PHẦN MỞ ĐẦU Trong hơn 75 năm qua, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi vĩ đại bởi Đảng cộng sản Việt Nam đã có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, đáp ứng đúng yêu cầu của từng thời kỳ Trong phương pháp cách mạng, qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã có những tìm tòi, sáng tạo và thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo Đất nước ta đang bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiều vấn đề về thực tiễn, lý luận đang đặt ra đòi hỏi phải được giải quyết Do đó k.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trong hơn 75 năm qua, cách mạng Việt Nam đã giành được nhữngthắng lợi vĩ đại bởi Đảng cộng sản Việt Nam đã có đường lối và phương phápcách mạng đúng đắn, đáp ứng đúng yêu cầu của từng thời kỳ Trong phươngpháp cách mạng, qua các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã có nhữngtìm tòi, sáng tạo và thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo Đất nước tađang bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiều vấn đề về thực tiễn,
lý luận đang đặt ra đòi hỏi phải được giải quyết Do đó khi nghiên cứu tưtưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, về con đường tiến lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam là vấn đề rất cấp thiết
Để vận dụng và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hộichúng ta cần chú ý mấy điểm có ý nghĩa phương pháp luận sau:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam là tưtưởng cách mạng không ngừng, là sự thống nhất giữa độc lập dân tộc, dân chủ
và chủ nghĩa xã hội Độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội là tư tưởngxuyên suốt, và có tác động lẫn nhau Tư tưởng xã hội chủ nghĩa và con đườngtiến lên chủ nghĩa xã hội đã thể hiện ngay từ khi xác định mục tiêu, chínhsách của giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
- Luận điểm của Mác-Ăngghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực cần phải tuân theo Chúng ta coi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực Luận điểm nhắc nhở những người cộng sản không duy tâm, ảo tưởng, lấy lý tưởng thay cho hiện thực, bắt hiện thực phải tuân theo lý tưởng mà phải dựa vào những tiền đề khách quan để xóa bỏ chế độ
cũ, xây dựng xã hội mới một cách hiện thực và thực tiễn” Đây cũng chính là
luận điểm mang ý nghĩa phương pháp luận quan trọng của Hồ Chí Minh trongnghiên cứu con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 2Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một hệ thống gồm những luận điểm về bảnchất, mục tiêu và động lực chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên những luận điểm củaNgười về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam, cùng với toàn bộ di sản tư tưởng của Người vẫn là cơ sở lý luận vàphương pháp luận để tìm ra những hình thức bước đi, làm sống động tư tưởng
Hồ Chí Minh trước một thực tiễn mới
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu mà nhân dân ta đã kiêntrì phấn đấu, hy sinh theo đuổi suốt 7 thập kỷ qua dưới sự lãnh đạo của Đảng.Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thực hiện được “Ham muốn tột bậc của Hồ ChíMinh” Ngày nay Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc đổi mớinhằm mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thực sự là nền tảng tư tưởng và kim chỉnam cho sự nghiệp đổi mới
Chính vì những lý do trên nên em đã chọn đề tài: “Đảng cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam” làm đề tài nghiên
cứu cho tiểu luận của mình
Nội dung tiểu luận gồm 3 phần:
I Lý luận chung
II Đảng cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủnghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳquá độ ở Việt Nam
III Kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm nhiều nội dung, có rất nhiều nhànghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, trong phạm vi bài tiểu luận em sẽ tập
trung làm rõ về “Đảng cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 3về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá
độ ở Việt Nam”.
Trang 4- Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâusắc toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội, tạo ra những tiền đề vật chất và tinhthần cần thiết để hình thành một xã hội mà trong đó những nguyên tắc cănbản của xã hội, xã hội chủ nghĩa sẽ được thực hiện Thời kỳ này bắt đầu từkhi giai cấp công nhân giành được chính quyền nhà nước cho đến khi chủnghĩa xã hội đã tạo ra được những cơ sở của mình trong các lĩnh vực của đờisống xã hội.
2 Nguồn gốc
2.1 Cơ sở lý luận.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã làm sáng tỏ bản chấtcủa chủ nghĩa xã hội từ những kiến giải kinh tế - xã hội, chính trị, triết học.Mác bằng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã chứng minh rằng hình tháikinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ được thay thế bằng một hình tháikinh tế, xã hội cao hơn, hình thái kinh tế, xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giaiđoạn của nó là chủ nghĩa xã hội
Mác và Ăngghen đã từng bước xây dựng những luận điểm cơ bản vềchủ nghĩa xã hội, chỉ ra những phương hướng phát triển chủ yếu và nhữngđặc trưng bản chất của nó, mà đặc trưng cơ bản nhất là xóa bỏ chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất, giải phóng cho con người khỏi tình trạng bị bóc lột vềkinh tế, bị áp bức về chính trị, bị nô dịch về tinh thần, tạo điều kiện cho conngười có thể tận lực phát triển mọi khả năng sẵn có của mình
Trang 5V.Lênin phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội trong điều kiện chủnghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền, tứcgiai đoạn đế quốc chủ nghĩa Với thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nganăm 1917, chủ nghĩa xã hội đã từ lý luận trở thành hiện thực Chủ nghĩa xãhội với tư cách một chế độ xã hội, sau khi đã hoàn thiện sẽ là bước phát triểncao hơn, tốt đẹp hơn so với chủ nghĩa tư bản.
Như vậy là theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước lạc hậu không thể làcon đường quá độ trực tiếp mà là quá độ gián tiếp qua nhiều bước trung gian,đồng thời cũng vạch ra khả năng các nước đó có thể đi lên chủ nghĩa xã hội
-bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin
đã vạch rõ, nó chỉ có thể thực hiện được với điều kiện có sự giúp đỡ của cácnước công nghiệp tiên tiến đã làm cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công vàphải có sự lãnh đạo của một chính đảng vô sản kiên trì đưa đất nước đi theocon đường của chủ nghĩa xã hội
2.2 Cơ sở thực tiễn
Từ quan điểm Mác - Lênin và thực tiễn đất nước, Hồ Chí Minh đãkhẳng định: đi lên chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu của con đườngcách mạng Việt Nam Quan niệm của Người về con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta từng bước được làm rõ và vào cuối những năm 50 đã được
cụ thể hóa thêm bằng một nội dung mới: thời kỳ quá độ Vận dụng học thuyếtMác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, Người đã phác họa chu trình vậnđộng của lịch sử xã hội loài người như: “Từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ
nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộngsản) nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy.Nhưng tùy hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường khác nhau
Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội như Liên Xô Có nước thì phảikinh qua chế độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội - như các nướcĐông Âu, Trung Quốc, Việt Nam…
Trang 6Theo Hồ Chí Minh, các quốc gia bước vào con đường phát triển xã hộichủ nghĩa, từ những tiền đề xuất phát khác nhau sẽ nảy sinh các hình thức vàphương pháp khác nhau trong cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội.Bằng thực tiễn cách mạng thế giới và Việt Nam, Hồ Chí Minh đã tiếp tục pháttriển lý luận Mác - Lênin về thời kỳ quá độ, Người đã nêu lên hai phươngthức quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội đó là: phương thức quá độ trực tiếp (từchủ nghĩa tư bản phát triển) và phương thức quá độ gián tiếp (từ chế độ dânchủ nhân dân).
Như trên đã thấy Mác và Ăngghen chủ yếu đề cập đến phương thứcquá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin đã đặtvấn đề về cả hai loại hình quá độ: trực tiếp từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa
xã hội và gián tiếp từ xã hội tiền tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội Ở loạihình thứ hai, những ý kiến của Lênin còn dưới dạng khái quát, mang tính địnhhướng lý luận chung Còn Hồ Chí Minh đã căn cứ vào thực tiễn cụ thể củaViệt Nam để xây dựng và lý giải những vấn đề của phương thức quá độ giántiếp ở một nước chậm phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội
3 Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Quan điểm của Mác-Ăngghen-Lênin về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa
tư bản lên chủ nghĩa xã hội
Các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học, trong khi nhấn mạnh tínhkhách quan của sự vận động lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
và chủ nghĩa cộng sản, đã đề cập về tính tất yếu của thời kỳ quá độ Trong tác
phẩm phê phán cương lĩnh Gô-ta, Mác viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và
xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội này sang xã hội khác” Mác nói đến con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội xuất
phát từ điều kiện của các nước tư bản phát triển ở Tây Âu, khi tìm hiểu về lịch
sử phát triển ở nước Nga, Mác đã tán thành ý kiến của một nhà dân chủ cách
mạng Nga rằng: “Nước Nga có thể không cần phải trải qua những đau khổ của chế độ đó mà vẫn chiếm đoạt mọi thành quả của chế độ ấy” Thắng lợi
Trang 7của cuộc cách mạng tháng 10 Nga đã làm cho lý luận về thời kỳ quá độ có sựphát triển mới, vì thế Lênin đã nhận ra rằng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Nga là một thời kỳ lịch sử tương đối dài, nó cần thiết phải thực hiện nhữngbước quá độ nhỏ, những hình thức kinh tế trung gian để dần dần lôi cuốnnhân dân Nga, mà đa số là tiểu nông đi lên chủ nghĩa xã hội, tức là phải thực
hiện bước quá độ gián tiếp Lênin viết: “Nếu phân tích tình hình chính trị hiện nay, chúng ta có thể nói rằng chúng ta đang ở vào một thời kỳ quá độ trong thời kỳ quá độ”, “phải tiến cực kỳ chậm, vô cùng chậm hơn mức mà trước kia chúng ta đã mơ tưởng, phải tiến làm sao cho tất cả quần chúng nông dân đều thực sự tiến lên cùng chúng ta?” Xuất phát từ đặc thù của nước
Nga thì Lênin đã nêu lên tư tưởng về sự phát triển bỏ qua giai đoạn tư bản chủ
nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội Ông viết: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin conđường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nước lạc hậu không thể là con đườngquá độ trực tiếp mà là quá độ gián tiếp qua nhiều bước trung gian, đồng thờicũng vạch ra khả năng các nước đó có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa
Từ quan điểm Mác-Lênin và thực tiễn đất nước, Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu của con đường cách mạng Việt Nam” Quan điểm của Người về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta từng bước được làm rõ và vào cuối những năm 50 đã được cụ thểhóa thêm một nội dung mới đó là thời kỳ quá độ Vì thế, Người chủ trương,sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, chúng ta chọn con đường rútngắn, bỏ qua tư bản chủ nghĩa, nhưng phải trải qua thời kỳ quá độ Cách nàyđược Người chỉ rõ khi Người phân tích mâu thuẫn cơ bản giữa yêu cầu phảitiến lên trở thành một nước có nền công nông nghiệp hiện đại, khoa học kỹ
Trang 8thuật tiên tiến với tình trạng lạc hậu kém phát triển đồng thời phải đối phó với
các thế lực cản trở phá hoại mục tiêu xã hội chủ nghĩa Người nói: “Miền Bắc nhất định phải tiến lên xã hội chủ nghĩa Mà đặc điểm lớn nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa
xã hội không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Vì thế nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và
kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội…”.
Theo Hồ Chí Minh thời kỳ quá độ mang tính độc lập, nó đang từ bỏnhững cái cũ, cái lạc hậu và bước đầu xây dựng những cái mới, cái tiến bộ.Đây là bước đi tất yếu và thích hợp với điều kiện Việt Nam Hồ Chí Minhnói: Ta bước vào thời kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, không qua conđường phát triển tư bản chủ nghĩa với nghĩa là bỏ qua một phương thức sảnxuất, một hình thái kinh tế xã hội, một chế độ chính trị Sở dĩ chọn bước đi đó
vì dân tộc đã độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, có sự giúp đỡ củacác nước xã hội chủ nghĩa đi trước Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
là thời kỳ xây dựng chế độ dân chủ mới với hai đặc điểm:
- Một là: về chính trị trên nền tảng công nông liên minh, dưới sựlãnh đạo của Đảng, nhân dân làm chủ đất nước, xây dựng nền chuyên chínhdân chủ nhân dân nghĩa là dân chủ với nhân dân, chuyên chính trừng trị bọnphản động làm phản đất nước chống lại nhân dân
- Hai là: về thành phần kinh tế, thời kỳ quá độ có 5 thành phầnkinh tế khác nhau: kinh tế quốc doanh có tính chất xã hội chủ nghĩa; kinh tếhợp tác xã có tính chất nửa chủ nghĩa xã hội; kinh tế cá nhân của nông dân vàthủ công nghệ; kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước
Như vậy quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ phát triển kinh tếnhiều thành phần Chỉ có như vậy mới phát huy được sức mạnh tổng hợp củatất cả các nguồn lực, mọi đối tượng dân tộc và thời đại vào công cuộc xâydựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội
Trang 9Hồ Chí Minh khẳng định lộ trình gián tiếp đi lên chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam là trải qua thời kỳ quá độ với nhiều thành phần kinh tế, trong đókinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước vẫn được coi trọng, giữ vaitrò kinh tế, xã hội to lớn Trong điều kiện có nhiều thành phần kinh tế cùngtồn tại và phát triển như vậy, để hướng tới chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh lưu
ý phải làm cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa phát triển và giữ vai tròchủ đạo Để đạt được cả mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội ở thời kỳ nàyNgười lưu ý cần giữ 4 điều chủ chốt như: công tư đều lợi, chủ và thợ đều lợi,công nông giúp nhau, lưu thông trong ngày Bốn chính sách này là mấu chốt
để phát triển kinh tế của nước ta
Quan điểm của Đảng ta ở đại hội IX và báo cáo chính trị trình đại hội X
về kinh tế đã thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh Chúng ta xác định bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa tức là bỏ qua vị trí thống trị của chủ nghĩa tư bản và giaicấp tư sản, nhưng ta kế thừa những yếu tố của nền kinh tế thị trường và pháttriển nó theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Về mức độ của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, theo
Hồ Chí Minh đó là một việc hết sức khó khăn, bởi chủ nghĩa xã hội là tiến bộ,tốt đẹp, văn minh Nhưng từ lạc hậu đến tiến bộ, từ dã man đến văn minh là
quá trình phấn đấu hết sức gian khổ Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Việt Nam
là một nước nông nghiệp lạc hậu, công cuộc đổi xã hội cũ thành xã hội mới gian nan, phức tạp hơn việc đánh giặc, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ, thành kiến
có gốc rễ xưa hàng ngàn năm” Hồ Chí Minh cho rằng, thắng đế quốc tương
đối dễ, thắng bần cùng lạc hậu khó khăn Thắng đế quốc thực chất là giànhchính quyền mà còn tổ chức cho nhân dân giữ chính quyền Trong di chúc khiviết về công cuộc khôi phục đất nước sau chiến tranh, Người gọi đây là “cuộcchiến đấu khổng lồ, chống nghèo nàn lạc hậu, xây cái mới”
Trang 10Nhận thức rõ tính chất phức tạp của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xãhội ở Việt Nam nên Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng, Nhà nước, nhân dân ta phảiquyết tâm cao hơn nữa, không chủ quan tự mãn với thắng lợi trong quá khứ
mà thiếu đi sự năng động sáng tạo trước những khó khăn, gian khổ Xác địnhđược như vậy chúng ta mới vững tâm và quyết tâm tìm tòi phương thức, cách
đi phù hợp để xây dựng đất nước theo hướng mà Đảng và nhân dân ta lựachọn
II ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ.
1 Giai đoạn 1930-1945.
Đây là thời kỳ Đảng lãnh đạo cách mạng khi chưa giành được chínhquyền Từ khi ra đời (1930) cho đến khi Đảng lãnh đạo nhân dân ta tổng khởinghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám (8-1945) là thời kỳĐảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân tiến hành các hoạt động tuyêntruyền, vận động, giác ngộ, tổ chức các tầng lớp nhân dân, đưa quần chúngnhân dân vào cuộc đấu tranh rộng lớn trong khắp cả nước bằng nhiều hìnhthức khác nhau, trong các tổ chức đa dạng đi từ thấp đến cao, từ lĩnh vực dânsinh, dân chủ, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền ở từng địa phương vàtổng khởi nghĩa trong toàn quốc lật đổ chế độ thực dân, phong kiến giành độclập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, chấm dứt thời kỳ nô lệ của dân tộc, thànhlập nước cộng hòa dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới, kỷnguyên độc lập tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội
Trong thời kỳ này, nhằm đảm bảo hoàn thành mục tiêu cách mạng đề
ra, thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc với hai nhiệm vụ là phản đế
và phản phong, Đảng phải hoạt động trong điều kiện bị bộ máy thống trị củathực dân Pháp và triều đình phong kiến trực hiện chính sách đàn áp và khủng
Trang 11bố cực kỳ gắt gao với những thủ đoạn dã man, tàn bạo Vì vậy phương thứclãnh đạo của Đảng thể hiện qua những nét sau:
- Khi mới thành lập Đảng, để thực hiện mục đích là lãnh đạo nhân dângiành độc lập dân tộc, trong sách lược vắn tắt của Đảng, đồng chí Nguyễn ÁiQuốc đã đề ra sách lược tập hợp, đoàn kết những tầng lớp nhân dân, trướctiên là dân cày nghèo, tranh thủ các tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, trung nông…Sách lược tập hợp nhân dân lúc đó còn bao gồm cả việc đoàn kết giữa các dântộc bị áp bức và giai cấp công nhân quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sứcmạnh thời đại, làm tăng thêm lực lượng cách mạng trong nước Để tập hợpquần chúng nhân dân vào các phong trào yêu nước và phong trào cách mạng
do Đảng lãnh đạo, Đảng đã đặt ra vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, coi
đó là hành động cao nhất của cách mạng Đây là chủ trương sáng suốt củaĐảng, chỉ rõ mâu thuẫn gay gắt nhất của xã hội ta lúc đó là mâu thuẫn dân tộcchứ không phải mâu thuẫn giai cấp Lợi ích giai cấp luôn nằm trong lợi íchdân tộc, nếu quyền lợi dân tộc không được giải quyết thì quyền lợi giai cấpmãi mãi không thể giành lại được
Vào những năm sau 1939, khi bọn phát xít trực tiếp đe dọa ĐôngDương, Đảng đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt ra mục tiêucao nhất là chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít giành độc lập dân tộc,việc chống phong kiến, địa chủ, tư sản được thực hiện phù hợp với yêu cầucủa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do cho Tổ quốc Côngtác tuyên truyền vận động quần chúng nhằm khơi dậy lòng yêu nước, ý thứcdân tộc của nhân dân một cách mãnh liệt Việc phát động các phong trào hànhđộng cách mạng phải nhằm đúng vào những vấn đề bức xúc, nóng bỏng của
xã hội như phong trào phá kho thóc giải quyết nạn đói trước tổng khởi nghĩa
đã thổi bùng lên khí thế đấu tranh hừng hực của quần chúng Trong nhữngnăm 1936-1939 do yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, các tổ chức yêu nướccần phải được mở rộng cho nhiều người Việt Nam tham gia để chống đếquốc, chống phát xít, do đó phải giảm bớt tính đấu tranh giai cấp của các tổ
Trang 12chức Sau năm 1939, khi sự tồn vong của dân tộc đã được đặt lên hàng đầuĐảng phải động viên nhân dân đấu tranh dưới khẩu hiệu cứu nước trongnhững tổ chức cứu quốc.
Nhờ tuyên truyền vận động, giác ngộ quần cúng, qua việc đa dạng hóacác hình thức tập hợp nhân dân trong các phong trào các tổ chức, Đảng đãchuẩn bị những điều kiện cho việc đưa nhân dân lên cao trào đấu tranh, khởinghĩa giành chính quyền Quá trình đó là quá trình Đảng không ngừng vậnđộng các hình thức lãnh đạo tạo nên các phong trào yêu nước và cách mạnghết sức phong phú Đó là quá trình gắn bó giữa vận động tuyên truyền từngcon người với công tác vận động của tổ chức, gắn bó giữa giác ngộ tư tưởngvới đấu tranh
Trong quá trình lãnh đạo các phong trào, các tổ chức yêu nước và cáchmạng bằng những phương pháp linh hoạt và sáng tạo, Đảng đã bám sâu, bámchắc trong quần chúng, do đó Đảng có thể tồn tại trong lòng quần chúng vàlắng nghe tâm tư tình cảm của nhân dân, thực hiện phương thức lãnh đạo từquần chúng Do nắm vững khởi nghĩa, nắm bắt và lựa chọn đúng thời cơ cáchmạng theo lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, có vận dụng kinhnghiệm về khởi nghĩa của phong trào cách mạng thế giới, tổng kết kinhnghiệm các cuộc khởi nghĩa ở nước mà Đảng ta đã lãnh đạo thành công cáchmạng tháng 8, một cuộc tổng khởi nghĩa về chiến lược và chiến thuật cướpchính quyền, giành chính quyền làm chủ, đất nước về tay nhân dân
Thành công của cách mạng tháng 8 là do đường lối đúng đắn của Đảng,
do phương pháp cách mạng sáng tạo đã khơi dậy được sức mạnh của toàn dântộc, đã nắm bắt được thời cơ cách mạng chuẩn xác và thể hiện quyết tâmchiến lược cao “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành chođược độc lập” Kết hợp đồng bộ 3 yếu tố: đường lối, phương pháp, quyết tâm
đã dẫn đến thắng lợi rực rỡ của Cách mạng tháng 8-1945
Trang 132 Giai đoạn 1945-1954.
Đảng đã áp dụng phương thức lãnh đạo tài tình và khôn khéo, vừa giữvững nguyên tắc là bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc vừa mềm dẻo, linhhoạt, sáng tạo, kể cả việc đưa Đảng vào hoạt động không công khai dưới danhnghĩa tuyên bố tự giải tán, để tránh sự tập trung phá hoại của các thế lực thùđịch, phân hóa tranh thủ triệt để bọn chúng, tranh thủ đoàn kết tối đa nhữnglực lượng có thể đoàn kết được, chèo lái con thuyền cách mạng nước ta vượtqua sóng gió, giữ vững được chính quyền trong vòng vây của đế quốc Việc
ký hiệp định sơ bộ 6-3-1946 là một sách lược khôn khéo để tạo điều kiệnchuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ nhưng đi đến thắng lợi
vẻ vang Trong đó Đảng thể hiện sự tin tưởng vô hạn vào lực lượng quầnchúng nhân dân, thể hiện lòng trung thành tuyệt đối của Đảng với lợi ích củadân tộc, hy sinh tất cả vì lợi ích của toàn dân là giữ vững quyền độc lập, thốngnhất của Tổ quốc Mặc dù gặp muôn vàn khó khăn, Đảng đã lãnh đạo tổ chứcthắng lợi cuộc tổng tuyển cử đầu tiên Nhờ công tác tuyên truyền vận động,công tác tổ chức thích hợp có hiệu quả cao của cả hệ thống Đảng chính phủ,mặt trận và các đoàn thể quần chúng yêu nước…, Đảng đã phát động đượcphong trào yêu nước, ra sức thi đua diệt giặc đói giặc dốt, giặc ngoại xâm.Mặt khác chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sớm nhìn thấy nguy cơ củamột Đảng cầm quyền, đặc biệt quan tâm xây dựng chỉnh đốn Đảng ngay từkhi cách mạng mới thành công
Đảng đã tổ chức lãnh đạo cuộc kháng chiến thần thánh, cuộc khángchiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ chống thực dân Pháp và can thiệp của
Mỹ dưới khẩu hiệu tự lực cách sinh, trường kỳ kháng chiến, vừa kháng chiếnvừa kiến quốc Phương thức lãnh đạo của Đảng lúc này tập trung nắm chắclực lượng vũ trang gồm 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dânquân du kích) lãnh đạo cuộc kháng chiến, bám sát quần chúng ở vùng tự docũng như vùng địch tạm chiếm, bám sát cơ sở chiến đấu và sản xuất, vậndụng sáng tạo và tài tình nghệ thuật chiến tranh nhân dân Nhờ vậy đã làm
Trang 14cho lực lượng kháng chiến ngày càng mạnh từ gậy tầm vông vót nhọn đã tiếnđến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ vang dội, giải phóng nửa nước, tạo rahậu phương vững chắc là miền Bắc xã hội chủ nghĩa Để lãnh đạo cuộc khángchiến thắng lợi, Đảng đã giải quyết thành công hai vấn đề cơ bản nhất trong
sự lãnh đạo của Đảng, đó là củng cố Đảng vững mạnh, Đảng rất quan tâm xâydựng lối làm việc của Đảng
Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng mở rộng (khóa II)họp tháng 7-1954 khi sắp kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, một thời kỳđấu tranh mới mở ra, đòi hỏi Đảng phải tăng cường năng lực lãnh đạo và sứcchiến đấu mới Nghị quyết hội nghị đề ra chủ trương tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng trên cả 3 phương diện: chính trị, tư tưởng và tổ chức Về tập hợp vàđoàn kết toàn dân, Đảng đã hướng dẫn và tổ chức hội liên hiệp quốc dân ViệtNam để tập hợp đông đảo nhân sĩ, trí thức yêu nước, các tầng lớp nhân dânyêu nước, động viên lòng yêu nước nhiệt tình của họ tham gia kháng chiến.Tiếp theo đó đã thống nhất Việt Minh với Liên Việt thành mặt trận Liên Việt,đồng thời tăng cường củng cố, mở rộng và phát huy vai trò của Đảng dân chủ
và Đảng xã hội Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân ở trong nước được mởrộng hơn bao giờ hết, tập hợp được đông đảo nhân dân, làm cho đội ngũkháng chiến ngày càng thêm đông, thêm mạnh, lực lượng kháng chiến ngàycàng rộng khắp mọi vùng, miền Tổ quốc Mặt trận nhân dân kháng chiến cònđược mở rộng ra toàn cõi Đông Dương, đoàn kết với nhân dân Lào,Campuchia anh em, hình thành liên minh chiến lược cùng nhau chống đếquốc Pháp và can thiệp của Mỹ, tạo nên cục diện kháng chiến sôi nổi trênkhắp chiến trường Đông Dương, đồng thời còn đoàn kết với Liên Xô, TrungQuốc và các nước dân chủ nhân dân, các lực lượng hòa bình, dân chủ tiến bộtrên toàn thế giới
Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi là thắng lợi của việc khôngngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, biết phát huy sức mạnh toàndân, đi từ yếu đến mạnh, phá tan chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của