Để thích nghi và tái đàn, tái phát triển lại nền kinh tế trong tình hình hiện nay, cần chú trọng nhất là công tác vệ sinh thú y, đảm bảo hạn chế tối đa dịch bệnh và đáp ứng nhu cầu rấ
Trang 1PHAN THỊ MỸ LINH
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG PHÒNG
VÀ TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN HOÀNG VĂN VIỆN, THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2016 - 2021
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHAN THỊ MỸ LINH
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG PHÒNG
VÀ TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN HOÀNG VĂN VIỆN, THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thú y
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Thanh Vân
Thái Nguyên, năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập, rèn luyện tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của Nhà trường, các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp, trang bị cho em những kiến thức cơ bản, kỹ năng thực tiễn để em vững tin bước vào cuộc sống và công tác sau này Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Trần Thanh Vân luôn giúp đỡ,
động viên và hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học này
Đồng thời, cho em được gửi lời cảm ơn tới ông Hoàng Văn Viện là
chủ của cơ sở thực tập cũng như các kỹ sư trại và các cô chú công nhân đã tạo điều kiện và giúp đỡ hướng dẫn cho em tham gia học hỏi và rèn luyện kỹ năng nghề trong suốt quá trình thực tập tại trại
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em học tập và hoàn thành tốt quá
trình học tập
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian có hạn nên khóa luận không tránh khỏi sai sót Kính mong nhận được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 11 tháng 01 năm 2021
Sinh viên
Trang 4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 7
Bảng 2.2 Lịch khử trùng áp dụng tại trại lợn nái 15
Bảng 3.1 Quy định khối lượng thức ăn chuồng nái đẻ 31
Bảng 3.2 Lịch phòng bệnh bằng vắc-xin áp dụng tại trại 32
Bảng 4.1 Kết quả thống kê lợn nuôi tại trại 37
Bảng 4.2 Kết quả số lượng lợn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 38
Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại 39
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của đàn lợn nái 41
Bảng 4.5 Tiêu tốn thức ăn của lợn con cai sữa tại trại (kg) 42
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện vệ sinh, khử trùng tại trại 44
Bảng 4.7 Kết quả tiêm vắc-xin cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ tại trại 45
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh trên lợn con theo mẹ 46
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên lợn con 47
Bảng 4.10 Tình hình mắc bệnh trên lợn nái tại trại 48
Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái tại trại 48
Bảng 4.12 Kết quả thực hiện một số công tác khác 50
Trang 5
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Ca: Canxi Cp: Cổ phần Kg: Kilogam KL: Khối lượng LMLM: Lở mồm long móng MMA: Hội chứng viêm tử cung, mất sữa, viêm vú NTĐ: Năng lượng trao đổi
Nxb: Nhà xuất bản
PGF2α: Prostaglandin PRRS: Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản STT: Số thứ tự
TS: Tiến sĩ
TTTN: Thực tập tốt nghiệp
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện của trang trại 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4
2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại 4
2.1.4 Đánh giá chung 5
2.2 Tổng quan tài liệu 6
2.2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 6
2.2.3 Công tác phòng bệnh tại trại 14
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 18
2.2.5 Một số bệnh gặp trên đàn lợn nái 20
2.2.6 Tình hình nghiên cứu trong nước 27
2.2.7 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 29
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30
3.1 Đối tượng 30
Trang 73.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30
3.3 Nội dung thực hiện 30
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 30
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.2 Phương pháp thực hiện 30
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 34
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại từ tháng 6/2020 - 11/2020 37
4.2 Kết quả chăm sóc nuôi dưỡng lợn tại trại 38
4.2.1 Kết quả tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại 39
4.2.2 Kết quả theo dõi tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại 40
4.2.3 Tiêu tốn thức ăn của lợn con cai sữa tại trại 42
4.3 Kết quả công tác vệ sinh, khử trùng tại trại 43
4.3.1 Kết quả thực hiện quy trình vệ sinh phòng bệnh 43
4.3.2 Kết quả thực hiện phòng bệnh bằng vắc-xin 45
4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con tại cơ sở 46
