1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa vfa Trường Sa của Việt Nam

14 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 576,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LỊCH SỬ BÀI TIỂU LUẬN MÔN HỌC LÃNH THỔ, CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ CỦA VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG QUÁ TRÌNH THỰC THI VÀ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM BẰNG CHỨNG LỊCH SỬ VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ Sinh viên thực hiện Đặng Minh Hải Lớp K69A Mã sinh viên 695602040 Hà Nội, tháng 12 năm 2021 XÁC NHẬN TURNITIN MỤC LỤC Mở đầu Nội dung 1 Khái quát về quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam 1 2 Quá trình thực thi.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHOA LỊCH SỬ

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN HỌC: LÃNH THỔ, CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ CỦA VIỆT NAM VÀ

VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

QUÁ TRÌNH THỰC THI VÀ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VIỆT NAM: BẰNG CHỨNG LỊCH SỬ VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ

Sinh viên thực hiện: Đặng Minh Hải Lớp: K69A

Mã sinh viên: 695602040

Hà Nội, tháng 12 năm 2021

Trang 2

XÁC NHẬN TURNITIN

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu

Nội dung

1 Khái quát về quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa

của Việt Nam 1

2 Quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam: GIAI ĐOẠN TRƯỚC NĂM 1884 2

2.1 Nhóm sự kiện liên quan đến vẽ bản đồ 2

2.2 Nhóm sự kiện thực thi và xác lập chủ quyền thể hiện hành động cụ thể 3

3 Quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam: GIAI ĐOẠN 1884 – 1945 5

3.1 Những thập kỉ cuối thế kỉ XIX 5

3.2 Từ 1909 đến 1939 6

3.3 Từ 1939 đến 1945 7

4 Quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam: GIAI ĐOẠN 1945 – 1954 7

5 Quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam: GIAI ĐOẠN 1954 - 1975 8

6 Quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam: GIAI ĐOẠN 1975 - NAY 8

Kết luận

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

Quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

là một chủ đề có ý nghĩa vô cùng to lớn Thật vậy, khi được tiếp cận với chủ đề này, ta có thêm những chứng cứ lịch sử - pháp lý rõ ràng, chính xác, khẳng định chắc chắn chủ quyền đối với hai quần đảo này của Việt Nam đã có từ rất lâu Phân tích quá trình thực thi và xác lập chủ quyền trên từng giai đoạn, ta sẽ càng thấy rõ nhận thức của cộng đồng người Việt

về chủ quyền biển đảo

Qua chủ đề này, ta có thể vận dụng những hiểu biết, tri thức đã học, đã tìm kiếm, tiếp thu để áp dụng vào cuộc đấu tranh giữ gìn chủ quyền biển đảo trên bổn phận của chính mình Không những thế, qua chủ để này, ta sẽ thấy yêu thêm quê hương đất nước, yêu thêm những người đã ngã xuống vì hòa bình hôm nay Bên cạnh đó, kiến thức về chủ quyền biển đảo vững vàng sẽ không khiến ta lung lay trước những luận điểm vô lý, bóp méo sự thật, có ý

đồ xâm chiếm của bất cứ quốc gia nào Nhất là với âm mưu chiếm chọn Biển Đông của Trung Quốc, ta càng có cơ sở, căn cứ để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là vấn

đề rộng nhưng nó cũng rất gần gũi với mỗi chúng ta Quyền lợi của dân tộc, chủ quyền của dân tộc mỗi cá nhân phải tự biết cách giữ vững và kiên quyết đấu tranh phản đối những hành động xâm phạm lãnh thổ, chủ quyền lãnh thổ Ngoài trau dồi cho bản thân, vấn đề này cũng nên được đưa đến bạn bè quốc tế để sự thật về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam từ bao đời nay càng được sáng tỏ

NỘI DUNG

1 Khái quát về quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường

Sa của Việt Nam

Qua những hành động biểu hiện cụ thể, thực thi và xác lập được thực hiện một cách

rõ ràng Về vấn đề chủ quyền, thực thi có mối quan hệ khăng khít với xác lập Mối quan hệ

ấy được vận dụng linh hoạt vào những thởi điểm cụ thể khác nhau Thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa được biểu hiện qua những hành động khai thác nguồn lợi thủy hải sản; hành động cử người ra tuần tra, cứu hộ, cứu nạn, bắt giặc biển; hành động tương tác, bảo vệ biển đảo Biểu hiện của xác lập chủ quyền cũng được thể hiện qua những sự kiện tuyên bố chủ quyền vẽ bản đồ địa giới hành chính; lập đơn vị hành chính, sau những đơn vị

ấy trở thành một phần thống nhất trong lãnh thổ chung của quốc gia; hành động dựng bia, khắc chữ, lập đền miếu; quy định hành động bằng văn bản hóa, hành chính hóa cả quá trình thực thi Như vậy, quá trình thực thi và xác lập chủ quyền này thể hiện sự phát triển trong nhận thức, ý thức về chủ quyền biển đảo của cộng đồng người Việt hay cụ thể là của các vương triều quân chủ Việt Nam

Quá trình hình thành và phát triển của các quốc gia phương Đông luôn gắn liền với bảo vệ biển đảo Việt Nam cũng như vậy, quá trình thực thi và xác lập chủ quyền biển đảo

đã có những hành động khẳng định chủ quyền từ rất sớm Việt Nam với địa hình phía đông giáp biển đã không ít lần bị các thế lực ngoại xâm tấn công bằng đường biển Vì vậy, cộng đồng người Việt từ lâu đã hình thành được ý thức bảo vệ, giữ gìn các vùng biển Do sống gần biển, người Việt sớm đã có những biểu hiện thực thi thông qua hoạt động đánh bắt, khai

Trang 5

2

thác nguồn lợi thủy hải sản để duy trì đời sống của họ Trong những trường hợp cụ thể thì những hoạt động thực thi là tiền đề đánh dấu cho việc xác lập chủ quyền Đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thực thi và xác lập luôn tương tác qua lại với nhau

Minh chứng của thực thi và xác lập chủ quyền được xác thực thông qua những kiểu sau Thứ nhất, minh chứng của xác lập chủ quyền thông qua hệ thống bản đồ: bản đồ địa giới hành chính; bản đồ chỉ rõ tên cụ thể của Hoàng Sa, Trường Sa Thứ hai là loại minh chứng từ các tư liệu, đoạn trích dẫn về Hoàng Sa, Trường Sa được ghi chép trong các tài liệu của Việt Nam hay các nước khác Trong tài liệu của các nhà sử gia Việt Nam đã xác định được tên gọi, địa giới hành chính, cách thức tổ chức, khai thác đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa

Quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam được chia ra thành 5 giai đoạn: trước năm 1884; giai đoạn 1884-1945; giai đoạn 1945-1954; giai đoạn 1954-1975 và giai đoạn 1975 đến nay

2 Quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam: GIAI ĐOẠN TRƯỚC NĂM 1884

2.1 Nhóm sự kiện liên quan đến vẽ bản đồ

Hệ thống bản đồ: là các bản đồ của các triều đại quân chủ Việt Nam, Trung Quốc, các nước phương Tây Từ giữa thế kỉ XV, nhận thức của người Đại Việt đã có sự phân biệt giữa hai vùng biển Nam Hải và Đông Hải Nam Hải (Biển Nam) là tên chung cho toàn bộ vùng biển phía bắc của biển Chiêm Thành đã được hợp nhất vào lãnh hải của Đại Việt dưới các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ Còn vùng biển phía Bắc – Biển Đông truyền thống (Đông Hải) 1438, dưới thời Lê Thái Tông, Nguyễn Trãi được vua giao cho viết “Dư địa chí” đã xác định được rõ ràng vùng biển ứng với lãnh thổ bao đời của người Việt cho đến Quảng Bình là Đông Hải1 (Biển Đông) và vùng biển ở khu vực hợp nhất vào lãnh thổ Đại Việt từ triều Lý đến đầu triều Lê Sơ là Nam Hải2 (Biển Nam)

1490, vua Lê Thánh Tông cho hoàn thành bản đồ toàn quốc tên gọi là bộ Hồng Đức bản đồ toàn quốc gồm 13 xứ thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50 châu… 3 Trên bản đồ ấy xuất hiện cả vùng đất liền và biển đảo của lãnh thổ Đại Việt Cũng là lần đầu tiên khi “tên gọi Biển Đông hay Đông Hải được đánh dấu trên bản đồ thừa tuyên Thuận Hóa và thừa tuyên Quảng Nam” Vùng duyên hải của thừa tuyên Quảng Nam không dừng lại ở Quy Nhơn mà còn đến tận Thạch Bi và mở rộng ra đến tận các quần đảo ở giữa Biển Đông

Thế kỉ XVI đã xuất hiện nhiều bản đồ hải trình (bản đồ hàng hải) của các nước phương Tây Đặc biệt nhất, năm 1569, trong hệ thống bản đồ này phải kể đến bản đồ Thế giới của người Hà Lan- Mercator vẽ, được xuất bản trong thời gian từ 1585 đến 1595 là bản đồ chính xác nhất thời ấy Trong tấm bản đồ ấy, đã “đánh dấu nhóm bãi cạn phía Tây Nam quần đảo Hoàng Sa (quần đảo được gọi chung là Pracel hay Paracels)” với những cái tên là Baxos de Chapar (bãi ngầm Champa) hoặc Pulo Capaa (đảo của Champa) và có đề cập, phân biệt được với địa danh Cù lao Ré Dù rằng từ đầu thế kỷ XV, khu vực duyên hải và hải đảo này của Champa đã từng bước được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt Nhưng đến cuối thế kỉ XVI, nhiều bản đồ phương Tây đã vẽ chính xác và rõ ràng các quần đảo Hoàng Sa và đánh dấu

1 Nguyễn Trãi Toàn tập, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1976, tr 218

2 Nguyễn Trãi Toàn tập, Sđd, tr 234

3 Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.507

Trang 6

3

khu vực địa giới hành chính của khu vực này tương đương với các tỉnh Quảng Nam, Quảng

Ngãi ngày nay với tên Costa da Pracel hay Costa de Pracel (Bờ biển Hoàng Sa) Điều ấy

được minh chứng rõ nhất qua hai tấm bản đồ là bản đồ của Bartholome (Bồ Đào Nha) năm

1592 và bản đồ của anh em Van Langren (Hà Lan) năm 1595 đánh dấu Isla de Pracel ngoài khơi và Costa de Pracel vùng biển bên trong Pulo Catam (Cù lao Ré).4

Thế kỉ XVII, bản đồ của công ty Đông Ấn Hà Lan vẽ vào khoảng 1658-1659 có đường

vĩ độ, tỉ lệ rõ ràng đã thể hiện sự khác biệt giữa quần đảo Hoàng Sa với cái dải cát và bãi đá

ngầm gần bờ Cuối thế kỉ XVII, bản đồ Map of the coastline of Quina, Tonquin,

Cochin-China và Aynam vẽ năm 1695 càng cụ thể và rõ ràng hơn Khi nó thể hiện được mối quan

hệ giữa Hoàng Sa với các đảo ven bờ, cửa biển duyên hải Việt Nam

Bước vào thế kỉ XVIII, Hà Lan với công nghệ vẽ bản đồ tiên tiến hơn thời kì trước

đã từng bước phân chia rõ ràng Pracels và Baxios de Chapa ngoài khơi với các đảo ven bờ

Bản đồ Carte des Costes COCHINCHINE, TUNQUIN et partie de celles de la Chine (Hà

Lan – 1747) nhìn chung giống với bản đồ của công ty Đông Ấn Hà Lan năm 1658-1659 nhưng kinh độ, vĩ độ đã chi tiết hơn Và không thể chối bỏ việc Paracel và Paracelles nằm trong lãnh thổ Cochinchine

2.2 Nhóm sự kiện thực thi và xác lập chủ quyền thể hiện hành động cụ thể

2.2.1 Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVI

Dưới thời Lý Anh Tông (1138-1175) theo Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt đã liên

tục tiến hành các hoạt động trên biển: “xây dựng cơ sở quản lý, tổ chức các đội tàu thuyển , tiền hành kiểm tra, kiểm soát, xác định ranh giới trên biển và mở rộng quan hệ giao thương buôn bán với nước ngoài”5 Tháng 10/ 1147, vua cho “dựng hành dinh ở trại Yên Hưng”6 –

là cơ quan quản lý của triều đình trung ương với cửa ngõ sông biển quan trọng của cả nước Tháng 12/ 1149, vua cho “lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa quý, dâng tiến sản vật địa phương”7 Tháng 11/ 1161, Lý Anh Tông sai “Tô Hiến Thành làm Đô tướng, Đỗ An Di làm phó, đem 2 vạn quân đi tuần các nơi ven biển niềm Tây Nam để giữ yên bờ cõi xa Vua thân đi đưa đến cửa biển Thần Đầu huyện Đại An mới trở về.”8 Năm 1171-1172, nhà vua tích cực đi tuần ở các hải đảo, vẽ bản đồ ranh giới các vùng biển Có thể thấy, Lý Anh Tông đã có những hành động khai thác, quản lý cụ thể biểu hiện sự sở hữu

rõ ràng của Đại Việt trên vùng biển này

Đến triều Trần, chiến thắng trên sông Bạch Đằng 1288 là một trận thủy chiến vang dội trong lịch sử chống ngoại xâm của nước ta Khi nó đã làm cho vùng Đông Bắc hay còn gọi là lộ Đông Hải ở đây trở thành một hệ thống cảng lớn nhất Đại Việt Đặc biệt, cửa biển Bạch Đằng trở thành biểu tượng của sức sống Đại Việt

Giữa thế kỉ XV, dưới triều đại Lê sơ, các vua Lê luôn ra sức củng cố, giữ gìn và bảo

vệ vùng biển này Như đã kể trên, dấu mốc đặc biệt thời kì này thể hiện rõ nhất bằng việc hoàn thành bộ Hồng Đức bản đồ dưới thời Lê Thánh Tông

4 Nguyễn Quang Ngọc, Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa tư liệu và sự thật lịch sử, Nxb ĐHQGHN, 2016, tr.126

5 Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa tư liệu và sự thật lịch sử, Sđd, tr 98

6 Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Sđd, tr 316

7 Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Sđd, tr 317

8 Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Sđd, tr 323

Trang 7

4

Năm 1527, Mạc Đăng Dung lấy Hải Phòng “làm Dương Kinh, lập cung điện ở Cổ Trai…”9 Một kinh đô mới với tầm nhìn hướng biển, tầm nhìn của sự phát triển kinh tế biển Dương Kinh như một làn gió mới, trở thành “cửa ngõ quốc tế cho toàn vùng châu thổ sông Hồng”10

2.2.2 Thời chúa Nguyễn

Năm 1558, Nguyễn Hoàng theo lệnh vua Lê vào trấn thủ đất Thuận Hóa Đầu năm

1570, vua Lê cho Nguyễn Hoàng cai trị thêm vùng đất Quảng Nam Có quyền cai quản cả vùng Thuận Quảng “Chúa ở trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều yên cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp Thuyền buôn các nước đến nhiều Trấn trở nên một nơi đô hội lớn”11

Sự nghiệp của Nguyễn Hoàng được kế thừa bởi con trai là Nguyễn Phúc Nguyên khi lãnh thổ Đại Việt ngày càng đẩy mạnh mở rộng về phía Nam, Nguyễn Phúc Nguyên càng

có ý thức sâu sắc hơn về vị trí đặc biệt quan trọng của các quần đảo giữa Biển Đông Vậy nên, chúa Sãi đã sớm đề ra các chủ trương nhằm khai chiếm các vùng biển này Để biến chủ trương đó thành hiện thực, chúa Nguyễn Phúc Nguyên quyết định đặt ra đội Hoàng Sa Chúa Nguyễn Phúc Nguyên xây dựng đội Hoàng Sa với chuyên trách khai thác và bảo vệ Biển

Đông từ phía ngoài Trong Phủ biên tạp lục, nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết: “Họ Nguyễn

có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất Đội Hoàng Sa chủ yếu là dân binh ở thôn An Vĩnh, cửa biển Sa Kỳ trong đất liền và xóm An Vĩnh ở Cù Lao Ré Mỗi năm tháng 2 nhận giấy làm sai dịch, được cấp phát mỗi người sáu tháng lương đủ ăn, chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ ra ngoài biển, phải mất ba ngày ba đêm mới đến đảo.”12 Trong đoạn ghi chép trên, đội Hoàng Sa sau khi trở về từ biển phải đi vào cửa Eo (nay cửa biển Thuận An - Thừa Thiên Huế), để báo cáo và giao nộp sản vật, tài vật đã thu được trên đảo tại thành Phú Xuân Việc tận dụng kinh nghiệm đi biển của người dân địa phương đã tập hợp thành lực lượng quân đội vừa duy trì được lợi ích kinh tế vừa đảm bảo an ninh biển đảo Việc thành lập đội Hoàng

Sa là “một hình thức xác lập và thực thi chủ quyền trên vùng biển đảo giữa Biển Đông dưới danh nghĩa nhà nước lần đầu tiên, duy nhất trong lịch sử khu vực”13

Nối gót đội Hoàng Sa, chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Chu) lại đặt đội Bắc Hải sau khi lập phủ Bình Thuận, “mộ dân thôn Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương – Bình Thuận sung vào, sai đi thuyền nhỏ đến các xứ Bắc Hải, Côn Lôn để tìm lượm hóa vật, cũng do đội Hoàng Sa kiểm quản.”14 Với sự phát triển mạnh mẽ về phía Nam trên cả hai mặt là lãnh thổ và lãnh hải, đòi hỏi chúa Nguyễn phải lập ra một hải đội nữa để bao quát được các vùng biển đảo giữa Biển Đông và Nam Biển Đông là điều hiển nhiên Có thể nói, việc nhận thức được tầm quan trọng của biển để tăng cường tổ chức phòng thủ, khai thác biển dưới các đời chúa Nguyễn luôn là nguyên tắc sống còn của vương triều

2.2.3 Thời kỳ nhà Nguyễn thế kỉ XIX

Tháng 7 năm Quý Hợi (1803), vua Gia Long đã cho lập lại các đội Hoàng Sa, Bắc

hải Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 12 viết: “lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm

9 Lê Quý Đôn Toàn tập, tập III (Đại Việt thông sử), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978, tr 265,266

10 Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa tư liệu và sự thật lịch sử, Sđd, tr 118

11 Quốc sử quấn triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập I, Nxb Giáo dục, tr 31

12 Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, tập I, Nxb Khoa học Xã hội, tr 119-120

13 Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa tư liệu và sự thật lịch sử, Sđd, tr 118

14 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập I, Sđd, tr 164

Trang 8

5

Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm Đội Hoàng Sa”15 Dù lực lượng chủ yếu của hai hải đội này vẫn là dân binh nhưng vua Gia Long đã chú trọng đến cải thiện tàu thuyền, thiết bị,… phát triển tiềm năng quân sự biển Năm 1815-1816, vua Gia Long thường xuyên triển khai các hoạt động chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa Ông liên kết đội Thủy quân và đội Hoàng Sa nhiều lần ra đo đạc, thăm dò đường biển hay do thám thủy trình Dần dần việc hợp nhất đội Hoàng Sa, Bắc Hải đa phần là dân binh vào đội Thủy quân để trở thành lực lượng quân đội chính quy với trách nhiệm thực thi và xác lập chủ quyền ở Hoàng

Sa, Trường Sa càng được xem là điều thiết yếu

Sang thời vua Minh Mệnh, sự tích hợp hoàn toàn của đội Hoàng Sa, Bắc Hải vào đội Thủy quân đã mang đến cho thời kì này những hoạt động chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường

Sa lên một bước tiến mới Một thành tựu to lớn nhất dưới thời Minh Mệnh không thể không

kể đến việc đo vẽ bản đồ Hoàng Sa, Trường Sa Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ có viết năm 1834: “Sai Giám thành đội tưởng Trương Phúc Sĩ cùng Thủy quân hơn 20 người

đi thuyền đến đảo Hoàng Sa vẽ bản đồ.”16 Vào khoảng 1838, bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ được hoàn thành, thể hiện sự chi tiết, rõ ràng và tương đối chính xác vùng chủ quyền của triều Nguyễn bấy giờ theo phong cách vẽ bản đồ hiện đại của phương Tây Bên cạnh những hành động xác lập chủ quyền, thì những hành động thực thi chủ quyền đối với Hoàng

Sa, Trường Sa được thể hiện vô cùng quyết liệt Hàng loạt hành động tuần tra, giám sát, khai thác, tổ chức thu thuế, cứu hộ, cứu nạn, lập miếu, bia chủ quyền,… cho thấy dưới thời Minh Mệnh vấn đề chủ quyền được ưu tiên và quan tâm rất lớn Như GS Phan Huy Lê đã nhận xét: “Công việc quản lý và thực thi chủ quyền đã được nhà Nguyễn nâng lên cấp quốc gia ở trình độ cao nhất là do nhà vua trực tiếp chỉ đạo và quyết định.”17

Vào thời vua Thiệu Trị, vua cũng cử người vẽ bản đồ gọi là Đại Nam toàn đồ Trên bản đồ này thể hiện phía ngoài Quảng Nam đã đánh dấu vị trí các đảo Cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp đến gần cũng là lúc vua Tự Đức lên ngôi Dưới hoàn cảnh khó khăn là vậy nhưng nhà vua vẫn quan tâm đến tuần tra, giám sát tại Hoàng Sa và Trường Sa Dưới tác động của một loạt hiệp ước: Giáp Tuất (1874), Harmand (1883), Patenotre (1884) đã định đoạt số phận của triều Nguyễn sẽ rơi vào tay thực dân Pháp Nhà Nguyễn không còn

là một vương triều phong kiến độc lập nữa vậy nên chủ quyền của Hoàng Sa, Trường Sa cũng không thể tránh khỏi việc được chuyển sang tay Pháp

3 Quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam: GIAI ĐOẠN 1884 – 1945

3.1 Những thập kỉ cuối thế kỉ XIX

Ba năm sau Hiệp ước Patenotre (1884), Pháp kí với Trung Quốc Công ước hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc Bản Công ước này không hề đề cập đến các đảo giữa Biển Đông Vào năm 1894, sở Hải đồ hải quân Pháp cho ấn hành 2 tập sách chỉ dẫn hàng hải nói rõ về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Tại quần đảo Hoàng Sa, năm

1895-1896 xảy ra nhiều sự kiện đắm tàu Trong đó, một tàu của Đức mua bảo hiểm của công ty Anh nhưng cứu hộ thất bại Người Trung Quốc đi thuyền đến chiếc tàu bị đắm đấy cướp

15 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập I, Sđd, tr 566

16 Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập IV, Sđd, tr 120

17 Phan Huy Lê, “Châu bản triều Nguyễn – những chứng cứ lịch sử - pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa,

Trường Sa”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 459, tr 10

Trang 9

6

bóc, mang đồng về Anh yêu cầu Trung Quốc chịu trách nhiệm nhưng Trung Quốc phản đối, không nhận trách nhiệm vì Paracels không thuộc Trung Hoa

Năm 1899, Paul Doumer- toàn quyền Đông Dương ra lệnh xây hải đăng trên Hoàng

Sa Nhưng do yếu tố khách quan công trình xây hải đăng không được tiến hành Pháp không

có nhiều quyền thực thi đối với Hoàng Sa Vì Pháp do dự nên đã tạo cho chính quyền Mãn Thanh cơ hội cử người tới giám sát Hoàng Sa vào thời gian sau

Như vậy, từ năm 1884 đến cuối thế kỉ XIX, dưới triều Nguyễn không có một vị vua nào tuyên bố từ bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa Khi Pháp nằm toàn bộ quyền hành, chi phối mọi chính sách về kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao thì Pháp và Trung Quốc trong giai đoạn này chưa có hành động cụ thể nào tác động trực tiếp đến Hoàng Sa và Trường Sa

3.2 Từ 1909 đến 1939

Tháng 3 năm 1909, chính quyền Quảng Đông, Trung Quốc cử một đội khảo sát đến quần đảo Hoàng Sa Đô đốc Lý Chuẩn cùng đội khai thác tới đây, tự ý đặt lại tên Hoàng Sa hay Paracels là Tây Sa một cách vô lý Tháng 6 cùng năm, Trung Quốc cắm cờ, tuyên bố chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa và kết thúc hoạt động của đội khai thác Nhìn chung, trước nguy trở thành miếng mồi ngon của chủ nghĩa tư bản, chính quyền Mãn Thanh phải xác định ngay chủ trương kéo Hoàng Sa của Việt Nam vào lãnh thổ, lãnh hải của mình

30/03/1921, Tổng đốc Lưỡng Quảng tuyên bố sáp nhập quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) vào Hải Nam nhưng Pháp không hề lên tiếng phản đối Về sau đến 03/03/1925, nguyên Binh

bộ Thượng thư Thân Trọng Huề mới viết thư cho Khâm sứ Trung Kỳ rằng: “Các đảo nhỏ

đó (đảo Paracels hay Hoàng Sa) bao giờ cũng là sở hữu của nước An Nam, không có sự tranh cãi về vấn đề này.”18 Năm 1927, Pháp đưa tàu De Lanessan ra khảo sát khoa học tại quần đảo Trường Sa Đến đầu năm 1930, Pháp ra thông báo hạm Malicieuse do thuyền trưởng De Lattre điều khiển sẽ ra quần đảo Trường Sa theo chỉ thị của toàn quyền Đông Dương để dựng bia chủ quyền Đến gần cuối năm, Phủ toàn quyền Đông Dương thông báo với các nước trên thế giới rằng đã chiếm giữ được quần đảo Trường Sa Cuối những năm

1930, sự xuất hiện của Nhật ở Hoàng Sa đã rất nhiều lần để Bộ trưởng Ngoại giao Pháp phải thông báo với Nhật về quyền của An Nam và việc bảo hộ An Nam của Pháp

Năm 1938, vua Bảo Đại ra chỉ dụ: “chuẩn tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên; về phương diện hành chính, các cù lào ấy thuộc dưới quyền quan Tỉnh hiện tỉnh ấy”.19 Trên cơ sở ấy, chính phủ bảo hộ Pháp đã sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên nước An Nam Để minh chứng cho sự kiện này, Pháp đã cho dựng bia chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa với nội dung “Cộng hòa Pháp – Đế chế An Nam – Quần đảo Hoàng Sa 1816 – Đảo Hoàng Sa 1938) Tấm bia khẳng định chủ quyền của Cộng hòa Pháp

và Vương quốc An Nam không chỉ ở mỗi năm 1938 mà còn trước đấy, thời nhà Nguyễn cụ thể là năm 1816

Thời kì này chủ yếu là những tranh chấp, tranh biện về chủ quyền của Trung Hoa và Pháp Chủ yếu là Cộng hòa Pháp và Vương quốc An Nam, thực hiện những hành động chiếm hữu, thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa này Tuy Trung Hoa

18 Monique Chemiller-Gendreau: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011,

tr 224

19 Nam triều quốc ngữ báo công năm 1938, số 8

Trang 10

7

có tuyên bố chủ quyền nhưng họ không đưa ra được minh chứng lịch sử để xác thực cho điều này Trên thực tế, đến năm 1939, Trung Hoa vẫn chưa có động thái chiếm hữu nào đối với Hoàng Sa và Trường Sa

3.3 Từ 1939 đến 1945

Tại Trung Quốc, Nhật chiếm được các đảo Đài Loan, Bành Hồ và không dễ gì bỏ qua một “miếng mồi ngon” là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Năm 1939, Nhật tuyên bố chiếm Trường Sa đặt tên mới là Shinnan Gunto Năm 1940 tuyên bố chiến cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hoàng Sa bị đổi tên thành Hirata Gunto đặt dưới quyền kiểm soát của toàn quyền Nhật tại Đài Loan Ngày 04/04 cùng năm, chính phủ Pháp gửi công hàm phản đối quyết định trên của Nhật và tuyên bố bảo lưu các quyền của Pháp tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Tuyên cáo Cairo (1943) buộc Nhật phải rút và trao trả những vùng Nhật đã chiếm của Trung Hoa Dân Quốc nhưng không hề đề cập đến Hoàng Sa, Trường Sa 15/08/1945, Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, phải rút quân khỏi Đông Dương nhưng quân Nhật đến năm 1946 mới rời khỏi quần đảo Hoàng Sa

Trong thời kì này, Trung Hoa Dân Quốc không đặc biệt chú ý đến khu vực Biển Đông này và việc tuyên bố có chủ quyền ở đây của Trung Hoa Dân Quốc cũng không được cộng đồng quốc tế chấp thuận Việc giải giáp quân Nhật trên vùng biển này của Tưởng Giới Thạch cũng không hề có minh chứng

4 Quá trình thực thi và xác lập chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam: GIAI ĐOẠN 1945 – 1954

1946, lợi dụng việc giải giáp quân Nhật, quân Tưởng đã đem quân chiếm giữ đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa Tháng 12, “Vụ Biên giới và Lãnh thổ, Bộ Nội vụ Trung Hoa Dân Quốc xuất bản bản đồ đường Lưỡi bò gồm 11 đoạn bao lấy phần lớn Biển Đông.”20

Tháng 8/1951, Chu Ân Lai – Bộ trưởng Ngoại giao CHND Trung Hoa tuyên bố chủ quyền lâu đời của Trung Quốc trên hai quần đảo Nam Sa và Tây Sa dù không có bất kể minh chứng lịch sử nào đáng tin cậy Tại Hội nghị San Francisco, Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô đề nghị việc Nhật bản công nhận chủ quyền của CHND Trung Hoa trên “các đảo Paracels và các đảo khác về phía Nam” đã bị Hội nghị phủ quyết tuyệt đối

Cuối năm 1947, Chính phủ Pháp lập chính quyền thân Pháp – Quốc gia Việt Nam, Bảo Đại đứng đầu Năm 1949, ngày 08/03, chính phủ Pháp kí với Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam hiệp đinh Hạ Long trả độc lập, thành lập quốc gia Việt Nam trong liên hiệp Pháp Nam Kỳ trong đó có Trường Sa được trao trả cho Việt Nam Tháng 10/1950, “Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao lại cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa”21 Năm 1951, Trần Văn Hữu của đoàn đại biểu quốc gia VN phát biểu trong hội nghị San Francisco gồm 50 nước tham gia: “Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất

cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa Hai quần đảo này luôn luôn là một phần của Việt Nam”22 đều được các đoàn tán đồng Hiệp định Geneva ( 1954) được kí kết, Việt Nam chia làm hai miền lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến Việc chia

20 Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa tư liệu và sự thật lịch sử, Sđd, tr 294

21 Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa tư liệu và sự thật lịch sử, Sđd, tr 300

22 Toàn văn Tuyên bố của Thủ tướng Trần Văn Hữu được in trong Tạp chí France – Asie số 66-67

Ngày đăng: 20/04/2022, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w