Thân bài - Giải thích vấn đề nghị luận: khi đọc thơ, ta sẽ hiểu thêm và yêu thêm con người, quê hương, cuộc sống,… Nói cách khác mỗi văn bản thơ sẽ như một ô cửa dẫn ta đến với tình yêu [r]
Trang 1TRƯỜNG THCS SƠN HÀ
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN 9
NĂM HỌC 2021-2022 Thời gian làm bài 120 phút
ĐỀ THI SỐ 1
I ĐỌC - HIỂU: (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Mỗi chúng ta đều giống một đóa hoa Có những bông hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có
những bông nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở những
cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc “đời hoa” bên vệ đường
Sứ mệnh của hoa là nở Cho dù không có những ưu thế để như nhiều loài hoa khác, cho dù được đặt
ở bất cứ đâu, thì cũng hãy bừng nở rực rỡ, bung ra những nét đẹp mà chỉ riêng ta mới có thể mang đến
cho đời
[ ]
Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu
(Kazuko Watanabe, Mình là nắng việc của mình là chói chang,
Vũ Thùy Linh dịch, NXB Thế giới, 2018)
Câu 1: (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản
Câu 2: (1 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của phép tu từ được sử dụng trong câu văn: Có những bông
hoa lớn và cũng có những bông hoa nhỏ, có những bông nở sớm và những bông nở muộn, có những đóa
hoa rực rỡ sắc màu được bày bán ở những cửa hàng lớn, cũng có những đóa hoa đơn sắc kết thúc “đời
hoa” bên vệ đường
Câu 3: (1,5 điểm) Văn bản đã chỉ ra sứ mệnh của hoa là gì? Em hiểu như thế nào về câu: Hãy bung
nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu
Câu 4: (1,0 điểm) Thông điệp mà em tâm đắc nhất qua văn bản là gì?
II LÀM VĂN: (16 điểm)
Câu 1: (6,0 điểm)
Trang 2Từ nội dung văn bản phần Đọc hiểu, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 300 từ) với chủ đề: Tôi là
một đóa hoa
Câu 2: (10,0 điểm)
Mỗi bài thơ của chúng ta Phải như một ô cửa
Mở tới tình yêu
(Trích Liên tưởng tháng Hai, Lưu Quang Vũ)
Từ những trải nghiệm trong quá trình đọc thơ, hãy viết về một bài thơ “như một ô cửa/mở tới tình
yêu” trong em
-HẾT -
ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 1
I ĐỌC - HIỂU
1 Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận
2 Phép tu từ được sử dụng trong câu văn: điệp từ “Có những cũng có những ”
- Tác dụng: Liệt kê những cuộc đời khác nhau của hoa
3 Sứ mệnh của hoa: bừng nở rực rỡ, bung ra những nét đẹp riêng mang đến cho đời
- “Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu” có thể hiểu là: Dù ta
không có ưu thế được như nhiều người khác, cho dù ta sống trong hoàn cảnh nào thì cũng hãy bung nở
rực rỡ, phô hết ra những nét đẹp mà chỉ riêng ta mới có thể mang đến cho đời, hãy luôn nuôi dưỡng tâm
hồn con người và làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn
4 Thông điệp:
- Mỗi người là một đóa hoa tuyệt vời trên thế giới này, tựa như mỗi một món quà độc đáo
- Mỗi người đều có năng lực và phẩm chất tốt đẹp riêng của mình để làm đẹp cho cuộc đời
II LÀM VĂN
1 Viết một bài văn ngắn (khoảng 300 từ) với chủ đề: Tôi là một đóa hoa
Trang 3b Xác định đúng vấn đề nghị luận
Tôi là một đóa hoa hữu ích cho cuộc đời
c Triển khai nội dung của bài viết
Học sinh có thể chọn các cách viết khác nhau nhưng đảm bảo các ý sau:
- Giải thích: Hoa là biểu tượng của vẻ đẹp Tôi là một đóa hoa là cuộc sống đẹp đẽ, tích cực, dâng
tặng cho đời hương sắc đẹp nhất
- Phân tích:
+ Là một đóa hoa để biết rằng cuộc sống vô cùng ngắn ngủi và mỗi chúng ta phải sống có ý nghĩa
Hãy cống hiến, hãy sẻ chia hết mình, để cuộc đời mình luôn tươi đẹp như cuộc đời một bông hoa
+ Những bông hoa cũng có lúc phải run rẩy trong cơn mưa rào nhưng rồi vẫn mạnh mẽ chờ đón
nắng về để tiếp tục tỏa hương, khoe sắc Con người cũng vậy, trên đường đời luôn gặp những khó khăn,
gian khổ thì cũng phải luôn kiên cường vượt qua, sẽ gặt hái được thành công
+ Con người cũng như hoa vậy, cho dù là người giỏi giang, hoàn hảo, làm được những điều người
khác không thể làm hay chỉ là một người bình dị với những việc làm nhỏ bé nhưng ý nghĩa thì đều là
những bông hoa đẹp với hương sắc riêng tô điểm cho cuộc sống thêm ý nghĩa
- Mở rộng vấn đề: Phê phán những người sống nhạt nhòa, không một lần tỏa ngát hương thơm
d Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt
e Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về nội dung trên Có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo, giàu cảm xúc
2
Mỗi bài thơ của chúng ta Phải như một ô cửa
Mở tới tình yêu (Trích Liên tưởng tháng Hai, Lưu Quang Vũ)
Từ những trải nghiệm trong quá trình đọc thơ, hãy viết về một bài thơ “như một ô cửa/mở tới tình
yêu” trong em
Trang 4a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
b Xác định đúng vấn đề nghị luận
c Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt
các thao tác lập luận; có sự kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ với dẫn chứng
Học sinh có thể triển khai bài làm theo nhiều hướng khác nhau: bình luận vấn đề; phân tích một hay
nhiều tác phẩm cụ thể chứng minh vấn đề; kết hợp giữa chứng minh và bình luận; … Sau đây là một
hướng giải quyết đề bài:
I Mở bài
- Dẫn lời thơ của tác giả Lưu Quang Vũ
- Nêu vấn đề nghị luận
II Thân bài
- Giải thích vấn đề nghị luận: khi đọc thơ, ta sẽ hiểu thêm và yêu thêm con người, quê hương, cuộc
sống,… Nói cách khác mỗi văn bản thơ sẽ như một ô cửa dẫn ta đến với tình yêu gia đình, thiên nhiên,
đất nước,…
- Chứng minh bằng những trải nghiệm trong quá trình đọc thơ: Học sinh tự chọn phân tích một bài
thơ (trong hoặc ngoài SGK) để chỉ ra tình yêu mà bài thơ ấy mở ra trong mình Cảm nhận của học sinh
cần chân thành, tinh tế, sâu sắc Bài làm cần có lí lẽ làm sáng tỏ vấn đề chứ không chỉ dừng lại ở việc
phân tích nội dung và nghệ thuật của tác phẩm
- Khái quát, đánh giá, bàn luận vấn đề: Học sinh đưa ra các ý kiến, suy nghĩ khác nhau về vấn đề
Có thể là:
+ Một bài thơ hay, một đoạn thơ hay phải khơi mở những tình cảm tốt đẹp, những suy nghĩ sâu sắc
ở con người
+ Để mở cửa tình yêu trong trái tim người đọc, trước hết tâm hồn nhà thơ cũng phải dạt dào tình yêu
đối với cuộc đời Để thấy được những gì mà ô cửa mở ra, người đọc phải có trình độ thưởng thức, có sự
am hiểu văn học
III Kết bài
- Khái quát lại vấn đề nghị luận
- Đánh giá lại lời của tác giả Lưu Quang Vũ
Trang 5d Sáng tạo, có quan điểm riêng, suy nghĩ phù hợp
e Chính tả, dùng từ, đặt câu đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt
ĐỀ THI SỐ 2
Câu 1: (8,0 điểm)
Câu chuyện quả táo
Một em bé đáng yêu đang cầm hai quả táo trong tay Mẹ em bước vào phòng và mỉm cười hỏi cô
con gái nhỏ: “Con yêu, con có thể cho mẹ một quả táo được không?”
Em bé ngước nhìn mẹ trong một vài giây, rồi sau đó lại nhìn xuống từng quả táo trên hai tay mình
Bất chợt, em cắn một miếng trên quả táo ở tay phải, rồi lại cắn thêm một miếng trên quả táo bên tay
trái
Nụ cười trên gương mặt bà mẹ bỗng trở nên gượng gạo Bà cố gắng không để lộ nỗi thất vọng của
mình
Sau đó, cô gái nhỏ giơ lên một trong hai quả táo vừa bị cắn lúc nãy và rạng rỡ nói: “Quả táo này
dành cho mẹ nhé, nó ngọt hơn đấy ạ!”
(Theo https://gpcantho.com/tao) Suy nghĩ của em về câu chuyện trên
Câu 2: (12,0 điểm) Có ý kiến cho rằng: Hình tượng con người vô danh trong tác phẩm thường được
các nhà văn xây dựng một cách chỉn chu, có số phận, có cá tính, tâm lý và đôi khi hội tụ đầy đủ mọi
phẩm hạnh Tuy nhiên nhà văn không định danh, và vì không định danh nên nhân vật mãi mãi là những
ám ảnh day dứt trong tâm hồn bạn đọc
(Mạc Ngôn – Nhà văn đạt giải Nobel văn học của Trung Quốc, dẫn theo https://thayhieu.net, ngày
15/6/2020)
Suy nghĩ của em về ý kiến trên và chọn một hoặc hai tác phẩm văn học đã học trong Chương trình
Ngữ văn cấp trung học cơ sở để chứng minh
-HẾT -
ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 2 Câu 1 Suy nghĩ về câu chuyện: Câu chuyện quả táo
1 Yêu cầu về kỹ năng
Trang 6Đáp ứng yêu cầu một bài văn nghị luận xã hội; luận điểm, luận cứ rõ ràng, xác đáng; đảm bảo tính
liên kết, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu
Có kiến thức xã hội, dẫn chứng phù hợp; bày tỏ được chính kiến cá nhân đối với vấn đề nghị luận
a) Ý nghĩa của câu chuyện: Mượn câu chuyện về đứa bé và hai quả táo để gửi gắm thông điệp: Đừng
vội vàng đánh giá hay phán xét người khác khi ta chưa hiểu rõ sự việc
b) Bình luận
- Con người thường có thói quen nhìn nhận, đánh giá sự việc vội vàng theo góc nhìn chủ quan của
mình khi chưa thấu hiểu tường tận mọi việc Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng có nhận định
đúng đắn, mà có lúc mắc phải sai lầm
- Hậu quả của việc đánh giá sai lầm có khi sẽ dẫn đến hành động sai trái, quyết định thiếu sáng suốt
trong công việc hoặc tạo nên năng lượng tiêu cực ảnh hưởng đến mối quan hệ tình cảm tốt đẹp
- Việc quan sát hành vi, biểu hiện bên ngoài và đưa ra những phán đoán là rất cần thiết nhưng không
chủ quan, vội vàng mà cần phải có sự kiên nhẫn để thấu hiểu vấn đề trước khi đưa ra quyết định hoặc
lời nói đánh giá người khác
c) Bài học liên hệ bản thân
- Đừng vội vàng, cảm tính quy chụp thói ích kỉ vào người khác mà phải biết quan sát và tìm hiểu
nguyên nhân trước khi quyết định một vấn đề hay phán xét một ai đó
- Luôn có ý thức rèn luyện phẩm chất, đạo đức và có nhìn cảm thông chia sẻ, có suy nghĩ lạc quan,
tạo nên năng lượng tích cực trong cuộc sống
* Trân trọng những bài làm sáng tạo và có vốn hiểu biết rộng, đúng đắn, sử dụng đa dạng các thao
tác lập luận Không chấp nhận kiểu viết chung chung
Câu 2 Trình bày suy nghĩ về ý kiến: Hình tượng con người vô danh trong tác phẩm thường được
các nhà văn xây dựng một cách chỉn chu, có số phận, có cá tính, tâm lý và đôi khi hội tụ đầy đủ mọi
phẩm hạnh Tuy nhiên nhà văn không định danh, và vì không định danh nên nhân vật mãi mãi là những
ám ảnh day dứt trong tâm hồn bạn đọc
1 Yêu cầu về kỹ năng
Đáp ứng yêu cầu một bài văn nghị luận văn học, luận điểm, luận cứ rõ ràng, xác đáng; đảm bảo tính
liên kết, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu
Trang 7Trình bày vấn đề một cách khoa học, hấp dẫn; dẫn chứng tiêu biểu, đa dạng, phong phú, hợp lý; lập
luận chặt chẽ, có sức thuyết phục; sáng tạo
2 Yêu cầu về kiến thức
a) Giải thích ý kiến
- Văn chương phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật Thông qua hình tượng nghệ thuật,
nhà văn muốn phản ánh một vấn đề của hiện thực cuộc sống, hoặc gửi gắm tư tưởng, tình cảm của mình
- Hình tượng nghệ thuật trong văn chương chủ yếu là hình tượng con người, có thể là một cá nhân
có tên tuổi, cũng có thể là hình tượng tập thể Ngoài ra, nhà văn có thể xây dựng hình tượng con người
vô danh Vô danh là không có tên, không được định danh mà chỉ được gọi bằng từ ngữ gắn với đặc điểm
hoàn cảnh, công việc hoặc giới tính, độ tuổi Ví dụ như ông lái đò, cô bé bán diêm, anh thanh niên, người
đàn bà,…
- Để hình tượng nghệ thuật có giá trị, có khi nhà văn sáng tạo hình tượng con người vô danh có số
phận, có cá tính, tâm lý và đôi khi hội tụ đầy đủ mọi phẩm hạnh Sức sống của nhân vật, sự ám ảnh của
nhân vật trong tâm hồn bạn đọc cũng có thể vì không được định danh trong tác phẩm
b) Bình luận ý kiến
- Nhân vật được xây dựng là nhân vật vô danh nhưng cũng là một con người cụ thể, có những nét
tính cách của một loại người trong xã hội
- Tuy nhiên, không phải lúc nào nhân vật cũng tạo sự ám ảnh, day dứt với người đọc mà tuỳ thuộc
vào sự thành công của nhà văn khi xây dựng hình tượng nhân vật vô danh đó
- Tài năng của nhà văn là làm sao kiến tạo nên diện mạo, tính cách nhân vật vừa có nét cụ thể, cá
biệt, vừa có khả năng khái quát tính cách con người, khái quát hiện thực cuộc sống Gắn với nhân vật là
một quan niệm của nhà văn về hiện thực, chẳng hạn như lý tưởng đạo đức, khát vọng tình yêu, cuộc
sống hạnh phúc, khát vọng tự do, chân lí, Từ đó, tạo được ấn tượng sâu sắc, làm day dứt, trăn trở cho
người đọc
c) Chứng minh: Thí sinh chọn lựa dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp và phân tích làm sáng tỏ ý kiến (có
thể chọn 1 trong 2 tác phẩm, hoặc cả hai trong Chương trình Ngữ văn THCS, có nhân vật vô danh như
cô bé bán diêm trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn An – đéc – xen (Ngữ văn 8), anh thanh niên
trong Lặng lẽ Sa Pa của nhà văn Nguyễn Thành Long (Ngữ văn 9)
Nhà văn sáng tạo hình tượng con người vô danh có số phận, có cá tính, tâm lý và hội tụ đầy đủ những
phẩm chất đáng quý:
Trang 8+ Nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa được tác giả Nguyễn Thành Long khắc
hoạ: Hoàn cảnh sống khắc nghiệt, hội tụ những phẩm chất tốt đẹp như yêu lao động, có tinh thần trách
nhiệm cao với công việc, khiêm tốn, thật thà, hiếu khách, âm thầm cống hiến cho quê hương đất nước,…
+ Nhân vật cô bé bán diêm của nhà văn An – đéc – xen: Số phận đáng thương, cuộc sống thiếu thốn,
nghèo khổ, chịu sự thờ ơ, lãnh đạm của mọi người xung quanh; ước mơ bình dị nhưng không bao giờ
thực hiện được
(Thí sinh có thể chọn lựa nhân vật khác, không nhất thiết cả hai tác phẩm, nếu chọn một tác phẩm
thì phải phân tích có chiều sâu và thuyết phục; biết chọn lựa chi tiết tiêu biểu trong văn bản để chứng
minh luận điểm trên)
Vì không định danh nên nhân vật mãi mãi là những ám ảnh day dứt trong tâm hồn bạn đọc:
+ Hình tượng anh thanh niên, cô bé bán diêm vừa là số phận, tính cách cụ thể, cá biệt, vừa có thể
hiện tính khái quát, bộc lộ bản chất, tính cách của một lớp người, loại người trong xã hội
+ Vì là nhân vật vô danh, nên để lại ấn tượng, sự day dứt, trăn trở, suy tư cho người đọc về con
người, về hiện thực cuộc sống Anh thanh niên sống trong hoàn cảnh nguy hiểm, khắc nghiệt nhưng
luôn có lí tưởng sống cao đẹp, không tham vọng hay vụ lợi, âm thầm, lặng lẽ cống hiến cho quê hương
Nhân cách đẹp, lí tưởng đẹp đó gợi cho người đọc suy tư và nhìn lại cuộc sống của chính mình để sống
tốt hơn Cô bé bán diêm gợi sự ám ảnh, day dứt khôn nguôi về số phận của con người, suy nghĩ về tình
thương và trách nhiệm của mỗi người đối với những số phận nghèo khổ, nhất là trẻ thơ
d) Nhận xét, liên hệ
- Ý kiến trên là một nhận định đúng đắn, khoa học
- Khi tiếp nhận tác phẩm văn học, người đọc cần chú ý đến hình tượng nghệ thuật (dù là hình tượng
con người định danh hoặc vô danh), cảm nhận được những tìm tòi khám phá và sự sáng tạo riêng của
nhà văn Từ đó, hiểu được vấn đề hiện thực mà nhà văn phản ánh và thông điệp mà nhà văn gửi gắm
qua tác phẩm
ĐỀ THI SỐ 3
Câu 1: (2,0 điểm)
Vẻ đẹp của hai câu thơ:
“Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”
Trang 9(Trích “Truyện Kiều” - Nguyễn Du)
Câu 2: (6,0 điểm)
“Hỏi một câu, chỉ dốt trong chốc lát, không hỏi sẽ dốt nát cả đời”
Trình bày suy nghĩ của em về quan niệm trên bằng một bài văn nghị luận xã hội (không quá 2 trang giấy
thi)
Câu 3: (12,0 điểm)
Dựa vào truyện cổ tích “Vợ chàng Trương” nhưng “Chuyện người con gái Nam Xương” đã khẳng
định được những sáng tạo tài hoa của Nguyễn Dữ
Hãy làm sáng tỏ những sáng tạo của tác giả được thể hiện trong tác phẩm đó
-HẾT -
ĐÁP ÁN ĐỀ THI SỐ 3 Câu 1
Về hình thức:
Học sinh trình bày thành một đoạn văn theo qui ước, ngôn ngữ trong sáng, có chất văn, không
mắc lỗi thông thường về chính tả, ngữ pháp
Về kiến thức:
* Nội dung:
Học sinh trình bày được vẻ đẹp của hai câu thơ:
- Hai câu thơ là bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân: gam màu nền: thảm cỏ xanh non ; sự vật: cỏ
xanh, hoa lê trắng
Màu sắc hài hòa gợi nên vẻ đẹp riêng mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi đầy sức sống của cỏ non,
khoáng đạt trong trẻo của xanh tận chân trời, nhẹ nhàng tinh khiết của trắng điểm Chữ "điểm"
đã làm cho bức họa mùa xuân sinh động, đầy sức sống gợi cảm có hồn…
(Có thể so sánh với hai câu thơ cổ của Trung Hoa "Phương thảo liên thiên bích Lê cho sổ điểm
hoa" để thấy được sự sáng tạo của Nguyễn Du và vẻ đẹp riêng của bức họa mùa xuân trong hai
câu thơ của ông.)
Bức tranh thiên nhiên thể hiện nghệ thuật miêu tả bậc thầy, tình yêu thiên nhiên tha thiết của
Nguyễn Du -> Khơi gợi trong ta tình yêu, niềm tự hào, gắn bó với cảnh sắc thiên nhiên của đất
nước…
* Nghệ thuật:
- Thể thơ lục bát, ngôn ngữ thuần Việt, giàu hình ảnh, nhạc điệu
Trang 10- Bút pháp tả thực, điểm xuyết, chấm phá
- Nghệ thuật đảo chữ “điểm”
Câu 2
Yêu cầu về kĩ năng:
Hiểu được yêu cầu của đề ra Tạo lập được một văn bản nghị luận xã hội, có bố cục rõ ràng, lập
luận chặt chẽ, thuyết phục Viết đúng chính tả, ngữ pháp
Yêu cầu về kiến thức:
I Giới thiệu vấn đề nghị luận
II Phân tích bàn luận:
1 Giải thích:
- “Hỏi” là nói ra điều mình vốn băn khoăn, không hiểu với mong muốn người khác sẽ cho mình
biết câu trả lời
- “Dốt trong chốc lát và trong cả đời”: sự dốt nát chỉ là tạm thời khi người hỏi nói ra điều mình
không biết, không hiểu Sự dốt nát sẽ là mãi mãi khi người hỏi không bao giờ nói ra điều mình
không biết
- Nội dung câu nói: Câu nói đề cập đến thái độ của con người khi gặp phải những vấn đề khó lí
giải trong học tập và cuộc sống Từ đó nhắc nhở chúng ta thường xuyên học hỏi để bổ sung kiến
thức kịp thời
2 Phân tích bàn luận
2.1 Vì sao cần biết hỏi:
- Hỏi là nhu cầu nhận thức, thể hiện sự quan tâm hay thỏa tính hiếu kì Hỏi là một cách thức để
khám phá thế giới tự nhiên và đời sống tâm hồn của con người, hỏi là con đường rèn luyện và
phát triển tư duy, hỏi là hành vi đạo đức thể hiện sự đồng cảm, sẻ chia
- Hỏi là một nhu cầu tất yếu trong cuộc sống Con người luôn có nhu cầu khám phá, tìm hiểu về
thế giới khách quan
- Cuộc sống là rộng lớn và có vô vàn điều kì bí, chưa thể lí giải được - không phải ai cũng biết
hết và hiểu hết về tất cả mọi lĩnh vực trong cuộc sống nên cần giao lưu học hỏi lẫn nhau để nâng
cao kiến thức
- Không biết chỗ nào cần hỏi ngay chỗ ấy để kiến thức được bổ sung kịp thời, thường xuyên
2.2 Vì sao “Hỏi một câu, chỉ dốt trong chốc lát, không hỏi sẽ dốt nát cả đời”?
- Học hỏi không có gì xấu hổ mà là biểu hiện của tính ham học, ham hiểu biết Vì thế không nên
lo sợ bị người khác chê cười, đánh giá thấp mà im lặng dấu dốt Tuy nhiên cần chịu khó suy
nghĩ, tự học
- Khi đã cố gắng hết sức mà không nghĩ ra, không giải quyết được cần hỏi người đáng tin cậy để
bổ sung kiến thức kịp thời và tránh tâm lí ngại hỏi, giấu dốt để rời trở thành người dốt nát
- Khi hỏi, những vấn đề thắc mắc mà bản thân chưa biết, chưa lí giải được sẽ dần sáng tỏ, bỏi