1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

thực trạng chăm sóc người bệnh bệnh động mạch ngoại biên sau can thiệp nong đặt STENT động mạch ngoại biên tại viện tim mạch, bệnh viện bạch mai

39 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 570,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH BỆNH ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN SAU CAN THIỆP NONG VÀ ĐẶT STENT ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN TẠI VIỆN TIM MẠCH- B

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH BỆNH ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN SAU CAN THIỆP NONG VÀ ĐẶT STENT ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN TẠI VIỆN TIM MẠCH-

BỆNH VIỆN BẠCH MAI

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH – 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH BỆNH ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN SAU CAN THIỆP NONG ĐẶT STENT ĐỘNG MẠCH NGOẠI BIÊN TẠI VIỆN TIM MẠCH, BỆNH

VIỆN BẠCH MAI

Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN ThS.VŨ THỊ LÀ

NAM ĐỊNH – 2021

Trang 3

Để hoàn thành chuyên tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Các Thầy, Cô giáo trong Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã trực tiếp hướng dẫn, trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Ban Giám đốc và tập thể cán bộ viện tim mạch, bệnh viện Bạch Mai đã giúp

đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian tiến hành thu thập số liệu tại bệnh viện

Đặc biệt tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thầy hướng dẫn - Người Thầy đã định hướng học tập, nghiên cứu và tận tình chỉ bảo để tôi hoàn thành chuyên đề này

Tôi xin chân trọng biết ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng đã đóng góp những

ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện chuyên đề

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp và các đối tượng nghiên cứu

đã nhiệt tình cộng tác để tôi có được số liệu cho nghiên cứu này

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè cùng tập thể lớp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

HỌC VIÊN

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi Các số liệu trong

chuyên đề là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu

khác Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Nam Định, tháng 9 năm 2021

HỌC VIÊN

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Trang 5

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Một số khái niệm cơ bản 3

1.2 Cơ sở thực tiễn 8

Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 12

2.1 Mô tả Bệnh viện Bạch Mai 12

2.2 Thực trạng chăm sóc người bệnh sau can thiệp nong và đặt stent động mạch ngoại biên 12

Chương 3: BÀN LUẬN 18

KẾT LUẬN 25

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

 Tiếng Anh 28

PHỤ LỤC 30

PHIẾU KHẢO SÁT 30

Trang 6

BĐMNB: Bệnh động mạch ngoại biên CSNB: Chăm sóc người bệnh

ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh động mạch ngoại biên (BĐMNB) là bệnh lý tắc nghẽn mạch máu ngoại biên, do các mảng xơ vữa và huyết khối Các động mạch đó không bao gồm mạch máu nuôi tim và não Bệnh động mạch ngoại biên thường gặp nhất là các tổn thương động mạch vùng tiểu khung, chi dưới và chi trên Về sinh bệnh học, tình trạng tắc nghẽn ở các mạch này cũng tương tự như tắc động mạch vành hay động mạch cảnh Điểm khác biệt là vùng cấp máu của các động mạch: động mạch vành cấp máu cho cơ tim, động mạch cảnh cấp máu cho não còn các động mạch ngoại biên cấp máu cho các chi[1] Nguyên nhân chính gây bệnh lý động mạch ngoại biên là hẹp tắc do mảng xơ vữa Tại Việt Nam, cùng với các bệnh động mạch do xơ vữa khác như nhồi máu cơ tim, đột quỵ … thì tỷ lệ người bệnh nhập viện vì BĐMNB cũng ngày một gia tăng Thống kê tại Viện Tim mạch Việt Nam chỉ ra tỷ lệ người bệnh BĐMNB điều trị nội trú tại Viện tăng từ 1,7% (2003) lên tới 2,5% (2006) , 3,4% (2007) và 5,1% năm

2017 [7]

BĐMNB đứng thứ 2 về các bệnh lý tim mạch trên thế giới Chỉ 5% bệnh nhân BĐMNB có các triệu chứng thường gặp của đau cách hồi Mặc dù tuân thủ các điều trị hiện tại, người bệnh BĐMNB vẫn có nguy cơ gặp biến cố tim mạch, tắc mạch trên bệnh nhân có hay không trải qua tái thông động mạch chi dưới và thiếu máu chi cấp sau khi tái thông động mạch ngoại biên Các biến cố chi tăng nhanh trong năm đầu tiên sau can thiệp và giảm chậm lại ở các năm tiếp theo Trong khi biến cố nhồi máu

cơ tim/ đột quỵ tăng ổn định qua các năm Bệnh không chỉ để lại nhiều hậu quả nặng

nề cho người bệnh mà còn khiến họ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội Theo nghiên cứu tổng hợp của Gerald Fowkes cho thấy trên thế giới có đến 202 triệu người trên thế giới mắc bệnh vào năm 2010 và tập trung ở tất cả các khu vực trên thế giới không phân biệt đất nước giàu hay nghèo [17] Chi phí điều trị cho các người bệnh này

sẽ khác nhau ở các đất nước, các khu vực tuy nhiên chi phí điều trị là rất lớn ở các nước phát triển Riêng tại Mỹ thống kê chi phí y tế cho người bệnh mắc BĐMNB năm 2015 được ước tính là 212 tỷ đô la Mỹ nếu chỉ tính phí điều trị cho BĐMNB

Trang 8

Hiện nay, nhiều phương pháp mới được áp dụng trong điều trị bệnh lý động mạch ngoại biên như nong mạch và phẫu thuật Đối với những người bệnh đã có biến chứng thì ngoài điều trị bằng các phương pháp can thiệp, dùng thuốc thì công tác chăm sóc tại chỗ của điều dưỡng cũng vô cùng quan trọng giúp giảm thiểu tối đa các biến chứng người bệnh gặp phải

Thông tư số 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, được ban hành ngày 26/01/2011 với nguyên tắc: Người bệnh là trung tâm của công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn diện, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an toàn Các hoạt động chăm sóc của Điều dưỡng viên(ĐDV) phải dựa trên cơ sở các yêu cầu chuyên môn và sự đánh giá nhu cầu của mỗi người bệnh [2] Thông tư cũng đã quy định cụ thể về 12 nhiệm

vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh của ĐDV Điều này sẽ từng bước cải thiện công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và sự hài lòng của người bệnh Hiện nay tại Bệnh viện Bạch Mai chưa có báo cáo về công tác chăm sóc người bệnh có can thiệp điều trị bệnh lý động mạch ngoại biên, do đó tôi thực hiện chuyên đề này với mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng công tác chăm sóc người bệnh sau can thiệp nong và đặt stent động mạch ngoại biên tại Viện Tim Mạch – BV Bạch Mai

2 Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả công tác chăm sóc người bệnh sau can thiệp nong và đặt stent động mạch ngoại biên tại Viện Tim Mạch – Bệnh viện Bạch Mai năm 2021

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm Bệnh động mạch ngoại biên [12]

Bệnh động mạch ngoại biên là bệnh lý tắc nghẽn mạch máu ngoại biên, do các mảng xơ vữa và huyết khối Các động mạch đó không bao gồm mạch máu nuôi tim và não

Bệnh động mạch ngoại biên thường gặp nhất là các tổn thương động mạch vùng tiểu khung, chi dưới và chi trên Về sinh bệnh học, tình trạng tắc nghẽn ở các mạch này cũng tương tự như tắc động mạch vành hay động mạch cảnh Điểm khác biệt là vùng cấp máu của các động mạch: động mạch vành cấp máu cho cơ tim, động mạch cảnh cấp máu cho não còn các động mạch ngoại biên cấp máu cho các chi

Nguyên nhân chính gây bệnh lý động mạch ngoại biên là hẹp tắc do mảng xơ vữa Lòng mạch bị hẹp lại do lắng đọng mỡ và các chất khác trên thành mạch Những chất lắng đọng này tạo nên mảng bám vào lớp nội mạc thành mạch tạo thành mảng xơ vữa, các mảng này phát triển dần gây hẹp và có thể gây tắc nghẽn hoàn toàn dòng chảy trong lòng mạch Bằng cách kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch ngoại biên, bạn cũng có thể làm giảm nguy có cho nhồi máu cơ tim và đột quỵ

1.1.2 Triệu chứng của bệnh động mạch ngoại biên

Triệu chứng thường gặp nhất của bệnh động mạch ngoại biên là cảm giác chuột rút ở vùng đùi, hông và bắp chân xuất hiện khi đi bộ, trèo cầu thang hoặc khi gắng sức Triệu chứng này đỡ hoặc hết khi được nghỉ ngơi dù chỉ vài phút

Cơ chế gây đau là khi cơ hoạt động, chúng cần được cấp máu nhiều hơn, nhưng do lòng mạch bị hẹp tắc bởi mảng xơ vữa, cơ bị thiếu máu nên gây ra triệu chứng đau Khi nghỉ ngơi, nhu cầu ôxy giảm xuống nên triệu chứng đau cũng giảm và hết Hiện tượng đó gọi là đau cách hồi

Nhiều người cho rằng đau chân là một triệu chứng thường gặp ở người già Người bệnh thường cho rằng đó là triệu chứng của bệnh viêm khớp hay đau dây thần kinh toạ hay hiện tượng cứng khớp ở người già

Đau chân do bệnh động mạch ngoại biên thường xuất hiện ở cơ (như cơ bắp chân) chứ không phải ở khớp.Với những bệnh nhân bị tiểu đường thì triệu chứng này có thể bị

Trang 10

che lấp bởi triệu chứng đau, tê bì ở bàn chân hoặc đùi do biến chứng thần kinh, một biến chứng thường gặp của bệnh

Triệu chứng nặng của bệnh động mạch ngoại biên bao gồm:

 Đau chân không đỡ khi nghỉ ngơi

 Vết thương ở ngón chân hay bàn chân khó lành

 Hoại tử bàn chân, ngón chân

 Chân bên bị bệnh lạnh hơn chân lành hoặc lạnh hơn so với các phần chi phía trên

1.1.3 Các yếu tố nguy cơ[5]

Các yếu tố nguy cơ không thể kiểm soát được như:

 Tuổi

 Tiền sử gia đình bị bệnh động mạch ngoại biên, bệnh tim mạch hay đột quỵ

Những yếu tố nguy cơ có thể khống chế được như:

 Hút thuốc lá: Đây là nguy cơ chính của bệnh động mạch ngoại biên Những người hút thuốc lá có nguy cơ bị bệnh động mạch ngoại biên sớm hơn khoảng 10 năm những người không hút thuốc

 Béo phì làm tăng nguy cơ lắng đọng mỡ dư thừa vào thành mạch (bệnh xơ vữa mạch máu)

