1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

88 64 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Lo Âu, Trầm Cảm Ở Nhân Viên Của Hai Trung Tâm Y Tế Tại Hà Nội Năm 2021 Và Một Số Yếu Tố Liên Quan
Tác giả Lê Thanh Diệu Huyền
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Bạch Ngọc
Trường học Đại học Thăng Long
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG LÊ THANH DIỆU HUYỀN THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG HÀ NỘI – 2022 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG KHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE BỘ MÔN Y TẾ CÔNG CỘNG LÊ THANH DIỆU HUYỀN THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Chuyên ngành Y TẾ CÔNG CỘNG Mã số 8 72 07 01 LUẬN VĂN.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

LÊ THANH DIỆU HUYỀN

THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ

YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE

BỘ MÔN: Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ THANH DIỆU HUYỀN

THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ

YẾU TỐ LIÊN QUAN

Chuyên ngành : Y TẾ CÔNG CỘNG

Mã số : 8 72 07 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN BẠCH NGỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, em xin tri ân và gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn khoa học của em, PGS.TS Nguyễn Bạch Ngọc, một người cô tâm huyết, luôn nhiệt tình chỉ dạy, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Những điều em học được không chỉ là kiến thức, kinh nghiệm mà còn phong cách, thái độ làm việc đầy tích cực của cô Chính những điều đó đã truyền cảm hứng cho em, giúp em học tập và làm việc tốt hơn

Em cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo Bộ môn

Y tế Công cộng, trường Đại học Thăng Long đã trực tiếp giảng dạy, đóng góp những ý kiến quý báu cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo Trung tâm y tế Quận Thanh Xuân và Trung tâm Y tế Thị xã Sơn Tây đã ủng hộ và tạo những điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ, nhân viên của hai Trung tâm, là đối tượng nghiên cứu của đề tài, đã hỗ trợ cung cấp thông tin đầy đủ để em có thể thực hiện tốt nhất đề tài này

Cuối cùng em xin cảm ơn ba, mẹ, các anh chị em trong gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh ủng hộ, chia sẽ và hỗ trợ em trong suốt thời gian học tập và làm khóa luận tại trường Đại học Thăng Long

Em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2021

Học viên

Lê Thanh Diệu Huyền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi : - Phòng Sau Đại học - Trường Đại học Thăng Long

- Bộ môn Y tế Công cộng - Trường đại học Thăng Long

- Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp thạc sĩ khóa 8 Tên em là Lê Thanh Diệu Huyền - Học viên lớp Cao học Y tế công cộng 8.1, khóa 8- Trường Đại học Thăng Long

Em xin cam đoan các số liệu trong luận văn này là có thực, kết quả trung thực, chính xác và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào

Em xin cam đoan đề tài luận văn: “Thực trạng lo âu, trầm cảm ở nhân viên

của hai Trung tâm Y tế tại Hà Nội năm 2021 và một số yếu tố liên quan” là công

trình nghiên cứu của riêng em, do chính bản thân em thực hiện, tất cả số liệu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có điều gì sai trái em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2021

Học viên

Lê Thanh Diệu Huyền

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBYT Cán bộ y tế

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

DASS Thang đánh giá trầm cảm, lo âu, stress

(Depression, Anxiety and Stress Scale) GAD-7 Thang đánh giá lo âu (General Anxiety Disorder-7) KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình

NVYT Nhân viên y tế

TCYTTG Tổ chức Y tế thế giới (World health Organization)

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Lo âu, trầm cảm 3

1.1.1 Một số khái niệm 3

1.1.2 Nguyên nhân gây ra lo âu, trầm cảm 4

1.1.3 Các dấu hiệu, triệu chứng của lo âu, trầm cảm 6

1.1.4 Hậu quả của lo âu, trầm cảm 6

1.2 Một số phương pháp nghiên cứu lo âu, trầm cảm 7

1.2.1 DASS 21 và DASS 42 7

1.2.2 Bảng hỏi nội dung công việc của Karasek 8

1.2.3 Thang đánh giá lo âu của Zung (SAS): 8

1.2.4 Thang đánh giá trầm cảm của Beck 9

1.2.5 Thang đánh giá trầm cảm PHQ–9 và thang đánh giá lo âu GAD-7 9

1.3 Nghiên cứu về lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế 10

1.3.1 Nghiên cứu về lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế trên thế giới 10

1.3.2 Nghiên cứu về lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế tại Việt Nam 12

1.4 Các yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở nhân viên y tế 14

1.5 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu 15

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 19

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 19

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 19

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn 19

Trang 7

2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá 20

2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu 20

2.3.2 Tiêu chí đánh giá 24

2.4 Phương pháp thu thập thông tin 24

2.4.1 Công cụ thu thập thông tin 24

2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin 24

2.4.3 Quy trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu 25

2.5 Xử lý và phân tích số liệu 27

2.6 Sai số và khống chế sai số 27

2.7 Đạo đức nghiên cứu 27

2.8 Hạn chế của đề tài 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 29

3.2 Thực trạng lo âu, trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 32

3.3 Một số yếu tố liên quan tới lo âu, trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu 40

3.3.1 Một số yếu tố liên quan tới lo âu ở đối tượng nghiên cứu 40

3.3.2 Một số yếu tố liên quan tới trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu 46

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 53

4.1 Thực trạng lo âu, trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu 54

4.2 Phân tích một số yếu tố liên quan tới tình trạng lo âu, trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 59

4.2.1 Một số yếu tố cá nhân liên quan tới tình trạng lo âu, trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 59

4.2.2 Một số yếu tố công việc liên quan tới tình trạng lo âu, trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 60

KẾT LUẬN 65

KHUYẾN NGHỊ 67

Trang 8

Bảng 3.9 Mức độ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo đặc thù công việc ……… 37 Bảng 3.10 Mức độ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm cá nhân … 38 Bảng 3.11 Mức độ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu theo chuyên môn……… 39 Bảng 3.12 Mức độ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu theo một số đặc điểm vị

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa các yếu tố về thời gian làm việc với tình trạng lo

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa mức thu nhập hàng tháng của gia đình với tình

Trang 9

trạng lo âu của NVYT ……… ……… 44 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa các yếu tố về vị trí việc làm với tình trạng lo âu

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa các yếu tố về môi trường làm việc với tình trạng lo

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa các yếu tố về sự hài lòng với công việc với tình

trạng lo âu của NVYT ……… ……… 46 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với tình trạng trầm cảm của

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa các yếu đặc điểm chuyên môn với tình trạng trầm

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa các yếu thâm niên công tác với tình trạng trầm

Bảng 3.25 Mối liên quan giữa các yếu tố về thời gian làm việc với tình trạng

Bảng 3.26 Mối liên quan giữa mức thu nhập hàng tháng của gia đình với tình

trạng trầm cảm của NVYT ……… ……… 50 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa các yếu tố về vị trí việc làm với tình trạng trầm

Bảng 3.28 Mối liên quan giữa các yếu tố về môi trường làm việc với tình trạng

Bảng 3.29 Mối liên quan giữa các yếu tố về sự hài lòng với công việc với tình

trạng trầm cảm của NVYT ……… ……… 52

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức y tế Thế Giới định nghĩa về sức khỏe: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải là chỉ không có bệnh hay tật” [47] Có thể thấy rằng, sức khỏe tinh thần là phần không thể thiếu của sức khỏe nói chung, được đánh giá ngang hàng và có mối liên quan chặt chẽ với sức khỏe thể chất và xã hội Năm 2012, Tổ chức y tế Thế Giới đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe tinh thần: “Sức khỏe tinh thần là một trạng thái sức khoẻ trong đó mỗi cá nhân nhận ra khả năng của chính mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường của cuộc sống, có thể làm việc hiệu quả và thành công, và có thể đóng góp cho cộng đồng của mình” [47]. Như vậy, sức khỏe tinh thần có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống cảm xúc lành mạnh của con người, là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công việc và sức khỏe của người lao động

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các áp lực đến từ công việc là không thể tránh khỏi Bên cạnh dó, xuất hiện nhiều vấn đề khác như biến đổi khí hậu, bất ổn địa chính trị, bệnh mới xuất hiện… Các rối lọan sức khỏe tinh thần đang có xu hướng tăng đáng kể ở các quốc gia phát triển và đang phát triển

Tại Việt Nam, những năm gần đây, vấn đề căng thẳng nghề nghiệp cũng đã được quan tâm và chú trọng nhiều hơn Đã có thêm nhiều nghiên cứu về sức khỏe tinh thần của người lao động được thực hiện ở các ngành nghề khác nhau, đặt biệt là về vấn đề lo âu, trầm cảm Các nghiên cứu được tiến hành cho kết quả mức độ lo âu, trầm cảm khá cao ở một số ngành nghề, trong đó có nhân viên y tế

Ngành y tế nói chung và hệ thống y tế dự phòng nói riêng đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân Nhiều nghiên cứu đã chỉ

ra rằng các nhân viên y tế có nguy cơ bị lo âu, trầm cảm cao hơn nhiều so với các ngành nghề khác Các rối loạn tâm thần của nhân viên y tế gây ra các hậu quả như kiệt sức, nhân viên có ý định chuyển công tác, giảm sự hài lòng của người bệnh và mắc nhiều lỗi trong quá trình chẩn đoán, điều trị, chăm sóc [27]

Trung tâm Y tế quận Thanh Xuân và Trung tâm Y tế Thị xã Sơn Tây trực

Trang 12

thuộc Sở Y tế Hà Nội, có chức năng cung cấp dịch vụ chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và các dịch vụ y tế khác Đặc biệt từ đầu năm 2020, sự xuất hiện của đại dịch Covid -19 đã mang đến một thách thức lớn cho hệ thống y tế toàn cầu nói chung cũng như hệ thống

y tế tại Việt Nam nói riêng Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, các Trung tâm Y tế trên địa bàn của thủ đô đã phải huy động mọi nguồn lực, tập trung, nỗ lực, khắc phục và vượt qua các khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch để hoàn thành các nhiệm vụ công tác, đặc biệt là trong công tác phòng chống dịch bệnh

Năm 2020 đã khiến tất cả cán bộ viên chức của Trung tâm Y tế quận Thanh Xuân và Trung tâm Y tế Thị xã Sơn Tây vừa phải nỗ lực ngăn chặn dịch Covid -19, vừa phải luôn trong tư thế sẵn sàng chống dịch Những yếu tố đó có thể đã ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của các nhân viên y tế, gây ra căng thẳng về cả mặt thể chất và tinh thần Tuy nhiên, lại chưa có nghiên cứu nào được thực hiện ở hai Trung tâm về vấn đề này

Chính vì những lý do trên, đề tài: “Thực trạng lo âu, trầm cảm ở nhân

viên của hai Trung tâm Y tế tại Hà Nội năm 2021 và một số yếu tố liên quan”

được thực hiện với các mục tiêu sau:

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Đánh giá thực trạng lo âu, trầm cảm ở nhân viên của Trung tâm Y tế quận Thanh Xuân và Trung tâm Y tế Thị xã Sơn Tây, Hà Nội năm 2021

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm của đối tượng nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.1.2 Lo âu

Lo là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người trước những mối đe dọa, khó khăn, thử thách mà nhận thức được của một người với tâm sinh lý bình thường, đó là cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan toả cùng các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó Lo âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe doạ từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể (những khó khăn, thử thách, đe doạ của tự nhiên hoặc xã hội), từ đó giúp con người tìm

ra được các giải pháp phù hợp để tồn tại và phát triển [18]

1.1.1.3 Trầm cảm

Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG): “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn rầu, mất sự thích thú hoặc khoái cảm, cảm giác tội lỗi hoặc giá trị bản thân thấp, rối loạn giấc ngủ, ăn uống và kém tập trung” [6]

Theo bảng phân loại tâm thần lần thứ 4 của hiệp hội tâm thần học Mỹ (DSM– IV, 1984): “Trầm cảm là trạng thái rối loạn cảm xúc, biểu hiện bằng giảm khí sắc, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động, phổ biến là tăng sự mệt mỏi sau một số cố gắng nhỏ, tồn tại trong một khoảng thời gian kéo dài, ít nhất là hai tuần” [9]

Trầm cảm là một rối loạn khí sắc thường gặp trong các rối loạn tâm thần

Nó là một tình trạng buồn chán, giảm hứng thú quá mức và kéo dài, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động trong cuộc sống như công việc/học tập, gia đình và xã

Trang 14

hội Là rối loạn tâm thần có thể điều trị được [2]

Với các khái niệm trên, trầm cảm được xem xét biểu hiện ở các mặt: cảm xúc, nhận thức, cơ thể và hành vi

1.1.1.4 Nhân viên y tế

Theo TCYTTG (2006), nhân viên y tế là tất cả những người tham gia vào những hoạt động mà mục đích là nhằm nâng cao sức khỏe của người dân Nói chính xác, theo nghĩa này thì người mẹ chăm sóc con ốm và những người tình nguyện trong lĩnh vực y tế cũng bao gồm trong nguồn nhân lực y tế [1]

1.1.2 Nguyên nhân gây ra lo âu, trầm cảm

Giống như các rối loạn tâm thần khác, mặc dù nhiều nghiên cứu đã cung cấp một số dữ liệu nhưng cho đến nay khoa học vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác gây ra lo âu, trầm cảm Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra được các yếu tố liên quan đến các rối loạn đó Bao gồm các yếu tố sau [5, 25, 39]:

- Các đặc điểm cá nhân: tuổi, giới tính, cân nặng, tình trạng bệnh tật, tính cách, suy nghĩ, trình độ học vấn, lối sống…

- Gia đình: di truyền, số người trong gia đình, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, tình trạng về kinh tế, vật chất…

- Môi trường xã hội: an ninh trật tự, tình hình chính trị, văn hoá, kinh tế…

- Nơi làm việc: các mối quan hệ trong công việc, văn hoá tổ chức, môi trường làm việc, cơ sở vật chất, trang thiết bị, khối lượng công việc, các nguy cơ gặp phải trong công việc, vị trí, chức danh…

- Môi trường tự nhiên: thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, nhiệt độ, giao thông, bụi, sự ô nhiễm…

Viện nghiên cứu Sức khỏe Tâm thần Quốc Gia Việt Nam (NIMH) chỉ ra rằng các yếu tố nguy cơ đối với rối loạn lo âu có thể bao gồm: là nữ giới; điều kiện kinh tế khó khăn; bị ly hôn hoặc góa bụa; tiếp xúc với các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống… Nếu không được điều trị rối loạn lo âu có thể dẫn đến các tình huống trầm trọng hơn về triệu chứng Điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng làm việc của chủ thể [40]

Nguyên nhân trầm cảm thường không rõ ràng chính xác Trầm cảm có thể

Trang 15

gây ra bởi các yếu tố tâm lý hoặc do gặp phải những biến cố trong đời sống của mình Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát, gây ảnh hưởng nhiều đến công việc hàng ngày Nghiêm trọng nhất là trầm cảm có thể dẫn tới tự tử và hành vi tự tử Khi mức độ trầm cảm là nhẹ thì có thể điều trị mà không cần dùng tới thuốc nhưng khi trầm cảm là vừa hoặc nặng thì cần phải kết hợp giữa điều trị thuốc và phương pháp tâm lý trị liệu [46]

Theo Tổ chức Sức khỏe tâm thần (Anh Quốc), trầm cảm có thể xảy ra đột ngột do những biến cố trong cuộc sống như thất nghiệp, mất mát người thân, các vấn đề gia đình hoặc các sự kiện thay đổi cuộc sống khác

Các rối loạn tâm thần trong lao động là kết quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa người lao động và điều kiện lao động Trong một nghiên cứu của Viện Y học lao động và An toàn của Mỹ đã nhận thấy nếu cá nhân đóng vai trò quan trọng trong nguyên nhân gây ra RLTT thì điều kiện lao động cũng là một yếu tố không thể thiếu Một số điều kiện gây ra RLTT trong lao động như:

- Nhiệm vụ: làm việc nặng nhọc, không được giải lao thường xuyên, thời gian làm việc kéo dài và làm việc ca kíp, công việc đòi hỏi trách nhiệm cao nhưng quyền lợi thấp, không sử dụng đúng kĩ năng…

- Quản lý: thiếu sự tham gia của người lao động trong giải quyết cộng việc, giáo dục truyền thông nghèo nàn, thiếu chính sách gia đình-tình bạn…

- Quan hệ cá nhân với cá nhân: môi trường xã hội nghèo nàn và thiếu sự giúp đỡ lẫn nhau hoặc sự giúp đỡ của đồng nghiệp và lãnh đạo

- Vai trò công việc: có mâu thuẫn hoặc không hiểu rõ tính chất của công việc, trách nhiệm quá lớn, chịu áp lực chỉ đạo của nhiều người

- Công việc: công việc thiếu an toàn, không có cơ hội tiến thủ, thay đổi quy trình làm việc mà người lao động không được chuẩn bị từ trước

- Môi trường lao động: điều kiện vi khí hậu nơi làm việc xấu, nguy hại đến sức khoẻ như quá đông người, ồn, ô nhiễm không khí

Trong những thập kỉ vừa qua, các công đoàn ngành nghề, các tổ chức khoa học, bao gồm các Văn phòng Lao động quốc tế có mối quan tâm ngày càng tăng

về tác động của RLTT đối với NVYT Nhiều nghiên cứu cho thấy NVYT có tỉ lệ lạm dụng thuốc và tự tử cao hơn so với ngành nghề khác, NVYT có tỉ lệ

Trang 16

stress, trầm cảm và lo âu cao liên quan đến công việc căng thẳng Các RLTT của NVYT góp phần đưa đến các hậu quả như kiệt sức, vắng mặt, nhân viên có ý định chuyển công tác, giảm sự hài lòng của người bệnh và mắc nhiều lỗi trong quá trình chẩn đoán, điều trị, chăm sóc [36]

Một số điều kiện phổ biến liên quan đến đặc thù ngành góp phần gây ra RLTT cho NVYT như [36]:

- Mức biên chế đầy đủ

- Khối lượng công việc quá nhiều

- Thời gian làm việc kéo dài

- Mức độ ổn định của công việc

- Mức độ rõ ràng của công việc

- Mối quan hệ với người bệnh: thái độ của người bệnh và người nhà người bệnh, sự mong đợi của người bệnh…

- Tiếp xúc với các chất lây nhiễm và độc hại

- Sự căng thẳng khác nhau giữa các ngành nghề chăm sóc sức khoẻ, thậm chí trong cùng một ngành nghề lại tuỳ thuộc vào nhiệm vụ

1.1.3 Các dấu hiệu, triệu chứng của lo âu, trầm cảm

Các dấu hiệu của lo âu, trầm cảm bao gồm những bất thường về thể chất, cảm xúc, nhận thức và hành vi Có thể là sự kiệt sức, tự dưng thèm ăn hoặc bỏ

ăn, đau đầu rối loạn giấc ngủ cùng những biểu hiện khó chịu khác Lo âu còn đi kèm với cảm giác bất an, giận dữ hoặc sợ hãi Người bị lo âu, trầm cảm thường

có các biểu hiện thực thể (như tăng nhịp tim, tăng huyết áp, nhức đầu, mệt mỏi, thở ngắn hơi, ra mồ hôi ) Biểu hiện về cảm xúc (như cảm thấy khó chịu, dễ cấu gắt, buồn bã, chán nản, thờ ơ, không thân thiện, sa sút tinh thần…) Có những hành vi như lạm dụng chất kích thích (rượu, bia, thuốc lá…) dễ gây hấn, bất cần đời, xáo trộn các sinh hoạt hàng ngày (ăn uống, giấc ngủ), mất tập trung, hay quên, xa lánh mọi người, có vấn đề về tình dục… Nếu lo âu, trầm cảm kéo dài sẽ tổn hại đến hệ miễn dịch và các chức năng sinh lý khác, làm suy yếu khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể cũng như sự xâm nhập của vi khuẩn và làm tăng nguy cơ tử vong [14]

1.1.4 Hậu quả của lo âu, trầm cảm

Trang 17

Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu cho thấy lo âu, trầm cảm không những tác động xấu cho cá nhân mà còn cho xã hội Lo âu, trầm cảm được xem là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất của nhiều căn bệnh như:

- Bệnh tâm thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn phiền, cáu gắt, loạn trí nhớ, trầm cảm

- Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực

- Bệnh tiêu hóa: viêm loét dạ dày - tá tràng, chảy máu tiêu hóa, thủng dạ dày, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn, ăn không tiêu, hơi thở hôi, rối loạn chức năng đại tràng

- Bệnh tình dục: giảm ham muốn, di tinh, mộng tinh, giao hợp đau

- Bệnh phụ khoa: rối loạn kinh nguyệt, rối loạn nội tiết

- Bệnh cơ khớp: co cứng cơ, đau lưng, đau khớp, cảm giác kiến bò ở ngón tay, máy mắt, chuột rút, run rẩy

- Toàn thân: suy sụp, mệt mỏi, dễ mắc các bệnh dị ứng hay bệnh truyền nhiễm

- Về mặt tinh thần Các biểu hiện của nó là: Hay quên, mất trí nhớ, căng thẳng, lo sợ Mất ngủ, run rẩy… [14], [22], [24], [25]

1.2 Một số phương pháp nghiên cứu lo âu, trầm cảm

Trên thế giới hiện nay có nhiều thang đo đánh giá lo âu, trầm cảm, trong đó một số công cụ phổ biến được dùng nhiều trong các nghiên cứu:

1.2.1 DASS 21 và DASS 42

DASS (Depression Anxiety Stress Scales) là thang điểm đánh giá cả ba tình trạng trầm cảm, lo âu và căng thẳng được phát triển bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học New South Wales của Úc bao gồm 2 phiên bản DASS 42 và phiên bản rút gọn DASS 21 Thang đo DASS 42 và DASS 21 kết hợp được cả hai yếu tố lâm sàng và xã hội, là những yếu tố cần thiết cho một nghiên cứu Các nội dung được đề cập trong DASS không hẳn có ý nghĩa chẩn đoán như các triệu chứng được đưa ra trong hướng dẫn phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (ICD

Trang 18

10), mà mục đích của nó là đưa ra một thực trạng trong quần thể nghiên cứu giúp cho nhà quản lý nhân lực có những chính sách để cải thiện, nâng cao hiệu suất nguồn nhân lực Đồng thời khuyến cáo những đối tượng nghiên cứu nếu gặp phải những vấn đề được liệt kê trong DASS một cách thường xuyên và ở mức độ nặng thì nên tìm sự giúp đỡ từ các chuyên gia tâm lý [42]

Trong thang điểm DASS 42 mỗi 14 mục tạo nên 1 thang đo riêng cho từng tình trạng trầm cảm, lo âu hoặc căng thẳng Đối với DASS 21 mỗi 7 mục tạo nên 1 thang đo riêng cho từng tình trạng [30] Mục đích chính của thang đo DASS là xác định các khía cạnh của rối loạn cảm xúc Nó hiệu quả đối với các mẫu trên 16 tuổi Các thang DASS là các rối loạn cảm xúc tự đánh giá chính vì vậy nó là một trong những test sàng lọc hiệu quả đối với tình trạng trầm cảm, lo

âu và căng thẳng của đối tượng nghiên cứu Điều này góp phần tích cực trong chẩn đoán lâm sàng của các bác sĩ Các thang DASS cũng được khuyên có thể sử dụng kết hợp các thang đánh giá khác Hiện nay thang DASS đã được Việt Hóa và sử dụng khá rộng rãi tại Việt Nam, trong đó có sử dụng để đánh giá tình trạng căng thẳng nghề nghiệp

1.2.2 Bảng hỏi nội dung công việc của Karasek

Bảng hỏi nội dung công việc (Job contend questionnaire) trong đó có đánh giá về các căng thẳng do công việc gây ra Bảng hỏi gồm 33 câu hỏi với số điểm từ 1 đến 4 tương ứng với các mức độ tăng dần cho mỗi câu mô tả mô hình căng thẳng của Karasek Bảng hỏi này đánh giá các phương diện: áp lực thể chất, quyền quyết định thời gian và nhịp độ công việc, quyền quyết định về mức độ phức tạp của công việc, quyền quyết định về thứ bậc trách nhiệm, sự ủng hộ

về mặt xã hội thông qua đánh giá mối quan hệ người lao động với đồng nghiệp và cấp trên Bảng câu hỏi này đã được Việt Hóa và bắt đầu được sử dụng nhiều tại các nghiên cứu về căng thẳng nghề nghiệp tại Việt Nam [29]

1.2.3 Thang đánh giá lo âu của Zung (SAS):

Trang 19

SAS là trắc nghiệm đánh giá mức độ lo âu đo cả người tiến hành trắc nghiệm và người được trắc nghiệm thực hiện Bệnh nhân phải đọc thông viết thạo, được giải thích rõ ràng cách thực hiện trắc nghiệm ngồi trong phòng thoáng mát yên tĩnh Bệnh nhân đọc kỹ từng đề mục (20 đề mục) đối chiếu với trạng thái của bản thân trong vòng 1 tuần trở lại đây và đánh số phù hợp nhất vào cột bên phải: 1 – không có, 2 – đôi khi, 3 – có trong phần lớn thời gian, 4 – có trong hầu hết hoặc tất cả thời gian Tổng điểm sẽ đi từ 20-80 Thường được tính ra điểm tương ứng từ 25% đến 100% Từ 40 điểm trở lên là có rối loạn lo âu [14]

1.2.4 Thang đánh giá trầm cảm của Beck

Thang đánh giá trầm cảm của Beck ứng từ 25% đến 100% Từ 40 điểm trở lên Thang đánh giá là một công cụ đánh giá chủ quan rối loạn trầm cảm được sử dụng nhiều nhất trong nghiên cứu lâm sàng tâm thần học và dược lý, cũng như trong lĩnh vực đa khoa và cả trong dịch tễ học, mang lại những dữ liệu sâu sắc về tình trạng trầm cảm Đây là một thang được đánh giá là một công cụ cho phép các nhà lâm sàng sử dụng những ngưỡng điểm khác nhau về mức độ nặng của rối loạn trầm cảm đã được Beck khuyến cáo như sau:

+ Điểm tổng cộng đến dưới 13 điểm: không có trầm cảm

+ Điểm tổng cộng từ 14-19 điểm: trầm cảm nhẹ

+ Điểm tổng cộng từ 20-29 điểm: trầm cảm vừa

+ Điểm tổng cộng từ 30 điểm trở lên: trầm cảm nặng

Như vậy, ngưỡng điểm tổng cộng của thang Beck là 14 được nhiều tác giả chấp thuận, để xác định bệnh nhân có biểu hiện bệnh lý rối loạn trầm cảm Có thể nói đây là một công cụ được các bệnh nhân chấp nhận tốt và sử dụng dễ dàng, vì nó ngắn ngọn [4] [14]

1.2.5 Thang đánh giá trầm cảm PHQ–9 và thang đánh giá lo âu GAD-7

Bài kiểm tra trầm cảm PHQ-9 được hai bác sĩ Spitzer Williams và Kroenke hợp tác tạo nên Hệ thống nội dung bài kiểm tra trầm cảm PHQ-9 bao gồm 9 câu hỏi Mỗi câu hỏi có sẵn 4 đáp án để người thực hiện bài test lựa chọn

Trang 20

Điểm của các câu hỏi dao động từ 0 (không có), 1 (vài ngày), 2 (hơn một nửa số ngày), và 3 (hầu như hàng ngày) Tổng điểm dao động từ 0 đến 27 Sau khi thực hiện bài kiểm tra, cộng dồn tổng điểm đạt được rồi sau đó tra kết quả theo thang điểm Tổng điểm nhỏ hơn 5 điểm là không có dấu hiệu trầm cảm, bắt đầu từ 5 điểm là đã có dấu hiệu trầm cảm Trên 19 điểm là tình trạng trầm cảm nặng nhất Theo đánh giá, bài kiểm tra trầm cảm PHQ-9 được thiết kế nhằm sàng lọc và hỗ trợ theo dõi tình trạng đáp ứng điều trị của người bệnh Bảng PHQ-9 được sử dụng như là một công cụ kép, vừa phát hiện trầm cảm và vừa phản ánh được mức độ nặng của trầm cảm Nhiều nghiên cứu đánh giá độ giá trị và độ tin cậy của nó trong việc chẩn đoán và đánh giá độ nặng và theo dõi đáp ứng điều trị đã được công bố [17]

GAD-7 là một bảng câu hỏi gồm 7 câu hỏi được phát triển để sàng lọc Rối loạn Lo âu Chung (GAD) và đánh giá mức độ nghiêm trọng của nó GAD-7 yêu cầu những người tham gia đánh giá tần suất họ gặp phải 7 triệu chứng cốt lõi về lo âu trong 2 tuần Các danh mục phản hồi là “hoàn toàn không có”, “vài ngày”, “hơn nửa số ngày trong tuần” và “gần như mọi ngày”, được ghi tương ứng là 0, 1, 2 và 3 Tổng điểm của GAD-7 nằm trong khoảng từ 0 đến 21 Trong số các bệnh nhân chăm sóc ban đầu và người dân nói chung, GAD-7 đã chứng minh được tính nhất quán tốt, độ tin cậy cao trong các nghiên cứu được thực hiện tại các phòng khám chăm sóc sức khỏe ban đầu [32]

Căn cứ theo đối tượng và địa điểm nghiên cứu, tôi quyết định sử dụng thang đánh giá trầm cảm PHQ–9 và thang đánh giá lo âu GAD-7 do thang đo có tính chất phù hợp với mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, đồng thời cũng dễ tiếp cận, có độ tin cậy cao và đã được việt hóa để đo trạng thái lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế

1.3 Nghiên cứu về lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế

1.3.1 Nghiên cứu về lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế trên thế giới

Trên thế giới, các nghiên cứu về lo âu, trầm cảm ở nhân viên y tế là khá phổ biến Đặc biệt là trong đợt dịch Covid-19, vấn đề sức khỏe tinh thần của

Trang 21

nhân viên y tế càng được quan tâm hơn Nghiên cứu của Nobuyasu Awano (2020) về “Lo âu, trầm cảm và khả năng phục hồi của nhân viên y tế ở Nhật Bản trong đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19” được thực hiện trên 848 nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế Chữ thập đỏ Nhật Bản, sử dụng thang đánh giá rối loạn lo âu GAD-7 và Thang đo trầm cảm của Trung tâm nghiên cứu dịch tễ học (CES-D), kết quả cho thấy có 10% người tham gia có biểu hiện lo âu từ trung bình đến nặng và tỉ lệ trầm cảm của ĐTNC là 27,9% [41]

Nghiên cứu của 03 tác giả Sverre Urnes Johnson, Omid V Ebrahimi, Asle Hoffart (2020) sử dụng bộ câu hỏi đánh giá trầm cảm PHQ-9 và thang đánh giá rối loạn lo âu GAD-7, được thực hiện trên 1773 nhân viên y tế tuyến đầu tại Na

Uy trong đợt bùng phát dịch COVID-19, nghiên cứu cho kết quả 21,5% NVYT có biểu hiện lo âu ở mức vừa và nặng; 20,5% NVYT có biểu hiện trầm cảm [45]

Nghiên cứu của Mark.G và cộng sự năm 2011 trên 870 điều dưỡng ở miền nam nước Anh cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp trong nhóm này là 27,3% [36]

Nghiên cứu của Creedy D.K (2017) sử dụng thang đo là DASS 21 đã khảo sát tình trạng stress, lo âu, trầm cảm trên 1037 điều dưỡng/nữ hộ sinh tại Australia, cho kết quả tỉ lệ stress là 22,1%, 17,3% trầm cảm và 20,4% lo âu Nghiên cứu cũng đưa ra ý kiến rằng các RLTT của NVYT có liên quan nhiều đến các đặc điểm công việc, tuy nhiên nghiên cứu chưa đi vào phân tích kĩ các yếu tố này [32]

Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỉ lệ căng thẳng ở bác sĩ, điều dưỡng dao động từ 51,8% đến 62,96% bao gồm:

Nghiên cứu của BauerJ và cộng sự năm 2016 trên 354 bác sĩ ở các Bệnh viện Đức cho thấy tỉ lệ bác sĩ có căng thẳng là 52% [29]

Trang 22

Nghiên cứu của Beschoner P và cộng sự năm 2016 nhằm đánh giá các liên quan về giới tính đến tình trạng trầm cảm, căng thẳng trong công việc của các bác sĩ cho thấy tỉ lệ bác sĩ mắc căng thẳng là 51,8% [30]

1.3.2 Nghiên cứu về lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần bắt đầu được chú ý trong những năm gần đây, tuy nhiên các nghiên cứu về lo âu và trầm cảm của NVYT vẫn còn hạn chế, chủ yếu là các nghiên cứu về stress nghề nghiệp Đồng thời các nghiên cứu chủ yếu được thực hiện trên nhóm trong hệ điều trị, các nghiên cứu thực hiện ở nhóm trong hệ dự phòng vẫn còn hạn chế

Nghiên cứu của Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn Thị Hương Liên trên nhóm 600 điều dưỡng tại bệnh viện Việt Đức Hà Nội năm 2015 cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp chỉ ở mức 18,5% Nghiên cứu sử dụng thang đo DASS21 của quỹ tâm lý Úc [20]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Liên (2016) cho kết quả nhân viên Y tế làm việc tại trung tâm phòng chống HIV/AIDS có tỷ lệ stress ở mức cao là 22,2%; mức trung bình là 66,7% và mức thấp là 11,1% [10]

Các nghiên cứu mới nhất năm 2017 và 2018 cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp dường như có xu hướng gia tăng Nghiên cứu của Trần Văn Thơ năm 2017 về tình trạng căng thẳng của nhóm điều dưỡng viên bệnh viện tại bệnh viện Nhi Trung Ương cho thấy có đến 42,5% điều dưỡng viên lâm sàng có tình trạng căng thẳng [19] Trong khi đó, tỷ lệ căng thẳng của nhóm bác sĩ công tác tại bệnh viện E Hà Nội theo nghiên cứu của Lê Văn Tuấn là 25% cũng được sử dụng thang đo DASS 21 [24] Nghiên cứu của Lê Thị Huệ năm 2018 ở nhân viên y tế bệnh viện phong Tuy Hòa cho thấy tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp của Bác sĩ và điều dưỡng Bệnh viện Phong – Da liễu Trung ương Quy Hòa năm

2018 là 6,4% [7]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Mạnh Tuân và cộng sự (2018) sử dụng thang đo DASS 21, được tiến hành tại BV Trưng Vương nhằm đánh giá tình

Trang 23

trạng stress, trầm cảm, lo âu của toàn bộ 650 NVYT tại BV Kết quả cho thấy tỉ lệ stress là 10,5%, trong đó, có 6,9% ở mức độ vừa, 3,4% mức độ nặng và 0,2% mức độ stress rất nặng Có 20,8% mẫu nghiên cứu có biểu hiện trầm cảm, mức độ vừa chiếm tỉ lệ 15,4%, 1,9% trầm cảm ở mức độ rất nặng Tỉ lệ lo âu ở NVYT ghi nhận trong nghiên cứu là 31,5%, chủ yếu là lo âu mức độ vừa với 21,8%, có khoảng 4,6% mẫu nghiên cứu có tình trạng lo âu ở mức độ rất nặng [23]

Nghiên cứu của Vũ Bá Quỳnh (2018) về “Thực trạng stress của điều dưỡng khoa ngoại, Bệnh viện trung ương quân đội 108” cho thấy tỷ lệ trầm cảm

ở các đối tượng này là 29,3%, lo âu là 43% và stress là 33,7% Nữ điều dưỡng có tỷ lệ trầm cảm (31,4%), lo âu (46,2%) và stress (35,9%) cao hơn so với nam điều dưỡng (tương ứng 33,8%, 23,4% và 23,7%) Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress mức nặng và rất nặng tương ứng là 3,3%, 11,4% và 7,3% [15]

Nghiên cứu của Nguyễn Bạch Ngọc, Vũ Mai Lan (2019) về “Stress, trầm cảm, lo âu ở nhân viên điều dưỡng khối nội tại một bệnh viện hạng 1” cho kết quả tỷ lệ lo âu: 43,2%, trầm cảm: 24,5% [13]

Nghiên cứu về “Stress, trầm cảm, lo âu và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại Bệnh viên Nhi trung ương năm 2019” của Nguyễn Thị Minh Huyền và Nguyễn Bạch Ngọc cho kết quả tỷ lệ điều dưỡng có dấu hiệu stress, trầm cảm, lo âu lần lượt là: 23,6%; 27,4%; 41,6% Mức độ stress, trầm cảm và

lo âu nặng và rất nặng của các đối tượng nghiên cứu lần lượt là 10,5%, 14,0% và 56,6% Các đối tượng nữ có dấu hiệu stress, trầm cảm và lo âu (tỷ lệ lần lượt là 24,5%; 28,4% và 44,3%) cao hơn nam giới (tỷ lệ lần lượt là 20,5%; 24,1% và 32,5%) Nghiên cứu đã phân tích được một số yếu tố liên quan đến stress của đối tượng nghiên cứu, gồm:

Những điều dưỡng có trình độ học vấn trung cấp/cao đẳng có khả năng có dấu hiệu stress cao gấp 5,1 lần so với những điều dưỡng có trình độ sau đại học (p<0,05)

Những người không được hỗ trợ từ gia đình, bạn bè có khả năng mắc

Trang 24

stress cao gấp 2,5 lần những người được hỗ trợ từ gia đình, bạn bè (p<0,001)

Những người không hài lòng với công việc có khả năng mắc stress cao gấp 2,7 lần người hài lòng với công việc (p<0,01)

Nghiên cứu này chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa stress với các yếu tố tuổi tác, giới tính, thói quen uống rượu bia, thuốc lá, tần suất trực và thâm niên công tác

Nhìn chung các nghiên cứu trong nước và nhóm nghiên cứu tham khảo được giữa các đối tượng nghiên cứu có mức độ stress, lo âu, trầm cảm khác nhau NVYT có tỷ lệ stress trung bình khoảng 30-40% và đa số các nghiên cứu sử dụng bộ công cụ DASS 21 để đánh giá [8]

1.4 Các yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm ở nhân viên y tế

Nghiên cứu của Ngô Thị Kiều My và cộng sự (2014) tiến hành trên 370 điều dưỡng và hộ sinh khối lâm sàng BV Phụ Sản – Nhi Đà Nẵng, sử dụng bộ công cụ chuẩn DASS 21 của Lovibond để đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm Kết quả cho thấy tỉ lệ điều dưỡng, hộ sinh khối lâm sàng bị stress, lo âu, trầm cảm lần lượt là 18,1%, 33,2%, 18,4% Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy một số yếu tố liên quan với stress là công việc hiện tại chưa ổn định, diện tích nơi làm việc chật chội, quan hệ với cấp trên chưa tốt; các yếu tố liên quan với lo âu gồm không luyện tập thể dục, gặp biến cố cá nhân, tình trạng sức khoẻ không tốt, chưa công bằng trong đánh giá công việc; các yếu tố liên quan với trầm cảm bao gồm tình trạng sức khoẻ không tốt, chưa tự chủ trong công việc, ít tham gia hoạt động văn thể mỹ tại bệnh viện, quan hệ với cấp trên không tốt [12]

Kết quả phân tích hồi quy đa biến theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Mạnh Tuân và cộng sự (2018) tại BV Trưng Vương, xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến stress ghi nhận là việc kiêm nhiệm quản lý, áp lực công việc và công việc đơn điệu Đối với tình trạng trầm cảm, áp lực công việc cao và việc cảm thấy không hài lòng về nơi làm việc là 2 yếu tố tác động chính làm tăng tỉ lệ

Trang 25

trầm cảm sau khi phân tích đa biến Không hài lòng với môi trường làm việc, nơi làm việc và áp lực công việc cao là những nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tỉ lệ lo âu ở NVYT Đồng thời nghiên cứu cũng đi vào phân tích mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với tình trạng stress, lo âu, trầm cảm, tuy nhiên kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng không tìm thấy mối liên quan giữa stress, lo âu, trầm cảm với tuổi, giới, trình độ chuyên môn, tổng thu nhập bình quân hàng tháng [23]

Nghiên cứu của Nguyễn Bạch Ngọc, Vũ Mai Lan (2019) về “Stress, trầm cảm, lo âu ở nhân viên điều dưỡng khối nội tại một bệnh viện hạng 1” đã phân tích được một số yếu tố liên quan đến tình trạng stress ở đối tượng nghiên cứu, gồm không/hơi không hài lòng với cuộc sống gia đình (OR=3,24; 95%CI=1,252-8,422; p<0,05), thường xuyên đối mặt với cái chết của người bệnh (OR=1,801, 95%CI=1,047-3,099; p<0,05), thường xuyên bị bạo lực bệnh viện (OR=4,205, 95%CI=2,103-8,406; p<0,001), mức độ lắng nghe của cấp trên không tí nào/đôi khi (OR=2,275, 95%CI=1,306-3,962; p<0,05), bị stress công việc (OR=3,12, 95%CI: 1,789-5,453, p< 0,05), phản ứng cơ thể nhiều (OR=2,68; 95%CI: 1,121-6,429; p<0,05), ít được hỗ trợ của xã hội (OR=1,77; 95%CI: 1,030-3,046; p<0,05) [13]

Nghiên cứu của Vũ Bá Quỳnh (2018 ) đã xác định được một số yếu tố liên quan đến stress ở nhân viên điều dưỡng khối Ngoại bao gồm: Làm việc tiếp xúc với nguy cơ lây nhiễm bệnh cao (OR = 1,6, p< 0,05); tiếp xúc thường xuyên với tiếng ồn (OR = 1,9, p< 0,05), có nhiều áp lực trong công việc (OR = 2,6, p< 0,02), chăm sóc các ca bệnh nặng, phức tạp (OR = 2.1, p< 0,02), không có cơ hội thăng tiến (OR = 1,8, p< 0,02), không hài lòng với thu nhập (OR = 2,6, p< 0,001), không nghỉ phép cho mục đích nghỉ ngơi, du lịch (OR = 1,9, p< 0,01) [15]

1.5 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu

Quận Thanh Xuân nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam của Thủ đô Hà Nội có diện tích 9,2km2

gồm 11 phường Với dân số là 282,678người và mật độ dân số lớn thứ 2 của Hà Nội [3]

Trang 26

Thị xã Sơn Tây là cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 42 km về phía Tây bắc, Thị xã Sơn Tây có tổng diện tích tự nhiên là 113,46 km2, dân số khoảng 18 vạn người, được chia làm 15 đơn vị hành chính gồm 09 phường, 06 xã [3]

Trung tâm Y tế quận Thanh Xuân và Trung tâm Y tế Thị xã Sơn Tây trực thuộc Sở Y tế Hà Nội, có chức năng cung cấp dịch vụ chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và các dịch vụ y tế khác theo quy định của pháp luật

Đến nay, Trung tâm Y tế Thanh Xuân bao gồm 09 khoa/phòng và 11 trạm

y tế phường, Trung tâm Y tế Thị xã Sơn Tây bao gồm 09 khoa/phòng và 15 trạm

y tế xã/phường

Trang 27

Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức của Trung tâm Y tế quận/thị xã

- Khoa Kiểm soát bệnh

- Khoa Chăm sóc sức

khỏe sinh sản

-Khoa Xét nghiệm và

Chẩn đoán hình ảnh

TRUNG TÂM Y TẾ QUẬN/THỊ XÃ

- Phòng Hành chính -

Tổ chức – Tài vụ

Phòng Kế hoạch nghiệp vụ

Phòng Dân số KHHGĐ

- Các TYT xã/phường

GIÁM ĐỐC VÀ CÁC PHÓ GIÁM

ĐỐC

KHOA CHUYÊN

MÔN

PHÒNG CHỨC NĂNG

TYT XÃ/PHƯỜNG

Trang 28

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu

Lo âu, trầm cảm ở NVYT

Yếu tố cá nhân

- Sự rõ ràng trong phân công nhiệm vụ

- Tính chất ổn định trong công việc

- Khối lượng, nhịp độ công việc

- Hứng thú trong công việc

Môi trường làm việc

- Cơ sở vật chất

- Bảo hộ lao động

- Diện tích phòng làm việc

- Nguy cơ mắc bệnh

- Nguy cơ bị tổn thương bởi vật sắc nhọn

Các mối quan hệ

trong công việc

- Mối quan hệ

của lãnh đạo

- Mối quan hệ

đồng nghiệp tại

khoa/phòng

- Sự hợp tác của đồng nghiệp, người nhà, bạn bè trong công việc

Sự động viên khuyến khích trong phát triển nghề nghiệp

- Thu nhập

- Thu nhập phù hợp với công sức lao động

- Cơ hội học tập

- Sự thăng tiến trong công việc

- Công bằng trong đánh giá

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những cán bộ viên chức, công chức, lao động hợp đồng đang làm việc tại Trung tâm Y tế quận Thanh Xuân và Trung tâm Y tế Thị xã Sơn Tây

Tiêu chuẩn lựa chọn: Cán bộ, nhân viên y tế đang làm tại Trung tâm

Trung tâm Y tế quận Thanh Xuân và Trung tâm Y tế Thị xã Sơn Tây đồng ý tham gia nghiên cứu, có thời gian làm việc tại Trung tâm trên 6 tháng

Tiêu chuẩn loại trừ: Cán bộ, nhân viên y tế không đồng ý tham gia nghiên

cứu, cán bộ đang đi học xa, cán bộ nghỉ đẻ không tham gia được, cán bộ làm việc dưới 6 tháng tính đến thời điểm nghiên cứu

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Trung tâm Y tế quận Thanh Xuân và Trung tâm Y tế Thị xã Sơn Tây, Hà Nội

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 10 năm 2021

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

- n: cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu

Trang 30

- Z1-α/2: Hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95%, khi α=0,05 thì Z1-α/2=1,96

- p: Tỷ lệ NVYT có biểu hiện lo âu, trầm cảm lấy theo nghiên cứu của Quàng Mạnh Cường (2019) lần lượt là 57,4% và 41,2% [4]

- d : Sai số tuyệt đối lấy bằng 5%

Với các giá trị của tham số được chọn, tính theo công thức, cỡ mẫu tính theo tỷ lệ lo âu và trầm cảm lần lượt là 376 và 372, lấy cỡ mẫu lớn nhất là 376, cộng với 5% dự phòng, cỡ mẫu cần lấy là 395 người Thực tế đã điều tra 400 nhân viên

* Cách chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện tất cả các NVYT đáp ứng tiêu chuẩn chọn có mặt trong thời gian thu thập số liệu tại Trung tâm Y tế quận Thanh Xuân và Trung tâm Y tế Thị xã Sơn Tây Đã có 400 NVYT đồng ý tham gia nghiên cứu và điền thông tin vào phiếu điều tra

2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chí đánh giá

2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu

Bảng 2.1: Các biến số, chỉ số nghiên cứu

Tỷ lệ phần trăm các nhóm tình trạng hôn nhân

Trang 31

Biến số Loại biến Chỉ số Phương pháp

thu thập A5 Dân tộc Định tính,

Tỷ lệ phần trăm 4 nhóm:

trung cấp, cao đẳng đại học, sau đại học và khác

Tự điền

A7 Lĩnh vực

chuyên môn

Định tính Tỷ lệ phần trăm các nhóm

lĩnh vực chuyên môn

Tự điền

A8 Thâm niên

công tác

Định lượng, rời rạc

Trung bình số năm công tác của NVYT

Tỷ lệ các nhóm hợp đồng: 1 năm, không thời hạn và khác

Định lượng Trung bình số giờ làm việc

trong ngày của NVYT thời điểm trước dịch Covid-19

Định lượng Trung bình số giờ làm việc

trong ngày của NVYT thời điểm dịch Covid-19

Tự điền

Trang 32

Biến số Loại biến Chỉ số Phương pháp

thu thập A12 Mức thu

Trung bình thu nhập theo đầu người của gia đình NVYT/tháng

Tự điền

A13 Chức vụ tại

TTYT

Định tính Tỷ lệ giữa nhóm lãnh đạo và

A14 Nơi công tác Định tính Tỷ lệ các nhóm: Phòng chức

năng, khoa chuyên môn, các trạm y tế

Định tính Tỷ lệ giữa các nhóm tần suất

đi công tác thời điểm dịch

A16 Tần suất đi

công tác

(thời điểm

dịch

Covid-19)

Định tính Tỷ lệ giữa các nhóm tần suất

đi công tác thời điểm trước

Trang 33

Biến số Loại biến Chỉ số Phương pháp

thu thập A17 Tần suất gặp

các tình

huống thái

quá

Định tính Tỷ lệ giữa các nhóm tần suất

gặp các tình huống thái quá Tự điền

A18 Sự yêu thích

với công

việc

Định tính Tỷ lệ phần trăm giữa yêu

thích và không yêu thích công việc hiện tại

Tự điền

A19 Sự giúp đỡ

của đồng

nghiệp

Định tính Tỷ lệ phần trăm giữa có và

không có sự giúp đỡ hỗ trợ

của đồng nghiệp

A20 Sự hài lòng

với công

việc hiện tại

Định tính Tỷ lệ phần trăm giữa có và

không hài lòng với công việc hiện tại

B MỨC ĐỘ LO ÂU, TRẦM CẢM B1 Dấu hiệu

trầm cảm

Định tính Tỷ lệ có dấu hiệu trầm cảm

của đối tượng nghiên cứu

Tự điền

B2 Dấu hiệu lo

âu

Định tính Tỷ lệ có dấu hiệu lo âu của

đối tượng nghiên cứu

Trang 34

Biến số Loại biến Chỉ số Phương pháp

thu thập

của NVYT

2.3.2 Tiêu chí đánh giá

- Tiêu chí đánh giá mức độ trầm cảm:

Đánh giá dựa trên tổng điểm 9 câu hỏi từ 1-9 trong phần phụ lục B Mỗi câu theo thang điểm từ 0-3.Tổng điểm được đánh giá theo các mức sau:

+ Tổng điểm < 10: không trầm cảm

+ Tổng điểm ≥ 10: có trầm cảm, trong đó

 10-14 điểm: trầm cảm nhẹ

 15-19 điểm: trầm cảm trung bình

 Trên 19 điểm: trầm cảm nặng

- Tiêu chí đánh giá mức độ lo âu:

Đánh giá dựa trên tổng điểm 7 câu hỏi từ 10-16 trong phần phụ lục B Mỗi câu theo thang điểm từ 0-3 Tổng điểm được đánh giá theo 4 mức:

+ 0 – 4 điểm : Không bị lo âu

+ 5 – 21 điểm: Có bị lo âu, trong đó:

 5 - 9 điểm: Lo âu nhẹ

 10 - 14 điểm: Lo âu vừa

 15 - 21 điểm: Lo âu nặng

2.4 Phương pháp thu thập thông tin

2.4.1 Công cụ thu thập thông tin

- Bộ câu hỏi gồm 20 câu hỏi về thông tin nhân khẩu học về cá nhân, nghề nghiệp, 9 câu hỏi đánh giá mức độ trầm cảm theo thang đo PHQ-9, 7 câu hỏi đánh giá mức độ lo âu theo thang đo GAD-7

2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin

Trang 35

Phát bộ câu hỏi tự điền cho đối tượng nghiên cứu với sự có mặt của điều tra viên

2.4.3 Quy trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu

2.3.4.1 Quy trình thu thập thông tin

- Xây dựng bộ câu hỏi: Các câu hỏi được xây dựng dựa vào các tài liệu tham khảo cũng như sự hiểu biết của nhóm nghiên cứu về nội dung nghiên cứu

- Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu: sau khi bộ câu hỏi được xây dựng, nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn thử 10 đối tượng Chỉnh sửa lỗi trong nội dung của bộ câu hỏi một cách phù hợp sau đó in ấn phục vụ cho điều tra và tập huấn

- Tiến hành thu thập số liệu: Lập kế hoạch, thời gian thu thập số liệu tại mỗi Khoa/Phòng/TYT của hai Trung tâm Y tế

- Tại mỗi Khoa/Phòng/TYT của hai Trung tâm Y tế các NVYT sẽ tập trung tại phòng giao ban Nghiên cứu viên và điều tra viên giới thiệu về mục đích của nghiên cứu và cách trả lời phiếu điều tra, giải đáp các thắc mắc của đối tượng nghiên cứu Các NVYT đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được phát phiếu điều tra để tự điền

- Sau khi đối tượng nghiên cứu trả lời xong, điều tra viên kiểm tra xem các câu hỏi đã được trả lời đầy đủ chưa, nếu còn thiếu hay sai sót cần hướng dẫn đối tượng nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện phiếu nghiên cứu

2.3.4.2 Sơ đồ nghiên cứu

Trang 36

Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu

Trung tâm y tế quận Thanh Xuân và Trung tâm y

tế Thị xã Sơn Tây

Nhân viên y tế công tác tại hai Trung tâm (có đủ điều kiện tham gia nghiên cứu)

Phỏng vấn, điều tra trên bộ câu hỏi soạn sẵn

Nhập liệu và phân tích kết quả

Trầm cảm Không trầm

cảm

Đánh giá, phân tích kết quả nghiên cứu

Trang 37

2.5 Xử lý và phân tích số liệu

Nhập số liệu và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS Thực hiện các phép thống kê mô tả (số lượng trung bình, tỷ lệ %), và thống kê phân tích, tỷ số chênh OR hiệu chỉnh

2.6 Sai số và khống chế sai số

- Sai số:

+ Đối tượng nghiên cứu không hiểu rõ câu hỏi hoặc bỏ trống phiếu hỏi + Câu hỏi nghiên cứu chủ yếu là dựa vào bộ câu hỏi phát vấn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố cá nhân người trả lời và có sai số nhớ lại

+ Điều tra viên giải thích không rõ ràng, chính xác

+ Sai số trong quá trình nhập liệu

- Khống chế sai số:

+ Xây dựng bộ công cụ với bộ câu hỏi có nhiều lựa chọn và thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu để chuẩn hóa các nội dung

+ Các định nghĩa, tiêu chuẩn đưa ra chính xác, rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu + Nghiên cứu viên trực tiếp giám sát trong suốt thời gian thu thập số liệu + Quá trình nhập liệu vào máy tính cần thực hiện cẩn thận, kiểm tra kỹ càng bằng đối chiếu phiếu điều tra để phát hiện lỗi

2.7 Đạo đức nghiên cứu

- Trước khi tham gia, đối tượng nghiên cứu được cung cấp rõ ràng, đầy đủ thông tin liên quan đến mục tiêu và nội dung nghiên cứu Nghiên cứu nhằm mục đích làm nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu khoa học

- Đề cương nghiên cứu được hội đồng xét duyệt đề cương trường Đại học Thăng Long thông qua

- Nghiên cứu có sự đồng ý của cơ sở nghiên cứu và sự tham gia tự nguyện của đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối hoặc rút lui khi tham gia nghiên cứu

- Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được bảo mật

Trang 38

- Trung thực trong xử lý số liệu

- Đảm bảo trích dẫn chính xác về nguồn tài liệu tham khảo

2.8 Hạn chế của đề tài

- Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang nên chỉ cho thấy được tình trạng lo âu, trầm cảm của NVYT tại một thời điểm và không thể xác định được mối quan hệ nhân quả

- Nghiên cứu thực hiện trong phạm vi Trung tâm Y tế quận Thanh Xuân và Trung tâm Y tế Thị xã Sơn Tây nên kết quả chỉ có ý nghĩa nội bộ, không đại diện cho các cơ sở, Trung tâm Y tế dự phòng khác

- Do đặc thù công việc của Trung tâm khá đa dạng nên khó phân tích sâu trong các nhóm khoa phòng

- Các kết quả về tình trạng trầm cảm, lo âu của nhân viên y tế mới chỉ là các dấu hiệu chủ quan, có ý nghĩa sàng lọc Ngoài ra, có nhiều yếu tố liên quan tác động như môi trường xã hội, gia đình Vì vậy nghiên cứu chưa thể tách riêng các yếu tố nguy cơ liên quan đến trầm cảm, lo âu bắt nguồn từ môi trường nghề nghiệp

Trang 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm nhân

Trang 40

Bảng 3.2 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm công

việc (n = 400)

Trình độ chuyên môn

Y sĩ, Điều dưỡng, Nữ hộ

sinh, Kĩ thuật viên, Cử

Trong số NVYT tham gia nghiên cứu có đến 88,7% có trình độ chuyên môn là cao đẳng/đại học/sau đại học Phần lớn thuộc nhóm Y sĩ, Điều dưỡng, Nữ hộ sinh, Kĩ thuật viên, Cử nhân YTCC (66,5%), có thâm niên công tác trên

10 năm (43%) và kí hợp đồng không thời hạn (80%)

Tỷ lệ ĐTNC giữ chức vụ lãnh đạo là 12,1%, còn lại là nhân viên chiếm đa số với 87,5% Trong số các ĐTNC tại hai TTYT thì có 21,2% làm việc tại các phòng chức năng, 20,5% làm việc tại khoa/phòng khám bệnh, 20,3% tại các khoa chuyên môn dự phòng khác và 38% làm việc tại các Trạm y tế

Ngày đăng: 20/04/2022, 08:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Bình, “Sự hài lòng của nhân viên y tế tại các bệnh viện thuộc tỉnh Kon Tum năm 2016”, Web sở y tế Kon Tum, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự hài lòng của nhân viên y tế tại các bệnh viện thuộc tỉnh Kon Tum năm 2016”
2. Nguyễn Thành Chung (2017), “Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan trong sinh viên trường đại học Y tế công cộng năm 2017 và khảo sát bằng bộ công cụ DASS21” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan trong sinh viên trường đại học Y tế công cộng năm 2017 và khảo sát bằng bộ công cụ DASS21
Tác giả: Nguyễn Thành Chung
Năm: 2017
4. Quàng Mạnh Cường (2019), “Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Sơn La năm 2019”, Luận văn Thạc sĩ Y tế Công Cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm của nhân viên y tế Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Sơn La năm 2019”
Tác giả: Quàng Mạnh Cường
Năm: 2019
6. Trương Thị Hoà (2018), Rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn trầm cảm ở người nhiễm HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trương Thị Hoà
Năm: 2018
7. Lê Thị Huệ (2018). Căng thẳng nghề nghiệp ở nhân viên y tế tại bệnh viện Phong- Da liễu trung ương Quy Hòa năm 2018, Luận văn thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căng thẳng nghề nghiệp ở nhân viên y tế tại bệnh viện Phong- Da liễu trung ương Quy Hòa năm 2018
Tác giả: Lê Thị Huệ
Năm: 2018
9. Nguyễn Thị Lan (2018), “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở nữ hộ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017”, Luận văn Bác sỹ Y khoa, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu, stress ở nữ hộ sinh Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017
Tác giả: Nguyễn Thị Lan
Năm: 2018
10. Nguyễn Thị Bích Liên, Nguyên Thu Hà, và Nguyễn Minh Phương; Căng thẳng nghề nghiệp của nhân viên y tế tại một số Trung tâm phòng chống HIV/AIDS. Tạp chí An toàn – Sức khỏe và Môi trường lao động, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căng thẳng nghề nghiệp của nhân viên y tế tại một số Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
11. Lưu Thị Liên (2020), Thực trạng và các yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm, lo âu của nhân viên y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, năm 2019, Luận văn Y đa khoa, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và các yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm, lo âu của nhân viên y tế thuộc Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, năm 2019
Tác giả: Lưu Thị Liên
Năm: 2020
12. Ngô Thị Kiều My, Trần Đình Vinh và Đỗ Mai Hoa (2014), Đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của điều dưỡng và hộ sinh khối lâm sàng Bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng năm 2014, Tạp chí Y Tế Công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của điều dưỡng và hộ sinh khối lâm sàng Bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng năm 2014
Tác giả: Ngô Thị Kiều My, Trần Đình Vinh và Đỗ Mai Hoa
Năm: 2014
13. Nguyễn Bạch Ngọc, Vũ Mai Lan (2019), “Stress, trầm cảm, lo âu ở nhân viên điều dưỡng khối nội tại một bệnh viện hạng 1”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam lần thứ V: Hiểu biết về sức khỏe tâm thần ở trường học và cộng đồng. NXB Đại học quốc gia. Tr. 131 – 140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Stress, trầm cảm, lo âu ở nhân viên điều dưỡng khối nội tại một bệnh viện hạng 1”
Tác giả: Nguyễn Bạch Ngọc, Vũ Mai Lan
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia. Tr. 131 – 140
Năm: 2019
14. Bạch Nguyên Ngọc (2015), “Stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai năm 2015”, Đại học y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Stress nghề nghiệp và một số yếu tố liên quan của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai năm 2015”
Tác giả: Bạch Nguyên Ngọc
Năm: 2015
15. Vũ Bá Quỳnh, Nguyễn Bạch Ngọc và cs. (2018) “Thực trạng stress của điều dưỡng khoa ngoại, Bệnh viện trung ương quân đội 108”. Tạp chí Y Dược học Việt Nam. Tr. 242 -248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng stress của điều dưỡng khoa ngoại, Bệnh viện trung ương quân đội 108”
17. Đặng Duy Thanh và các cộng sự (2010), “Đánh giá sơ bộ giá trị của bảng hỏi sức khỏe bệnh nhân (PHQ – 9) trong sàng lọc bệnh nhân trầm cảm”, Tạp chí Y học thực hành (774), tr. 173-176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá sơ bộ giá trị của bảng hỏi sức khỏe bệnh nhân (PHQ – 9) trong sàng lọc bệnh nhân trầm cảm”
Tác giả: Đặng Duy Thanh và các cộng sự
Năm: 2010
18. Nguyễn Viết Thêm và Võ Tăng Lâm (2001), "Lo âu, trầm cảm trong thực hành tâm thần học", Nội san tâm thần học, 6, tr. 31-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lo âu, trầm cảm trong thực hành tâm thần học
Tác giả: Nguyễn Viết Thêm và Võ Tăng Lâm
Năm: 2001
19. Trần Văn Thơ (2017). Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan gây stress ở điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi trung ương năm 201. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng stress và một số yếu tố liên quan gây stress ở điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi trung ương năm 201
Tác giả: Trần Văn Thơ
Năm: 2017
21. Trần Thị Thúy (2011), Đánh giá trạng thái stress của cán bộ y tế khối lâm sàng bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2011, Luận văn Thạc sỹ Quản lý Bệnh viện, Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trạng thái stress của cán bộ y tế khối lâm sàng bệnh viện Ung bướu Hà Nội năm 2011
Tác giả: Trần Thị Thúy
Năm: 2011
22. Đỗ Nguyễn Nhựt Trần và cộng sự (2008), “Stress va cac yeu to lien quan o nhan vien y te huyen Nhon Thach tinh Dong Nai 2008”, Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh, 2008. 12(4): p. 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress va cac yeu to lien quan o nhan vien y te huyen Nhon Thach tinh Dong Nai 2008”, Tạp chí
Tác giả: Đỗ Nguyễn Nhựt Trần và cộng sự
Năm: 2008
23. Nguyễn Mạnh Tuân, Đàm Thị Tám Hương, Đặng Quang Hiếu và các cộng sự (2018), "Stress, trầm cảm, lo âu của nhân viên y tế Bệnh viện Trưng Vương năm 2018", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 22(6), tr.71-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress, trầm cảm, lo âu của nhân viên y tế Bệnh viện Trưng Vương năm 2018
Tác giả: Nguyễn Mạnh Tuân, Đàm Thị Tám Hương, Đặng Quang Hiếu và các cộng sự
Năm: 2018
24. Lê Văn Tuấn (2017). Thực trạng stress, lo âu của bác sĩ tại Bệnh viện E và một số yếu tố liên quan năm 2017. Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng stress, lo âu của bác sĩ tại Bệnh viện E và một số yếu tố liên quan năm 2017
Tác giả: Lê Văn Tuấn
Năm: 2017
25. Đậu Thị Tuyết (2013), Tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của cán bộ y tế khối lâm sàng tại bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An năm 2013 và một số yếu tố liên quan, 2013, Đại học Y tếCông cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của cán bộ y tế khối lâm sàng tại bệnh viện đa khoa thành phố Vinh, bệnh viện đa khoa 115 Nghệ An năm 2013 và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Đậu Thị Tuyết
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6.8: Hoạt động của Router trong mô hình OSI - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Hình 6.8 Hoạt động của Router trong mô hình OSI (Trang 7)
bảng - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
b ảng (Trang 14)
Hình 1.1. Sơ đồ tổ chức của Trung tâ mY tế quận/thị xã - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Hình 1.1. Sơ đồ tổ chức của Trung tâ mY tế quận/thị xã (Trang 27)
Bảng 2.1: Các biến số, chỉ số nghiên cứu - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bảng 2.1 Các biến số, chỉ số nghiên cứu (Trang 30)
Hình 2.1. Sơ đồ nghiên cứu - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Hình 2.1. Sơ đồ nghiên cứu (Trang 36)
Bảng 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm nhân khẩu học (n = 400 ) - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bảng 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm nhân khẩu học (n = 400 ) (Trang 39)
Bảng 3.2. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm công việc (n = 400) - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bảng 3.2. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm công việc (n = 400) (Trang 40)
Bảng 3.3. Đặc thù công việc của đối tượng nghiên cứu (n=400) - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bảng 3.3. Đặc thù công việc của đối tượng nghiên cứu (n=400) (Trang 41)
Bảng 3.4. Thái độ đối với công việc của đối tượng nghiên cứu (n=400) - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bảng 3.4. Thái độ đối với công việc của đối tượng nghiên cứu (n=400) (Trang 42)
Bảng 3.6. Mức độ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm cá nhân (n = 400) - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bảng 3.6. Mức độ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm cá nhân (n = 400) (Trang 45)
Bảng 3.8. Mức độ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo một số đặc điểm vị trí công việc (n = 400) - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bảng 3.8. Mức độ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo một số đặc điểm vị trí công việc (n = 400) (Trang 46)
Bảng 3.7. Mức độ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm chuyên môn (n = 400) - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bảng 3.7. Mức độ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm chuyên môn (n = 400) (Trang 46)
Bảng 3.9. Mức độ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo đặc thù công việc (n = 400 ) - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bảng 3.9. Mức độ lo âu của đối tượng nghiên cứu theo đặc thù công việc (n = 400 ) (Trang 47)
Bảng 3.10. Mức độ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm cá nhân (n = 400) - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bảng 3.10. Mức độ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm cá nhân (n = 400) (Trang 48)
Bảng 3.12. Mức độ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu theo một số đặc điểm vị trí công việc (n = 400) - THỰC TRẠNG LO ÂU, TRẦM CẢM Ở NHÂN VIÊN CỦA HAI TRUNG TÂM Y TẾ TẠI HÀ NỘI NĂM 2021 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Bảng 3.12. Mức độ trầm cảm của đối tượng nghiên cứu theo một số đặc điểm vị trí công việc (n = 400) (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm