TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH LÊ CHÍ CƯỜNG THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH NGƯỜI BỆNH MẮC BỆNH VIÊM PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH COPD ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚTẠI BỆNH VIỆN 71 TRUNG ƯƠNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NAM ĐỊNH - 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
LÊ CHÍ CƯỜNG
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH NGƯỜI BỆNH MẮC BỆNH VIÊM PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH (COPD) ĐIỀU TRỊ
NỘI TRÚTẠI BỆNH VIỆN 71 TRUNG ƯƠNG NĂM 2021
Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG NỘI NGƯỜI LỚN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS Nguyễn Trường Sơn
NAM ĐỊNH - 2021
Trang 3Nội dung Trang
Lời cảm ơn……… i
Lời cam đoan……… ii
Danh mục chữ viết tắt……… iii
Danh mục bảng biểu……… ……… iv
Đặt vấn đề……… …… …… 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn……… ……… 3
1.1 Cơ sở lý luận……… …… ………… … 3
1.1 Cơ sở thực tiễn……… ……… 10
Chương 2: Thực trạng chăm sóc người bệnh COPD ……….………… 12
Chương 3: Bàn luận ……….……… 21
Kết luận……… 28
Đề xuất giải pháp 29
Tài liệu tham khảo 31
Phụ lục ……….…………
Phiếu khảo sát………
Một số hoạt động chăm sóc người bệnh của bệnh viện 71 TW…………
33
38
40
Trang 4Được sự phân công của Hội đồng khoa học trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và sự đồng ý của Giảng viên hướng dẫn – Ths Nguyễn Trường Sơn, tôi đã thực hiện chuyên đề " Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh viện 71 Trung ương năm 2021
Để hoàn thành chuyên đề này, tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Tôi xin trân thành cảm ơn Giảng viên hướng dẫn Ths Nguyễn Trường Sơn - Trường Đại học điều dưỡng Nam Định là người trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi Cảm
ơn Ban Giám đốc và các Bác sỹ, Điều dưỡng Bệnh viện 71 TW đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện chuyên đề này
Mặc dù tôi đã cố gắng để thực hiện chuyên đề một cách tốt nhất nhưng không tránh khỏi những thiếu xót mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự đóng góp của quý Thầy Cô, Hội đồng Khoa học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, ngày 07 tháng 9 năm 2021
Tác giả
Lê Chí Cường
Trang 5liệu trong báo cáo này chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Nếu có điều gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Lê Chí Cường
iii
Trang 7Bảng Nội dung Số trang Bảng 2.1 Phân bố người bệnh theo tuổi và giới 16 Bảng 2.2 Biểu hiện các triệu chứng cơ năng khi vào viện 17 Bảng 2.3 Đánh giá mức độ nặng của đợt cấp COPD 17 Bảng 2.4 Đánh giá mức độ nặng của đợt cấp COPD 18
Bảng 2.5 Điều dưỡng tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho
Bảng 2.6 Điều dưỡng phối hợp với Bác sỹ đánh giá tình trạng
Bảng 2.7 Điều dưỡng hướng dẫn, hỗ trợ luyện tập và phục hồi
Bảng 2.8 Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn
kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh COPD 20 Bảng 2.9 Các hoạt động Điều dưỡng thực hiện quy trình chăm
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD: Chronic obstructive pulmonary disease) là một dạng bệnh lý tắc nghẽn thông khí phổi, suy giảm thông khí mạn tính, diễn biến xấu dần theo thời gian
Theo GOLD, 2018 COPD là một bệnh phổ biến có thể dự phòng và điều trị được, bệnh được đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp trường diễn và hạn chế thông khí do bất thường đường dẫn khí hoặc phế nang thường do phơi nhiễm với các hạt hoặc khí độc hại Các triệu chứng hô hấp thường gặp là khó thở, ho và khạc đờm Hạn chế thông khí trong COPD do tổn thương các đường dẫn khí nhỏ và nhu mô phổi, được đặc trưng bởi thông khí thở ra tối đa giảm và chậm khả năng thở ra gắng sức của phổi, không thay đổi đáng kể qua nhiều tháng, chỉ đảo ngược được rất ít bằng các thuốc giãn phế quản Hút thuốc là nguyên nhân thường gặp nhất của COPD, ngoài ra còn có yếu tố ô nhiễm không khí như khói bụi nghề nghiệp, khói bếp than Tiếp xúc lâu dài với những kích thích sẽ gây phản ứng viêm tại phổi dẫn đến kết quả là sự co hẹp các đường dẫn khí nhỏ và sự phá hủy mô phổi, gọi là khí phế thủng [6]
Theo Tổ chức Y tế thế giới, hiện nay có khoảng 600 triệu người bị COPD và 2,75 triệu người tử vong vì COPD mỗi năm Dự báo COPD là nguyên nhân gây tử vong xếp thứ 4 và gây tàn phế xếp thứ 7 trên Thế giới vào năm 2030 [21] COPD tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển do thói quen hút thuốc vẫn còn phổ biến Với sự gia tăng tỷ lệ hút thuốc lá tại các nước đang phát triển và sự già hóa dân số ở những quốc gia phát triển, tỷ lệ mắc COPD được dự đoán sẽ tăng cao trong những năm tới và đến năm 2030 ước tính có trên 4,5 triệu trường hợp tử vong hàng năm do COPD và các rối loạn liên quan [1]
Ở Mỹ, chi phí y tế cho COPD ước tính là 23,9 tỷ đô la, trong đó 14,7 tỷ là chi phí trực tiếp cho điều trị và 9,2 tỷ là chi phí gián tiếp Các chi phí này rất phụ thuộc vào quản lý điều trị dự phòng tránh các đợt cấp phải nằm viện Chi phí nằm viện sẽ chiếm trên 70% chi phí tổng thể cho điều trị COPD Đối với các nước đang phát triển, xét trên góc độ kinh tế, COPD rất có thể là những gánh nặng rất đáng kể đối với các gia đình và xã hội [16]
Ở Việt Nam nghiên cứu về dịch tễ học của COPD năm 2009 cho thấy tỷ lệ mắc ở người > 40 tuổi là 4,2% Với sự gia tăng tỷ lệ hút thuốc lá và sự già hóa dân
Trang 9số ở các nước đang phát triển, tỷ lệ mắc COPD dự đoán sẽ tăng cao trong những năm tới và đến năm 2030 ước tính có 4,5 triệu NB COPD tử vong hàng năm và các rối loạn liên quan[1]
Nghiên cứu của Đinh Ngọc Sỹ và Cộng sự năm 2010 cho thấy, tỷ lệ mắc COPD chung của toàn quốc là 4,2%, trong đó tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới là 7,1% và
“Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh mắc bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) điều trị nội trú tại Bệnh 71 Trung Ương năm 2021” với Mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng công tác chăm sóc người bệnh mắc bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) điều trị nội trú tại Bệnh viện 71 Trung Ương năm 2021
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác chăm sóc người bệnh mắc bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) điều trị nội trú tại Bệnh viện 71 Trung Ương
Trang 101.1.2 Triệu chứng của COPD
- Các triệu chứng của COPD không xuất hiện cho đến khi tổn thương phổi đã xảy ra và nó thường nặng hơn lên theo thời gian Những người bị COPD cũng có những đợt kịch phát, trong đó các triệu chứng của bệnh đột nhiên nặng lên
- Các triệu chứng thường gặp của COPD là: Ho, sốt, khạc đờm, khó thở, đau ngực
1.1.3 Nguyên nhân COPD: Chủ yếu đề cập đến tắc nghẽn trong phổi từ hai bệnh phổi mạn tính Nhiều người bị COPD có cả hai
- Bệnh giãn phế nang: Giãn phế nang là nguyên nhân gây ra bệnh viêm phổi,
nó có thể phá hủy một số thành phần của nhu mô phổi làm giảm chức năng trao đổi khí của phổi
- Viêm phế quản mạn tính: Là trạng thái viêm do đó dẫn đến tình trạng kích thích làm bệnh nhân ho liên tục Viêm phế quản mạn tính cũng làm tăng sản xuất chất nhờn, chính vì vậy càng làm hẹp các ống phế quản hơn
- Hen phế quản gần giống viêm phế quản mạn tính nhưng có kèm theo các cơn co thắt cơ trơn phế quản Hen phế quản mạn tính đôi khi được xác định là COPD
- Di truyền học: Một rối loạn di truyền hiếm được gọi là alpha -1- antitrypsin
là nguồn gốc của một số trường hợp COPD Các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng yếu
tố di truyền khác cũng có thể làm cho một số người hút thuốc lá dễ bị bệnh
1.1.4 Yếu tố nguy cơ đối với COPD bao gồm:
Trang 11- Khói thuốc lá và các chất kích thích:Trong hầu hết các trừờng hợp, những tổn thương phổi dẫn đến COPD là do hít thuốc lá nhiều năm, đó là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với COPD Hút thuốc nhiều năm và hút nhiều thuốc trong ngày thì nguy cơ càng lớn Các triệu chứng của COPD thường xuất hiện khoảng 10 năm sau khi bắt đầu hút thuốc Những người tiếp xúc với số lượng lớn khói thuốc cũng
có nguy cơ COPD Tuy nhiên, chất kích thích khác có thể gây COPD bao gồm cả khói xì gà, ô nhiễm không khí và khói bụi nghề nghiệp
- Nghề nghiệp tiếp xúc với bụi và hóa chất: Lâu dài tiếp xúc với khói hoá chất, hơi và bụi có thể gây kích ứng và làm viêm phổi
- Trào ngược dạ dày thực quản: Tình trạng này là một hình thức nghiêm trọng ủa acid trào ngược Trào ngược dạ dày thực quản có thể làm cho COPD nặng hơn và thậm chí có thể là nguyên nhân gây COPD
- Tuổi: COPD phát triển chậm, do đó hầu hết người trên 40 tuổi mới bắt đầu xuất hiện các triệu chứng của COPD
1.1.5 Biến chứng của COPD
- Nhiễm trùng đường hô hấp: Khi có COPD, bệnh nhân sẽ dễ bị cảm lạnh hoặc dễ mắc bệnh cúm hoặc viêm phổi Khi bị nhiễm trùng đường hô hấp dấu hiệu hay gặp là khó thở
- Tràn dịch màng phổi
- Một số biến chứng khác: Loãng xương, thừa cân, khó ngủ v COPD thường không được chẩn đoán ở giai đoạn đầu Ngay cả những người hút thuốc có triệu chứng ho mạn tính, ho nhiều đờm, khó thở khi làm việc nặng hay vận động nhiều cũng ít được chú ý để chẩn đoán sớm Vì vậy, đa số những trường hợp phát hiện bệnh thường đã ở giai đoạn muộn, biến chứng nặng và tỷ lệ tử vong cao
Trang 121.1.6 Điều trị COPD[1]
- Thuốc:
+ Thuốc giãn phế quản: Thuốc này có thể giúp giảm ho, khó thở Tùy thuộc vào mức độ của bệnh, có thể dùng thuốc giãn phế quản có tác dụng ngắn hay dùng thuốc giãn phế quản tác dụng lâu dài hoặc cả hai
+ Steroid: Thuốc corticosteroid dạng xịt có thể làm giảm quá trình viêm đường hô hấp và giúp bệnh nhân đỡ khó thở Nhưng khi sử dụng kéo dài các loại thuốc này có thể làm loãng xương và làm tăng nguy cơ cao huyết áp, đục thủy tinh thể và tiểu đường Chỉ dùng corticoid những trường hợp COPD trung bình hoặc nặng
+ Thuốc kháng sinh: Trong trường hợp người bệnh COPD bị nhiễm trùng đường hô hấp như viêm phế quản cấp tính, viêm phổi và cúm có thể làm nặng thêm các triệu chứng COPD Kháng sinh có thể giúp chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn nhưng chỉ được dùng khi cần thiết
- Phẫu thuật là một phương pháp điều trị tốt nhất cho các bệnh nhân bị bệnh khí thũng nặng không đáp ứng với thuốc Các kĩ thuật trong phẫu thuật gồm:
+ Cắt một phần nhu mô phổi:
Khi cắt một phần nhu mô phổi sẽ tạo thêm không gian trong khoang ngực để cho mô phổi còn lại và cơ hoành thực hiện hô hấp hiệu quả hơn
+ Ghép phổi: Cấy ghép có thể cải thiện khả năng để thở, tuy nhiên kỹ thuật ghép phổi phức tạp và tốn kém
- Các liệu pháp: Sử dụng các liệu pháp bổ sung cho những người COPD trung bình hoặc nặng:
- Xây dựng đơn vị quản lý bệnh COPD tại các bệnh viện
- Bảo vệ cho môi trường sống trong lành hơn
- Chú ý tập thở và phát hiện cơn COPD kịch phát
Trang 13- Vệ sinh đường hô hấp: Người bệnh COPD cần luôn luôn giữ ấm, ẩm và sạch đường hô hấp để hạn chế tối đa nhiễm trùng đường hô hấp, là một biến chứng thường gặp ở người bệnh COPD
- Tập thể dục thường xuyên: Thường xuyên tập thể dục có thể cải thiện tổng thể sức khoẻ, sự dẻo dai và tang cường hoạt động của cơ hô hấp
- Ăn các loại thực phẩm lành mạnh: Đảm bảo chế độ ăn uống lành mạnh, đủ chất dinh dưỡng, các Vita min sẽ làm tăng sức đề kháng cho người bệnh, làm chậm lại sự tiến triển của COPD
- Tránh khói thuốc: Ngoài việc bỏ hút thuốc, điều quan trọng để tránh những nơi mà những người khác hút thuốc Khói thuốc có thể góp phần làm phổi tổn thương thêm
- Chú ý đến trào ngược thực quản: Trào ngược thực quản có thể làm nặng thêm bệnh COPD Điều trị bệnh trào ngược dạ dày có thể COPD sẽ đỡ hơn
- Đi khám bác sĩ thường xuyên: Đều đặn theo dõi chức năng phổi
- Nghề nghiệp tiếp xúc với khói hóa chất và bụi là một yếu tố nguy cơ COPD Nếu làm việc với các loại chất kích thích phổi, cần có những cách tốt nhất
để bảo vệ mình như đeo khẩu trang, tránh tiếp xúc trực tiếp với bụi,
1.1.8 Chăm sóc người bệnh COPD “Ngô Huy Hoàng ( 2019) Điều dưỡng Nội khoa, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định”
- Cải thiện thông khí phổi:
+ Bố trí người bệnh nơi thoáng khí, đảm bảo đủ ấm khi thời tiết lạnh, tư thế nằm đầu cao
+ Đánh giá nhanh mức độ nặng bệnh qua tần số thở, kiểu thở, mức độ tím, các thông số về khí máu, mạch, huyết áp
+ Thực hiện đầy đủ chính xác các thuốc khi có chỉ định như thuốc giãn phế quản, corticoid, đảm bỏa kỷ thuật các đường dùng thuốc khác nhau như khí dung, xịt hít, truyền tĩnh mạch để có hiệu quả tối ưu cho người bệnh
+ Khi tình hình người bệnh cho phép, hướng dẫn người bệnh các kỹ thuật tập thở sâu với các:
Bước 1- Hít vào chậm và sâu
Bước 2 - Nín thở trong vài giây
Bước 3- Thở ra mạnh và kéo dài,
Trang 14Bước 4 - Hít thở nhẹ nhàng vài lần rồi lặp lại từ bước 1 đên bước 3
Theo dõi sự đáp ứng của người bệnh về điều trị, các dấu hiệu của cải thiện thông khí như: tím tái giảm, tần số thở ở giới hạn bình thường, mạch, huyết áp ổn định
- Cải thiện khả năng làm sạch đường thở:
+ Đảm bảo đủ dịch cho người bệnh vì thiếu dịch làm đờm quánh đặc khó tống ra ngoài, đánh giá biểu hiện của thiếu dịch như độ chun giản của da, thể tích nước tiểu/24 giờ
+ Thực hiện một số thuốc có tác dụng làm long đờm, giảm phù nề đường thở khi có chỉ định, vỗ rung lồng ngực cho người bệnh để gây long đờm
+ Khi tình trạng người bệnh co phép như bớt khó thở, đỡ mệt, mạch và huyết
áp ổn định, thực hiện biện pháp dẫn lưu tư thế, kết hợp với hướng dẫn người bệnh thực hiện kỹ thuật ho có kiểm soát, gồm:
Bước 1- Ngồi tư thế thoải mái
Bước 2- Hít vào chậm và sâu
Bước 3- Nín thở trong vài giây
Bước 4 - Ho mạnh 2 tiếng, tiếng thứ nhất để đờm long ra và tiếng thứ hai để tống đờm ra ngoài
+ Trường hợp người bệnh xuất tiết quá nhiều đờm, thể trạng quá yếu, không thể hoc khạc được, cần tiến hành hút đờm cho người bệnh và chú ý đảm bảo vô khuẩn khi làm thủ thuật
- Ngăn ngừa thiếu oxy máu trầm trọng
+ Thường xuyên theo dõi các thông số về hô hấp, mức độ tím, khí máu + Luôn đảm bảo bường bệnh thoáng khí, ấm về mùa đông, mát về mùa he, đảm bảo đủ ấm và ẩm không khí thở vào cho người bệnh
+ Thường xuyên thay đổi tư thế, cách thở sâu, thở qua môi mím để tăng đảo thải khí cặn
+ Với nặng trường hợp nặng, cơ thể gầy yếu suy kiệt phải theo dõi 30 phút hoặc 1giờ/lần về tần số thở, mức độ tím, PaO2, SaO2 các biểu hiện về tinh thần Nếu bệnh diễn biến xấu hơn phải báo ngay bác sỹ và phối hợp bác sỹ xử trí và chăm sóc tích cực người bệnh
- Khống chế nhiễm khuẩn đường thở
Trang 15+ Đảm bảo bường bệnh thoáng và sạch, hạn chế sự lây nhiễm tiếp xúc với những người xung quanh và thực hiện tốt các biện pháp giúp làm sạch đường thở
+ Thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh, vệ sinh cơ thể, răng miệng Luôn phiên vệ sinh từng phần của cơ thể bằng lau rửa với khăn mềm và nước ấm, thời gian không quá lâu, đảm bảo đủ ấm cho người bệnh
+ Chủ động theo dõi phát hiện sớm các dấu hiệu của nhiễm khuẩn đường thở như mệt nhiều, khó thở, sốt, đờm chuyển đục, màu vàng hoặc màu xanh
+ Khi có bằng chứng nhiễm khuẩn báo với bác sỹ để có kế hoạch dùng thuốc kháng sinh
- Đảm bảo đủ dinh dưỡng
+ Khi bệnh nặng, người bệnh thường khó thở nhiều và rất mệt, do vậy chỉ nên cung cấp cho người bệnh một lượng calo tối thiểu qua dịch truyền hoặc chế độ
ăn lỏng, dễ hấp thu, cho ăn ít một, chậm rãi, vào lúc ít khó thở nhất
+ Khi tình trạng người bệnh được cải thiện, thực hiện chế độ ăn tăng dần đến lúc đủ năng lượng, protein và bổ sung vitamin
+ Chế biến thức ăn và thay đổi cách chế biến phù hợp với khẩu vị người bệnh, tránh thức ăn khó tiêu, thức ăn gây dị ứng
+ Chia khẩu phần ăn thành nhiều bữa nhỏ trong ngày để tránh đầy dạ dày gây chèn ép cơ hành làm người bệnh khó thở thêm
- Tư vấn kiến thức và huấn luyện các bài tập bảo tồn chức năng hô hấp + Khi người bệnh qua gai đoạn nặng của bệnh, thể trạng được cải thiện, chủ động tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh, cung cấp kiến thức cho người bệnh
+ Trước khi ra viện, hướng dẫn người bệnh các bài tập phục hồi chức năng
hô hấp và duy trì luyện tập phục hồi chức năng hô hấp tại nhà
+ Hướng dẫn người bệnh tự làm sạch đường thở tại nhà như uống đủ nước,
ho có kiểm soát, nằm nghỉ ngơi ở tư thế dẫn lưu
+ Thuyết phục người bệnh tránh các yếu tố gây kích thích niêm mạc hô hấp như hút thuốc, thời tiết quá nóng và quá lạnh, khói bụi…
+ Khuyên người bệnh ăn uống đủ dinh dưỡng, tập luyện thể dục đúng mức
để nâng cao thể trạng, tăng sức đề kháng cơ thể
+ Hướng dẫn người bệnh khi có nhiễm khuẩn đường thở như: ho, sốt, khạc đờm đục hoặc xanh, vàng đi khám điều trị kịp thời
Trang 161.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh COPD trên thế giới
Theo WHO, hiện nay trên thế giới có khoảng 600 triệu người mắc COPD, dự đoán trong thập kỷ này số người mắc sẽ tăng lên 3-4 lần COPD là nguyên nhân gây
tử vong hàng thứ 4 trên thế giới (sau bệnh tim mạch, ung thư và tiểu đường) và dự đoán sẽ đứng hàng thứ 3 vào năm 2020 Mỗi năm, căn bệnh này đã cướp đi mạng sống của 2,75 triệu người trên toàn thế giới[21]
Theo WHO, tỷ lệ mắc COPD cao nhất ở các quốc gia mà hút thuốc còn phổ biến, trong khi ở những quốc gia có mức tiêu thụ thuốc lá thấp có tỷ lệ mắc COPD thấp hơn Tỷ lệ thấp nhất trong nam giới là 2,96/1000 dân ở Bắc Phi và Trung Đông
và tỷ lệ thấp nhất ở nữ giới là 1,79/1000 dân ở các quốc gia vùng đảo ở Châu Âu [15], [19]
Theo Chapman K.P, tỷ lệ mắc chung cho tất cả các lứa tuổi khoảng 1%, tuy nhiên tỷ lệ này tăng lên đến khoảng 10% ở các đối tượng tuổi trên 40 [16]
Ở Mỹ tỷ lệ tử vong do COPD tăng đều đặn trong vài thập kỷ qua Trong giai đoạn từ năm 1965-1998 trong khi tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành ở nam giới giảm 59%, bệnh đột quỵ giảm 64%, các bệnh tim mạch khác giảm 35% thì ngược lại tỷ lệ
tử vong do COPD tăng gần 163% Năm 2000, tỷ lệ tử vong do COPD ở nữ tăng nhiều hơn ở nam, cũng như một số nước Nauy, Thụy Điển, Niu di lân [16]
Ở Châu Âu, những nghiên cứu hiện nay cho thấy tỷ lệ mắc COPD khoảng 9% ở người trưởng thành, chủ yếu ở người hút thuốc lá [17] Theo WHO, COPD gây nên tử vong ở 4,1% nam và 2,4% nữ ở Châu Âu trong năm 1997 và tỷ lệ tử vong ở nữ đã tăng lên từ năm 1980-1990 trong các nước Bắc Âu
Ở Anh, 15-20% nam trên 40 tuổi và 10% nữ trên 45 tuổi có ho và khạc đờm mạn tính, khoảng 4% nam và 3% nữ được chẩn đoán COPD COPD là nguyên nhân gây tử vong xếp hàng thứ 5 ở Anh và xứ Wales [26]
Ở các nước khu vực Đông Nam Á, tần suất mắc COPD ước tính từ 6-8% dân
số Tại Nhật Bản, tỷ lệ mắc COPD ước tính 0,3%, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu dịch tễ có tính chất quốc gia Fukuchi và cộng sự sử dụng tiêu chuẩn của GOLD năm 2003, nghiên cứu trên 2343 người trên 40 tuổi, tỷ lệ đối tượng có rối loạn thông khí tắc nghẽn là 8,6%, trong đó nam giới 16,4% và nữ giới 5,0%[13]
Trang 171.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh COPD tại Việt Nam
Tại Việt Nam, COPD là bệnh có tần suất ngày càng tăng Nguyên nhân là do tình trạng ô nhiễm môi trường nặng nề trong khi tập quán hút thuốc lá, thuốc lào không giảm Theo một nghiên cứu của Bộ Y tế thực hiện tại Hà Nội, gần 7% số người trên 40 tuổi bị COPD 80-90% bệnh nhân COPD là người nghiện thuốc lá 10% những người hút thuốc là có triệu chứng lâm sàng COPD[8]
Theo Ngô Quý Châu (2011), tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai, số bệnh nhân đến khám bệnh mắc COPD ngày càng tăng Nếu như thời điểm 1996-2000 chỉ
có 25% bệnh nhân vào khoa hô hấp mắc COPD thì từ 2003 đến nay đã tăng lên 26%
Tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch Thành phố Hồ Chí Minh, số bệnh nhân COPD đến khám và điều trị tăng 1.000 bệnh nhân/năm; tại bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM) số bệnh nhân COPD chiếm 20% bệnh nhân khoa hô hấp Nhiều người mắc bệnh nhưng bản thân lại không biết Họ coi đây là bệnh bình thường và chỉ khi đến khám các bác sĩ mới phát hiện Nhiều trường hợp bệnh nhân đến khám quá muộn để lại hậu quả đáng tiếc
Ngô Quý Châu và cộng sự, nghiên cứu dịch tễ học COPD ở thành phố Hà Nội năm 2005 với 2583 người trên 40 tuổi, kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc COPD chung cho cả hai giới là 2,0%, nam là 3,4%, nữ là 0,7% Đối tượng hút thuốc lá có
tỷ lệ mắc cao hơn rõ rệt, tỷ lệ hút thuốc trong nhóm bệnh là 66,7%
Ngô Quý Châu và cộng sự, nghiên cứu trên 2976 đối tượng dân cư trên 40 tuổi thuộc ngoại thành thành phố Hải Phòng Kết quả cho thấy, tỷ lệ mắc COPD chung cho cả hai giới là 5,65%, trong đó nam là 7,91% và nữ là 3,63% Đối tượng hút thuốc có tỷ lệ mắc COPD cao hơn rõ rệt (OR = 4,28) Tỷ lệ hút thuốc trong nhóm mắc bệnh là 72,9% [7]
1.2.3 Các giải pháp tăng cường quản lý, điều trị, dự phòng COPD
Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra chiến lược toàn cầu quản lý COPD, chiến lược GOLD (Global initiative for chronic Obstructive Disease) [21] Chiến lược GOLD đưa ra hướng dẫn cho việc chẩn đoán, phân độ nặng, điều trị và phòng ngừa bệnh dựa trên y học thực chứng Việc chẩn đoán sớm và điều trị phù hợp bệnh nhân COPD sẽ làm giảm gánh nặng cho ngành y tế, cho xã hội, tăng chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân và tránh tử vong sớm Chiến lược GOLD trong điều trị COPD
Trang 18bao gồm điều trị dùng thuốc gồm thuốc giãn phế quản và thuốc kháng viêm, điều trị không dùng thuốc gồm cai thuốc lá, tiêm phòng cúm và phục hồi chức năng hô hấp (hữu hiệu nhất là khuyên đi bộ ít nhất 30 phút mỗi ngày)
Quan điểm về COPD của các nhà khoa học trên Thế giới ngày một đầy đủ và toàn diện, năm 2014 chiến lược toàn cầu GOLD đã đưa ra định nghĩa về COPD COPD là bệnh thường gặp có thể ngăn ngừa điều trị Bệnh đặc trưng bởi hạn chế luồng khí kéo dài, thường tiến triển nặng dần kèm theo đáp ứng viêm mạn tính tại đường thở và phổi với khí và hạt độc hại COPD là bệnh toàn thân Với quan điểm nhìn nhận toàn diện về COPD, chiến lược toàn cầu GOLD đưa ra kết quả điều trị COPD phải đạt được cả 6 mục tiêu gồm:
- Thứ nhất: Giảm khó thở,
- Thứ hai: Tăng khả năng gắng sức,
- Thứ ba: Tăng chất lượng cuộc sống,
- Thứ tư: Làm chậm suy giảm chức năng hô hấp,
- Thứ năm: Ngăn ngừa đợt cấp,
- Thứ sáu: Giảm tử vong
Nghiên cứu của Lê Thị Huyền Trang và cộng sự sử dụng bảng câu hỏi tầm soát GOLD ( Chiến lược toàn cầu quản lý bệnh phổi mạn tính tắc nghẽn) phỏng vấn người bệnh đến khám tại các cơ sở khám bệnh ở thành phố Hồ Chí Minh Những đối tượng đủ điểm qua bảng phỏng vấn sẽ được đo hô hấp ký Kết quả, chẩn đoán đoán viêm phổi mạn tính 25,7%, trong đó giai đoạn II chiếm tỷ lệ cao nhất 42,4% [10]
Năm 2018, Bộ Y tế ra Quyết định số 3874/QĐ-BYT ngày 26/6/2018 ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính làm cơ sở cho các cơ sở y tế, cán bộ y tế thực hiện [1]
Hiện nay, Bộ Y tế đang triển khai dự án tổ chức quản lý hen và COPD ngay tại cộng đồng Cần thiết thành lập các đơn vị quản lý hen và COPD (ACOCU-Asthma and COPD Outpatien Care Unit) tại cộng đồng Ở một số tỉnh như thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh đã triển khai ACOCU ở tuyến huyện Tại các ACOCU bước đầu hoạt động đã hiệu quả bao gồm cai thuốc lá và phục hồi chức năng hô hấp cho người bệnh [9]
Trang 19Chương 2 THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH COPD
2.1 Đặc điểm tình hình của Bệnh viện 71 Trung ương về khám điều trị, chăm sóc người bệnh COPD
Bệnh viện 71 Trung Ương là Bệnh viện Hạng I chuyên ngành Lao và Bệnh phổi, trực thuộc Bộ Y tế, địa chỉ tại Xã Quảng Tâm – TP Thanh Hóa – Tỉnh Thanh Hóa Với mô hình bệnh tật rất đa dạng, hàng năm người bệnh COPD đến thăm khám, điều trị tại bệnh viện ngày càng có xu hướng gia tăng, năm 2019 là 582 NB COPD và năm 2020 là 602 NB COPD Người bệnh COPD đến khám, điều trị tại Bệnh viện chủ yếu tại 4 khoa lâm sàng gồm: Khoa Cấp Cứu; Khoa Hồi sức tích cực, khoa Nội Tổng Hợp và khoa Nội Hô Hấp
Trường hợp Người bệnh COPD nặng cấp cứu tại khoa Cấp cứu, nếu tiến triển nặng thêm, vừa cấp cứu vừa chuyển đến khoa Hồi sức tích cực điều trị tiếp; nếu tiến triển bệnh ổn định, làm bệnh án chuyển NB sang khoa Nội tổng hợp hoặc khoa Nội
Trang 20dưỡng chăm sóc, tư vấn tốt, biết cách phòng bệnh, điều trị đúng phác đồ của Bác sỹ làm giảm các triệu chứng, giảm nguy cơ tử vong, NB COPD cải thiện chất lượng cuộc sống và sớm tái hòa nhập cộng đồng
Để có bức tranh toàn cảnh rỏ ràng hơn đối với công tác chăm NB COPD của Điều dưỡng tại Bệnh viện 71 TW, từ đó đánh giá đúng thực trạng, thực chất các mặt
đã làm được và chưa làm được, các nguyên nhân tồn tại, hạn chế, các khó khăn đối với NB COPD để đưa ra hướng giải quyết vấn đề và đề xuất một số giải pháp nhằm mục đích nâng cao chất lượng trong khám, chữa bệnh với NB COPD
2.2 Mô tả thực trạng công tác Điều dưỡng chăm sóc NB COPD điều trị nội trú tại Bệnh viện 71 Trung ương
* Về tổ chức, trình độ chuyên môn Điều dưỡng, cơ sở hạ tầng, phương tiện máy móc trang thiết bị phục vụ, chăm sóc NB COPD tại bệnh viện:
- Về trình độ chuyên môn Điều dưỡng: Tổng số có 165 người, trong đó trình
độ đại học 125 người chiếm 75,57%; Cao đẳng, trung cấp 40 người chiếm 24,25%
- Cơ sở hạ tầng: Bệnh viện khang trang, có đầy đủ các khoa/phòng, đáp ứng công tác chăm sóc, phục vụ người bệnh, Bệnh viện “ Xanh - Sạch - Đẹp”, năm 2020 được Công đoàn ngành Y tế tặng cờ thi đua bệnh viện“ Xanh - Sạch - Đẹp”
- Trang thiết bị máy móc phục vụ, chăm sóc người bệnh đầy đủ, hiện đại như: máy chụp cắt lớp vi tính 32 dãy; XQ kỹ thuật số, máy thở, Monitor theo dõi, bơm tiêm điện, Oxy trung tâm vv
- Về bố trí nhân lực Điều dưỡng: Tổng số 70 Điều dưỡng được bố trí làm việc tại 4 khoa lâm sàng ( Khoa cấp cứu, Khoa Hồi sức tích cực, Khoa Nội tổng hợp, Khoa Nội tổng hợp), có trình độ chuyên môn trên 85% là đại học, 15% là cao đẳng
và trung cấp, nhân lực đáp ứng cho công tác chăm sóc, phục vụ, điều trị người bệnh trong giờ hành chính
- Cách thức tổ chức: Chăm sóc người bệnh phân theo mô hình nhóm chăm sóc, bệnh viện chưa triển khai chăm sóc người bệnh theo ca kíp, mà chỉ làm việc giờ hành chính và trực ca đêm Nên Điều dưỡng được chịu trách nhiệm phân công chăm sóc NB COPD không được theo dõi, chăm sóc NB liên tục
* Đề có thông tin từ phía NB COPD về hoạt động chăm sóc của Điều dưỡng, chúng tôi thu thập số liệu như sau:
Số người bệnh được phỏng vấn:118 NB COPD
Trang 21Công cụ: Lập bảng khảo sát đánh giá chức năng nhiệm vụ của Điều dưỡng theo Thông tư 07/2011/TT - BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế
Cách thu thập số liệu: Quan sát, phỏng vấn trực tiếp người bệnh, người nhà
NB COPD và hồ sơ ghi chép chăm sóc NB COPD của Điều dưỡng
Kết quả khảo sát chăm sóc người mắc bệnh COPD tại Bệnh viện 71 Trung ương năm 2021 như sau:
2.3 Đặc điểm NB COPD điều trị tại Bệnh viện 71 Trung Ương ( n = 118 NB COPD)
Bảng 2.1 Phân bố NB COPD theo tuổi và giới Giới tính
Độ tuổi
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
Bảng 2.2 Biểu hiện các triệu chứng cơ năng khi NB COPD vào viện
Trang 22* Nhận xét: Qua bảng 2 cho ta thấy trong 118 NB COPD vào nhập viện điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng, tỷ lệ người bệnh vào viện với triệu chứng khó thở chiếm chủ yếu có tỷ lệ 97,4%, tiếp theo là triệu chứng ho chiếm tỷ lệ 95,8%, đau ngực chiếm tỷ lệ 42,6% và sốt chiếm tỷ lệ thấp nhất là tỷ lệ 12,7%
Bảng 2.3 Điều dưỡng đánh giá mức độ nặng của đợt cấp COPD
Bảng 2.4 Điều dưỡng đánh giá mức độ nặng của đợt cấp COPD
Trang 23NB COPD mức độ khó thở nặng chiếm tỷ lệ 14,4% và tỷ lệ 1,7% người bệnh ở mức
Bảng 2.5 Điều dưỡng tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe cho NB COPD
Các hoạt động Điều dưỡng chăm sóc NB COPD
Tỷ lệ (%)
Chưa tốt
Tỷ lệ (%)
NB COPD được Điều dưỡng tư vấn, giáo dục sức
khỏe, hướng dẫn tự chăm sóc, theo dõi, trong thời
gian nằm viện
102 86,4 16 13,6
NB COPD được Điều dưỡng viên tư vấn, giáo dục
sức khỏe, hướng dẫn phòng bệnh sau khi ra viện 93 78,9 25 21,1
* Nhận xét: NB COPD chưa được Điều dưỡng viên tư vấn, giáo dục sức khỏe, hướng dẫn tự chăm sóc tốt trong thời gian nằm viện chiếm tỷ lệ 13,6% và tư vấn, giáo dục sức khỏe, hướng dẫn phòng bệnh COPD sau khi ra viện còn chiếm tỷ
lệ 21,1%
Bảng 2.6 Điều dưỡng phối hợp với Bác sỹ đánh giá tình trạng dinh
dưỡng của người bệnh COPD Các hoạt động Điều dưỡng chăm sóc người
Tỷ lệ (%)
Chưa tốt
Tỷ lệ (%)
NB COPD được Điều dưỡng phối hợp với bác sĩ
điều trị để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và nhu
cầu dinh dưỡng của người bệnh
99 83,9 19 16,1
NB COPD được Điều dưỡng thực hiện nuôi
dưỡng chế độ ăn phù hợp với bệnh lý 94 79,7 24 20,3 Đối với người bệnh COPD nặng có chỉ định ăn
qua ống thông phải do Điều dưỡng trực tiếp thực
hiện
Trang 24*Nhận xét: về thực hiện chế độ ăn bệnh lý cho NB COPD, qua bảng khảo sát ta thấy rằng NB COPD được Điều dưỡng phối hợp với bác sĩ điều trị để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng của người bệnh thực hiện chưa tốt chiếm tỷ lệ 16,1% ; Điều dưỡng thực hiện nuôi dưỡng chế độ ăn bệnh lý cho NB COPD chưa phù hợp còn chiếm chiếm tỷ lệ 20,3%
Bảng 2.7 Điều dưỡng hướng dẫn, hỗ trợ luyện tập và phục hồi chức
năng cho người bệnh COPD Các hoạt động ĐD chăm sóc người bệnh COPD
Tỷ lệ (%)
Chưa tốt
Tỷ lệ (%)
NB COPD được Điều dưỡng hướng dẫn, hỗ trợ
luyện tập và phục hồi chức năng phổi sớm để đề
phòng các biến chứng và phục hồi các chức năng
của cơ thể
86 72,9 32 27,1
* Nhận xét: Qua bảng khảo sát ta thấy rằng NB COPD được Điều dưỡng hướng dẫn, hỗ trợ luyện tập và phục hồi chức năng phổi sớm để đề phòng các biến chứng và phục hồi các chức năng của cơ thể mới chỉ đạt tỷ lệ 72,9% và chưa chưa
hỗ trợ, hướng dẫn người bệnh thực hiện tốt còn chiếm tỷ lệ 27,1%
Bảng 2.8 Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật
trong chăm sóc người bệnh COPD Các hoạt động ĐD chăm sóc người bệnh
Tỷ lệ (%)
Chưa tốt
Tỷ lệ (%)
NB COPD được Điều dưỡng thực hiện các biện
pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, 110 93,2 5 6,8
NB COPD được Điều dưỡng bảo đảm an toàn,
tránh nhầm lẫn cho người bệnh trong việc dùng
thuốc
116 98,3 2 1,7
*Nhận xét: Qua bảng khảo sát chúng tôi thấy NB COPD chưa được Điều dưỡng thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện chiếm tỷ lệ 6,8%; NB COPD chưa được Điều dưỡng bảo đảm an toàn, tránh nhầm lẫn cho người bệnh trong việc dùng thuốc vẫn còn chiếm tỷ lệ 1,7%