1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam

61 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 813,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Xác định được tác nhân gây bệnh, điều kiện phát sinh, phát triển và mức độ gây hại của bệnh tua mực trên cây Quế tại tỉnh Quảng Nam.. Tuy nhiên, những nghiên cứu về

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN THẾ

ĐIỀU TRA, XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

TẠI TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

Trang 2

THÁI NGUYÊN, 2021

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN VĂN THẾ

ĐIỀU TRA, XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

TẠI TỈNH QUẢNG NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng bản thân tôi không sao chép của ai Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn

là quá trình điều tra, nghiên cứu hoàn toàn trung thực, khách quan Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí theo danh mục tài liệu của luận văn

Thái Nguyên, ngày 06 tháng 11 năm 2021

Học viên

Nguyễn Văn Thế

Trang 4

Trong quá trình thực tập, hoàn thiện luận văn này em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và các đồng nghiệp để luận án được hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, ngày 06 tháng 11 năm 2021

Học viên

Nguyễn Văn Thế

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3

LỜI CẢM ƠN 4

MỤC LỤC 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU 8

DANH MỤC HÌNH Error! Bookmark not defined MỞ ĐẦU 9

1 Đặt vấn đề 9

2 Mục tiêu nghiên cứu 10

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10

3.1 Ý nghĩa khoa học 10

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 10

4 Những đóng góp mới của luận văn 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 12

1.1.1 Các nghiên cứu về thành phần loài sâu, bệnh hại cây Quế 12

1.1.2 Các nghiên cứu về bệnh chổi rồng, chổi xể (Witches’ broom) 14

1.1.3 Các nghiên cứu về bệnh tua mực hại cây Quế và các cây thuộc họ Long não (Lauraceae)16 1.1.4 Các nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh chổi rồng, chổi xể và tua mực hại cây Quế 16 1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 18

1.1.1 Các nghiên cứu về thành phần loài sâu, bệnh hại cây Quế 18

1.1.2 Các nghiên cứu về bệnh chổi rồng, chổi xể 21

1.1.3 Các nghiên cứu về bệnh tua mực hại cây Quế và các cây thuộc họ Long não 22

1.1.4 Các nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh chổi rồng, chổi xể và tua mực hại cây Quế 23 1.3 Nhận xét chung 25

1.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 26

1.4.1 Vị trí địa lý 26

1.4.4 Tài nguyên nước 28

1.4.5 Tài nguyên đất đai 29

1.4.6 Tài nguyên rừng: 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG 31

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 31

2.2 Nội dung nghiên cứu 31

Trang 6

2.2.1 Điều tra tình hình gây hại và phân bố của bệnh tua mực hại cây Quế tại tỉnh Quảng Nam31

2.2.2 Nghiên cứu xác định các nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây Quế 31

2.2.3 Nghiên cứu gây bệnh nhân tạo trên cây Quế 6 tháng tuổi 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu 32

2.3.1 Phương pháp kế thừa 32

2.2.2 Phương pháp đánh giá tình hình gây hại và phân bố của bệnh tua mực hại cây Quế tại tỉnh Quảng Nam 32

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu xác định các nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây Quế 34

2.2.4 Phương pháp gây bệnh nhân tạo trên cây con 39

2.3.7 Phương pháp xử lý số liệu 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 Tình hình gây hại và phân bố của bệnh tua mực hại cây Quế tại tỉnh Quảng Nam 41

3.1.1 Kết quả điều tra theo tuyến 41

3.1.2 Kết quả điều tra trên ô tiêu chuẩn 43

3.1.3 Kết quả điều tra trên vườn ươm 45

3.2 Kết quả xác định các nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây Quế 48

3.2.1 Kết quả điều tra thu mẫu 48

3.2.2 Kết quả phân lập 48

3.2.3 Kết quả giám định mẫu bệnh 49

3.3 Kết quả thí nghiệm gây bệnh nhân tạo trên cây Quế 6 tháng tuổi 50

3.3.1 Kết quả thí nghiệm gây bệnh nhân tạo 50

3.3.2 Kết quả phân lập lại và giám định lại sau khi gây bệnh 53

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 55

Kết luận 55

Tồn tại 55

Kiến nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU

BNN &PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

P% Tỷ lệ cây bị sâu, bệnh hại (%);

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Tình hình gây hại của bệnh tua mực hại cây Quế ở các cấp tuổi 43

Bảng 3.2 Tỷ lệ và chỉ số bị hại của 36 ô tiêu chuẩn 44

Bảng 3.3: Tình hình gây hại của bệnh tua mực hại cây Quế ở các cấp tuổi 45

Bảng 3.4: Tổng hợp các mẫu tua mực trên cây con và rừng trồng 48

Bảng 3.5: Kết quả giám định mẫu tua mực trên cây con và rừng trồng 49

Bảng 3.6: Kết quả gây bệnh nhân tạo trên cây con 51

Bảng 3.7: Kết quả giám định lại 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cây Quế (Cinnamomum cassia) sinh trưởng, phát triển, tồn tại lâu đời trên

vùng đất Trà My, được coi là giống bản địa và được biết đến với tên gọi “Cao sơn Ngọc Quế” Đây là loại Quế được ưa chuộng trên thế giới, luôn có giá trị cao hơn nhiều so với các loại Quế khác Chính vì vậy, hoạt động trồng và chế biến các sản phẩm từ Quế đã đi vào cuộc sống và trở thành nghề truyền thống của người dân địa phương, và là đối tượng phát triển kinh tế mũi nhọn, chiến lược lâu dài của tỉnh Quảng Nam và một số vùng phụ cận

Trong danh mục các loài cây ưu tiên cho các chương trình trồng rừng tại Việt Nam, Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014 của Bộ NN&PTNT xác định Quế là loài cây nằm trong danh mục các loài cây trồng rừng sản xuất chủ lực tại vùng Nam Trung Bộ Tuy nhiên, rừng trồng Quế ở vùng Nam Trung Bộ nói chung và ở Quảng Nam đang bị nhiều loài sâu, bệnh gây hại, trong đó nguy hiểm nhất là bệnh tua mực Bệnh tua mực gây hại trên cây Quế là nguyên nhân chính làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của rừng trồng Quế, bệnh xuất hiện và gây hại ở nhiều bộ phận của cây (lá, thân, cành…) và kéo dài trong suốt quá trình sinh trưởng của cây Trong những năm gần đây, bệnh có xu hướng lây lan nhanh và phát triển mạnh với tỷ lệ cây bị bệnh khoảng 5-10%, có nơi bị bệnh trên 50% Bệnh tua mực xuất hiện và gây hại quanh năm và gây hại nặng nhất từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm sau Đến đầu tháng 5, các vùng bị bệnh bắt đầu khô, tua bị teo và rụng… Bệnh tua mực có thể lây lan thông qua hạt giống, cây giống, đất, tàn dư của cây bị bệnh,

và môi giới truyền bệnh Giống Quế bản địa ở Quảng Nam luôn được ưa chuộng

và có giá trị cao hơn nhiều so với các loại Quế khác nhưng bị bệnh tua mực nặng hơn so với các giống Quế nhập từ nơi khác về trồng Với tổng diện tích rừng trồng Quế ở Quảng Nam hiện đạt 3.760ha và quy hoạch phát triển đến năm

2025 sẽ đạt 7.777ha (Nguyễn Sơn, 2017), trong nhiều năm qua, bệnh tua mực đã phát sinh, gây hại rừng trồng Quế tại Quảng Nam, Quảng Ngãi và các địa

Trang 10

phương khác thuộc vùng Nam Trung Bộ Đến nay, mặc dù đã có quy trình gây trồng Quế và quy trình phòng trừ bệnh tua mực hại cây Quế nhưng chưa quản lý bệnh tua mực hại cây Quế hiệu quả khi áp dụng trong sản xuất tại tỉnh Quảng Nam và các tỉnh thuộc vùng Nam Trung Bộ

Nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây Quế vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau: Theo trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, Viện Sinh thái

và tài nguyên sinh vật, năm 1996-1999 tác nhân gây bệnh được xác định do nấm

mốc Mammaria acesati và vi khuẩn Pseudomonas; theo Đặng Đức Quyết - Viện

Bảo vệ thực vật, 2005; (Quy chẩn kỹ thuật Quốc gia 01-38/2010/BNN-PTNT, ban hành tại Thông tư 17/TT-BNNPTNT ngày 10/12/2010) xác định do vi

khuẩn Agrobacterium tumifacien Mới đây (năm 2012, 2013), Chi cục bảo vệ

thực vật Quảng Ngãi phối hợp với Viện Bảo vệ thực vật đã xác định nguyên nhân là do phytoplasma Theo nghiên cứu của tác giả trên cây Quế ở Nhật cũng gây ra các biểu hiện tương tự thì nguyên nhân được xác định do nấm đảm

Laurobasidium hachijoensgây ra

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được tác nhân gây bệnh, điều kiện phát sinh, phát triển và mức

độ gây hại của bệnh tua mực trên cây Quế tại tỉnh Quảng Nam

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn cung cấp thêm các dữ liệu về tình hình gây hại, cơ sở khoa học

về các nguyên nhân gây bênh Tua mực hại Quế tại tỉnh Quảng Nam

4 Những đóng góp mới của luận văn

- Xác định được tác nhân gây bệnh tua mực trên cây Quế tại tỉnh Quảng Nam

Trang 11

- Xác định được điều kiện phát sinh, phát triển và mức độ gây hại của bệnh tua mực trên cây Quế tại tỉnh Quảng Nam

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Các nghiên cứu về thành phần loài sâu, bệnh hại cây Quế

Các nhà khoa học trên thế giới đã ghi nhận được hơn 70 loài sâu, bệnh hại Quế, đặc biệt là ở Ấn độ và Sri Lanka Tuy nhiên, thông tin về sâu, bệnh hại trên

3 loài Quế C cassia, C burmannii và C tamata vẫn còn hạn chế Các loài sâu hại chủ yếu được ghi nhận là sâu đo hại quế (Chilasa clytia), sâu ăn lá quế (Conopomorpha civica), bọ cánh cứng (Popillia complanata), sâu ăn lá quế(Orthaga vitalis)(Anandaraj và Devasahayam, 2004)

Đối với bệnh hại Quế, mặc dù có rất nhiều loài bệnh được phát hiện và

ghi nhận gây hại trên cây Quế (C verum), nhưng chỉ một số sinh vật gây bệnh

hại nặng và ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng Quế Đó là bệnh u bướu, bệnh đốm lá, bệnh chết ngược, bệnh thối rễ và bệnh cháy lá Đối với các loài

Quế C cassia, C burmanii và C tamala ít bị bệnh hơn (Anandaraj và

42% Nấm P cinnamomi cũng được ghi nhận gây hại trên C camphora, C

culitlawan và C sintok (Ciferri và Fragoso, 1927) P cinnamomi cũng gây hại

nhiều loài Quế khác nhau ở Đài Loan và Malaysia Và được xác định là nguyên nhân thối rễ và gây chết hàng loạt rừng trồng Quế (Anandaraj và Devasahayam, 2004)

Ở Ấn Độ, bệnh đốm lá Quế gây ra bởi nấm Colletotrichum

gloeosporioides Các triệu chứng ở cây con xuất hiện các vết nâu nhỏ trên lá, sau đó tạo thành các chấm không đều, ở những lá già các chấm nhỏ gần nhau hơn và lá bị hoại tử gây ra hiện tượng xoăn mép lá hay cháy lá Ở một số cây

Trang 13

con bị bệnh bệnh lây lan xuống phần thân và làm chết cây (Karunakaran và Nair, 1980)

Bệnh chết ngược Quế C cassia mới được phát hiện tại Kerala, Ấn Độ

Bệnh gây hại ở những cành thấp và nguyên nhân gây bệnh được xác định do

Diplodia sp Ban đầu các cành bị bệnh bị khô dẫn đến sự thay đổi màu sắc của

lá, bệnh không lây lan sang thân chính của cây (Anandaraj và Devasahayam, 2004)

Ở Đài Loan, Fu và Chang (1998) cũng đã tìm ra được nguyên nhân gây

bệnh thán thư Quế do nấm C gloeosporioides gây hại Triệu chứng của bệnh:

ban đầu trên lá xuất hiện những chấm nhỏ màu nâu đến đen, các chấm sau đó lan rộng và lá bị rụng khi không còn khả năng sinh trưởng

Nghiên cứu của Chang (1992) xác định được nấm Phellinus noxius là nguyên nhân gây bệnh thối nâu rễ Long não C camphora ở Đài Loan Ban đầu

nấm từ trong đất xâm nhiễm vào rễ và làm rễ cây đổi sang màu nâu, sau đó cây

bị héo và chết ngược

Bệnh cháy lá Quế gây ra bởi nấm Pestalotiopsis palmarum là kết quả

nghiên cứu của Karunakaran và đồng tác giả (1993), nghiên cứu đã chỉ ra rằng 90% rừng trồng Quế tại Pakistan bị bệnh cháy lá

Nhiều loài nấm gây bệnh khác được ghi nhận gây hại đến rừng trồng Quế,

trong đó các loài thuộc chi Pythium cũng gây hại đáng kể Nghiên cứu của Anandaraj và Devasahayam (2004) kết luận rằng 2 loài nấm thuộc chi Pythium

là Pythiumspendens và P vexans gây hại trên diện rộng và gây chết từ 15-30% diện tích rừng trồng Quế C cassia ở Ấn Độ

Các nhà khoa học ở Indonesia đã nghiên cứu và xác định được nhiều vi

sinh vật gây bệnh hại Quế cụ thể là Phytophthora cinnamomi gây bệnh thối rễ;

Corticium salmonicolor gây bệnh phấn hồng; Fomes lignosus gây bệnh mục trắng; Accidium cinnamomi gây bệnh gỉ sắt; Glomerella cingulata gây bệnh thán thư cho 2 loài Quế C verum và C burmannii (Hasanah et al 2004)

Sâu, bệnh hại Quế có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng tinh dầu Quế Ở Srilanka, nếu rừng Quế bị sâu, bệnh hại, năng suất có thể giảm tới

Trang 14

20% với các bệnh phổ biến là sâu ăn lá, bệnh đốm lá, hoặc muội lá Do đó trong quá trình trồng Quế cần quan tâm để phòng trừ sâu, bệnh hại rừng Quế (Anandaraj và Devasahayam, 2004)

1.1.2 Các nghiên cứu về bệnh chổi rồng, chổi xể (Witches’ broom)

Thuật ngữ Witches’ broom disease hay còn gọi là bệnh chổi rồng, bệnh

chổi xể, bệnh tua mực là một bệnh phổ biến trên thực vật, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sinh trưởng phát triển vànăng suất cây trồng Những cây bị nhiễm bệnh thường bị mất cân bằng trong hệ thống điều hòa sinh trưởng, dẫn đến những biểu hiện điển hình như một lượng dày đặc các chồi nách phát triển

từ một điểm, hình thành một cấu trúc giống như cái chổi, còn gọi là chổi rồng (Witches’ broom) Trên thế giới bệnh chổi rồng đã xuất hiện ở nhiều quốc gia và gây hại cho nhiều cây chủ khác nhau Ở Peru năm 2008 các nhà khoa học đã ghi nhận sự hiện diện của bệnh chổi rồng trên cây Ca cao hoang dại thuộc vùng thượng nguồn Amazon Với các giống mẫn cảm, bệnh này có thể làm giảm năng suất tới 75% Tuy nhiên, tỷ lệ bị bệnh chổi rồng ở vùng này là không cao, đối với chồi hoa tỷ lệ bị bệnh là 14% và ở thân cây tỷ lệ bị bệnh là 13% (Ngô Phương Dung, 2011)

Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu về những triệu chứng

điển hình của bệnh này trên một số loài cây khác Cây sâm Ấn độ Withania

somnijkra bị bệnh chổi rồng do phytoplasma, bệnh lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1988 ở Lucknow, Ấn Độ Sau đó lan rộng ra các cánh đồng trồng sâm khác gây thiệt hại nghiêm trọng cho cây trồng trong suốt 5 năm, và bệnh lây truyền từ cây cây bị bệnh sang cây khác qua việc chiết ghép, và các môi giới truyền bệnh

như rệp sáp, rệp muội (Myzus persicae) và rệp Aphis craccivora

Bệnh chổi rồng cây Ca cao (Theobroma cacao) gây ra bởi nấm Crinipellis

perniciosa gây thiệt hại đáng kể cho rừng trồng Ca cao ở Brazil Tuy nhiên, những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, quá trình phát sinh, phát triển của lòa nấm gây bệnh này chưa được thực hiện đầy đủ, do vậy rất khó để tìm ra các biện pháp phòng trừ và kiểm soát sự lây lan của bệnh (Evans, 1980)

Trang 15

Ở Nhật Bản, trên mẫu chổi xể của cây tre Sasa senanensis đã phân lập được nấm Aciculosporium sasicola Đây là một trong những bệnh nguy hiểm

gây giảm sản lượng và chất lượng của tre luồng gây thiệt hại đáng kể về kinh tế

Nấm Aciculosporium take được xác định là tác nhân gây bệnh chổi xể ở các loài tre ở Nhật Bản, đặc biệt là loài tre Phyllostachys bambusoides Phân

tích các hợp chất trong lá tre 1 năm tuổi của cây bị bệnh và cây không bị bệnh hàm lượng IAA trong lá cây bị bệnh ít hơn trong cây khỏe Hơn nữa trong lá của các cây khỏe có chứa các hợp chất ức chế sự sinh trưởng và phát triển của nấm

A take

Ở Chile, trên loài Hydrangea serratifoliatác giả G¨otz Palfner (2006)đã tìm ra loài nấm mớilà Austrobasidium pehueldenigen & sp nov gây triệu

chứng như hiện tượng tua mực trên cây Quế, loài nấm này có đặc điểm hình thái

gần với Laurobasidium lauri gây bệnh tua mực hại cây Quế ở Nhật Bản

Ở một số nước như Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia và Philippine, bệnh chổi rồng cũng làm giảm năng suất của sắn từ 10-15%, và giảm hàm lượng tinh bột giảm 25-30% Bệnh chổi rồng trên cây sắn do phytoplasma, một loại vi sinh vật sống kí sinh trên mạch rây (phloem) gây ra Tác nhân phytoplasma có thể được lây truyền thông qua cây giống do thói quen canh tác và chọn giống của con người hoặc lây truyền qua các loài côn trùng hút nhựa cây Khi phytoplasma đã nhiễm vào cây giống, chúng sẽ tự động có mặt ở toàn bộ cây mới trồng Bị nhiễm bệnh ở giai đoạn cây non làm cho sắn bị rối loạn sinh trưởng, còi cọc và nhanh chóng bị chết toàn bộ, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế

và mùa vụ cho người trồng

Bệnh chổi rồng là bệnh hại nguy hiểm nhất trên cây hông (P tomentosa)

được xác định do phytoplasma gây ra Bệnh chổi rồng là một trong những bệnh đầu tiên do phytoplasma gây ra, xuất hiện và tồn tại ở Đông Á trong nhiều năm như Trung Quốc, Đài Loan, là tác nhân làm giảm sự phát triển của ngành công nghiệp gỗ tại Trung Quốc, nó xuất hiện và lây lan khắp nơi Vào năm 2006, bệnh này đã gây thiệt hại trên khoảng 880.000 cây hông, ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành công nghiệp chế biến gỗ, gây thất thoát hàng tỷ đô la Bệnh

Trang 16

truyền từ cây mẹ qua cây con bằng đường nhân giống vô tính như giâm cành và hữu tính qua hạt của cây mẹ mang mầm bệnh Cây trồng từ hạt nhiễm bệnh sẽ chết sau 1 năm tuổi Tỷ lệ thể hiện triệu chứng bệnh này sẽ gia tăng lên 50-80% khi cây được 5-6 năm tuổi

1.1.3 Các nghiên cứu về bệnh tua mực hại cây Quế và các cây thuộc họ Long não (Lauraceae)

Exobasidium cinnamomi gây bệnh tua mực hại cây Quế Cinnamomum

zeylanicum và C cassia Hiện tượng này được nhiều nhà nghiên cứu ở Nhật Bản

gọi với tên tiếng anh là “aerialrootlikegalls” Mới đây nhất, Kakishima và đồng tác giả (2017) đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây Quế này là do

nấm Laurobasidium hachijoens(còn có tên khác là Exobasidium hachijoens)

trên cây Quế (Cinnamomum japonicum) ở Nhật Bản

Ở một số nước Châu Âu, loài Laurus neocanariensis thuộc họ long não xuất hiện triệu chứng giống tua mực, và cũng được xác định là do loàiLaurobasidium lauri gây ra

(http://www.pharmanatur.com/Mycologie/Laurobasidium%20lauri.htm).

Loài Laurobasidium lauri cũng được tìm thấy ở Châu Phi, một số khu vực

ở Tây Ban Nha (quần đảo Canary, đảo Tenerife, núi Anaga), rừng Laurisilva ở

Bồ Đào Nha nấm ký sinh gây hại trên loài Laurus novocanariensis

hai loài cũng trong chi này là Laurus azoricavà Laurus nobilis.

1.1.4 Các nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh chổi rồng, chổi xể

và tua mực hại cây Quế

Ở Ecuador, người ta đã chiết xuất tannin từ cây Cacao để phòng trừ bệnh

tua mực do nấm Crinipellis perniciosa gây hại Chất tannin có khả năng ức chế

sự phát triển của nấm gây bệnh Hợp chất p-coumaroyl và

N-feruloylserotonin có trong lá tre và có khả năng ức chế A take gây bệnh chổi rồng Trichoderma stromaticumlà loài nấm nội sinh được phân lập từ cây Ca cao

và cây đậu có tác dụng ức chế nấm gây bệnh và đang được sử dụng ở Bahia, Brazil để kiểm soát bệnh chổi rồng trên cây Ca cao gây ra bởi nấm

Moniliophthora perniciosa

Trang 17

Bệnh chổi rồng gây ra bởi phytoplasma có thể được điều trị bằng kháng sinh như tetracycline, nhưng tetracycline chỉ ức chế được triệu chứng bệnh tạm thời Có nhiều nghiên cứu chi tiết hơn về bộ gen của phytoplasma được mong đợi để giải quyết mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng di truyền (gen) có liên quan đến bệnh, từ đó có biện pháp đối phó và quản lý đối tượng

Theo nghiên cứu của Askari và đồng tác giả (2011) sử dụng hoạt chất

surfactin (có nguồn gốc từ vi khuẩn Bacillus subtilis) và tetracycline để ức chế

sự phát triển của phytoplasma gây chổi rồng trên chanh, kết quả phòng trừ cũng

mang lại hiệu quả đáng kể

Biện pháp được áp dụng chủ yếu hiện nay là phòng trừ môi giới truyền bệnh do phytoplasma sống cộng sinh của thực vật và côn trùng, và cần cả hai vật chủ này để phát tán trong tự nhiên Ở thực vật, chúng sống giới hạn trong các

mô phloem của vỏ cây, và lan rộng ra toàn bộ thông qua hệ thống mạch của cây hoặc lây truyền sang cây khác thông qua hệ thống lỗ khí dưới vỏ cây Trong côn trùng, phytoplasma xâm nhập vào ruột và tuyến nước bọt và nhiều các mô khác nơi chúng có thể tích tụ số lượng lớn, sau đó chúng trở lại tuyến nước bọt để lây nhiễm sang cây chủ tiếp theo theo đường hút nhựa của côn trùng Vì vậy biện pháp phòng trừ chính hiện nay vẫn là tiêu diệt môi giới truyền bệnh và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cùng việc sử dụng nguồn giống sạch bệnh

Gần đây, một số nghiên cứu cho thấy việc kiểm soát phytoplasma không chỉ dựa vào phòng trừ môi giới truyền bệnh mà việc sử dụng nấm nội sinh để kiểm soát phytoplasma một cách tự nhiên đã được nghiên cứu ở Ý Theo nghiên

cứu của Musetti et al., 2012đã phân lập các chủng nấm nội sinh trên cây táo và

nho trồng ở những khu vực nhiễm bệnh mà có khả năng hồi phục, nghiên cứu đã tìm ra thử nghiệm khả năng kháng phytoplasma của 2 loài nấm nội sinh là

Epicoccum nigrum và Aureobasidiumpullulans, thí nghiệm và chứng minh hiệu quả phòng trừ của nấm E nigrum giúp giảm tỷ lệ và mức độ bị bệnh do

phytoplasma gây ra

Với rất nhiều loài nấm bệnh khác, việc sử dụng các vi sinh vật trong phòng trừ đã được quan tâm nghiên cứu Theo Mahaffee và Klopper (1997), có

Trang 18

thể tiêm vi khuẩn nội sinh vào cây để cây tăng sinh trưởng và kiểm soát bệnh Các thí nghiệm của ông với 2 loài cây là cà chua và cây dưa chuột đã đem lại hiệu quả ức chế một số loại mầm bệnh và giảm mức độ bị bệnh Mầm bệnh ông

sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: Pythium ultimum, Rhizoctonia, Fusarium

oxysporum, Pseuodomonas syringe, Colletotrichum orbiculore, Erwinia teracheiphila và thể khảm do virus ở cây dưa chuột

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.1 Các nghiên cứu về thành phần loài sâu, bệnh hại cây Quế

Cây Quế là một trong những cây lâm sản ngoài gỗ quan trọng hàng đầu ở Việt Nam do vậy việc nghiên cứu về sâu, bệnh hại Quế cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhằm tăng sản lượng và hạn chế những thiệt hại

do sâu, bệnh gây ra Trần Văn Mão (1989) đã có những nghiên cứu bước đầu về sâu, bệnh hại Quế và đề xuất những biện pháp phòng trừ cơ bản

Năm 1996, nhóm nghiên cứu thuộc Viện Tài nguyên sinh vật đã tìm ra 2 loại bệnh nguy hiểm gây hại cây Quế đó là bệnh thối gốc gây ra bởi nấm

Fusarium oxysporum và bệnh tua mực gây ra bởi phytoplasma, bệnh được phát hiện ở cả vườn ươm và rừng trồng, nơi bị bệnh tua mực nặng nhất là thôn Trà Giác, huyện Trà My, Quảng Nam (Dao, 2004)

Lý Kim Bảng và đồng tác giả (2000) đã lây nhiễm thành công các vi sinh vật gây bệnh tua mực để hình thành nên khối u ở cây Quế Việc lây nhiễm nhân tạo đã chứng minh tác nhân gây nên khối u, giai đoạn đầu của Bệnh tua mực hại cây Quế không phải do một loại vi sinh vật riêng biệt, mà do một hỗn hợp các vi

sinh vật, ít nhất gồm 2 loài nấm sợi Mammaria cesati (M29), L subramanian (M28) và một loại vi khuẩn Pseudomonas sp (TM1) Hiện tượng sinh khối u ở

cây Quế bị nhiễm VSV giống như triệu chứng của bệnh tua mực ở giai đoạn đầu của những cây Quế 5 năm tuổi trở lên Khối u trên cây Quế lây nhiễm nhân tạo xuất hiện vào tháng 9 và tiếp tục phát triển vào các tháng 10, 11, 12 phù hợp với thời gian bệnh tua mực phát triển ngoài môi trường tự nhiên

Nghiên cứu về nguyên nhân chết hàng loạt rừng trồng Quế ở Việt Nam, Trần Quang Tấn (2004) đã phát hiện được 19 loài sâu hại Quế, trong đó có 5

Trang 19

loài sâu hại phổ biến xuất hiện ở cả 3 tỉnh Yên Bái, Thanh Hóa và Quảng Nam,

đó là: Sâu đo ăn lá Quế, sâu cuốn lá, sâu đục ngọn, sâu gặm vỏ và sâu róm Ở

Yên Bái, Bọ xít nâu sẫm (Pseudodoniella chinensis) được ghi nhận là sâu hại

chính đối với rừng trồng Quế từ 5 đến 8 tuổi Đối với bệnh hại Quế tác giả ghi

nhận được 10 loài ký sinh gây bệnh Trong đó vi khuẩn Agrobacterium

tumefaciens và A rhizogenes được xác định là tác nhân gây bệnh tua mực cho

cây Quế Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bệnh tua mực hại cây Quế phát triển và gây hại chủ yếu từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm sau ở cả giai đoạn vườn ươm và rừng trồng

Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ loài Bọ xít nâu sẫm hại Quế, Trần Quang Tấn (2004) đã sử dụng thuốc hóa học Admire, Regent, Actara và Dipterex trong đó Admire có hiệu quả tốt nhất và có dư lượng thuốc trong vỏ Quế sau 30 ngày phòng trừ ở dưới mức cho phép đảm bảo an toàn cho sản phẩm Đối với bệnh tua mực tác giả đã sử dụng 2 loại kháng sinh là Streptomycin và Penicillin để tiêm cho cây bị bệnh, tuy nhiên hiệu quả phòng trừ không cao

Kết quả điều tra đánh giá sâu, bệnh hại Quế của Võ Duy Loan (2014) tại huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi đã phát hiện được 14 loại sâu hại, 12 loại bệnh và 02 loại tuyến trùng Trong đó có các đối tượng xuất hiện phổ biến, có khả năng gây ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng vỏ Quế là sâu đục đọt, bệnh tua mực, bệnh thán thư đọt (khô đọt non) và bệnh đốm lá Sâu đục đọt thường xuyên gây hại trên các vườn Quế, tuy nhiên mỗi năm có 5 cao điểm gây hại chính (Lứa 1: Từ đầu đến giữa tháng 3, lứa 2:

Từ đầu đến giữa tháng 5, lứa 3: Từ giữa đến cuối tháng 6, lứa 4: Từ đầu đến giữa tháng 8, lứa 5: Từ đầu đến giữa tháng 10) Các thời điểm cao điểm gây hại của sâu đục đọt Quế gắn liền với thời kỳ ra đọt non của cây Quế Các vườn Quế tuổi nhỏ thường bị hại nặng nơn các vườn Quế tuổi lớn Các vườn Quế ở vị trí chân đồi thường bị hại nặng hơn các vườn Quế ở vị trí sườn đồi Kết quả đáng chú ý trong nghiên cứu của tác giả là đã xác định được nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây Quế tại huyện Trà Bồng là do phytoplasma và bệnh được lây

Trang 20

lan qua côn trùng môi giới là loài rệp ống Aulacaspis Bệnh phát sinh phát triển gây hại mạnh trong điều kiện ẩm độ cao Các vườn Quế trồng dày, rậm rạp thường bị bệnh hại nặng Nguồn giống được cung cấp từ địa phương có chiều hướng bị bệnh nặng hơn các giống Quế được sưu tập từ các địa điểm khác Đối

với bệnh đốm lá được xác định do nấm Gleosporium cinnamomi gây hại, bệnh

này không có cao điểm gây hại rõ ràng, những vườn Quế có độ che phủ dày thường bị bệnh nặng hơn những vườn Quế có có mật độ thưa Còn bệnh thán thư

đọt hay còn gọi là bệnh khô đọt non được xác định do nấm Collectotrichum

cinnamomi gây hại, bệnh thường xuyên xuất hiện và gây hại trên các đọt non của cây Quế Thời gian bệnh xuất hiện và gây hại nặng nhất là vào các tháng 5,

7 và tháng 9 trong năm, đây cũng là thời gian mà cây Quế ra chồi non

Đề xuất các biện phòng trừ đối với các loài sâu, bệnh hại chính tại huyện Trà Bồng, Võ Duy Loan (2014) cũng chỉ ra rằng, sử dụng 4 loại thuốc Regent

800 WG, Padan 95SP, Nurelle*D 25/2,5EC, Karate 2,5 EC đều có hiệu lực cao đối với sâu đục đọt và có thể khuyến cáo nông dân áp dụng vào sản xuất Đối với bệnh tua mực hại cây Quế các loại thuốc bảo vệ thực vật không có tác dụng trong phòng trừ Để phòng trừ bệnh tua mực phải áp dụng đồng bộ các biện pháp trồng Quế theo đúng mật độ, chăm sóc bón phân để cho cây sinh trưởng phát triển tốt, tăng cường sức đề kháng của cây đối với bệnh và đặc biệt là

phòng trừ côn trùng môi giới truyền bệnh là loài rệp ống Aulacaspis bằng cách

cắt bỏ các đoạn cành có rệp đem đi tiêu hủy, nếu mật độ rệp cao thì sử dụng một trong các loại thuốc Actara 25WG, Midan 10WP, Chess 50WP để phun Phòng trừ bệnh đốm lá có thể sử dụng các loại thuốc Carbenda 50FL, Sumi-eight 12,5

WP và Ridomil 68WG đều có hiệu lực cao đối với bệnh Đối với bệnh thán thư đọt Quế, tác giả khuyến cáo sử dụng 3 loại thuốc Aliette 80 WP, Cuzate M8-72WP và Score 250 ND đều đạt hiệu lực khá đối với bệnh thán thư đọt hại Quế

Kết quả điều tra sinh vật gây hại trên các loài cây lâm nghiệp năm 2015, ghi nhận được ở giai đoạn vườn ươm cây Quế có 49 loài côn trùng gây hại và 7 loài nấm gây bệnh; còn ở rừng trồng Quế có 60 loài côn trùng gây hại, 1 loài tảo,

1 loài vi khuẩn và 19 loài nấm gây bệnh (Phạm Quang Thu, 2016)

Trang 21

Bệnh thối rễ do nấm Phytophthora cinnamomi gây hại Quế lần đầu tiên

được ghi nhận trong kết quả nghiên cứu của Dang Nhu Quynh và đồng tác giả (2017) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khoảng 10% diện tích rừng Quế tại tỉnh Yên Bái bị chết do nấm gây bệnh thối rễ

1.1.2 Các nghiên cứu về bệnh chổi rồng, chổi xể

Ở nước ta, bệnh chổi rồng đã được ghi nhận gây hại trên nhiều cây chủ khác nhau Năm 2005, bệnh chổi rồng lần đầu tiên được ghi nhận gây hại trên

cây sắn, bệnh do phytoplasma (Candidatus phytoplasma aurantifolia) gây ra

Cây sắn bị bệnh chổi rồng có triệu chứng lóng ngắn, lá ngắn và nhỏ, cây thấp hơn bình thường, chồi ngọn rụt ngắn lại, lá chuyển vàng, rụng hoặc chết khô Năm 2009 ở Quảng Ngãi, bệnh chổi rồng đã gây hại trên 1.432 ha sắn Đặc điểm của bệnh thường gây hại vào đầu mùa mưa và gây hại nặng trên giống sắn KM94 ở những rẫy sắn trồng độc canh không đầu tư chăm sóc (Võ Duy Loan, 2012)

Nghiên cứu về bệnh chổi rồng trên cây sắn tại một số tỉnh phía nam, Trịnh Xuân Hoạt và đồng tác giả (2012) đã kết luận rằng bệnh chổi rồng gây ra bởi phytoplasma lây lan rất nhanh và trở thành một trong những bệnh nguy hiểm

nhất trên cây sắn (Manihot esculenta Crantz) Nhóm nghiên cứu đã sử dụng

phương pháp kính hiển vi điện tử (TEM) để phát hiện các cấu trúc của phytoplasma có dạng hình tròn, hình oval kích thước từ 108 - 109 nm trong mô cây sắn bị bệnh Bằng phương pháp PCR lồng (nested-PCR) để khuếch đại đoạn gen 16S rRNA của phytoplasma và phân tích tính đa hình bằng kỹ thuật RFLP tác giả đã chứng minh được phytoplasma gây bệnh chồi rồng hại sắn thuộc nhóm 16Srl

Kết quả khảo sát ban đầu bệnh chổi rồng trên cây Nhãn tại miền Đông Nam Bộ của Mai Văn Trị và đồng tác giả (2005) cho thấy Nhãn thường bị bệnh

ở thời kỳ kinh doanh, tốc độ lan truyền bệnh khá nhanh Bệnh thường gây hại trên phần non của chồi lá và chồi hoa; khi chồi nhiễm bệnh thì bị biến dạng, co cụm, thoái hóa chức năng và khô chết dần Tỷ lệ bị bệnh của một số giống nhãn

có sự khác nhau, cụ thể là: giống nhãn Tiêu da bò có tỷ lệ bị bệnh cao nhất là

Trang 22

87,9 %; sau đó là giống nhãn Tiêu lá bầu với tỷ lệ bị bệnh là 12,5% và giống nhãn Super có tỷ lệ bị bệnh là 6,8%, các giống nhãn còn lại như giống nhãn Xuồng cơm vàng, nhãn Xuồng cơm trắng chưa thấy bệnh xuất hiện và gây hại

Tác nhân gây bệnh chổi rồng trên cây nhãn cho đến nay còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất Tuy nhiên, đến năm 2011 Viện nghiên cứu Cây ăn

quả miền nam xác định được vi khuẩn thuộc nhóm Gamma proteobacteria và côn trùng môi giới là Nhện nhông lung (Eryophyes dimocarpi) Vi khuẩn gây

bệnh chổi rồng trên cây nhãn không thể nuôi cấy trên môi trường nhân tạo (Nguyễn Văn Đĩnh, 2011)

Đánh giá khả năng lây nhiễm bệnh chổi rồng giữa các giống nhãn ở Đông Nam Bộ đối với vector truyền bệnh là Nhện lông nhung cho thấy tỷ lệ bị bệnh của giống Nhãn Da bò là 25% và mức độ bị hại là 13,89%; giống Nhãn lồng Hưng Yên có tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh thấp hơn lần lượt là 16,67% và 11,11%; các giống Nhãn Xuồng cơm vàng và Nhãn long không bị lây nhiễm

(Nguyễn Thị Kim Thoa et al., 2007)

1.1.3 Các nghiên cứu về bệnh tua mực hại cây Quế và các cây thuộc họ Long não

Bệnh tua mực là loại dịch hại nguy hiểm nhất trên cây Quế, triệu chứng bệnh thường xuất hiện trên thân, cành, cuống lá và gân lá Lúc đầu trên thân, cành xuất hiện các bướu sần sùi, sau đó các u bướu phát triển nhanh và mọc ra các tua dài giống như tua mực Cây Quế bị bệnh còi cọc, chậm phát triển, nếu bệnh nặng cây có thể chết, không có khả năng cho thu hoạch vỏ Bệnh tua mực tồn tại gây hại trên cây Quế quanh năm Tuy nhiên vết bệnh và tua mực mới tập trung phát sinh phát triển từ tháng 9 năm trước đến tháng 3 năm sau, tốc độ vươn dài của tua mực tăng nhanh trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng

Trang 23

Đặng Vũ Thanh và đồng tác giả (2003) đã xác định được 02 loài vi khuẩn

Agrobactetiumtumefacines và A rhizogenes là tác nhân gây bệnh tua mực cây

Quế ở Yên Bái và Quảng Nam Nghiên cứu đã thu thập các mẫu có triệu chứng bệnh tua mực và phân lập vi khuẩn trên môi trường lựa chọn D1M, sau đó kiểm chứng tác nhân gây bệnh bằng cách tiến hành lây bệnh trở lại cho cây con của Quế, theo dõi thời gian xuất hiện triệu chứng, đánh giá tỷ lệ bị bệnh và phân lập lại vi sinh vật gây bệnh

Nghiên cứu mới đây về bệnh tua mực hại cây Quế của Thi Nguyen Duong

và Thanh Van Dao (2017) tại tỉnh Quảng Ngãi đã xác định được nguyên nhân gây bệnh tua mực là phytoplasma Triệu chứng của bệnh có dạng tua mực nhỏ xuất hiện trên thân, cành và các chồi non của cây Quế

1.1.4 Các nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh chổi rồng, chổi xể

và tua mực hại cây Quế

Theo Võ Duy Loan (2012), sự lan truyền của bệnh chổi rồng hại sắn được xác định bằng 2 con đường: một là do sử dụng hom giống đã nhiễm bệnh và hai

là do côn trùng môi giới; trong đó môi giới truyền bệnh là loài rầy (Hishimonus

phycitis) Phòng trừ bệnh chổi rồng có thể sử dụng có thể sử dụng các giống sắn

có năng suất, chất lượng cao và có khả năng kháng hoặc chống chịu sâu, bệnh cao như KM140, KM98-5 hoặc SM937-26 để thay thế cho giống KM94 đã bị nhiễm bệnh chổi rồng nặng Trước khi trồng sắn cần xử lý hom bằng nước nóng

54oC trong thời gian 60 phút để trừ phytoplasma Ngoài ra có thể sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật như Hopkill 50ND, Cahero 585EC, Careman 40FC và Canon 100SL để phun diệt trừ loài rầy môi giới truyền bệnh

Để phòng trừ bệnh chổi rồng hại nhãn có thể sử dụng các biện pháp diệt trừ Nhện lông nhung và các côn trùng môi giới bằng thuốc bảo vệ thực vật như Kumulus 80 DF, Pegasus 500 ND, Dầu khoáng SK-Enspray 99EC Khi sử dụng cần luôn phiên các thuốc có gốc khác nhau để tránh tính kháng thuốc của nhện, phun định kỳ 10 ngày/lần cho đến khi lá nhãn không còn nhện và chuyển sang màu xanh; ngoài ra có thể sử dụng phương pháp tưới nước dạng phun mưa trên

Trang 24

lá cây với áp lực cao để rửa trôi và làm giảm mật độ nhện trên lá (Trung tâm BVTV phía nam, 2011)

Kết quả nghiên cứu tuyển chọn giống nhãn chống chịu bệnh chổi rồng của Mai Văn Trị và đồng tác giả (2008) đã tuyển chọn được 3 giống có khả năng chống chịu bệnh trong tổng số 11 giống nhãn được tiến hành thí nghiệm Trong

đó, giống Nhãn Xuồng cơm vàng ghép trên gốc ghép Tiêu da bò có khả năng chống chịu bệnh chổi rồng

Nguyễn Văn Đĩnh (2011) đề xuất biện pháp quản lý tổng hợp (IPM) trong phòng trừ bệnh chổi rồng hại nhãn, cụ thể là sử dụng các giống nhãn kháng bệnh chổi rồng, trồng đúng kỹ thuật, không quá dày, thường xuyên chăm sóc cắt tỉa cành để tạo độ thông thoáng cho cây, xử lý thuốc trừ Nhện lông nhung ngay khi cây nhú lộc 3-5cm, phun kỹ mặt trên và mặt dưới lá và thường xuyên thay đổi thuốc để tránh hiện tượng kháng thuốc

Trần Quang Tấn (2004) xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực cây Quế

là do 2 loài vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens và Agrobacterium rhizogenes

Nghiên cứu phòng trừ 2 loài vi khuẩn này tác giả đã tiến hành đánh giá hiệu lực kháng khuẩn của 3 loại kháng sinh trong phòng thí nghiệm là Penicillin 500.000UI, Streptomycin 750.000UI và Tetracylin 0,5% Kết quả thí nghiệm cho thấy chỉ có Streptomycin có khả năng ức chế khuẩn mạnh, các thuốc còn lại khả năng ức chế khuẩn yếu hoặc không có khả năng ức chế Dựa vào kết quả đánh giá hiệu lực kháng khuẩn của các loại kháng sinh, tác giả đã tiến hành tiêm thuốc kháng sinh vào thân cây Quế bị bệnh tua mực tại Tiên Mỹ, Quảng Nam, với các công thức cụ thể như sau: công thức 1 tiêm thuốc Streptomycin, công thức 2 tiêm hỗn hợp thuốc Streptomycin và Penicillin, công thức 3 đối chứng Kết quả thu được sau các lần tiêm thuốc cho thấy, kích thước của các mô bệnh (bao gồm u và tua) ở các công thức xử lý thuốc kháng sinh và công thức đối chứng không có sự khác nhau, điều này có nghĩa là 2 loại thuốc kháng sinh sử dụng trong thí nghiệm không có tác dụng phòng trừ bệnh tua mực cây Quế

Trong nghiên cứu của Võ Duy Loan (2014) cũng khẳng định thuốc kháng sinh không có tác dụng trong phòng trừ bệnh tua mực hại cây Quế ở Trà Bồng,

Trang 25

Quảng Ngãi, riêng thuốc Bonny 4SL có khả năng kìm hãm sự phát triển của chiều dài tua chứ không có khả năng trừ bệnh Nghiên cứu đã xác định được loài

rệp ống Aulacaspis là côn trùng môi giới lan truyền phytoplasma gây bệnh tua

mực trên cây Quế Do vậy, phòng trừ hoặc kiểm soát được loài rệp ống

Aulacaspis có ý nghĩa quan trọng đối với việc phòng trừ bệnh tua mực Có thể

sử dụng 3 loại thuốc bảo vệ thực vật là Chess 50WG, Actara 25WG và Midan 10WP để phòng trừ loài rệp ống, trong đó hiệu lực phòng trừ của loại thuốc Chess 50WG là cao nhất đạt 93,33% sau 14 ngày phun thuốc

Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều tác giả quan tâm và đề cập tới vấn đề sử dụng vi sinh vật nội sinh đối kháng với nấm bệnh Như nghiên cứu của Phạm Quang Thu và đồng tác giả (2012) đã phân lập được 8 chủng vi khuẩn nội sinh

và 13 chủng vi nấm nội sinh từ 35 dòng Keo tai tượng khảo nghiệm tại Thừa Thiên Huế, trong đó có 15 chủng gồm vi khuẩn và nấm nội sinh có hoạt tính ức

chế nấm Ceratocystis sp và 8 chủng ức chế nấm Corticium salmonicolor ở mức

độ mạnh và rất mạnh Trong nghiên cứu của Nguyễn T B Ngọc và đồng tác giả

(2016) đã phân lập được 8 chủng nấm Trichoderma sp Và 4 chủng vi khuẩn nội

sinh từ thân lá cao su tại Bình Phước, Phú Thọ, Lai Châu, Đồng Nai Các chủng

nấm Trichoderma sp có hiệu quả ức chế nấm từ 67 - 100%, các chủng vi khuẩn

nội sinh có hiệu quả ức chế từ 44,2 - 58,6%, đường kính vòng vô nấm từ 20,09 - 22,68 mm

1.3 Nhận xét chung

Bệnh tua mực hại cây Quế được ghi nhận gây hại rừng trồng Quế ở nước

ta từ năm 1996 Bệnh đã xuất hiện nhiều ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Yên Bái và làm giảm năng suất rừng trồng cũng như giảm đáng kể hàm lượng tinh dầu trong cây Đã có nhiều tác giả nghiên cứu và xác định được nguyên nhân gây bệnh nhưng không thống nhất, một số tác giả cho rằng bệnh tua mực là

do một hỗn hợp các vi sinh vật (nấm sợi, vi khuẩn Pseudomonas sp.) một số tác giả cho rằng nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn Agrobacterium spp., một số

tác giả khác lại khẳng định là do phytoplasma Về biện pháp phòng trừ cũng chỉ tập chung vào các biện pháp cơ giới như cắt tỉa và dọn sạch các cành bị bệnh

Trang 26

hoặc tiêu diệt các loại môi giới truyền bệnh bằng cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ côn trùng môi giới lây lan bệnh mà chưa có nghiên cứu nào xác định được biện pháp phòng trừ đối với các vi sinh vật gây bệnh kể

cả các loài vi khuẩn Agrobacterium spp hay Phytoplasma sp

Tóm lại những nghiên cứu về bệnh chổi rồng, chổi xể và tua mực hại cây Quế có những kết luận không thống nhất về nguyên nhân, phần lớn là cho rằng

do phytoplasma, do nấm Laurobasidium hachijoens,Laurobasidium lauri, vi

khuẩn về biện pháp phòng trừ với Phytoplasma ngoài phòng trừ vec tơ truyền bệnh đã có những nghiên cứu sử dụng một số hợp chất kháng sinh, nấm đối kháng hay nấm nội sinh Còn với một số loài nấm hiện chưa có các tài liệu đề cập đến biện pháp phòng trừ Các nội dung nghiên cứu của đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu để xác định được nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây Quế dựa trên cơ sở khoa học những nghiên cứu trong nước và trên trên thế giới theo hướng chú trọng đến hai nguyên nhân gây bệnh chính do nấm và phytoplasma

Từ đó nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái và điều kiện phát sinh, phát triển của các sinh vật gây bệnh để tìm ra các biện pháp phòng trừ và kiểm soát các tác nhân gây bệnh Bên cạnh đó, đề tài cũng tập trung nghiên cứu các biện pháp phòng trừ khác để tìm ra các giải pháp khoa học công nghệ trong quản lý tổng hợp bệnh tua mực trên cây Quế

1.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.4.1 Vị trí địa lý

Tỉnh Quảng Nam nằm ở khu vực miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 820 km về phía Bắc, cách thành phố Huế 126 km về phía Nam, cách thành

Nam theo đường Quốc lộ 1A, có vị trí địa lý:

Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng

Phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum

Phía tây giáp tỉnh Sekong, Lào

Phía đông giáp Biển Đông

Trang 27

Tỉnh lỵ của Quảng Nam đặt tại thành phố Tam Kỳ, có đô thị phố cổ Hội

An Quảng Nam nằm ở khoảng giữa Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tính theo đường Quốc lộ 1A

1.4.2 Khí hậu thời tiết

Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa

và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc Nhiệt độ trung bình năm 25,6 °C, Mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 12 °C và nhiệt độ vùng núi thậm chí còn thấp hơn Độ ẩm trung bình trong không khí đạt 84% Lượng mưa trung bình 2000-2500mm Mùa mưa thường kéo dài từ tháng

10 đến tháng 12, mùa khô kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8, tháng 1 và tháng 9 là các tháng chuyển tiếp với đặc trưng là thời tiết hay nhiễu loạn và khá nhiều mưa Mưa phân bố không đều theo không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng Vùng Tây Bắc thuộc lưu vực sông Bung (các huyện Đông Giang, Tây Giang và Nam Giang) có lượng mưa thấp nhất trong khi vùng đồi núi Tây Nam thuộc lưu vực sông Thu Bồn (các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước và Hiệp Đức) có lượng mưa lớn nhất Trà My là một trong những trung tâm mưa lớn nhất của Việt Nam với lượng mưa trung bình năm vượt quá 4,000 mm Mưa lớn lại tập trung trong một thời gian ngắn trong 3 tháng mùa mưa trên một địa hình hẹp, dốc tạo điều kiện thuận lợi cho lũ các sông lên nhanh

Hiện có hai trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh quan trắc đầy đủ các yếu tố khí tượng trong một thời gian dài (bắt đầu từ 1976) là trạm Tam Kỳ và trạm Trà

My Trạm Tam Kỳ đặt tại phường Hòa Thuận, thành phố Tam Kỳ được sử dụng

để tính toán các yếu tố khí tượng liên quan cho vùng đồng bằng phía Đông của tỉnh Trạm Trà My đặt tại thị trấn Trà My, huyện Bắc Trà My được sử dụng để tính toán các yếu tố khí tượng liên quan cho vùng núi phía Tây của tỉnh

1.4.3 Địa hình, địa chất, thủy văn

Địa hình thấp dần từ tây sang đông và chia làm 3 vùng: vùng núi phía tây, trung du ở giữa và đồng bằng ven biển phía đông Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm trên 25 °C, lượng mưa trung

Trang 28

bình hàng năm đạt 2.000-2.500mm với hơn 70% tập trung vào 3 tháng mùa mưa (tháng 10, 11 và 12) Vu Gia - Thu Bồn và Tam Kỳ là hai lưu vực sông chính

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của Quảng Nam (thời tiết-khí hậu, địa hình, tài nguyên nước, biển) có nhiều thuận lợi, tiềm năng cho phát triển sự nghiệp văn hóa đa dạng, độc đáo (phát triển những tiểu vùng văn hóa), phát triển ngành du lịch (du lịch văn hóa, du lịch sinh thái)

Quảng Nam có hướng địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông hình thành

3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa

và dải đồng bằng ven biển Vùng đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m như núi Lum Heo cao 2.045m, núi Tion cao 2.032m, núi Gole - Lang cao 1.855m (huyện Phước Sơn) Núi Ngọc Linh cao 2.598m nằm giữa ranh giới Quảng Nam, Kon Tum là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn Ngoài ra, vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dài cồn cát chạy dài từ Điện Ngọc, Điện Bàn đến Tam Quang, Núi Thành Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển gồm sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang

1.4.4 Tài nguyên nước

Quảng Nam có hai hệ thống sông lớn là Vu Gia - Thu Bồn (VG-TB) và Tam Kỳ Diện tích lưu vực VG-TB (bao gồm một phần lưu vực thuộc tỉnh Kon

có diện tích lưu vực lớn nhất Việt Nam và lưu vực sông Tam Kỳ là 735 km² Các sông bắt nguồn từ sườn đông của dãy Trường Sơn, chảy chủ yếu theo hướng Tây-Đông và đổ ra biển Đông tại cửa Hàn (Đà Nẵng), cửa Đại (Hội An) và An

dài 47 km chảy dọc ven biển theo hướng Bắc - Nam kết nối hệ thống sông

VG-TB và Tam Kỳ

Do địa hình đồi dốc và lượng mưa lớn nên mạng lưới sông ngòi của tỉnh Quảng Nam khá dày đặc Mật độ sông ngòi trung bình là 0.47 km/km² cho hệ thống VG - TB và 0.6 km/km² cho các hệ thống sông khác

Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm Lưu lượng

Trang 29

dòng chảy trung bình năm của sông Vu Gia (tính đến thị trấn Thạnh Mỹ với diện tích lưu vực 1,850 km²) là 127 m3/s, của sông Thu Bồn (tính đến Nông Sơn với diện tích lưu vực 3,130 km²) là 281 m3/s Chế độ dòng chảy của sông ngòi có sự phân mùa rõ rệt Dòng chảy 3 tháng mùa lũ (tháng 10, 11, 12) chiếm 65 - 70% tổng dòng chảy cả năm trong khi dòng chảy vào mùa kiệt (từ tháng 2 đến tháng 8) rất thấp Hai tháng 1 và 9 là các tháng chuyển tiếp với dòng chảy thất thường Lưu lượng cực đại của Thu Bồn tại Nông Sơn là 10,600 m3/s và lưu lượng tối thiểu đo được là 15.7 m3/s trong khi đó lưu lượng cực đại của Vu Gia tại Thạnh

Mỹ là 4,540 m3/s và cực tiểu là 10.5 m3/s Lưu lượng lớn vào mùa mưa và thấp vào mùa khô là nguyên nhân chính gây nên lũ lụt và hạn hán trong vùng.[4]

Tài nguyên nước phong phú là tiền đề để phát triển thủy điện trên địa bàn Tính đến 2015, trên địa bàn Quảng Nam có 8 dự án thủy điện có công suất lớn (trên 100 MW) và 35 thủy điện có công suất nhỏ Nhiều nhà máy thủy điện công suất lớn như Sông Tranh 2, Đăk Mi 4, A Vương, Sông Bung 2, Sông Bung 4, Sông

càng tăng của cả nước

1.4.5 Tài nguyên đất đai

Sử dụng đất: Theo số liệu thống kê, kiểm kê đất đai vào ngày 01.01.2010, trong tổng diện tích tự nhiên 1.043.836 ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm 798.790 ha, diện tích đất phi nông nghiệp là 87.765 ha và diện tích đất chưa sử dụng là 157.281 ha

Tổng diện tích tự nhiên của Quảng Nam là 1.043.803ha được hình thành

từ chín loại đất khác nhau gồm cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa sông, đất phù sa biển, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòn trơ sỏi đá Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày Nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày Nhóm đất cát ven biển đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản

Trang 30

Những khảo sát, đánh giá về thổ nhưỡng cho thấy, trên địa bàn tỉnh có diện tích đất lớn có thành phần cơ giới nhẹ, ít chua (hàm lượng từ trung bình đến khá) thích hợp cho canh tác cây Quế

1.4.6 Tài nguyên rừng:

Tỉnh Quảng Nam có 425.921 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 40,9%; trữ lượng

gỗ của tỉnh khoảng 30 triệu m3 Diện tích rừng tự nhiên là 388.803 ha, rừng trồng là 37.118 ha Rừng giàu ở Quảng Nam hiện có khoảng 10 nghìn ha, phân

bố ở các đỉnh núi cao, diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh, có trữ lượng gỗ khoảng 69 m3/ha Các khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh nằm ở sông Thanh thuộc huyện Nam Giang

Tháng Tư năm 2011 nhà chức trách tỉnh Quảng Nam cho thành lập Khu

các sinh vật vùng núi giữa Lào và Việt Nam, nhất là loài sao la đang bị đe dọa.[5]

Rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh là kiểu sinh thái chủ đạo của Quảng Nam Quảng Nam là tỉnh giàu tiềm năng rừng nhưng do bị khai thác quá mức trong một thời gian dài nên diện tích rừng nguyên sinh còn ít Việc đẩy mạnh trồng rừng trong những năm gần đây đã tăng diện tích đất có rừng của Quảng Nam lên hơn 55% vào năm 2014 Đây là một trong những địa phương có diện tích đất có rừng cao nhất cả nước Rừng đặc dụng Sông Thanh là khu bảo tồn lớn nhất tỉnh, nơi mà các động vật hoang dã khu vực Trung Trường Sơn đang được bảo tồn Nhân sâm Ngọc Linh là cây dược liệu quý phân bố chủ yếu ở độ cao trên 1.000 m của núi Ngọc Linh

Ngày đăng: 20/04/2022, 09:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

việc quan sát hình minh hoạ, tìm và nối nghĩa tương ứng với từ mà nó thể hiện. - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
vi ệc quan sát hình minh hoạ, tìm và nối nghĩa tương ứng với từ mà nó thể hiện (Trang 1)
+Đất phù sa: được hình thành do sông ngòi bồi đắp, rất màu mỡ; phân bố ở đồng bằng. - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
t phù sa: được hình thành do sông ngòi bồi đắp, rất màu mỡ; phân bố ở đồng bằng (Trang 22)
-GV giới thiệu ghi bảng. - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
gi ới thiệu ghi bảng (Trang 24)
Một số hình ảnh về bệnh tua mực hại Quế thu thập trong quá trình điều tra, thu thập mẫu - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
t số hình ảnh về bệnh tua mực hại Quế thu thập trong quá trình điều tra, thu thập mẫu (Trang 42)
Bảng 3.1: Tình hình gây hại của bệnh tua mực hại cây Quế ở các cấp tuổi - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
Bảng 3.1 Tình hình gây hại của bệnh tua mực hại cây Quế ở các cấp tuổi (Trang 43)
Bảng 3.2. Tỷ lệ và chỉ số bị hại của 36 ô tiêu chuẩn - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
Bảng 3.2. Tỷ lệ và chỉ số bị hại của 36 ô tiêu chuẩn (Trang 44)
Bảng 3.3: Tình hình gây hại của bệnh tua mực hại cây Quế ở các cấp tuổi - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
Bảng 3.3 Tình hình gây hại của bệnh tua mực hại cây Quế ở các cấp tuổi (Trang 45)
Bảng 3.4: Tổng hợp các mẫu tua mực trên cây con và rừng trồng - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
Bảng 3.4 Tổng hợp các mẫu tua mực trên cây con và rừng trồng (Trang 48)
Bảng 3.5: Kết quả giám định mẫu tua mực trên cây con và rừng trồng - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
Bảng 3.5 Kết quả giám định mẫu tua mực trên cây con và rừng trồng (Trang 49)
Phytoplasma gây ra. Điển hình như bệnh chổi rồng trên cây sắn do - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
hytoplasma gây ra. Điển hình như bệnh chổi rồng trên cây sắn do (Trang 50)
Bảng 3.6: Kết quả gây bệnh nhân tạo trên cây con - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
Bảng 3.6 Kết quả gây bệnh nhân tạo trên cây con (Trang 51)
Bảng 3.7: Kết quả giám định lại - Điều tra, xác định nguyên nhân gây bệnh tua mực hại cây quế (cinnamomum cassia) tại tỉnh quảng nam
Bảng 3.7 Kết quả giám định lại (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm