1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai

50 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Chất Lượng Cuộc Sống Của Người Bệnh Lupus Ban Đỏ Hệ Thống Điều Trị Tại Bệnh Viện Bạch Mai
Tác giả Bùi Thị Ngọc Dung
Người hướng dẫn ThS. Bùi Thị Khánh Thuận
Trường học Trường Đại Học Điều Dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Nội Người Lớn
Thể loại Báo Cáo Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (0)
    • 1.1. Cơ sở lý luận (11)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (17)
  • Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT (0)
    • 2.1. Đặc điểm chung của NB (20)
    • 2.2. Chất lượng cuộc sống của NB (22)
  • Chương 3: BÀN LUẬN (0)
    • 3.1. Đặc điểm chung của NB (28)
    • 3.2. Chất lượng cuộc sống của NB (29)
  • KẾT LUẬN (37)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (40)

Nội dung

SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Cơ sở lý luận

1.1.1 Đại cương Lupus ban đỏ hệ thống

Lupus đã được y học ghi nhận từ đầu thế kỷ XIX, ban đầu được xem là bệnh ngoài da không nguy hiểm Năm 1828, BieHe mô tả "ban đỏ rải rác" đối xứng và phân biệt giữa tổn thương sâu và tổn thương bề mặt của lupus Đến năm 1845, Hebra đã mô tả tổn thương ngoài da có hình cánh bướm trên mặt Danh từ "Lupus ban đỏ" được Cazenave giới thiệu vào năm 1851, với hai thể: thể nhẹ chỉ có tổn thương ngoài da và thể nặng kèm theo tổn thương nội tạng.

Sự xuất hiện và tác dụng tốt của corticoid đã kéo dài đời sống người bệnh và giúp cho tiên lượng của người bệnh thay đổi rất nhiều (Hench 1948

Bệnh lupus, theo định nghĩa của Dubois (1949), là một hội chứng với nguyên nhân không rõ, đặc trưng bởi tổn thương nhiều cơ quan nội tạng và có các đợt tiến triển nặng xen kẽ với đợt lui bệnh Chẩn đoán bệnh được xác định dựa vào sự hiện diện của các kháng thể kháng nhân và tế bào Hargraves trong huyết thanh Năm 1968, Hội khớp học Hoa Kỳ (ARA) đã đưa ra 14 tiêu chuẩn chẩn đoán, hiện nay chỉ còn 11 tiêu chuẩn, và chỉ cần có 4/11 tiêu chuẩn để chẩn đoán dương tính.

Tỉ lệ mắc bệnh lupus hàng năm rất khó xác định Theo một số tài liệu nghiên cứu, tỉ lệ đó giao động từ 1 đến 10 ca mới trong 100.000 dân (1955-

Lupus ban đỏ hệ thống có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở nữ giới so với nam giới, với tỷ lệ 9:1 trong độ tuổi sinh sản Tại Mỹ và các nước Bắc Âu, bệnh này ít gặp ở người già và trẻ nhỏ, điều này cho thấy vai trò quan trọng của hormone trong cơ chế sinh bệnh.

Cơ chế sinh bệnh của lupus ban đỏ hệ thống vẫn chưa được làm rõ, nhưng nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra vai trò quan trọng của tự kháng thể như kháng thể kháng nhân, kháng thể kháng Sm, kháng thể kháng tế bào và kháng thể kháng vi cơ quan Ngoài ra, phức hợp miễn dịch và bổ thể cũng đóng vai trò thiết yếu trong quá trình này.

1.1.1.3.Các yếu tố nguyên nhân a) Yếu tố bẩm sinh (di truyền) [1], [2]

Bệnh lupus có tính chất di truyền, với tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở những người có cùng huyết thống, đặc biệt là ở thế hệ thứ nhất Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh cùng trứng lên tới 63%, trong khi ở trẻ sơ sinh khác trứng chỉ là 10% Hiện nay, nhờ vào những tiến bộ trong kỹ thuật, người ta đã phát hiện lupus thường liên quan đến các yếu tố di truyền như HLA DR2 và HLA DR3.

Nghiên cứu cho thấy tần suất nhiễm virus Epstein - Barr ở những người trẻ tuổi mắc lupus cao hơn đáng kể so với người khỏe mạnh Mặc dù đã có nhiều nỗ lực để phân lập virus này từ bệnh nhân lupus, nhưng tất cả đều không thành công Điều này dẫn đến giả thuyết rằng virus có thể đóng vai trò như một yếu tố khởi phát gen, gây ra rối loạn trong hệ miễn dịch của cơ thể.

- Thuốc:Các thuốc điều trị lao (INH, Rifampicin), hạ áp (Hydralazin, Procainamid), chống co giật (Phenintoin… ), thuốc chống thụ thai…là những nguyên nhân gây lupus ban đỏ

Hormon giới tính thường xuất hiện nhiều hơn ở phụ nữ so với nam giới, với tỷ lệ 8-9/1, đặc biệt phổ biến ở độ tuổi sinh đẻ Quá trình thai nghén có ảnh hưởng rõ rệt đến tình trạng bệnh, đặc biệt là trong ba tháng cuối của thai kỳ.

Thường sốt nhẹ 37°5 C - 37°6C, nhưng cũng có trường hợp sốt cao tới

39 - 40°C Sốt kéo dài không rõ nguyên nhân, kèm theo các triệu chứng toàn thân như gày sút, mệt mỏi, kém ăn b) Biểu hiện ở da và niêm mạc

Ban đỏ hình cánh bướm thường xuất hiện trên mặt, tạo thành các mảng và vảy mịn, có thể kèm theo tình trạng phù nề, chủ yếu tập trung ở hai cánh mũi, gò má và dưới cằm Ngoài ra, ban đỏ cũng có thể xuất hiện ở vùng trước ngực, lưng và đầu ngón tay xung quanh móng Da của bệnh nhân rất nhạy cảm với ánh sáng, và có thể kèm theo triệu chứng loét miệng và họng.

Rụng tóc có thể diễn ra theo hai hình thức: lan tỏa hoặc khu trú thành mảng Các biểu hiện cơ xương khớp thường gặp bao gồm đau cơ và đau khớp, thường là dấu hiệu khởi phát bệnh Viêm khớp đơn thuần có thể xuất hiện ở một hoặc nhiều khớp và có thể di chuyển giữa các khớp mà không kèm theo cứng khớp buổi sáng, sưng nóng đỏ hay biến dạng xương khớp X-quang không cho thấy dấu hiệu mòn xương, gai xương hay hẹp dính khe khớp Một số trường hợp hiếm gặp có thể dẫn đến biến dạng ngón tay hình thoi hoặc biến dạng trục khớp, tương tự như bệnh thấp kiểu Jaccoud.

Hoại tử xương vô khuẩn thường xảy ra ở các vùng như cực trên xương đùi, lồi cầu xương đùi, thân xương chày và đầu xương cánh tay mà không liên quan đến việc sử dụng corticoid Trong khi đó, viêm cơ và loạn dưỡng cơ có thể được chẩn đoán thông qua sự xâm nhập của bạch cầu trong sinh thiết cơ và sự gia tăng men cơ qua các xét nghiệm.

Tổn thương cầu thận là nguyên nhân chính gây tử vong trong bệnh lý này, với các biểu hiện thường gặp như phù nề, tiểu ít, và protein niệu Bên cạnh đó, có thể xuất hiện hồng cầu, bạch cầu và trụ niệu Các tình trạng liên quan thường gặp bao gồm viêm cầu thận cấp, hội chứng thận hư và suy thận, đồng thời cũng có thể có các biểu hiện tim mạch.

Viêm ngoại tâm mạc là biểu hiện hay gặp nhất trong các tổn thương tim, chiếm 20 - 40% Tràn dịch màng ngoài tim thường không nhiều tới mức gây ép tim

Viêm nội tâm mạc kiểu Libman-Sacks: Sùi các van tim và vách thất

Viêm cơ tim: Trên lâm sàng gặp 10 - 15%, có biểu hiện rối loạn nhịp, block dẫn truyền, ít gặp loạn nhịp hoàn toàn

Huyết khối tĩnh mạch xảy ra trong 8-20% trường hợp, thường gây tắc mạch và phổ biến ở tĩnh mạch chi, nhưng cũng có thể xuất hiện ở tĩnh mạch của các tạng hoặc tĩnh mạch chủ Tình trạng này thường liên quan đến sự hiện diện của các chất chống đông trong cơ thể Biểu hiện của huyết khối tĩnh mạch cũng có thể ảnh hưởng đến hệ hô hấp.

Viêm màng phổi có thể xảy ra ở một hoặc hai bên phổi, thường gặp trong giai đoạn tiến triển của bệnh với tỷ lệ từ 25-50% Tình trạng này thường đi kèm với tràn dịch màng phổi có tính chất nước thanh tơ, và lượng dịch thường không nhiều.

Tổn thương nhu mô phổi thường khó phát hiện và có nhiều biểu hiện lâm sàng đa dạng Viêm phổi Lupus có triệu chứng nổi bật, cấp tính nhưng không phổ biến Chảy máu phế nang là tổn thương nghiêm trọng, có thể dẫn đến suy hô hấp cấp và tử vong nhanh chóng, với hình ảnh “phôi trắng” trên X quang phổi Ngoài ra, biểu hiện ở hệ thần kinh - tâm thần như đau đầu và co giật, có thể đáp ứng tốt với thuốc chống co giật và corticoid.

Rối loạn tâm thần là một trong những biểu hiện nặng của bệnh, tiên lượng xấu Cần phân biệt với rối loạn tâm thần do corticoid

Ngoài ra có thể gặp viêm não, viêm màng não, hội chứng viêm tuỷ cắt ngang h) Biểu hiện ở máu và tổ chức tạo máu

Thiếu máu gặp ở ít nhất 50% người bệnh, có thể là biểu hiện khởi phátcủa bệnh

Giảm tiểu cầu cũng là biểu hiện hay gặp

Rối loạn đông máu với nguy cơ tăng đông gây huyết khối tĩnh mạch i) Biểu hiện ở hệ tiêu hoá

Thường gặp là chán ăn, buồn nôn, nôn trong đợt tiến triển của bệnh

Chảy máu tiêu hoá gặp 1,5 - 6,3%, trong đó có nguyên nhân do thuốc (corticoid), cũng có loét ruột non, đại tràng do thiếu máu cục bộ

Gan to gặp ở 8-12% người bệnh, thường không đau khi khám trừ một vài trường hợp trong giai đoạn tiến triển của bệnh j) Biểu hiện ở mắt

Viêm võng mạc, viêm kết mạc sung huyết

Tắc động mạch võng mạc, viêm thần kinh thị giác, hội chứng xơ teo tuyến lệ, teo tổ chức liên kết mắt

1.1.1.5 Các biểu hiện cận lâm sàng [1], [2] a) Các xét nghiệm không đặc hiệu

Công thức máu: Giảm nhẹ 3 dòng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu Máu lắng tăng cao Điện di protein: Tỷ lệ A/G đảo ngược, α-globulin tăng cao

Tổng phân tích nước tiểu thấy có protein - tế bào - trụ niệu b) Các xét nghiệm đặc hiệu

Kháng thể kháng nhân ANA, ds ADN

Kháng thể kháng phospholipid: kháng thể kháng Cardiolipin gây phản ứng giả với giang mai

Sinh thiết da bằng miễn dịch huỳnh quang thấy có lắng đọng các globulin miễn dịch và các bổ thể nối liền da - thượng bì

Mục tiêu điều trị lupus ban đỏ hệ thống là ngăn chặn và đảo ngược tình trạng viêm, phòng ngừa tổn thương cơ quan không hồi phục và ức chế đáp ứng miễn dịch gây viêm Việc sử dụng thuốc cần cân nhắc đến tác dụng phụ, vì vậy điều trị phải cá nhân hóa theo từng bệnh nhân và tình trạng bệnh Đối với thể bệnh nhẹ, thường sử dụng thuốc giảm đau và chống viêm, trong khi thể bệnh nặng có tổn thương nội tạng cần sử dụng corticoid liều cao và thuốc ức chế miễn dịch Mỗi bệnh nhân có thể phản ứng khác nhau với thuốc, do đó cần theo dõi chặt chẽ để đánh giá tổn thương nội tạng trong quá trình điều trị.

1.1.2 Chất lượng cuộc sống của người bệnh Lupus ban đỏ

1.1.2.1 Khái niệm chất lượng cuộc sống

Cơ sở thực tiễn

Trên toàn cầu, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh mắc bệnh lý bạch cầu dòng tủy, chỉ ra các đặc điểm nổi bật và những yếu tố liên quan đến tình trạng này.

Nghiên cứu của Sutcilifie và cộng sự cho thấy rằng chỉ số chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh lý bản thân (NB LPBHT) giảm rõ rệt ở cả hai lĩnh vực thể chất và tinh thần Mặc dù các nghiên cứu sử dụng bộ công cụ và mẫu nghiên cứu khác nhau, kết quả vẫn cho thấy CLCS của NB LBĐHT thấp hơn so với cộng đồng chung và nhóm chứng Mặc dù mức độ bệnh không nặng, nhưng CLCS của người bệnh vẫn bị suy giảm đáng kể.

Sự thay đổi chất lượng cuộc sống (CLCS) ở bệnh nhân loạn bẩm sinh thể hiện sự khác biệt rõ rệt giữa các giai đoạn phát triển của bệnh Nghiên cứu của Kuriya cho thấy ở bệnh nhân giai đoạn muộn, điểm số sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần chỉ đạt dưới 5% Ngược lại, nghiên cứu của Urowitz trên 495 bệnh nhân giai đoạn sớm lại phát hiện sự cải thiện chất lượng cuộc sống ở phần lớn đối tượng.

NB trong vòng 2 năm đầu theo dõi [42]

SF-36 là công cụ chủ yếu để đo lường chất lượng cuộc sống sức khỏe (CLCS) trong các nghiên cứu, cho phép so sánh giữa các bệnh mãn tính Nghiên cứu của Schmedinh tổng hợp từ 24 nghiên cứu cho thấy CLCS ở người bệnh lupus ban đỏ hệ thống (LBĐHT) giảm sút tương đương với nhiều bệnh mãn tính nguy hiểm khác như HIV/AIDS và viêm khớp dạng thấp Điểm chức năng thể chất và cảm giác đau ở người bệnh viêm khớp dạng thấp giảm rõ rệt hơn so với LBĐHT, có thể do bệnh lý này gây tổn thương chủ yếu ở hệ cơ xương khớp Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về CLCS của người bệnh mắc các bệnh mãn tính như vẩy nến và HIV/AIDS.

Nghiên cứu của Phạm Thị Xuân (2015) tại bệnh viện Bạch Mai về chất lượng cuộc sống (CLCS) của 100 bệnh nhân lạm dụng thuốc (NB LBĐHT) cho thấy sức khỏe thể chất và tinh thần của nhóm bệnh giảm rõ rệt so với nhóm chứng, với điểm trung bình lần lượt là 46,84 ± 10,4 và 60,08 ± 13,3, trong khi nhóm chứng đạt 84,41 ± 9,12 và 78,09 ± 8,27 Điểm CLCS trung bình ở nhóm bệnh là 53,45 ± 10,22, thấp hơn so với 81,25 ± 5,55 ở nhóm chứng (p 0,05.

Bảng 2.6 Điểm trung bình sức khỏe tinh thần chung theo loại điều trị

Kết quả từ bảng 2.6 cho thấy sức khỏe tinh thần trung bình của nhóm người bệnh nghiên cứu là 44,90 ± 19,20 Trong đó, nhóm ngoại trú có mức sức khỏe tinh thần là 49,18 ± 19,34, trong khi nhóm bệnh nhân nội trú chỉ đạt 40,61 ± 18,30 Sự so sánh giữa hai nhóm cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,05.

Biểu đồ 2.5 Phân loại mức độ sức khỏe tinh thần chung

Trong nghiên cứu, sức khỏe tinh thần của nhóm bệnh nhân cho thấy 50% có tình trạng xấu, 16,2% rất xấu, 25% ở mức trung bình và chỉ 8,8% có sức khỏe tinh thần tốt Đặc biệt, không có sự khác biệt về sức khỏe tinh thần giữa nhóm điều trị nội trú và ngoại trú.

3.2.4 Đánh giá các mặt trong sức khỏe thể lực

Bảng 2.7 Trung bình các mặt trong sức khỏe thể lực

Tiêu chí sức khỏe thể lực Nhóm

Nội trú Ngoại trú p Hoạt động thể lực 49 ± 26,61 54 ± 21,49 0,358 Hạn chế sức khỏe thể lực 24,38 ± 39,01 35,63 ± 40,78 0,211 Cảm giác đau 50,31 ± 29,30 61,13 ± 22,74 0,039 Sức khỏe chung 18,25 ± 15,42 34,12 ± 19,64 0,000

Theo bảng 2.7, sức khỏe chung của nhóm bệnh nhân ngoại trú (34,12 ± 19,64) cao hơn nhóm nội trú (18,25 ± 15,42) Hoạt động thể lực của bệnh nhân ngoại trú đạt 54 ± 21,49, trong khi nội trú là 49 ± 26,61 Hạn chế sức khỏe thể lực của nhóm nội trú là 24,38 ± 39,01, còn nhóm ngoại trú là 35,63 ± 40,78 Cảm giác đau của bệnh nhân nội trú là 50,31 ± 29,30, trong khi nhóm ngoại trú cao hơn với 61,13 ± 22,74.

Biểu đồ 2.6 Phân loại mức độ các mặt trong sức khỏe thể lực

Khi so sánh sức khỏe thể lực giữa hai nhóm bệnh nhân nội trú và ngoại trú, nhóm nội trú có cảm giác đau cơ thể và sức khỏe chung thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể về hoạt động thể lực và hạn chế sức khỏe thể lực giữa hai nhóm Đáng chú ý, 57,5% trường hợp bị hạn chế sức khỏe thể lực và sức khỏe chung ở mức rất xấu, trong khi nhóm có sức khỏe thể lực tốt chỉ chiếm 33,8% trong cảm giác đau cơ thể.

3.2.5 Đánh giá các mặt trong sức khỏe tinh thần

Bảng 2.8 Trung bình các mặt trong sức khỏe tinh thần

Tiêu chí sức khỏe tinh thần Nhóm

Hoạt động xã hội 50,31 ± 17,79 62,81 ± 20,31 0,004 Hạn chế xúc động 24,17 ± 39,94 35,83 ± 42,96 0,212 Sức khỏe tinh thần 45,70 ± 15,21 55,13 ± 19,22 0,017

Theo bảng 2.8, sức khỏe tinh thần của nhóm bệnh nhân ngoại trú (55,13 ± 19,22) cao hơn so với nhóm bệnh nhân nội trú (45,70 ± 15,21) Sinh lực của nhóm nội trú là 41,75 ± 15,67, trong khi nhóm ngoại trú đạt 45 ± 18,19 Hoạt động xã hội của bệnh nhân ngoại trú (62,81 ± 20,31) cũng vượt trội hơn so với nhóm nội trú (50,31 ± 17,79) Hạn chế xúc động ở nhóm nội trú là 24,17 ± 39,94, trong khi nhóm ngoại trú là 35,83 ± 42,96 Cảm giác đau của bệnh nhân nội trú (50,31 ± 29,30) cao hơn so với nhóm ngoại trú (61,13 ± 22,74).

Biểu đồ 2.7 Phân loại mức độ các mặt trong sức khỏe thể lực

Theo nghiên cứu, tình trạng hạn chế do xúc động chủ yếu xuất hiện trong nhóm phân loại rất xấu, chiếm 61,2% Khi so sánh giữa hai nhóm nội trú và ngoại trú, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hạn chế do xúc động Xếp loại sinh lực gặp chủ yếu trong nhóm xấu (42,5%) và trung bình (40,0%), cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm Tuy nhiên, ảnh hưởng tới hoạt động xã hội chủ yếu nằm trong nhóm phân loại trung bình, chiếm 56,2%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm nội trú và ngoại trú (p

Ngày đăng: 20/04/2022, 09:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đ. T. T. Lan. "Lupus ban đỏ hệ thống," Dị ứng- Miễn dịch lâm sàng, Hà Nội, NXB Y học, 2009, pp. 174-185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lupus ban đỏ hệ thống
Nhà XB: NXB Y học
2. N. V. Đoàn "Lupus ban đỏ hệ thống," Hiểu biết mỡi về một số bệnh dị ứng và tự miễn, Hà Nội, NXB Y học, 2013, pp. 241-272 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu biết mỡi về một số bệnh dị ứng và tự miễn
Tác giả: N. V. Đoàn
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2013
3. Phạm Công Chính (2012). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại khoa Da Liễu bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Tạp chí Khoa học và Công nghệ 89(01/2), 15 – 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại khoa Da Liễu bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Phạm Công Chính
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Năm: 2012
5. Nguyễn Văn Đoàn, Nguyễn Thị Thanh Hà (2012). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng người bệnh nam lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại Trung tâm Dị ứng-MDLS Bệnh viện Bạch Mai. Y học thực hành 6, 825, 123-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng người bệnh nam lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại Trung tâm Dị ứng-MDLS Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Nguyễn Văn Đoàn, Nguyễn Thị Thanh Hà
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2012
7. Đào Hùng Hạnh (2015). Đặc điểm lâm sàng và chất lượng cuộc sống ở người bệnh đau xơ cơ nguyên phát (Fibromyalgia). Tập XXV, số 4(164), 177-179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng và chất lượng cuộc sống ở người bệnh đau xơ cơ nguyên phát (Fibromyalgia)
Tác giả: Đào Hùng Hạnh
Nhà XB: Tập XXV, số 4(164)
Năm: 2015
8. Đỗ Trương Thanh Lan (2009). Lupus ban đỏ hệ thống. Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng (sách dùng cho bác sĩ và học viên sau đại học), NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 174-185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lupus ban đỏ hệ thống
Tác giả: Đỗ Trương Thanh Lan
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
9. Nguyễn Bích Ngọc (2014). Chất luợng cuộc sống của người bệnh alzheimer, người chăm sóc và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can thiệp không dùng thuốc. Luận văn Tiến sỹ y học, Viện Vệ sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất luợng cuộc sống của người bệnh alzheimer, người chăm sóc và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can thiệp không dùng thuốc
Tác giả: Nguyễn Bích Ngọc
Nhà XB: Viện Vệ sinh
Năm: 2014
11. Phạm Thị Tuyết Nhung (2013). Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh bị hội chứng mạch vành cấp trước và sau can thiệp đông mạch vành qua da sử dụng bộ câu hỏi Seatle Angina Questionaire.Luận văn tốt nghiệp cử nhân điều dưỡng hệ VHVL. Trường đại học Thăng Long, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh bị hội chứng mạch vành cấp trước và sau can thiệp đông mạch vành qua da sử dụng bộ câu hỏi Seatle Angina Questionaire
Tác giả: Phạm Thị Tuyết Nhung
Nhà XB: Trường đại học Thăng Long
Năm: 2013
12. Lê Việt Thắng, Nguyễn Văn Hùng (2012). Khảo sát chất lượng cuộc sống người bệnh suy thận mạn tính thận nhân tạo chu kỳ bằng thang điểm SF36. Y học Thực hành 802 (1), 45-47. 11.Phạm Huy Thông (2013). Lupus ban đỏ hệ thống. Dị ứng - Miễn dịch Lâm sàng Cơ bản, NXB Y học, Hà Nội, 211 - 225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát chất lượng cuộc sống người bệnh suy thận mạn tính thận nhân tạo chu kỳ bằng thang điểm SF36
Tác giả: Lê Việt Thắng, Nguyễn Văn Hùng
Nhà XB: Y học Thực hành
Năm: 2012
13. Phạm Huy Thông (2013). Lupus ban đỏ hệ thống. Dị ứng - Miễn dịch Lâm sàng Cơ bản, NXB Y học, Hà Nội, 211 - 225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lupus ban đỏ hệ thống
Tác giả: Phạm Huy Thông
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2013
14. Trương Thị Mộng Thường, Lê Ngọc Diệp (2012). Chất lượng cuộc sống của người bệnh vẩy nến đến điều trị tại BV Da Liễu TP HCM từ 01/09/2010 đến 30/04/2011. Y Học TP. Hồ Chí Minh, tập 16, Phụ bản Số 1, 284-292 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống của người bệnh vẩy nến đến điều trị tại BV Da Liễu TP HCM từ 01/09/2010 đến 30/04/2011
Tác giả: Trương Thị Mộng Thường, Lê Ngọc Diệp
Nhà XB: Y Học TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2012
15. Hà Thị Thúy (2011). Bước đầu đánh giá sự cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh tổn thương tủy sống do chấn thương tại khoa Phục hồi chức năng bệnh viện Bạch Mai. Luận văn tốt nghiệp cử nhân điều dưỡng hệ VHVL. Trường đại học Thăng Long, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá sự cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh tổn thương tủy sống do chấn thương tại khoa Phục hồi chức năng bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Hà Thị Thúy
Nhà XB: Trường đại học Thăng Long
Năm: 2011
18. LâmNguyễn Nhã Trúc, Trần Thị Bích Hương (2012). Sử dụng bảng câu hỏi SF-36 trong đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối trước và sau chạy thận nhân tạo. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 16, Phụ bản Số 3, 331 - 334.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bảng câu hỏi SF-36 trong đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối trước và sau chạy thận nhân tạo
Tác giả: LâmNguyễn Nhã Trúc, Trần Thị Bích Hương
Nhà XB: Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
19. Almehed K, Carlsten H, Forsblad-d’Elia H (2010). Health-related quality of life in systemic lupus erythematosus and its association with disease and work disability. Scand J Rheumatol 39, 58- 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health-related quality of life in systemic lupus erythematosus and its association with disease and work disability
Tác giả: Almehed K, Carlsten H, Forsblad-d’Elia H
Nhà XB: Scand J Rheumatol
Năm: 2010
20. Barnado A, Wheless L, Meyer A.K, Gilkeson G.S, Kamen D.L (2012). Quality of life in patients with systemic lupus erythematosus (SLE) compared with related controls within a unique African American population. Lupus 21, 563–569 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life in patients with systemic lupus erythematosus (SLE) compared with related controls within a unique African American population
Tác giả: Barnado A, Wheless L, Meyer A.K, Gilkeson G.S, Kamen D.L
Nhà XB: Lupus
Năm: 2012
21. Chenchen W, Mayo N.E, Fortin P.R (2001). The Relationship Between Health Related Quality of Life and Disease Activity and Damage in Systemic Lupus Erythematosus. J Rheumatol 28, 525–32 Danchenko N, Satia J.A, Anthony M.S (2006). Epidemiology of systemic lupus erythematosus: a comparison of worldwide disease burden Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Relationship Between Health Related Quality of Life and Disease Activity and Damage in Systemic Lupus Erythematosus
Tác giả: Chenchen W, Mayo N.E, Fortin P.R
Nhà XB: J Rheumatol
Năm: 2001
22. Doria A., Rinaldi S., Ermani M., et al (2004). Health-related quality of life in Italian patients with systemic lupus erythematosus. I.Relationship between physical and mental dimension and impact of age. Rheumatology 43, 1574-1579 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Health-related quality of life in Italian patients with systemic lupus erythematosus. I.Relationship between physical and mental dimension and impact of age
Tác giả: Doria A., Rinaldi S., Ermani M., et al
Nhà XB: Rheumatology
Năm: 2004
23. Dua A.B, Touma Z, Toloza S, Jolly M (2013). Top 10 Recent Developments in Health-Related Quality of Life in Patients with Systemic Lupus Erythematosus. Curr Rheumatol Rep 15, 380, 1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Top 10 Recent Developments in Health-Related Quality of Life in Patients with Systemic Lupus Erythematosus
Tác giả: Dua A.B, Touma Z, Toloza S, Jolly M
Nhà XB: Curr Rheumatol Rep
Năm: 2013
24. Feldman C.H, Hiraki L.T, Liu J et al (2013). Epidemiology and Sociodemographics of Systemic Lupus Erythematosus and Lupus Nephritis Among US Adults With Medicaid Coverage, 2000–2004.Arthritis Rheum 65, 3, pp 753 – 763 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Epidemiology and Sociodemographics of Systemic Lupus Erythematosus and Lupus Nephritis Among US Adults With Medicaid Coverage, 2000–2004
Tác giả: Feldman C.H, Hiraki L.T, Liu J
Nhà XB: Arthritis Rheumatology
Năm: 2013
25. Freire E, Bruscato A, Ciconelli R (2009). Quality of life in systemic lupus erythematosus patients in Northeastern Brazil: is health-related quality of life a predictor of survival for these patients?Acta Reumatol Port 34, 207-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life in systemic lupus erythematosus patients in Northeastern Brazil: is health-related quality of life a predictor of survival for these patients
Tác giả: Freire E, Bruscato A, Ciconelli R
Nhà XB: Acta Reumatol Port
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

VI- Triển khai các hình thức hỗ trợ thanh thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn đến trường.trường. - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
ri ển khai các hình thức hỗ trợ thanh thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn đến trường.trường (Trang 7)
Bảng 2.1. Tuổi trung bình nhóm người bệnh theo nơi cư trú - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
Bảng 2.1. Tuổi trung bình nhóm người bệnh theo nơi cư trú (Trang 21)
Theo kết quả bảng 2.1 cho thấy: Độ tuổi trung bình nhóm người bệnh tham gia nghiên cứu là 33,25 ± 13,74 trong đó nhóm người bệnh nội trú 35,12  ± 15,27 và  nhóm  ngoại trú  31,38  ±  11,90  và không  có  sự khác biệt về tuổi  giữa 2 nhóm nội trú và ngoại - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
heo kết quả bảng 2.1 cho thấy: Độ tuổi trung bình nhóm người bệnh tham gia nghiên cứu là 33,25 ± 13,74 trong đó nhóm người bệnh nội trú 35,12 ± 15,27 và nhóm ngoại trú 31,38 ± 11,90 và không có sự khác biệt về tuổi giữa 2 nhóm nội trú và ngoại (Trang 21)
Bảng 2.2. Số năm điều trị trung bình - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
Bảng 2.2. Số năm điều trị trung bình (Trang 22)
Bảng 2.5. Điểm sức khỏe thể lực trung bình theo loại điều trị - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
Bảng 2.5. Điểm sức khỏe thể lực trung bình theo loại điều trị (Trang 23)
Theo kết quả bảng 2.4 cho thấy: Trong nhóm người bệnh nghiên cứu, chất lượng cuộc sống trung bình của nhóm người bệnh là 43,03 ± 20,13;   nhóm ngoại trú 47,55 ± 19,25; nhóm người bệnh nội trú 38,52 ± 20,20; Khi so  sánh giữa 2 nhóm ta thấy sự khác biệt có - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
heo kết quả bảng 2.4 cho thấy: Trong nhóm người bệnh nghiên cứu, chất lượng cuộc sống trung bình của nhóm người bệnh là 43,03 ± 20,13; nhóm ngoại trú 47,55 ± 19,25; nhóm người bệnh nội trú 38,52 ± 20,20; Khi so sánh giữa 2 nhóm ta thấy sự khác biệt có (Trang 23)
Bảng 2.6. Điểm trung bình sức khỏe tinh thần chung theo loại điều trị - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
Bảng 2.6. Điểm trung bình sức khỏe tinh thần chung theo loại điều trị (Trang 24)
Theo kết quả bảng 2.6 cho thấy: Trong nhóm người bệnh nghiên cứu, sức khỏe  tinh  thần  trung  bình  của  nhóm  người  bệnh  là  44,90  ±  19,20;    nhóm  ngoại trú 49,18 ± 19,34; nhóm người bệnh nội trú 40,61 ± 18,30; Khi so sánh  giữa 2 nhóm ta thấy sự - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
heo kết quả bảng 2.6 cho thấy: Trong nhóm người bệnh nghiên cứu, sức khỏe tinh thần trung bình của nhóm người bệnh là 44,90 ± 19,20; nhóm ngoại trú 49,18 ± 19,34; nhóm người bệnh nội trú 40,61 ± 18,30; Khi so sánh giữa 2 nhóm ta thấy sự (Trang 24)
Bảng 2.7. Trung bình các mặt trong sức khỏe thể lực - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
Bảng 2.7. Trung bình các mặt trong sức khỏe thể lực (Trang 25)
Qua bảng 2.7 cho thấy: Trong nhóm người bệnh nghiên cứu, sức khỏe chung  của  nhóm  người  bệnh  ngoại  trú  34,12  ±  19,64,  cao  hơn  nhóm  người  bệnh nội trú 18,25  ± 15,42 - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
ua bảng 2.7 cho thấy: Trong nhóm người bệnh nghiên cứu, sức khỏe chung của nhóm người bệnh ngoại trú 34,12 ± 19,64, cao hơn nhóm người bệnh nội trú 18,25 ± 15,42 (Trang 25)
Bảng 2.8. Trung bình các mặt trong sức khỏe tinh thần - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
Bảng 2.8. Trung bình các mặt trong sức khỏe tinh thần (Trang 26)
Qua bảng 2.8 cho thấy: Trong nhóm người bệnh nghiên cứu, sức khỏe tinh thần của nhóm người bệnh ngoại trú 55,13 ± 19,22, cao hơn nhóm người  bệnh  nội  trú  45,70  ±  15,21 - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh lupus ban đỏ hệ thống điều trị tại bệnh viện bạch mai
ua bảng 2.8 cho thấy: Trong nhóm người bệnh nghiên cứu, sức khỏe tinh thần của nhóm người bệnh ngoại trú 55,13 ± 19,22, cao hơn nhóm người bệnh nội trú 45,70 ± 15,21 (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w