4.5 Kết quả chẩn đoán tình hình mắc bệnh trên lợn nái sinh sản tại trại 48
4.6 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái tại trại 50
4.7 Công tác khác 49
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53 PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Những năm gần đây, tình hình chăn nuôi lợn ở nước ta có rất nhiều biến động Trải qua nhiều lần bùng phát dịch bệnh trên diện rộng và bão giá, nhất là đợt dịch tả châu Phi trong năm 2019 vừa qua đã gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi Bước sang những tháng đầu năm 2020, cùng với dịch Covid-2019 và sự cách ly toàn xã hội đã khiến nền kinh tế trong nước gặp trì trệ Tuy nhiên, hiện nay người chăn nuôi đang tích cực tái lại đàn lợn, nhu cầu
về con giống và lợn thịt tăng cao Cùng với nhu cầu cao của thị trường, giá cả của thịt lợn, con giống và thức ăn chăn nuôi cũng tăng cao, kéo theo đó là những khó khăn về kinh tế khi muốn tái đàn của người nuôi lợn Nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ sau dịch tả châu Phi không còn lợn giống, chi phí đầu tư cũng rất hạn chế, nhưng lại rất mong muốn tái đàn đề khôi phục nguồn cung
về thịt lợn và cả con giống Trong tình hình đó, nhà nước cũng đang khuyến khích người chăn nuôi tái đàn, phát triển lại ngành chăn nuôi Tuy nhiên do công tác xử lý dịch bệnh nói chung và công tác xử lý chuồng nuôi của người dân nói riêng còn chưa triệt để, nên dịch bệnh có bùng phát lại ở một số nơi gây thiệt hại lớn, có thể đe dọa đến sự khôi phục chăn nuôi của cả nước
Để thích nghi và tái đàn, tái phát triển lại nền kinh tế trong tình hình hiện nay, cần chú trọng nhất là công tác vệ sinh thú y, đảm bảo hạn chế tối đa dịch bệnh và đáp ứng nhu cầu rất lớn về con giống, chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong chăn nuôi lợn
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, để hạn chế mức thấp nhất tỷ lệ lợn nhiễm bệnh, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy
giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em thực hiện đề tài: “Áp dụng quy trình
chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn Hoàng Văn Viện, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”
Trang 91.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích
- Nắm được tình hình chăn nuôi tại trại lợn của cơ sở thực tập
- Hiểu biết về quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
- Biết được các loại thức ăn, khẩu phần ăn và cách cho ăn của lợn nái qua từng giai đoạn mang thai và nuôi con
- Nhận biết và chẩn đoán được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản, lợn con và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
- Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và cách xử lý với các trường hợp xảy ra trong thực tiễn sản xuất
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng trong chăn nuôi
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn của cơ sở thực tập
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản
nuôi tại “Trại lợn Hoàng Văn Viện, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và áp dụng các biện pháp phòng và trị bệnh trên đàn lợn
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện của trang trại
2.1.1.1 Vị trí địa lý
- Trang trại chăn nuôi lợn Hoàng Văn Viện thuộc thôn Cao Quang, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Thành phố Phúc Yên nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vĩnh Phúc, phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô 45 km Phúc Yên có chiều dài theo trục Bắc - Nam 24 km, từ phường Hùng Vương đến đèo Nhe, xã Ngọc Thanh giáp với tỉnh Thái Nguyên
Địa giới hành chính thành phố Phúc Yên:
• Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
• Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên
• Phía Nam giáp huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
• Phía Bắc giáp thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
- Khí hậu là yếu tố quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân cũng như trong chăn nuôi, nó quyết định đến sự phát triển của ngành nông nghiệp trong đó có trồng trọt và chăn nuôi, mà hiện nay chăn nuôi đang có xu hướng tăng mạnh
- Xã Cao Minh cũng như Thành phố Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23°C, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa Hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa Đông Khí hậu tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng nhất là ngành chăn nuôi gia súc gia cầm
Trang 112.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại
- Trại Hoàng Văn Viện mới được xây dựng xong đầu năm 2016 nên cơ sở vật chất vẫn còn mới Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
- 01 quản lý trại
- 02 kỹ thuật trại
- 01 tổ trưởng chuồng bầu
- 01 tổ trưởng chuồng đẻ - cai
