệu điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi trâu bò
Tác giả: Nguyễn Xuân Trạch
Năm: 2007
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Quyết định số 675/QĐ- BNN-CN ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Phụ lục IX: Định mức kinh tế - kỹ thuật đối với trâu, Ngựa giống gốc Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2. Quy mô đàn trâu nuôi trong nông hộ - Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa   tuyên quang (năm thứ hai)
Bảng 4.2. Quy mô đàn trâu nuôi trong nông hộ (Trang 35)
Bảng 4.4. Thực trạng tình hình chuồng trại trong chăn nuôi trâu - Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa   tuyên quang (năm thứ hai)
Bảng 4.4. Thực trạng tình hình chuồng trại trong chăn nuôi trâu (Trang 37)
Kết quả ở bảng 4.6 cho thấy, công tác tiêm phòng vacxin cho đàn trâu của huyện Chiêm Hóa năm 2020 được chia làm 2 đợt với 2 loại vacxin phòng  2 loại bệnh là Lở mồm long móng và Tụ huyết trùng - Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa   tuyên quang (năm thứ hai)
t quả ở bảng 4.6 cho thấy, công tác tiêm phòng vacxin cho đàn trâu của huyện Chiêm Hóa năm 2020 được chia làm 2 đợt với 2 loại vacxin phòng 2 loại bệnh là Lở mồm long móng và Tụ huyết trùng (Trang 40)
Bảng 4.7. Kết quả tiêm vacxin LMLM cho đàn trâu cái sinh sản ở3 xã - Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa   tuyên quang (năm thứ hai)
Bảng 4.7. Kết quả tiêm vacxin LMLM cho đàn trâu cái sinh sản ở3 xã (Trang 41)
Bảng 4.8. Kết quả tiêm vacxin THT cho đàn trâu cái sinh sản ở3 xã - Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa   tuyên quang (năm thứ hai)
Bảng 4.8. Kết quả tiêm vacxin THT cho đàn trâu cái sinh sản ở3 xã (Trang 41)
Bảng 4.9. Kết quả tiêm vacxin LMLM cho đàn trâu đực sinh sản ở3 xã - Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa   tuyên quang (năm thứ hai)
Bảng 4.9. Kết quả tiêm vacxin LMLM cho đàn trâu đực sinh sản ở3 xã (Trang 42)
Bảng 4.10. Kết quả tiêm vacxin THT cho đàn trâu đực sinh sản ở3 xã Xã Số trâu  hiện có  (con)Số trâu thuộc diện tiêm  phòng  (con)Số trâu đực thuộc diện tiêm phòng  (con) - Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa   tuyên quang (năm thứ hai)
Bảng 4.10. Kết quả tiêm vacxin THT cho đàn trâu đực sinh sản ở3 xã Xã Số trâu hiện có (con)Số trâu thuộc diện tiêm phòng (con)Số trâu đực thuộc diện tiêm phòng (con) (Trang 43)
Bảng 4.11. Kết quả tiêm phòng vacxin cho đàn trâu sinh sản mô hình - Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa   tuyên quang (năm thứ hai)
Bảng 4.11. Kết quả tiêm phòng vacxin cho đàn trâu sinh sản mô hình (Trang 44)
Bảng 4.12. Kết quả tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu cái sinh sản đại trà Xã Số trâu  khảo  sát  (con) - Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa   tuyên quang (năm thứ hai)
Bảng 4.12. Kết quả tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu cái sinh sản đại trà Xã Số trâu khảo sát (con) (Trang 45)
Bảng 4.13. Kết quả tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu đực sinh sản đại trà - Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa   tuyên quang (năm thứ hai)
Bảng 4.13. Kết quả tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu đực sinh sản đại trà (Trang 45)
4.2.2.3.2. Tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu sinh sản nuôi tại các mô hình - Nghiên cứu áp dụng quy trình phòng bệnh cho trâu khối lượng lớn nuôi tại chiêm hóa   tuyên quang (năm thứ hai)
4.2.2.3.2. Tẩy ký sinh trùng cho đàn trâu sinh sản nuôi tại các mô hình (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm