TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện của trang trại
Trại lợn của ông Nguyễn Thanh Lịch thuộc thôn 6, xã Ba Trại, huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội Xã Ba Trại là một trong 7 xã miền núi thuộc huyện Ba
Xã nằm dưới chân núi Ba Vì, có địa hình chủ yếu là đồi gò với độ cao các quả đồi chênh lệch từ 5 đến 20 mét và độ dốc tương đối nhẹ.
Diện tích ruộng ở Ba Trại có 730 mẫu, chủ yếu là ruộng chằm, trong khi phần còn lại là đất đồi Khu vực này chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố vĩ độ Bắc và cơ chế gió mùa, tạo ra khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa Đông lạnh và khô Nhiệt độ bình quân năm đạt 23,4°C, nằm trong vùng bán sơn địa.
- Phía Đông giáp với xã Tản Lĩnh
- Phía Tây giáp xã Thuần Mỹ
- Phía Bắc giáp xã Cẩm Lĩnh
- Phía Nam giáp xã Khánh Thượng
Trại lợn ở miền Bắc chịu ảnh hưởng trực tiếp từ khí hậu, với sự chi phối của vĩ độ Bắc và cơ chế gió mùa Khu vực này có sự khác biệt rõ rệt giữa mùa nóng và mùa lạnh, được phân chia thành 4 mùa Mùa Đông lạnh, hanh khô với gió mùa và ít mưa, trong khi mùa Hè nóng và mưa nhiều Những yếu tố khí hậu này tác động đáng kể đến quá trình sinh trưởng, phát triển của vật nuôi và chất lượng nông sản.
Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm 2.500 mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8
Nhiệt độ trung bình hàng năm tại khu vực này đạt 23,4°C Mùa nóng kéo dài từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 9, với khí hậu ẩm ướt và nhiều mưa, sau đó chuyển sang thời tiết mát mẻ và khô ráo vào tháng 10 Mùa lạnh bắt đầu từ giữa tháng 11 và kéo dài đến hết tháng 3.
Thời tiết tại khu vực này có sự biến đổi rõ rệt trong năm Từ tháng 11 đến tháng 1, không khí lạnh và hanh khô chiếm ưu thế, trong khi từ tháng 2 đến hết tháng 3, thời tiết trở lạnh kèm theo mưa phùn kéo dài Tháng 9 đến tháng 11 mang đến những ngày thu mát mẻ, với khoảng hai đến ba đợt không khí lạnh nhẹ Độ ẩm trung bình hàng năm đạt 86,1%, và khu vực thấp thường trải qua thời kỳ khô hanh vào tháng 12 và tháng 1.
Kinh tế xã Ba Trại chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với 9 làng nghề chế biến chè búp khô nổi bật Các sản phẩm chủ lực bao gồm chè búp khô, bên cạnh đó, xã còn có tiềm năng phát triển cây ăn quả và chăn nuôi, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Trại được chia thành các tổ chuyên biệt như tổ chuồng đẻ và tổ chuồng bầu, mỗi tổ đều thực hiện nhiệm vụ hàng ngày một cách nghiêm túc và tuân thủ đúng quy định của trại.
2.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại
Trại có diện tích đất là 2 ha, được thành lập và đi vào sản xuất từ năm
Năm 2010, với số vốn đầu tư 18 tỷ đồng, trang trại nuôi lợn sinh sản được thành lập nhằm cung cấp giống lợn con cho Công ty Cổ phần Thức ăn Chăn nuôi CP Việt Nam.
(cái Landrace - Yorkshire với đực Pietrain - Duroc)
Trại được xây dựng ở vị trí xa đường lớn, trường học và khu dân cư, bao quanh bởi đồi cây và cánh đồng lúa Khu sản xuất của trại bao gồm 3 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 chuồng đực và 3 chuồng cách ly, với tổng số 960 lợn nái, 371 lợn nái hậu bị và 214 lợn đực khai thác (số liệu tháng 5/2020) Sau khi sinh 21 ngày, lợn sẽ được cai sữa Mỗi năm, trang trại cung cấp khoảng 25.000 - 30.000 lợn con ra thị trường.
Chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp đòi hỏi các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi được thực hiện một cách chủ động và tích cực Vệ sinh phòng bệnh là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn Đặc biệt, việc vệ sinh thức ăn, nước uống, vật nuôi, dụng cụ chăn nuôi và sinh sản cần được chú trọng để đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn.
Chuồng trại được thiết kế theo tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo sự thoáng mát vào mùa Hè và ấm áp vào mùa Đông Sau mỗi lứa lợn, chuồng cần được tẩy uế bằng cách rửa sạch, phun thuốc sát trùng như Fam flus, Vikon S và để trống ít nhất 3 ngày trước khi đưa lợn nái mới vào Đối với lợn con, tuyệt đối không tắm để tránh lạnh và ẩm ướt Ngoài ra, cần định kỳ tiêu độc chuồng nuôi lợn nái và lợn đực bằng thuốc sát trùng, đồng thời vệ sinh môi trường xung quanh bằng cách dọn cỏ, phát quang bụi rậm, diệt chuột và thu dọn phân hàng ngày.
Hiện nay, trại áp dụng quy trình chăn nuôi "cùng vào - cùng ra", trong đó một chuồng hoặc cả một dãy chuồng được sử dụng để nhốt đồng loạt cùng một loại lợn có khối lượng và tuổi tương đồng Sau một khoảng thời gian nhất định, lợn sẽ được đưa ra khỏi chuồng, và chuồng trại sẽ được rửa sạch, phun thuốc sát trùng, sau đó để trống ít nhất 6 ngày trước khi đưa đàn lợn mới vào.
Trại đã lắp đặt hệ thống làm mát vào mùa hè và sưởi ấm vào mùa đông để đảm bảo cung cấp đủ oxy cho lợn, đồng thời giải phóng khí độc từ phân và nước tiểu Các dãy chuồng được bố trí theo hướng Đông Nam, giúp giữ ấm vào mùa đông và thoáng mát vào mùa hè Đặc biệt, vào mùa hè, trại sử dụng hệ thống quạt gió và dàn mát để tạo luồng khí mát, giữ nhiệt độ trong chuồng luôn ổn định từ 28°C đến 30°C Ngoài ra, trại cũng trang bị hệ thống lồng úm với đèn sợi đốt 100W (mùa hè) và 200W (mùa đông) để duy trì nhiệt độ thích hợp cho lợn con sau cai sữa.
Trang trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: giao thông thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển
Thức ăn tại trại được cung cấp bởi Công ty CP, bao gồm hỗn hợp thức ăn đa dạng phù hợp với lợn ở nhiều lứa tuổi và chu kỳ khác nhau Đàn lợn được chăm sóc và phòng bệnh theo kỹ thuật chuyên nghiệp của Công ty CP, đảm bảo giám sát chặt chẽ về sức khỏe và an toàn.
Công tác vệ sinh trong chăn nuôi rất quan trọng, yêu cầu công nhân phải tắm và thay đồng phục tại nhà tắm khử trùng trước khi vào chuồng Tất cả dụng cụ đưa vào khu vực sản xuất đều phải được cách ly và phun sát trùng để đảm bảo an toàn Định kỳ, sẽ có công nhân thực hiện nhiệm vụ vệ sinh và khử trùng cả trong và ngoài chuồng Sau khi xuất hết lợn con, các chuồng sẽ được vệ sinh bằng hóa chất và cách ly trước khi cho lợn nái mới vào đẻ.
Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
* Sự thành thục về tính
Gia súc khi đạt đến một giai đoạn phát triển nhất định sẽ biểu hiện tính dục, với con đực có khả năng sản xuất tinh trùng và con cái có khả năng sản xuất tế bào trứng.
Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006), thành thục về tính là giai đoạn mà động vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và khả năng sinh sản, khi các bộ phận sinh dục như buồng trứng, tử cung và âm đạo đã phát triển hoàn thiện Trong giai đoạn này, các bộ phận sinh dục phụ bên ngoài cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính, thể hiện qua hiện tượng động dục Thời điểm thành thục về tính có thể khác nhau, phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chế độ chăm sóc nuôi dưỡng.
Các giống lợn có thời gian thành thục tính khác nhau, với lợn nội thường đạt độ thành thục sớm hơn lợn ngoại Ngoài ra, các giống lợn có kích thước nhỏ cũng thường thành thục sớm hơn so với những giống có kích thước lớn.
Theo nghiên cứu của Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003), tuổi động dục đầu tiên của lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm, chỉ từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt 20 - 25 kg Trong khi đó, lợn nái lai có tuổi động dục lần đầu muộn hơn, bắt đầu từ 6 tháng với khối lượng cơ thể 50 - 55 kg Đối với lợn ngoại, tuổi động dục muộn hơn, dao động từ 6 - 8 tháng khi đạt 65 - 80 kg.
Tuổi động dục lần đầu của lợn phụ thuộc vào giống, điều kiện chăm sóc và quản lý Cụ thể, lợn Ỉ và Móng Cái có tuổi động dục lần đầu từ 4 đến 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày), trong khi các giống lợn ngoại như Yorkshire và Landrace thường muộn hơn, từ 7 đến 8 tháng tuổi.
+ Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến tuổi thành thục sinh dục của lợn nái Những con lợn được cung cấp khẩu phần thức ăn đầy đủ và phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng thường đạt độ thành thục sớm hơn so với những con lợn chỉ được nuôi bằng khẩu phần có giá trị dinh dưỡng thấp.
Lợn nái nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt thường đạt độ tuổi thành thục trung bình là 188,5 ngày (khoảng 6 tháng) Ngược lại, nếu bị hạn chế thức ăn, lợn nái sẽ thành thục muộn hơn, vào khoảng 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi).
Khí hậu và nhiệt độ có ảnh hưởng đáng kể đến tuổi thành thục về tính của gia súc Cụ thể, những giống lợn sống ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường đạt độ thành thục sớm hơn so với những giống lợn ở vùng khí hậu ôn đới và hàn đới.
Sự hiện diện của con đực trưởng thành gần lợn nái hậu bị có thể thúc đẩy nhanh quá trình thành thục của chúng Việc cho lợn nái hậu bị tiếp xúc với con đực sẽ kích thích sự phát triển tính dục, giúp chúng trưởng thành nhanh hơn.
McIntosh G B (1996) [30], nếu cho lợn nái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn nái (ngoài 90 kg) động dục lúc
Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng ảnh hưởng đến sự thành thục của lợn nái hậu bị, với mùa Hè khiến chúng chậm trưởng thành hơn so với mùa Thu - Đông do nhiệt độ trong chuồng nuôi cao, dẫn đến mức tăng trọng thấp Các con lợn được chăn thả tự do đạt độ thành thục sớm hơn khoảng 14 ngày vào mùa Xuân và 17 ngày vào mùa Thu so với những con nuôi nhốt Vào mùa Đông, thời gian chiếu sáng trong ngày giảm, bóng tối làm chậm quá trình thành thục so với ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày.
Tuổi thành thục về tính thường của lợn mẹ thường đến sớm hơn so với tuổi thành thục về thể vóc, vì vậy cần chú ý đến khối lượng cơ thể của lợn trước khi cho phối giống Để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường, lợn không nên được cho phối giống ở lần động dục đầu tiên, vì lúc này cơ thể chưa phát triển đầy đủ và chưa tích tụ đủ chất dinh dưỡng cho thai kỳ Để đạt hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền, nên bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục đầu tiên trước khi cho phối giống.
* Sự thành thục về thể vóc
Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn so với sự thành thục về tính Sau một thời gian sinh trưởng và phát triển, động vật sẽ đạt được độ trưởng thành về thể vóc vào một thời điểm nhất định Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Hùng và cộng sự (2003), quá trình này là rất quan trọng trong sự phát triển toàn diện của động vật.
Tuổi thành thục về thể vóc là giai đoạn mà ngoại hình và thể chất của lợn đạt mức độ hoàn chỉnh và ổn định Đối với lợn nái nội, thời điểm phối giống lần đầu nên diễn ra khi chúng đạt 6 - 7 tháng tuổi và có khối lượng từ 40 - 50 kg Trong khi đó, lợn nái ngoại chỉ nên được phối giống khi đạt 8 - 9 tháng tuổi và có khối lượng từ 115 - 120 kg.
2.2.1.2 Chu kỳ động dục và thời điểm phối giống thích hợp
Lợn nái khi đạt độ trưởng thành sẽ trải qua những biến đổi đặc biệt ở cơ quan sinh dục, kèm theo hiện tượng rụng trứng và động dục Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ, được gọi là chu kỳ động dục hay chu kỳ tính.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Khánh Quắc và cộng sự (1995), chu kỳ động dục của lợn nái trung bình là 21 ngày, thời gian động dục có sự khác biệt giữa các giống lợn Sau khi sinh, lợn nái thường có hiện tượng động dục trở lại sau 3 - 4 ngày, nhưng không nên cho phối vì bộ máy sinh dục chưa phục hồi hoàn toàn và trứng chưa rụng đều Tuy nhiên, sau khi cai sữa từ 3 - 5 ngày, lợn nái có thể động dục trở lại và nếu được cho phối vào thời điểm này, khả năng thụ thai cao hơn, với số lượng trứng rụng đạt mức tối ưu, dẫn đến số con sinh ra nhiều hơn (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2006).
Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Ở nước ta một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con
Theo nghiên cứu của Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), bệnh viêm đường sinh dục ở lợn có tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm tử cung chiếm 80% Viêm tử cung là một bệnh lý thường gặp ở gia súc cái sau khi sinh, gây hủy hoại các tế bào tổ chức của tử cung, dẫn đến rối loạn sinh sản và có thể làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003), trước khi lợn nái đẻ, cần thực hiện các bước như xoa vú và tắm cho nái Sau khi lợn con ra đời, nên cho chúng bú ngay trong vòng 1 giờ và cắt răng nanh của chúng Để giảm sưng và sốt, có thể chườm nước đá vào bầu vú Ngoài ra, tiêm kháng sinh penicillin với liều 1,5 - 2 triệu đơn vị trong 10ml nước cất quanh vú là cần thiết Nếu có nhiều vú bị viêm, nên pha loãng liều thuốc với 20ml nước cất và tiêm quanh các vú bị viêm trong 3 ngày liên tiếp.
Theo Nguyễn Xuân Bình (2005) [2], cho biết: những nái bị viêm tử cung thường sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)
Theo Trần Tiến Dũng và cộng sự (2002), khi gia súc mắc bệnh viêm tử cung ở thể viêm cơ và viêm tương mạc, không nên thực hiện thụt rửa bằng chất sát trùng với thể tích lớn Việc này có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh do cơ tử cung co bóp yếu, dẫn đến chất bẩn không được đẩy ra ngoài Các tác giả khuyến nghị sử dụng oxytoxin kết hợp với PGF2α hoặc phối hợp với kháng sinh để điều trị toàn thân và cục bộ.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Công Toản và cộng sự (2018), tỷ lệ viêm tử cung ở lợn nái ngoại F1 (LxY) thay đổi giữa các lứa đẻ Cụ thể, lợn nái ở lứa đẻ >5 có tỷ lệ mắc viêm tử cung cao nhất, đạt 39,68%, trong khi lứa 2–5 chỉ có 23,30% và lứa 1 là 37,13% Sự khác biệt về tỷ lệ viêm tử cung giữa nhóm lứa 1 và lứa >5 so với nhóm lứa 2-5 là có ý nghĩa thống kê với P