- 01 tổ trưởng chuồng thịt
- 10 công nhân làm ngày và 01 công nhân trực đêm
- 02 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau như tổ chuồng đẻ - cai, tổ chuồng bầu, tổ chuồng thịt Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi đều được giao cụ thể đến từng công nhân, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại
2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại
- Về thiết kế xây dựng:
Tổng diện tích là 3 ha
Trước cổng có hệ thống phun sát trùng cho phương tiện ra vào trại và kho chứa thức ăn
Tiếp đến là khu hành chính để tiếp khách, phòng họp, rồi đến khu nhà tập thể và nhà ăn cho công nhân của trại
Khu vực sản xuất theo thứ tự: khu vực xuất lợn thịt, chuồng cai sữa, sau đó lần lượt là các chuồng nái đẻ (1-2), chuồng nái bầu (1-2) Phòng pha chế và bảo quản tinh, kho thuốc được trang bị kính hiển vi, tủ lạnh, nhiệt kế
Trại có 1 nhà kho để dự trữ thức ăn ở đầu khu vực sản xuất
Trang 12Ở khu vực cuối trại có hệ thống biogas, máy ép phân để xử lí phân và nước thải tiếp đến là nhà tiêu hủy lợn chết và nhau thai lợn sau khi sinh
- Hệ thống chuồng trại
Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tượng ứ đọng nước Số lượng chuồng nuôi của trại như sau:
+ 1 chuồng bầu chia làm 4 dãy, có sức chứa 320 con, cuối chuồng có
các ô đặc biệt, gần quạt thông gió để chăm sóc nái có vấn đề
+ 1 chuồng đẻ, chia làm 2 dãy, có sức chứa 80 con
+ 1 chuồng cai sữa gồm 18 ô, chia làm 2 dãy có sức chứa 720 con, cuối chuồng có 2 ô để chứa lợn bệnh
+ Chuồng cách ly: Gồm có 2 ô lớn, để cách ly theo dõi lợn hậu bị khi mới nhập về trại, sau thời gian cách ly an toàn mới đưa vào nhập đàn
Các chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông Chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nước tự động, mùa hè có
hệ thống làm mát bằng quạt điện (mỗi chuồng có 4 quạt cỡ to, 4 quạt cỡ nhỏ)
và hệ thống dàn mát Mùa đông có hệ thống bóng đèn hồng ngoại và lồng úm
Trang 13Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại
2.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.2.1.1 Kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái đẻ
Quy trình chăm sóc
Thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao, gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt, (Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [18])
Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa
Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý
Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau
Trang 14khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
Quy trình chăm sóc nái đẻ
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Chuồng trại phải luôn được vệ sinh sạch sẽ Trước khi lợn đẻ 10 - 14 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ và các dụng cụ cần thiết Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, sạch sẽ, ấm về mùa đông, mát về mùa hè và có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, lợn nái cần được tắm rửa sạch sẽ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn mẹ bị viêm vú và lợn con sơ sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chuyển lợn từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm và các dụng cụ đỡ đẻ cho lợn con
Bảng 2.1 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ
0 - 10 ngày Vú căng lên và cứng, âm hộ trương mọng
2 ngày Bầu vú cương cứng hơn và tiết ra chất lỏng trong
12 - 14 giờ Nái bồn chồn, tuyến vú bắt đầu tiết sữa
6 giờ Sữa tiết ra nhiều hơn qua 2 lỗ tia sữa
2 - 4 giờ Các vú đều có sữa non vọt thành tia dài
30 phút - 2 giờ Tăng nhịp thở, đi lại không yên
15 - 30 phút Âm hộ tiết ra dịch nhờn màu hồng có lẫn phân su
15 giây - 5 phút Nái nằm nghiêng 1 bên, hơi thở đứt quãng, ép
bụng, ép đùi, quẫy đuôi rặn đẻ
Trang 15Những hiểu biết về sinh lý đẻ
Gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của cơ chế thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, (Theo Trần Tiến Dũng và cs, 2002 [6])
Đẻ là quá trình đưa thai đã phát triển thành thục theo đường sinh dục của mẹ ra ngoài Trước khi đẻ, cơ thể mẹ có nhiều thay đổi quan trọng có liên quan tới việc đẩy thai ra ngoài như: dây chằng xương chậu giãn, gia tăng chiều dài từ 25 - 30% so với bình thường (người ta gọi là hiện tượng sụt lưng), nút cổ tử cung loãng Trước khi đẻ từ 12 - 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống Cổ tử cung mở, sữa bắt đầu tiết
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:
+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong
+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu
+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu
+ Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu
Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần kinh - thể dịch Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai ra ngoài Lợn là một loài đa thai nên đẻ từng con một, cách khoảng
10 - 20 phút đẻ 1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa ra thì cần xem xét để có biện pháp tác động ngay
Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ nhằm phát hiện sót nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời
2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con
Quy trình nuôi dưỡng
Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung cấp đầy đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh
Trang 16sản cao Chế độ dinh dưỡng bao gồm: dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, ảnh hưởng của khoáng chất, nguyên tố đa vi lượng và ảnh hưởng của vitamin
- Nhu cầu năng lượng: năng lượng không thể thiếu được cho cơ thể lợn
mẹ duy trì nuôi thai, tiết sữa, nuôi con Nhu cầu năng lượng khác nhau tùy thuộc từng giai đoạn Cần phải đủ nhu cầu về năng lượng cho lợn nái, tránh cung cấp thừa gây lãng phí thức ăn, giảm giá thành sản phẩm Nếu thiếu sẽ ảnh hưởng đến sinh lý bình thường của con vật Năng lượng được cung cấp dưới hai dạng: gluxit chiếm 70 - 80%, lipit 10 - 13% tổng số năng lượng cung cấp
- Ảnh hưởng của khoáng chất: trong cơ thể lợn khoáng chất chứa 3% trong đó có tới 75% là canxi và photpho, xấp xỉ 25% là natri và kali, cũng có một lượng nhỏ magie, sắt, kẽm, đồng, các nguyên tố khác ở dạng vi lượng
- Nhu cầu về protein: protein là thành phần quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn, là thành phần không thể thay thế được cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động trao đổi chất trong cơ thể và tham gia cấu tạo nên các mô trong cơ thể Do protein tham gia vào cấu tạo hoạt động trao đổi chất nên hàng ngày luôn có một lượng nhất định protein mất đi
- Ảnh hưởng của vitamin: vitamin cần cho sự chuyển hóa bình thường của mô bào, cho sức khỏe, sinh trưởng và duy trì Một số vitamin lợn có thể
tự tổng hợp để đáp ứng nhu cầu như vitamin B12 Một số vitamin lợn hay thiếu cần phải bổ sung (A, D, E) Nếu bổ sung không đúng, thừa hoặc thiếu đều không tốt
+ Thiếu vitamin A: lợn con chậm lớn, da khô, mắt kém, lợn nái mang thai dễ sảy thai, đẻ non
+ Thiếu vitamin D: thai kém phát triển, lợn mẹ dễ bị liệt chân trước và sau khi đẻ
+ Thiếu vitamin E: lợn có hiện tượng chết phôi, chết thai, lợn không động dục hoặc chậm động dục
Trang 17Đặc biệt lợn nái mang thai nếu thiếu vitamin sẽ ảnh hưởng tới khả năng sinh sản Do vậy dinh dưỡng đầy đủ, khẩu phần ăn hợp lý, đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng, phát dục trước và sau khi đẻ, nuôi con là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất sinh sản, hiệu quả chăn nuôi
Quy trình chăm sóc
Vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 20ºC, độ ẩm 70 - 75%, (Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [18])
2.2.1.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con theo mẹ
Chăm sóc lợn con theo mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng xuất chăn nuôi vì không chỉ ảnh hưởng đối với lợn con mà còn rất quan trọng đối với cả lợn mẹ và lợn thịt sau này Có được những kỹ thuật chăm sóc
và nuôi dưỡng lợn con ở giai đoạn theo mẹ phù hợp sao cho kết quả của giai đoạn này sẽ đạt được những chỉ tiêu về: Tỷ lệ nuôi sống lợn con sơ sinh cao,
tỷ lệ đồng đều của lợn con cao và nhất là lợn con không mắc bệnh (đặc biệt là bệnh thiếu máu và tiêu chảy phân trắng) Nền chuồng phải luôn sạch sẽ khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm Ngoài ra chuồng nuôi phải có máng tập ăn và máng uống cho lợn con riêng
Cho lợn con bú sữa đầu: Do sữa đầu có vai trò rất quan trọng đối với lợn con vì có chứa hàm lượng vật chất khô cao, đặc biệt là protein, vitamin, kháng thể Y ɣ-globulin và MgSO4…Nhưng sữa đầu chỉ hiện diện trong vòng
24 giờ sau khi đẻ nên cần phải cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt để
có thể nhận được kháng thể của mẹ truyền qua sữa
Cố định đầu vú: Việc cố định đầu vú cho lợn con sẽ đảm bảo được tất
cả lợn con đều được bú sữa đầu, nhất là trong trường hợp số lợn đẻ ra vượt quá số vú thì cần thực hiện cho bú luân phiên Đồng thời việc cố định đầu vú cũng góp phần làm nâng cao tỷ lệ đồng đều của bầy lợn con, vì do giữa các vú khác nhau sẽ có sản lượng sữa khác nhau Theo bản năng thông thường thì
Trang 18những con to khỏe nhất đàn bao giờ cũng chiếm được những vú tốt nhất và luôn bú cố định ở đó, còn những con nhỏ hơn thì phải bú ở những vú ít sữa,
do đó tỉ lệ đồng đều thấp Mặt khác cố định vú cho lợn con cũng là cách tập cho lợn con có phản xạ trong khi bú nhằm nâng cao sản lượng sữa mẹ, vì sản lượng sữa tiết ra phụ thuộc vào sức bú của lợn con, vào trạng thái thần kinh của lợn mẹ khi cho con bú, nên khi không có sự tranh dành thì lợn mẹ sẽ ổn định tinh thần giúp sữa tiết nhiều hơn
Bổ sung thức ăn sớm cho lợn con, phương pháp tập ăn cho lợn con: Khi lợn con đạt 5 - 10 ngày tuổi, ta nên tiến hành cho lợn con làm quen với thức
ăn Cần lựa chọn loại thức ăn, các chất phụ gia, cũng như phương pháp chế biến sao cho kích thích sự thu nhận thức ăn của lợn con Lợn con thường rất thích ăn những thức ăn dạng viên hay bột nhỏ khô, những thức ăn này thường
là các loại tấm, bắp, đậu nành được rang say để tạo mùi thơm Để phần thức
ăn tập ăn vào máng ăn bán tự động để lợn con tự do liếm láp khi chúng cần
Ngoài ra trong khẩu phần thức ăn của lợn con thường bổ sung thêm kháng sinh sẽ giúp hạn chế tình trạng tiêu chảy, tăng tốc độ sinh trưởng, tăng
tỉ lệ nuôi sống và mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi Hầu hết các loại kháng sinh dùng để chữa bệnh đều có thể bổ sung vào khẩu phần ăn
Cắt đuôi, mài nanh, tiêm sắt, thiến: Thường thì trong chăn nuôi công nghiệp cần phải tiến hành cắt đuôi cho lợn nuôi thịt, vì lợn nuôi thịt thường được nuôi thành đàn các đàn lớn và có mật độ cao cho nên lợn thường tấn công nhau, vị trí tấn công của chúng thường là đuôi, gây mất ổn định, giảm năng suất chăn nuôi Việc cắt đuôi được tiến hành sau đẻ 24 giờ Dùng kéo sắc, hoặc tốt nhất là dùng kìm (kéo) điện, cắt sát khấu đuôi sao cho để lại 2,5-
3 cm Cắt xong dùng cồn iot 70% để sát trùng Ngoài ra lợn con mới đẻ đã có răng, nên việc mài răng cũng được tiến hành ngay sau đẻ để tránh tình trạng lưỡi lợn con bị toét hoặc gây đau cho lợn mẹ khi bú Khi tiến hành tránh không mài sát nướu hoặc lưỡi lợn con Trong thời kì này cũng phải thực hiện thiến cho những lợn con khoảng 5 - 7 ngày tuổi Cần sát trùng bằng cồn iot trước và sau khi thiến
Trang 19Tiêm phòng các bệnh cho lợn con: xin suyễn (7-10 ngày tuổi), xin circo (14-16 ngày tuổi)
vắc-Cai sữa cho lợn con: Đặc điểm mọc răng tiền hàm trên và dưới của lợn con thường là vào các ngày tuổi 22, 23, 24 và ngày tuổi 28 Việc mọc răng sẽ làm cho lợn con bị sốt, tiêu chảy mất sức kháng bệnh vì vậy việc cai sữa cho lợn con nên thực hiện vào lúc 28 ngày tuổi
* Đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái
Cấu tạo của tuyến sữa: Tuyến sữa của lợn gồm 2 phần: phần phân tiết
và phần dẫn sữa
Phần phân tiết: Gồm vô số các tuyến bào tạo thành từng chùm như các chùm nho các tế bào phân tiết nằm mặt trong của các tuyến bào, tổng hợp sữa
và phân tiết vào xoang tuyến bào
Phần dẫn sữa: gồm hệ thống ống dẫn sữa nhỏ xuất phát từ các xoang tuyến bào Các ống dẫn sữa nhỏ được tập trung lại thành ống dẫn trung bình rồi thành ống dẫn sữa lớn, để cuối cùng đổ vào bể sữa
- Quá trình tiết sữa:
Đối với lợn chửa vú không có bể sữa Sữa được sản xuất ra từ các tuyến bào và được tích lũy trong các xoang tuyến bào Việc tiết sữa của chúng được thực hiện theo cơ chế thần kinh thể dịch và ba pha
Nhờ vậy, sữa được thải ra từ các xoang tuyến bào qua ống dẫn sữa nhỏ, qua ống dẫn sữa lớn và chảy ra ngoài theo ống tiết sữa, từ đó lợn con mới bú được Do vậy khi lợn con bú sữa, chúng thực hiện theo 3 pha như sau: pha ngậm và thúc vú (80 - 100 giây), pha nằm im (20 giây), pha mút vú (20 giây)
Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ ngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ nhu cầu Trong những ngày đầu sau khi sinh, lợn con bú từ 20 - 25 lần/ngày, mỗi lần lượng sữa tiết ra khoảng 25 - 35 g/con Sự tiết sữa không đều theo lứa đẻ: sản lượng sữa tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 sau đó giảm dần, (Trần Văn Phùng và cs, 2004 [18])
Trang 20* Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái
Giống: các giống lợn khác nhau thì có khả năng tiết sữa khác nhau Sữa đầu rất quan trọng với lợn con, chứa nhiều globulin miễn dịch, vitamin hoà tan trong dầu, cả những chất bảo vệ lợn con mới đẻ chống nhiễm bệnh Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều globulin miễn dịch từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24 - 36 giờ, nhờ đó đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên của cuộc sống
Ảnh hưởng của lượng sữa lợn mẹ: sữa lợn mẹ là nguồn thức ăn có đầy
đủ chất dinh dưỡng, không có loại thức ăn nào có thể so sánh và thay thế được Do đó, để tăng năng suất của lợn con phải thoả mãn nhu cầu tối đa trong thời gian bú sữa
Số con để nuôi trong một ổ: số con để nuôi trong ổ với sản lượng sữa của lợn mẹ có mối tương quan chặt chẽ với nhau, sản lượng sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào số con để nuôi trong một ổ
Tuổi và lứa đẻ của lợn mẹ: lứa đẻ thứ nhất số con đẻ ra/lứa thấp Sau đó
từ lứa thứ 2 trở đi số con/lứa sẽ tăng dần lên cho đến lứa thứ 6, lứa thứ 7 thì bắt đầu giảm dần
Vị trí của vú: sản lượng sữa giảm dần từ cặp vú phía trước ngực ra sau bụng
Chế độ dinh dưỡng: ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sản lượng sữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nuôi sống của lợn con tăng lên nếu chúng ta cho lợn mẹ ăn khẩu phần ăn có nhiều chất béo của giai đoạn cuối của giai đoạn chửa và thời kì tiết sữa đầu
Nước: nước chiếm 80 - 85%, vì lợn tiết sữa đòi hỏi một lượng nước rất lớn
Trang 21Thời tiết, khí hậu: thời tiết mát mẻ lợn mẹ sẽ tăng ăn vào, tăng sản
lượng sữa Nhiệt độ cao giảm ăn vào giảm sản lượng sữa
2.2.3 Công tác phòng bệnh tại trại
2.2.3.1 Quy trình vệ sinh chuồng nuôi hằng ngày
Công tác vệ sinh trong chăn nuôi là một trong những khâu rất quan trọng Nếu công tác vệ sinh được thực hiện tốt thì gia súc ít mắc bệnh, sinh trưởng và phát triển tốt, chi phí thuốc thú y thấp, làm cho hiệu quả chăn nuôi cao hơn Do nhận thức rõ ràng được điều này, nên trong suốt thời gian 6 tháng thực tập em đã thực hiện tốt và tuân thủ các công việc vệ sinh chuồng
nuôi như sau:
- Hằng ngày, trước khi lên chuồng làm việc từ công nhân cho đến sinh viên chúng em đều tắm sạch sẽ mặc quần áo lao động, đi ủng rồi phải đi qua
hố vôi sát trùng, xịt cồn khử trùng tay tới cửa chuồng tiếp tục nhúng chân đeo
ủng vào thùng nước vôi đặt ở mỗi cửa chuồng rồi mới vào chuồng
- Việc đầu tiên của mỗi buổi vào chuồng là kiểm tra tổng quan một lượt tình hình lợn trong chuồng, kiểm tra nhiệt độ chuồng nuôi, sau đó đánh thức
lợn mẹ dậy, thu phân tránh lợn mẹ nằm đè lên phân
- Bắt nhốt lợn con vào ô úm rồi lau dọn sàn nhựa
- Thu gom phân vào bao chứa rồi đẩy phân ra ngoài
- Tiến hành rắc vôi bột dọc hành lang đi lại, xung quanh chuồng
- Quét dọn sạch sẽ xung quanh chuồng
- Lau máng đối với máng lợn con và cả lợn mẹ ít nhất 2 lần/ngày trước khi cho ăn
Trang 22Rắc vôi, phun khử trùng và foocmol Chiều Rắc vôi, phun khử trùng
3
Sáng Rắc vôi, phun khử trùng,
xịt gầm, xả gầm
Rắc vôi, quét dọn, phun khử trùng
Rắc vôi, phun khử trùng và foocmol Chiều Rắc vôi, phun khử trùng
4
Sáng Rắc vôi, phun khử trùng,
xịt gầm, xả gầm
Rắc vôi, quét dọn, phun khử trùng
Rắc vôi, phun khử trùng và foocmol Chiều Rắc vôi, phun khử trùng
5
Sáng Rắc vôi, phun khử trùng,
xịt gầm, xả gầm, dội vôi
Rắc vôi, quét dọn, phun sát trùng
Rắc vôi, phun khử trùng và foocmol Chiều Rắc vôi, phun khử trùng
6
Sáng Rắc vôi, phun khử trùng,
xịt gầm, xả gầm
Rắc vôi, quét dọn, phun khử trùng
Rắc vôi, phun khử trùng và foocmol Chiều Rắc vôi, phun khử trùng
7
Sáng Rắc vôi, phun khử trùng,
xịt gầm, xả gầm
Rắc vôi, quét dọn, phun khử trùng
Rắc vôi, phun khử trùng và foocmol Chiều Rắc vôi, phun khử trùng
CN
Sáng Rắc vôi, phun khử trùng,
xịt gầm, xả gầm
Rắc vôi, quét dọn, phun khử trùng
Rắc vôi, phun khử trùng và foocmol Chiều Rắc vôi, phun khử trùng
(Nguồn: Theo lịch khử trùng của trại)
Trang 23Chuồng nuôi luôn được vệ sinh sạch sẽ và được tiêu độc bằng thuốc sát trùng APA Clean 2 lần hằng ngày, pha với tỷ lệ 320 ml/1000 lít nước, ở các chuồng nái đẻ sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển về chuồng bầu 1 Sau khi chuyển lợn con, các tấm đan chuồng được tháo mang ra bể, ngâm ngập trong nước có pha dung dịch NaOH 10%, ngâm trong đó 1 - 2 ngày sau đó dùng máy áp lực xịt rửa sạch, phơi khô Khung chuồng nuôi cũng được cọ rửa và dùng máy áp lực xịt sạch bằng dung dịch NaOH pha với nồng độ loãng, sau
đó dội lại bằng nước vôi Gầm chuồng cũng được vệ sinh sạch sẽ tiêu độc khử trùng kỹ sau đó dội nước vôi Để khô một ngày rồi tiến hành lắp đan vào, sau đó để trống ô chuồng thời gian 5 ngày rồi mới chuyển lợn chờ đẻ
từ chuồng bầu 2 sang
Ngoài ra trong và ngoài chuồng cần tiến hành:
- Phun thuốc diệt gián, nhện, chuột 1 lần/tháng
- Quét mạng nhện
- Cọ máng, rửa máng ăn cho lợn mẹ và lợn con
2.2.3.2 Công tác phòng bệnh và điều trị bệnh
- Vệ sinh môi trường và chăm sóc, phòng bệnh cho lợn:
Việc phát sinh dịch bệnh ở lợn do nhiều nguyên nhân: các tác nhân vi trùng, virus và ký sinh trùng phối hợp với các yếu tố như stress, dinh dưỡng, môi trường và công tác quản lý Nếu nâng cao được sức chống chịu và sự miễn dịch của đàn lợn, tránh bớt stress cũng như khả năng tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh sẽ giảm được tổn thất do dịch bệnh ở lợn Vì thế việc chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh phòng dịch là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp người chăn nuôi có thể giảm bớt thiệt hại kinh tế do dịch bệnh gây ra Dịch bệnh có thể lan truyền bằng cả đường tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp Một vài
dịch bệnh như viêm mũi teo và viêm phổi do Mycoplasma thì chủ yếu lan
truyền do tiếp xúc trực tiếp từ con vật này sang con vật khác Còn virus gây bệnh “tai xanh” (Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn Porcine Reproductive and Respiratory syndrome, viết tắt là PRRS) lây lan do virus có
Trang 24trong dịch tiết của lợn bệnh như nước miếng, nước mũi, phân, tinh dịch, sữa vật nuôi tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp qua chuồng trại, qua thức ăn, nước uống, phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi, các con vật trung gian như chim chuột
- Vệ sinh: thời gian tồn tại và diễn biến của từng loại mầm bệnh rất khác nhau, tuỳ từng tình hình mang bệnh ở lợn và các phương thức lan truyền
mà có công tác kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh thích hợp
- Phòng bệnh bằng vắc-xin:
Phòng bệnh bằng vắc-xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất Vắc-xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là
vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN ) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc-xin thế hệ mới, vắc-xin công nghệ gen) Lúc đó, chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho cơ thể động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng, (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2012 [8])
Khi đưa vắc-xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh mà phải sau 7 - 21 ngày (tùy từng loại vắc-xin) mới có miễn dịch
Trang 25- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những lợn có thể chữa lành mà không quá tốn kém Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị lợn thì nên tiến hành loại khỏi đàn, (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2012 [8])
Biện pháp chữa các bệnh truyền nhiễm là:
- Hộ lý: nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch
sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những chuyển biến của bệnh để kịp thời đối phó Cho lợn ăn thức ăn tốt
và thích hợp với tính chất của bệnh
- Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường dược dùng trong ổ dịch, chữa cho lợn đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chủng (độc tố kháng huyết thanh)
- Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa trị triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải có tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ
- Dùng kháng sinh: kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm tác dụng chữa bệnh của kháng sinh, (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2012 [8])
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
Hội chứng tiêu chảy ở lợn con
- Nguyên nhân:
+ Do virus: Porcine circovirus type2 (PCV2), Rotavirus, TGE, PED, Enterovirus, Parvovirus, Adenovirus
Trang 26+ Do vi khuẩn: Chủ yếu do Escherichia coli, Salmonella
+ Do ký sinh trùng: Sán lá ruột lợn và giun đũa lợn ký sinh ở đường tiêu hóa, chúng làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa gây viêm ruột ỉa chảy (Phan Văn Lục và Phạm Văn Khuê, 1996 [14])
+ Do chăm sóc nuôi dưỡng: Chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh thú y, thức ăn thiếu không đảm bảo phẩm chất, thiếu dinh dưỡng
+ Do thời tiết khí hậu: Các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu
+ Do stress: Hệ thống tiêu hóa của lợn mẫn cảm đặc biệt với stress, hiện tượng stress thường gây nên biểu hiện chán ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, có khi tiêu chảy, đau bụng (Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho, 1996 [9])
+ Do điều kiện chuồng nuôi: Các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75 đến 85% Vì thế việc làm khô và giữ ấm chuồng là vô cùng quan trọng, (Đào Trọng Đạt và
cs, 1996 [7])
Chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ
đó gây rối loạn tiêu hóa
Khi nghiên cứu về bệnh tiêu chảy và nguyên nhân gây bệnh đã cho
rằng: Salmonella cholerasuis, Salmonella typhymurium là hai tác nhân gây ra
bệnh tiêu chảy ở lợn con, lợn sau cai sữa và lợn vỗ béo, (Phạm Sỹ Lăng và cs,
2003 [13])
+ Để điều tri ̣hội chứng tiêu chảy ở gia súc nên tập trung vào 3 khâu là: Loại trừ sai sót trong nuôi dưỡng như loại bỏ thức ăn kém phẩm chất, chăm sóc nuôi dưỡng tốt Khắc phục rối loạn tiêu hoá và chống nhiễm khuẩn Điều tri ̣hiện tượng mất nước bằng chất điện giải, (Phạm Ngọc Thạch, 2005 [19])
Trang 27Hội chứng hô hấp
- Triệu chứng: lợn bệnh sốt nhẹ 40,4 – 42 oC, bắt đầu từ triệu chứng hắt hơi chảy nước mũi, sau đó chuyển thành dịch nhầy
Lợn thở khó, ho nhiều, sốt ngắt quãng, ăn kém
Lúc đầu ho khan từng tiếng, ho chủ yếu về đêm, sau đó chuyển thành cơn, ho ướt nghe rõ nhất là vào sáng sớm đặc biệt là các buổi khi trời se lạnh, gió lùa đột ngột, nước mũi nước mắt chảy ra nhiều
Thời kỳ nung bệnh dài từ 1 - 4 tuần, nhưng cũng có thể sau 1 - 3 ngày Nhịp tim và nhịp thở đều tăng cao, (Lê Văn Năm, 2013 [17])
2.2.5 Một số bệnh gặp trên đàn lợn nái
Bệnh bại liệt sau khi đẻ
*Nguyên nhân gây bệnh bại liệt sau đẻ
Bại liệt trên lợn nái là bệnh rất phức tạp, có rất nhiều nguyên nhân:
- Do dinh dưỡng: Thường là do sự thiếu hụt canxi so với bình thường Trong trường hợp này cần phải theo dõi kỹ các triệu chứng lâm sàng và phân tích máu mới có thể chẩn đoán được chính xác bệnh Bệnh này xảy ra thường
do không cung cấp đầy đủ nhu cầu Ca, P, thiếu vitamin D trong thời gian mang thai làm rối loạn quá trình vận chuyển canxi vào máu và canxi từ xương vào máu
- Do tác nhân cơ học: Trong quá trình mang thai, sự di chuyển lợn lên chuồng đẻ khiến lợn dễ bị trượt ngã gây liệt chân
- Do thời tiết: Nhiệt độ môi trường quá nóng trong thời gian nái gần sinh hay vừa sinh xong dễ xảy ra bại liệt, lợn có biểu hiện không đứng lên được, chân sau run khi đứng, thở nhanh, sốt rất cao và chết rất nhanh do cảm nhiệt
- Do nhiễm khuẩn như nhiễm Clostridium perfigens, Listera monocytogenes,
Streptocoocus suis
Trang 28Triệu chứng
Bệnh do thiếu canxi thường có hai thể:
- Thể điển hình: Thường chiếm khoảng 20% trong tổng số các ca bệnh Bệnh phát triển nhanh, từ lúc bắt đầu đến lúc biểu hiện triệu chứng không quá 12 giờ Lợn sốt cao (>41 oC), thở nhanh, chân sau đứng không vững, thường dựa vào 2 bên thành chuồng làm điểm tựa để đứng dậy, lơn có thể giãy dụa cố để đứng dậy, chảy nước bọt, nuốt rất khó khăn, sau cùng lợn có thể hôn mê và chết
- Thể nhẹ: Chiếm đa số, lợn có hiện tượng co giật, thích nằm, ủ rũ, kém
ăn nhưng không bị hôn mê Bệnh thường xuất hiện 2 - 5 ngày sau khi sinh, lợn đi không vững và sau đó thường mất sữa
Hậu quả
Bệnh tiến triển rất nhanh, nếu không can thiệp kịp thời, lợn có thể chết sau 10 - 24 giờ Bệnh phát ngay sau khi sinh hoặc trong khi sinh rất khó điều trị, tỉ lệ chết cao Nếu điều trị tích cực và kịp thời lợn có thể qua khỏi bệnh
Bệnh viêm tử cung
* Nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung
Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh dễ xảy ra
Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh Đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%, (Trần Ngọc Bích và cs, 2016 [1])
Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy: Tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn
Trang 29lợn tương đối cao, biến động từ 36,57 - 61,07% Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8, (Nguyễn Văn Thanh, 2007 [20])
Nguyên nhân gây viêm tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng
(Staphylococcus aureus) và các loại Proteus vulgaris, Klebriella, E.coli
Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phần thiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung, (Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài, 2002 [5])
* Triệu chứng:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệt tới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu
Triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:
+ Viêm nội mạc: con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cung giảm nhẹ
+ Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có màu hồng hoặc nâu
đỏ và có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt
+ Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có màu nâu
rỉ sắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn, (Trần Tiến Dũng và cs, 2002 [6])
* Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
Trang 30Khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi không tiết progesterone nữa, do đó lượng progesterone trong máu giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít hoặc không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có
mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân
tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone
Trang 31Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bào trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng, (Trần Tiến Dũng và
cs, 2002 [6], Trần Thị Dân, 2004 [3])
* Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung
Để chẩn đoán bệnh viêm tử cung thường dựa vào các triệu chứng lâm sàng điển hình cục bộ ở cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân như thân nhiệt và dịch viêm
Lợn nái bị viêm tử cung còn có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có dịch tiết không bình thường trong 3 - 4 ngày sau khi đẻ, nếu sau khi đẻ kiểm tra âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hay thai chết lưu ở tử cung mùi hôi đặc biệt (Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, 2004 [15])
Bệnh viêm vú
* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú
- Do kế phát từ một số bệnh: sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
- Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho
thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là: Staphylococcus spp và Arcanobacterium
pyogenes (Christensen R.V và cs, 2007 [22])
- Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú dễ dẫn đến viêm