 Mỡ máu cao: Làm tăng nguy cơ xơ vữa mạch (do tăng lắng đọng chất béo ở thành động mạch)

 Bệnh tiểu đường: Lớp nội mạc mạch cũng dễ bị tổn thương làm tăng nguy cơ lắng đọng mỡ dư thừa vào thành mạch,

 Bệnh tăng huyết áp: Áp lực trong thành mạch tăng lên có thể gây tổn thương thành mạch và gây lắng đọng các chất mỡ vào thành mạch

 Ít vận động: Hoạt thể lực thường xuyên làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ, nó cũng làm tăng độ dài quãng đường mà người bị bệnh động mạch ngoại biên có thể đi mà không bị đau chân Chương trình tập luyện thể lực có giám sát là một trong những phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh nhân bị bệnh động mạch ngoại biên 1.1.4 Điều trị và chăm sóc bệnh động mạch ngoại biên[12]

Nguyên tắc điều trị bệnh động mạch ngoại biên là giảm triệu chứng đau và phòng những tiến triển xấu của bệnh như: cắt cụt chân, cơn đau thắt ngực hay đột quỵ Bác sĩ

sẽ quyết định phương pháp điều trị nào là thích hợp với bạn dựa trên tình trạng toàn thân và mức độ trầm trọng của bệnh

Trang 11

Trong phần lớn các trường hợp, thay đổi lối sống, tập thể dục và dùng thuốc đều có thể làm chậm sự tiến triển hay đẩy lùi triệu chứng của bệnh Với những trường hợp tổn thương thiếu máu nặng, tuần hoàn bàng hệ kém, người bệnh có thể được xem xét điều trị bằng phương pháp can thiệp đặt stent hoặc phẫu thuật bắc cầu nối để tránh biến chứng cắt cụt chi

Luyện tập

Phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho bệnh động mạch ngoại biên là thường xuyên luyện tập Mỗi người bệnh có thể có một chương trình tập luyện riêng, thông thường người bệnh có thể bắt đầu một cách từ từ như đi bộ, tập các bài tập dành cho chân và các bài tập khác từ 3 đến 4 lần/tuần Biện pháp này có thể làm giảm triệu chứng của bệnh sau vài tháng Tuy hiệu quả xuất hiện chậm nhưng đây là biện pháp điều trị cơ bản cho tất cả các bệnh nhân bị bệnh động mạch ngoại biên Tập luyện trong trường hợp có triệu chứng đau cách hồi như đi bộ có thể gây đau Vì vậy, chương trình luyện tập bao gồm xen kẽ những đoạn đường đi bộ với nghỉ ngơi, sau đó, quãng đường này được kéo dài dần và thời gian nghỉ giữa những lần đó cũng dần được rút ngắn nhằm tăng khoảng thời gian bạn có thể đi được trước khi xuất hiện đau chân Việc luyện tập nên được thực hiện và theo dõi bởi các nhận viên y tế có kinh nghiệm

Chế độ ăn

Nhiều bệnh nhân bị bệnh động mạch ngoại biên có mỡ máu tăng cao Bên cạnh việc dùng thuốc, một chế độ ăn ít cholesterol và mỡ bão hoà là rất cần thiết để giúp làm giảm mỡ máu, hạn chế tình trạng xơ vữa mạch

Bỏ thuốc lá

Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ bị bệnh động mạch ngoại biên, nhồi máu cơ tim

và đột quỵ Do đó, hãy bỏ thuốc lá nếu bạn đang hút Nó sẽ giúp làm chậm tiến triển bệnh động mạch ngoại biên và các bệnh liên quan đến tim mạch khác

Điều trị bằng thuốc

Bác sĩ có thể kê thuốc hạ huyết áp và/hoặc thuốc điều chỉnh mỡ máu Việc dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ là rất quan trọng Dùng thuốc không đúng chỉ định của bác sĩ sẽ làm tăng nguy cơ cho bệnh động mạch ngoại biên cũng như nhồi máu cơ tim và đột tử Các thuốc nhóm cilostazol, pentoinfylin sẽ giúp bạn cải thiện được quãng đường đi bộ nếu bạn bị đau cách hồi Những thuốc này làm giảm độ nhớt của

Trang 12

máu và giảm hình thành cục máu đông, cải thiện tốc độ dòng chảy Các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu (Aspirin, clopidogrel) cũng giúp phòng ngừa huyết khối gây nghẽn mạch

Can thiệp điều trị qua đường ống thông

Với một số bệnh nhân, bên cạnh các phương pháp điều trị trên, họ cần được tiến hành can thiệp hay phẫu thuật.Phương pháp can thiệp bao gồm nong hay đặt stent động mạch, tương tự như đặt stent động mạch vành Đây là phương pháp không phẫu thuật Bác sỹ làm thủ thuật chỉ cần đưa một ống thông nhỏ qua da vào động mạch để lấy cục máu đông, sau đó dùng một quả bóng nhỏ bơm lên trong lòng mạch để nong rộng chỗ tắc Một stent (giá đỡ kim loại đặc biệt) được đặt vào vị trí tắc nghẽn hạn chế tái hẹp Người bệnh cần nhớ đây không phải là biện pháp có thể giải quyết toàn bộ tình trạng bệnh của mình, mà chỉ giúp cải thiện mức độ trầm trọng của bệnh Sau can thiệp đặt stent, người bệnh cần phải kiên trì dùng thuốc đều đặn theo đúng chỉ định và thực hiện các biện pháp luyện tập, điều chỉnh chế độ ăn như chỉ dẫn của bác sỹ

Phẫu thuật

Phẫu thuật có thể cần thiết trong một số trường hợp như: tắc hoàn toàn một đoạn mạch máu dài và bạn có triệu chứng thiếu máu chi nặng Trong phẫu thuật, bác sỹ sẽ lấy một đoạn mạch (thường là tĩnh mạch) từ một phần khác của cơ thể để bắc cầu nối qua chỗ tắc tới các mạch máu nuôi phần chi phía dưới chỗ tắc Tương tự như sau can thiệp đặt stent động mạch, người bệnh sau đó vẫn cần tuân thủ tốt chế độ dùng thuốc

và thay đổi lối sống

1.1.5 Chăm sóc người bệnh của Điều dưỡng

Chăm sóc người bệnh trong bệnh viện bao gồm hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị

và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh [2]

Chức năng của người Điều dưỡng

 Chức năng chủ động (chức năng độc lập)

□ Chức năng chủ động của người điều dưỡng là thực hiện những nhiệm vụ chăm sóc cơ bản thuộc phạm vi kiến thức đã được đào tạo Người điều dưỡng thực hiện những nhiệm vụ này một cách chủ động

□ Thực hiện chức năng chủ động, thực chất là chủ động đáp ứng các nhu

Trang 13

cầu cơ bản của người bệnh, bao gồm các nhu cầu về: hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết, vận động, duy trì thân nhiệt, vệ sinh cá nhân, thay mặc quần áo, ngủ và nghỉ, an toàn, giao tiếp, tín ngưỡng, lao động, học tập,

hỗ trợ tinh thần

□ Chủ động thực hành các kỹ thuật điều dưỡng, trong tiếp đón người bệnh đến khám bệnh và thực hiện sơ cứu, cấp cứu ban đầu các trường hợp người bệnh tai nạn, tai biến

□ Người điều dưỡng hiện đại có trách nhiệm chủ động, tích cực hoạt động xây dựng ngành Điều dưỡng, hoạt động huấn luyện, đào tạo và nghiên cứu khoa học chuyên ngành điều dưỡng

 Chức năng phối hợp

□ Chức năng phối hợp của người điều dưỡng thể hiện trong việc thực hiện

y lệnh và báo cáo tình trạng bệnh nhân cho bác sỹ Phối hợp với bác sỹ trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch chăm sóc

□ Người điều dưỡng cần phải phối hợp với các đồng nghiệp khác (điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ sinh…) để hoàn thành nhiệm vụ của mình

□ Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo 5 nhiệm vụ cơ bản của điều dưỡng:

 Chăm sóc những người bị ốm đau, bệnh tật hoặc những ai cần được chăm sóc sức khoẻ, đáp ứng nhu cầu cần thiết của từng cá nhân về thể chất, tình cảm, về xã hội tại bệnh viện và trong cộng đồng

 Hướng dẫn, khuyên nhủ người bệnh và người nhà người bệnh về chăm sóc sức khoẻ

 Theo dõi, thăm khám, đánh giá tình trạng bệnh nhân Phát hiện các triệu chứng lâm sàng, tác dụng phụ của thuốc, báo cáo tình trạng người bệnh cho bác sỹ điều trị

 Huấn luyện cho nhân viên y tế khác trong chăm sóc bệnh nhân và trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu

 Cộng tác với các nhân viên y tế khác trong việc nâng cao chất lượng điều dưỡng hoặc quản lý tốt sức khoẻ cộng đồng

Các văn bản pháp lý liên quan đến công tác CSNB trong bệnh viện: Năm 2011, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện và có hiệu

Trang 14

lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2020, thay thế Quy chế CSNBTD trong Quy chế Bệnh viện ban hành kèm theo Quyết định số 1895/1997/BYT-QĐ ngày 19/9/1997, nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng chăm sóc ngày càng cao hơn Thông tư này là sự cập nhật phù hợp giữa các văn bản pháp luật, tình hình thực tế, nâng cao vị thế nghề nghiệp, đặt công tác điều dưỡng trong mối quan hệ mang tính hệ thống, trao quyền cho các đơn vị vận dụng linh hoạt trong tổ chức quản lý điều dưỡng, quy định cụ thể

□ Chăm sóc vệ sinh cá nhân

□ Chăm sóc dinh dưỡng

□ Chăm sóc phục hồi chức năng

□ Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật

□ Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh

□ Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong

□ Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng

□ Theo dõi, đánh giá người bệnh

□ Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh

□ Ghi chép hồ sơ bệnh án

Ngày 03 tháng 12 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Y tế ra Quyết định số 4858/QĐ- BYT về việc ban hành thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về chăm sóc điều dưỡng đã được tiến hành,

có thể điểm lại một số đề tài như sau:

Nghiên cứu của Hajbaghery và Ansari (2013) tiến hành trên 130 điều dưỡng từ 6 đơn vị chăm sóc đặc biệt tại Iran cho kết quả: Những rào cản quan trọng

Trang 15

nhất để chăm sóc răng miệng cho người bệnh là quá nhiều nhiệm vụ ghi chép, thiếu thời gian, thiếu nhân viên, thiếu kiến thức và sự nhận thức rằng chăm sóc răng miệng không là nhiệm vụ ưu tiên

Theo nghiên cứu của Abate Y.M et al (2019) tại Ethiopia cho kết quả 50% Điều dưỡng kịp thời trả lời những câu hỏi của người bệnh; 66,7% thực hiện các chỉ định về thuốc và điều trị đúng giờ; 66,7% Điều dưỡng thường xuyên quan tâm

và thông cảm với người bệnh; 33,3% thực hiện tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh và chuẩn bị tiếp tục chăm sóc sau khi xuất viện; 75% người bệnh hài lòng về chất lượng chăm sóc Như vậy thực trạng chất lượng chăm sóc điều dưỡng ở đây còn kém và cần được quan tâm nhiều hơn Các nhà lãnh đạo và quản lý bệnh viện cần tạo ra môi trường làm việc thuận lợi và thiết lập mối quan hệ tốt với điều dưỡng để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh [15]

Nghiên cứu của Teshome G et al (2019) trên 340 người bệnh tại

Ethiopia cho kết quả chỉ có 125 người bệnh hài lòng với chất lượng chăm sóc của Điều dưỡng chiếm 36,8% Trong đó có 95,8% người bệnh hài lòng với việc thực hiện y lệnh và cấp thuốc đúng giờ; 54,7% người bệnh được Điều dưỡng trả lời kịp thời các băn khoăn, thắc mắc trong quá trình chăm sóc, điều trị; 56,5% hài lòng bởi

sự tôn trọng của Điều dưỡng; 31,8% người bệnh nhận được tư vấn giáo dục sức khỏe của Điều dưỡng Nhận thức thấp về chất lượng chăm sóc của người bệnh có thể tạo ra vấn đề trong hệ thống y tế do giảm lòng tin và ít sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Điều này đòi hỏi các nhà quản lý, lãnh đạo cần nỗ lực để tối đa hóa nhận thức tích cực của người bệnh về chất lượng chăm sóc điều dưỡng [20] 1.2.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Theo Dương Thị Bình Minh và cs (2013) nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 216 người bệnh tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Hữu Nghị cho kết quả: Đối tượng nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 70,6 tuổi, trong đó đa số trên 60 tuổi (92,6%), nam giới chiếm tới 76,9% Nghiên cứu này đánh giá tương đối toàn diện

về tất cả 7 nội dung trong công tác CSNB của ĐDV được thực hiện ở BV Phản hồi

từ NB cho thấy kết quả đánh giá chung về 4 trong 5 nội dung CSNB theo tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu này có tỷ lệ đạt yêu cầu tương đối cao, trên 90% Trong đó công tác tiếp đón NB đạt kết quả cao nhất lên đến 95,8% Điều đáng quan tâm là công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK có tỷ lệ đạt yêu cầu thấp nhất với 66,2%

Trang 16

Về chăm sóc dinh dưỡng nghiên cứu cũng cho thấy chỉ có 8,1% số NB phản ánh ĐDV không thực hiện cho NB ăn qua sonde Về công tác chăm sóc, hỗ trợ vệ sinh hàng ngày, kết quả cho thấy người trực tiếp làm vệ sinh cho NB chủ yếu là người CSNB (46,2%) Thiếu nhân lực ĐD; tỷ lệ ĐD có trình độ đại học và cao đẳng thấp; Tình trạng quá tải công việc của ĐD (cả về chuyên môn; thủ tục hành chính; công việc gián tiếp…); Hạn chế trong kiểm tra, giám sát ĐD và một số phòng chức năng phối hợp hoạt động chưa tốt đã ảnh hưởng tiêu cực đến công tác CSNB của ĐD Ngược lại, sự phối hợp giữa bác sỹ và ĐD và giữa ĐD với nhau; việc tạo điều kiện

để ĐD đi học nâng cao trình độ, phân công công việc hợp lý và đảm bảo thu nhập

ổn định đã có ảnh hưởng tích cực đến công tác CSNB của ĐD [9]

Theo nghiên cứu của Bùi Thị Bích Ngà và cộng sự (2011) cho thấy Điều dưỡng viên chỉ làm tốt các chức năng cơ bản như: hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ đạt 84,2%; theo dõi, đánh giá người bệnh đạt 80,5%; tiếp đón người bệnh đạt 78,9% Công tác chăm sóc, hỗ trợ tâm lý tinh thần người bệnh; chăm sóc hỗ trợ dinh dưỡng ăn uống; tư vấn giáo dục sức khỏe lần lượt đạt 66,2%; 55,6%

và 49,6% Nghiên cứu cũng tìm thấy một số yếu tố ảnh hưởng từ giới, nơi cư trú; số lần nằm viện, cách thức điều trị của người bệnh với các nội dung tiếp đón người bệnh; chăm sóc, hỗ trợ tâm lý tinh thần; tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc người bệnh là tình hình nhân lực, bản thân điều dưỡng và sự quan tâm của lãnh đạo khoa [8]

Nghiên cứu của Trần Thị Thảo (2013) tại Bệnh viện Việt Nam-Thụy Điển Uông Bí, việc chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh như: Hỗ trợ đại tiểu tiện, vệ sinh cá nhân, ăn uống, thay đồ vải, tỷ lệ người nhà người bệnh đảm nhiệm giảm dần từ 78,1% xuống 63,6%, thay vào đó là sự hỗ trợ của NVYT, sự phối hợp giữa NVYT và NNNB tăng dần từ 10,5% đến 22,2% Về nhu cầu tập luyện phục hồi chức năng được NVYT trực tiếp thực hiện là 30,6% Kết quả thể hiện ĐDV tại bệnh viện này đã có chuyển biến tốt trong việc thực hiện nhiệm vụ đáp ứng các nhu cầu chăm sóc cơ bản cho người bệnh [11]

Nghiên cứu của Châu Thị Hoa và Nguyễn Thị Diệu Trang (2010) về thực trạng công tác CSNB ung thư hạ họng – thanh quản tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Trung Ương Huế Kết quả phóng vấn người bệnh và lấy số liệu từ 75

Trang 17

HSBA của người bệnh ung thư hạ họng - thanh quản cho thấy có 90,7% người bệnh được chăm sóc hỗ trợ tinh thần, 80% người bệnh được giao tiếp trước, trong và sau thực hiện các thủ thuật và 76% người bệnh được tư vấn giáo dục sức khỏe [4]

Nghiên cứu của Trần Ngọc Trung (2012) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng, điều dưỡng thực hiện vệ sinh cá nhân cho người bệnh chiếm tỷ lệ thấp:

vệ sinh răng miệng (5%), hỗ trợ đại tiểu tiện (15%), thay đồ vải (13,7%), cho người bệnh ăn qua ống thông dạ dày (18,3%) và đáp ứng nhu cầu phục hồi chức năng cho người bệnh đạt từ 15% đến 38,3% Hướng dẫn người bệnh về chế độ dinh dưỡng, thực hiện thuốc và theo dõi dùng thuốc tỷ lệ lần lượt là 86,7%; 96,7% và 91,7% Có 98,3% người bệnh được công khai thuốc hàng ngày Các yếu tố tác động và cản trở nhiều nhất đến hoạt động CSNB là thiếu phương tiên, thiếu nhân lực, thiếu thời gian

và thiếu sự quan tâm của lãnh đạo [13]

Theo Phạm Thị Hồng Hạnh và cộng sự (2018) nghiên cứu về tình hình chăm sóc người bệnh phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại Bệnh viện trung ương Huế cho kết quả công việc chăm sóc người bệnh thường quy bao gồm thay băng vết mổ hàng ngày, tiêm truyền được thực hiện theo hướng dẫn thay băng vô khuẩn, tiêm thuốc và uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ điều trị; hướng dẫn người bệnh vệ sinh thân thể hàng ngày, vệ sinh quanh vùng mổ sạch sẽ và hướng dẫn chế độ ăn cần thiết cho người bệnh sau phẫu thuật với nhiều rau xanh, thịt, cá, trứng, sữa và uống nhiều nước hoa quả tươi; người bệnh được hướng dẫn nghỉ ngơi thoải mái, hợp lý Nhìn chung, các bước chăm sóc được thực hiện tốt trên tất cả người bệnh, đặc biệt cần thiết đối với các phẫu thuật mở rộng, vét hạch cổ Tuy vậy, điều dưỡng còn bỏ qua các bước nhỏ trong qui trình tiêm và thay băng trên một số người bệnh, tuy luôn đảm bảo vô trùng và 5 đúng (tỷ lệ 91% thực hiện tốt); hướng dẫn NB tập vận động vùng cổ, vai, cánh tay chưa được thực hiện đầy đủ trên NB (tỷ lệ 85%) Kết quả của công tác chăm sóc rất khả quan, mặc dù số biến chứng xảy ra khá đa dạng và khá cao; biến chứng xảy ra trong 40/170 người bệnh chiếm tỷ lệ 24% nhưng qua xử trí

và chăm sóc, tỷ lệ hồi phục tốt là 95% Kết quả chăm sóc cũng ghi nhận 100% người bệnh có vết mổ ổn định khi xuất viện và 97% bệnh nhân ổn định về mặt tâm lý

Trang 18

2.2 Thực trạng chăm sóc người bệnh sau can thiệp nong và đặt stent động mạch ngoại biên

Trong khoảng thời gian từ 3/2021 đến 6/2021, chúng tôi có 96 người bệnh động mạch ngoại biên được can thiệp nong và đặt stent động mạch ngoại biện Chúng tôi đã tiến hành quan sát và đánh giá 96 lượt chăm sóc người bệnh can thiệp nong

và đặt stent động mạch ngoại biên của điều dưỡng bằng cách quan sát trực tiếp công tác chăm sóc điều dưỡng dựa vào bảng kiểm kết hợp với thu thập thông tin

từ hồ sơ và phỏng vấn người bệnh (phụ lục)

2.2.1.Đặc điểm người bệnh được can thiệp nong và đặt stent động mạch

Trang 19

Bảng 2.1 Đặc điểm chung của người bệnh

Đặc điểm chung của người

theo mỡ máu và 24% bị tiểu đường

Biểu đồ 2.1 Phân bố người bệnh theo biến chứng loét và hoại tử bàn chân

Ngày đăng: 20/04/2022, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lương Tuấn Anh (2016). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cậm lâm sàng và hiệu quả điều trị can thiệp nội mạch bệnh động mạch, Luận án tiến sĩ Y học, Viện nghiên cứu Y dược học lâm sàng 108, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cậm lâm sàng và hiệu quả điều trị can thiệp nội mạch bệnh động mạch
Tác giả: Lương Tuấn Anh
Nhà XB: Viện nghiên cứu Y dược học lâm sàng 108
Năm: 2016
3. Phạm Thị Hồng Hạnh và cộng sự (2018). Đánh giá tình hình chăm sóc bệnh nhân phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại Bệnh viện trung ương Huế. Tạp chí ung thư học Việt Nam, tr456-460 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình chăm sóc bệnh nhân phẫu thuật ung thư tuyến giáp tại Bệnh viện trung ương Huế
Tác giả: Phạm Thị Hồng Hạnh, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí ung thư học Việt Nam
Năm: 2018
4. Châu Thị Hoa và Nguyễn Thị Diệu Trang (2010). Thực trạng công tác CSNB ung thư hạ họng – thanh quản tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Trung Ương Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác CSNB ung thư hạ họng – thanh quản tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Trung Ương Huế
Tác giả: Châu Thị Hoa, Nguyễn Thị Diệu Trang
Năm: 2010
6. Trần Thị Phương Lan (20 ). Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Điều dưỡng trong các bệnh viện Quân đội,<http://benhvien354.vn/bai-viet-chuyen- mon/mo-t-so-gia-i-pha-p-nang-caocha-t-luo-ng-do-i-ngu-die-u-duo-ng-trong-ca-c-be-nh-vie-n-quan-do-i-84.html>,truy cập ngày 1/12/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Điều dưỡng trong các bệnh viện Quân đội
Tác giả: Trần Thị Phương Lan
Năm: 20
7. Lê Thị Hải Linh và cộng sự (2018). Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tắc động mạch chi dưới mạn tính sau can thiệp và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện TW quân đội 108, Luận văn thạc sũ chuyên ngành QLBV, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân tắc động mạch chi dưới mạn tính sau can thiệp và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện TW quân đội 108
Tác giả: Lê Thị Hải Linh, cộng sự
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2018
8. Bùi Thị Bích Ngà (2011). Thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng qua nhận xét của người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương năm 2011, Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng qua nhận xét của người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương năm 2011
Tác giả: Bùi Thị Bích Ngà
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2011
9. Dương Thị Bình Minh (2013). Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Hữu Nghị. Tạp chí Y học thực hành (876) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Hữu Nghị
Tác giả: Dương Thị Bình Minh
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2013
10. Nguyễn Thị Phước (2017). Vai trò của nghiên cứu điều dưỡng và chọn vấn đề nghiên cứu, <http://www.bvdkquangnam.vn/index.php/tin-tc/y-hc-thng-thc/2093- vai-tro-ca-nghien-cu-iu-dng-va-chn-vn-nghien-cu>, truy cập ngày 1/12/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của nghiên cứu điều nursing và chọn vấn đề nghiên cứu
Tác giả: Nguyễn Thị Phước
Năm: 2017
11. Trần Thị Thảo (2013). Đánh giá thực hiện mô hình chăm sóc người bệnh theo đội tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí năm 2013, Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực hiện mô hình chăm sóc người bệnh theo đội tại Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí năm 2013
Tác giả: Trần Thị Thảo
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2013
12. Nguyễn Duy Thắng (2018). Kết quả áp dụng phương pháp phẫu thuật phối hợp can thiệp nội mạch một thì điều trị bệnh thiếu máu mạn tính chi dưới, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả áp dụng phương pháp phẫu thuật phối hợp can thiệp nội mạch một thì điều trị bệnh thiếu máu mạn tính chi dưới
Tác giả: Nguyễn Duy Thắng
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2018
13. Trần Ngọc Trung (2012). Đánh giá chất lượng chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2012. Đề tài cấp tỉnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng năm 2012
Tác giả: Trần Ngọc Trung
Nhà XB: Đề tài cấp tỉnh
Năm: 2012
14. Phạm Việt Tuân, Nguyễn Lân Việt (2008). Nghiên cứu mô hình bệnh tật ở người bệnh điều trị nội trú tại Viện Tim mạch Việt Nam trong thời gian 2003 – 2007, Luận văn thạc sỹ y học. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mô hình bệnh tật ở người bệnh điều trị nội trú tại Viện Tim mạch Việt Nam trong thời gian 2003 – 2007
Tác giả: Phạm Việt Tuân, Nguyễn Lân Việt
Nhà XB: Luận văn thạc sỹ y học
Năm: 2008
15. Abate Y.M et al (2019). Quality of nursing care and nurses’ working environment in Ethiopia: Nurses’ and physicians’ perception. International Journal of Africa Nursing Sciences, volume 10.2019, pages 131-135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of nursing care and nurses’ working environment in Ethiopia: Nurses’ and physicians’ perception
Tác giả: Abate Y.M
Nhà XB: International Journal of Africa Nursing Sciences
Năm: 2019
16. Elizabeth Selvin and Erlinger Thomas P (2004). Prevalence of and risk factors for peripheral arterial disease in the United States: results from the National Health and Nutrition Examination Survey, 1999-2000. Circulation.110(6), pp. 738– 743 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence of and risk factors for peripheral arterial disease in the United States: results from the National Health and Nutrition Examination Survey, 1999-2000
Tác giả: Elizabeth Selvin, Erlinger Thomas P
Nhà XB: Circulation
Năm: 2004
17. Gerald R.Fowkes, DianaRudan. IgorRudan, VictorAboyans et al (2013). Comparison of global estimates of prevalence and risk factors for peripheral artery disease in 2000 and 2010: a systematic review and analysis.The Lancet Volume 382, Issue 9901, 19-25 October, 1329-1340 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of global estimates of prevalence and risk factors for peripheral artery disease in 2000 and 2010: a systematic review and analysis
Tác giả: Gerald R. Fowkes, Diana Rudan, Igor Rudan, Victor Aboyans
Nhà XB: The Lancet
Năm: 2013
18. Mahoney EM, Wang K, Cohen DJ, et al (2015). One-year costs in patients with a history of or at risk for atherothrombosis in the United States.Circ Cardiovasc Qual Outcomes. Sep;1(1):38-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: One-year costs in patients with a history of or at risk for atherothrombosis in the United States
Tác giả: Mahoney EM, Wang K, Cohen DJ
Nhà XB: Circ Cardiovasc Qual Outcomes
Năm: 2015
21. Thom W. Rooke, et al. (2011). ACCF/AHA Focused Update of the Guideline for the Management of Patients With Peripheral Artery Disease (Updating the 2005 Guideline). Circulation. 124, pp. 2020–2045 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ACCF/AHA Focused Update of the Guideline for the Management of Patients With Peripheral Artery Disease (Updating the 2005 Guideline)
Tác giả: Thom W. Rooke, et al
Nhà XB: Circulation
Năm: 2011
22. Uchechukwu K.A.Sampson, F. Gerald R.Fowkes et al (2014). Global and Regional Burden of Death and Disability From Peripheral Artery Disease.21 World Regions, 1990 - 2010. Global Heart, Volume 9, Issue 1, March 2014, 145-158.e21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global and Regional Burden of Death and Disability From Peripheral Artery Disease.21 World Regions, 1990 - 2010
Tác giả: Uchechukwu K.A. Sampson, F. Gerald R. Fowkes
Nhà XB: Global Heart
Năm: 2014
2. Bộ y tế (2011). Thông tư 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, ban hành ngày 26/01/2011 Khác
5. Đinh Thị Thu Hương và cộng sự (2011). Khuyến cáo 2010 về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa. NXB Y học. TP Hồ Chí Minh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Nhận xét: Từ bảng 2.1 cho thấy có 82 ngườibệnh là nam chiếm tỷ lệ - thực trạng chăm sóc người bệnh bệnh động mạch ngoại biên sau can thiệp nong  đặt STENT động mạch ngoại biên tại viện tim mạch, bệnh viện bạch mai
h ận xét: Từ bảng 2.1 cho thấy có 82 ngườibệnh là nam chiếm tỷ lệ (Trang 19)
Bảng 2.1.Đặc điểm chung của ngườibệnh Đặc  điểm  chung  của  người  bệnh - thực trạng chăm sóc người bệnh bệnh động mạch ngoại biên sau can thiệp nong  đặt STENT động mạch ngoại biên tại viện tim mạch, bệnh viện bạch mai
Bảng 2.1. Đặc điểm chung của ngườibệnh Đặc điểm chung của người bệnh (Trang 19)
Bảng 2.2. Chămsóc vết mổ, vận động sau đặt stent                   Mức độ - thực trạng chăm sóc người bệnh bệnh động mạch ngoại biên sau can thiệp nong  đặt STENT động mạch ngoại biên tại viện tim mạch, bệnh viện bạch mai
Bảng 2.2. Chămsóc vết mổ, vận động sau đặt stent Mức độ (Trang 20)
Bảng 2.3. Chămsóc về tinh thần Mức độ - thực trạng chăm sóc người bệnh bệnh động mạch ngoại biên sau can thiệp nong  đặt STENT động mạch ngoại biên tại viện tim mạch, bệnh viện bạch mai
Bảng 2.3. Chămsóc về tinh thần Mức độ (Trang 21)
Bảng 2.4.Chăm sóc dinh dưỡng Mức độ - thực trạng chăm sóc người bệnh bệnh động mạch ngoại biên sau can thiệp nong  đặt STENT động mạch ngoại biên tại viện tim mạch, bệnh viện bạch mai
Bảng 2.4. Chăm sóc dinh dưỡng Mức độ (Trang 21)
Bảng 2.5.Thực hiện y lệnh thuốc và theo dõi dùng thuốc Mức độ - thực trạng chăm sóc người bệnh bệnh động mạch ngoại biên sau can thiệp nong  đặt STENT động mạch ngoại biên tại viện tim mạch, bệnh viện bạch mai
Bảng 2.5. Thực hiện y lệnh thuốc và theo dõi dùng thuốc Mức độ (Trang 22)
Bảng 2.6. Giáodục sức khỏe Mức độ - thực trạng chăm sóc người bệnh bệnh động mạch ngoại biên sau can thiệp nong  đặt STENT động mạch ngoại biên tại viện tim mạch, bệnh viện bạch mai
Bảng 2.6. Giáodục sức khỏe Mức độ (Trang 22)
Bảng 2.7. Kết quả về sự hài lòng của ngườibệnh - thực trạng chăm sóc người bệnh bệnh động mạch ngoại biên sau can thiệp nong  đặt STENT động mạch ngoại biên tại viện tim mạch, bệnh viện bạch mai
Bảng 2.7. Kết quả về sự hài lòng của ngườibệnh (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm