Đến khi yêu cầu hội nhập đợc đặt ra, khi Việt Nam buộc phải cam kết dần mở cửa thị trờng ô tô để trở thành thành viên của tổ chức thơng mại thế giớiWTO, một trong những động thái tích cự
Trang 1Mở đầu
I Tính cấp thiết của đề tài
Trớc cách mạng tháng 8, ô tô vẫn là một khái niệm rất xa lạ với ng ời ViệtNam, nhng cho đến nay nó đã dần quen thuộc và có xu hớng trở thành phơng tiện
đi lại thông dụng của ngời Việt Có nhiều nguồn cung cho nhu cầu ô tô trong nớcbao gồm: nguồn cung từ hoạt động nhập khẩu và nguồn cung từ các nhà sản xuấttrong nớc Giai đoạn trớc năm 1991, hoạt động nhập khẩu ô tô mà chủ yếu là ô tô
cũ là nguồn cung duy nhất, góp phần giải quyết nhu cầu về loại ph ơng tiện nàycủa ngời dân Cho đến khi ngành sản xuất ô tô của Việt Nam đợc chính thức ra
đời, thị trờng ô tô trở nên phong phú hơn với những sản phẩm mang th ơng hiệuViệt Công nghiệp ô tô đợc coi là ngành công nghiệp mũi nhọn, cần đợc u tiênphát triển Vì thế, để bảo hộ cho “đứa con cng” của mình, Chính phủ đã áp dụngnhững biện pháp hạn chế đối với hoạt động nhập khẩu ô tô nói chung và ô tô cũnói riêng Chỉ đợc nhập khẩu những loại ô tô mà các nhà sản xuất trong nớc chasản xuất đợc, hoặc sản xuất nhng cha có hiệu quả Hoạt động nhập khẩu ô tô cũ
đã không xâm phạm đến những lĩnh vực sản xuất chính của ngành công nghiệpnon trẻ này Những tởng là sự bảo hộ ấy sẽ đem lại kết quả nhng sau hơn 10 nămtồn tại, công nghiệp ô tô Việt Nam cho đến nay vẫn chỉ là công nghệ lắp ráp giản
đơn Ngời dân của một nớc đang phát triển, có thu nhập bình quân đầu ngờithuộc vào hàng thấp nhất trên thế giới lại phải mua ô tô với giá cao nhất Nhữngvấn đề về thuế, về giá, về chính sách quản lý… đối với mặt hàng ô tô gây bức đối với mặt hàng ô tô gây bứcxúc với ngời dân đã từ nhiều năm nay
Đến khi yêu cầu hội nhập đợc đặt ra, khi Việt Nam buộc phải cam kết dần
mở cửa thị trờng ô tô để trở thành thành viên của tổ chức thơng mại thế giớiWTO, một trong những động thái tích cực (trên lý thuyết) đó là việc Nhà n ớc chophép nhập khẩu ô tô dới 16 chỗ đã qua sử dụng (mặt hàng mà trớc đó đã bị cấmnhập) Từ đây, tởng rằng các nhà sản xuất và lắp ráp ô tô trong nớc có thêm một
đối thủ cạnh tranh nặng ký, ngời tiêu dùng có thêm sự lựa chọn cho mình với kỳvọng về giá cả và chất lợng nhất là khi so sánh với các loại xe do doanh nghiệptrong nớc sản xuất, lắp ráp Nhng kết quả cho thấy một thực tế đáng thất vọng.Những vấn đề về thuế hay kiểm định chất lợng đã gây nên những xáo trộn lớn.Chính sách mới này của Nhà nớc đã hoàn toàn thất bại, nó không đã đạt đợc mục
đích đề ra là tạo cạnh tranh, thúc đẩy ngành sản xuất trong nớc phát triển và giácả vẫn là vấn đề nhức nhối, ngời tiêu dùng vẫn là những ngời chịu gánh nặng vềthuế và tài chính
Trang 2Trớc những vấn đề đặt ra đối với hoạt động nhập khẩu ô tô cũ cũng nhngành sản xuất ô tô Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, em đã chọn
đề tài nghiên cứu “Hoạt động nhập khẩu ô tô cũ và tác động của nó tới ngành
sản xuất ô tô của Việt Nam” Với t cách là một sinh viên, em chỉ xin đợc đa ra
những điều đáng lu tâm nhất và một vài đề xuất của cá nhân em, hi vọng có thểgóp một tiếng nói nhỏ phản ánh phần nào thực trạng vấn đề, còn giải pháp khắcphục cụ thể thì xin chờ các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách
II Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là phản ánh thực trạng của hoạt động nhập khẩu ôtô cũ, sự cần thiết của nó đối với phát triển kinh tế-xã hội và tác động của nó tớingành sản xuất ô tô Việt Nam trong suốt quá trình từ 1986 đến nay nhng trọngtâm vẫn là thời gian gần đây vì đây là giai đoạn mà thị trờng ô tô có nhiều biến
động nhất Trên cơ sở đó, đa ra những đề xuất khắc phục những hạn chế còn tồntại trong hoạt động nhập khẩu ô tô cũ và định hớng phát triển ngành công nghiệp
ô tô Việt Nam
III Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng: hoạt động nhập khẩu ô tô cũ và tình hình phát triển ngành sảnxuất ô tô của Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: thị trờng ô tô của Việt Nam (chú trọng hơn tới thịtrờng ô tô du lịch) và có tham khảo một số thị trờng ô tô cũ trên thế giới
IV Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn áp dụng các phơng pháp tổng hợp vàphân tích số liệu, phơng pháp thống kê, phơng pháp chọn mẫu kết hợp với phântích tổng hợp Các phơng pháp này đợc kết hợp chặt chẽ với nhau theo kết cấulogic
V Bố cục của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục chữ viết tắt, Danh mục bảng, kếtcấu luận văn chia làm 3 chơng:
Chơng 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động nhập khẩu ô tô cũ
Chơng 2: Thực trạng hoạt động nhập khẩu ô tô cũ và tác động của nó tới ngành
sản xuất ô tô Việt Nam
Chơng 3: Định hớng và một số đề xuất liên quan đến hoạt động nhập khẩu ô tô
cũ
Trang 3Chơng 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt
động nhập khẩu ô tô cũ
I Tổng quan về cơ chế, chính sách và các biện pháp quản lý nhập khẩu
1 Cơ chế quản lý nhập khẩu
ứng với mỗi nền kinh tế có một cơ chế kinh tế vận hành phù hợp ứng vớimỗi cơ chế kinh tế lại có một cơ chế kinh tế quản lý phù hợp Cơ chế quản lýkinh tế là các phơng thức mà qua đó Nhà nớc tác động vào nền kinh tế để định h-ớng nền kinh tế tự vận động nhằm tới các mục tiêu đã định
Ngoại thơng là một ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân,
đảm nhận chức năng lu thông hàng hóa dịch vụ giữa trong nớc và ngoài nớc, làmột bộ phận cấu thành của nền kinh tế Hoạt động này cũng cần phải đợc quản lýtheo một cơ chế nhất định, mang tính đặc thù Đó là cơ chế quản lý xuất nhậpkhẩu
Cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế quản lý xuất nhập khẩu đợc xây dựng vàban hành trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan của nền kinh
tế thị trờng ở Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng xây dựng nềnkinh tế thị trờng theo định hớng XHCN có sự quản lý của Nhà nớc Do đó, cơ chếquản lý xuất nhập khẩu phải tuân thủ theo các quy luật kinh tế thị trờng có sựquản lý thống nhất của Nhà nớc Cơ chế quản lý xuất nhập khẩu này ra đời là đòihỏi khách quan Vì vậy, nó có thể và cần đợc thay đổi cho phù hợp các quy luậtkinh tế nếu cần thiết
Có thể hiểu, cơ chế quản lý nhập khẩu là các phơng thức mà qua đó Nhànớc tác động có định hớng theo những điều kiện nhất định vào các đối tợng
Trang 4(khách thể) tham gia vào hoạt động nhập khẩu nhằm đảm bảo cho sự tự vận độngcủa hoạt động nhập khẩu hớng đến các mục tiêu kinh tế-xã hội đã định của Nhànớc.
Thực chất của cơ chế quản lý nhập khẩu là sự tác động tơng tác chủ thểquản lý (ở đây là các cơ quan hữu quan của Nhà nớc) tới đối tợng quản lý (cácdoanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu và hàng hóa-dịch vụ nhập khẩu) thông quachính sách quản lý nhập khẩu
2 Chính sách quản lý nhập khẩu và các công cụ quản lý nhập khẩu 2.1 Chính sách quản lý nhập khẩu
“Chính sách quản lý nhập khẩu là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc,
mục tiêu, biện pháp và công cụ mà các quốc gia sử dụng nhằm quản lý, điều chỉnh các hoạt động nhập khẩu phù hợp với các lợi thế của quốc gia trong từng thời kỳ nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho quốc gia từ thơng mại quốc tế.”
Trong bối cảnh tự do hóa thơng mại toàn cầu hiện nay, chính sách quản lýnhập khẩu của Việt Nam cần phải có sự điều chỉnh theo hớng vừa đáp ứng đợcnhu cầu của nhân dân, của phát triển sản xuất, vừa phải bảo vệ đợc thị trờng nội
địa đồng thời đáp ứng đợc yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
* Chính sách nhập khẩu ô tô cũ
Chính sách nhập khẩu ô tô cũ nằm trong hệ thống các chính sách nhậpkhẩu của Nhà nớc với đối tợng là nhóm mặt hàng ô tô cũ vì thế có thể đa ra kháiniệm nh sau với chính sách nhập khẩu ô tô cũ:
Chính sách nhập khẩu ô tô cũ là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, công
cụ điều chỉnh hoạt động nhập khẩu ô tô cũ của Nhà nớc nhằm đảm bảo cho hoạt
động nhập khẩu ô tô cũ hớng tới các mục tiêu kinh tế-xã hội đã định của Nhà ớc
n-Chính sách quản lý nhập khẩu đợc thực hiện thông qua một hệ thống cáccông cụ quản lý nhập khẩu
2.2 Các công cụ quản lý nhập khẩu
Các công cụ quản lý nhập khẩu là những biện pháp, thủ tục mà Nhà nớc
đ-a rđ-a nhằm tác động và điều tiết hoạt động nhập khẩu củđ-a các dođ-anh nghiệp
Những công cụ này rất nhiều, rất đa dạng và phức tạp nhng tựu trung lại
có hai nhóm công cụ là: thuế quan và phi thuế quan
Thuế quan là một biện pháp cổ điển nhng có tác dụng trực tiếp và mạnh
mẽ trong điều tiết hoạt động nhập khẩu Có thể hiểu, “thuế nhập khẩu là một loại
ThS Vũ Thị Hiền (2007), Đề tài NCKH cấp bộ: Cơ chế chính sách và biện pháp quản lý hoạt động nhập
Trang 5thuế gián thu đánh vào hàng mậu dịch, phi mậu dịch khi hàng hóa đi vào lãnh thổ hải quan của một nớc”.
Mục đích của việc đánh thuế nhập khẩu là: thứ nhất, góp phần vào việcphát triển và bảo hộ sản xuất trong nớc; thứ hai, hớng dẫn tiêu dùng trong nớc;thứ ba, góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách đồng thời còn góp phần thực hiệnchính sách tự do hóa thơng mại
Nhà nớc đã ban hành biểu thuế nhập khẩu gồm 97 chơng, trong đó danhmục mặt hàng chịu thuế của biểu thuế nhập khẩu đợc xây dựng trên cơ sở Danhmục của Hệ thống điều hòa mô tả và mã hóa hàng hóa của Tổ chức Hải quan thếgiới (viết tắt là danh mục HS)
Tùy theo mặt hàng nhập khẩu và chính sách của Nhà nớc đối với từng mặthàng nhập khẩu mà Nhà nớc áp dụng các phơng pháp đánh thuế nhập khẩu phùhợp Có thể đó là thuế tính theo giá, thuế tuyệt đối, thuế theo mùa, hạn ngạchthuế Ngoài ra, còn có một số phơng pháp tính thuế nhập khẩu khác nh thuế lựachọn, thuế hỗn hợp… đối với mặt hàng ô tô gây bứcTrong đó, thuế tuyệt đối là loại thuế quy định mức thuếtheo giá trị tuyệt đối tính trên đơn vị hàng hóa nhập (số lợng, trọng lợng, dungtích) Do đó, giá hàng nhập khẩu cao, thấp không ảnh hởng đến quy mô thuếthu đợc Cách tính thuế đơn giản Tuy nhiên, khi giá cả nhập khẩu biến động sẽnảy sinh sự không công bằng giữa các đối tợng chịu thuế Theo thông lệ củaWTO, thuế tuyệt đối đợc áp dụng với những mặt hàng nhập khẩu khó quản lý đ-
ợc về giá Ô tô cũ là một mặt hàng thuộc diện này
Thuế quan là biện pháp mà tổ chức thơng mại thế giới (WTO) cho phép sửdụng để bảo hộ thị trờng trong nớc nhng phải cam kết ràng buộc với một mứcthuế trần nhất định và có lịch trình cắt giảm, vì thế nó có xu hớng ngày cànggiảm đi Sự tự do hóa biểu hiện thông qua các chính sách về chế độ u đãi phổ cập(GSP), quy chế tối huệ quốc (MFN), hiệp định thuế quan u đãi có hiệu lực chungcủa các khối liên kết kinh tế nh APTA, EU… đối với mặt hàng ô tô gây bức
Hàng rào phi thuế quan là các biện pháp khác với thuế quan, trên thực tếngăn cấm hoặc hạn chế việc nhập khẩu hay xuất khẩu các sản phẩm giữa hai haynhiều quốc gia, bao gồm: các biện pháp hạn chế định lợng nh cấm nhập khẩu,hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu hay các hình thức khác; các biệnpháp quản lý về giá; các biện pháp quản lý liên quan đến quyền kinh doanh củadoanh nghiệp; các biện pháp kỹ thuật; các biện pháp liên quan đến đầu t nớcngoài Ngoài ra còn có các biện pháp bảo vệ thơng mại tạm thời nh các biện phápchống bán phá giá, chống trợ cấp, các biện pháp tự vệ ; các biện pháp quản lý
ThS Vũ Thị Hiền (2007), Đề tài NCKH cấp bộ: Cơ chế chính sách và biện pháp quản lý hoạt động nhập
Trang 6hành chính; các biện pháp bảo vệ thơng mại tạm thời cũng đợc Nhà nớc sửdụng nh những biện pháp nhằm quản lý, điều hành hoạt động nhập khẩu của cácdoanh nghiệp.
Cấm nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao, gây ra hạn chế lớn nhất đối vớithơng mại quốc tế WTO nói chung không cho phép sử dụng biện pháp này, nhnghiện nay có khoảng 3/4 các nớc thành viên là các nớc đang phát triển, trình độphát triển giữa các thành viên là không đồng đều, vậy nên các quốc gia vẫn cóthể thi hành biện pháp cấm nhập khẩu trên cơ sở không phân biệt đối xử trongmột số trờng hợp quy định của tổ chức
WTO không cho phép các nớc thành viên đợc sử dụng hạn ngạch nhậpkhẩu vì nó làm ảnh hởng nhiều đến thơng mại thế giới Tuy nhiên trong một sốtrờng hợp đặc biệt nh nhằm hạn chế tạm thời, ngăn ngừa, khắc phục sự khanhiếm trầm trọng các sản phẩm thiết yếu; hạn chế để bảo vệ một số ngành côngnghiệp tại các nớc đang phát triển; bảo vệ sức khỏe con ngời; bảo vệ động thựcvật quý hiếm WTO vẫn cho phép sử dụng hạn ngạch nhng khi sử dụng phảithực hiện các điều kiện kèm theo (Điều 11-GATT/1994)
Các biện pháp kỹ thuật là nhóm giải pháp gián tiếp ngăn cản giám sáthàng hóa nhập khẩu từ nớc ngoài vào trong nớc Các rào cản này khá phức tạp,bao gồm: các quy định tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm dịch động thực vật, các yêu cầu
về nhãn mác hàng hóa, yêu cầu về quyền sở hữu sáng chế, sở hữu công nghiệp,yêu cầu về môi trờng WTO yêu cầu các quy định này cũng nh thủ tục để đánhgiá không đợc tạo ra các trở ngại không cần thiết đối với thơng mại quốc tế, phải
đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử và đãi ngộ quốc gia, phải minh bạch
và tiến tới hài hòa hóa
Yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa là việc các nớc nhận đầu t có quyền đa ra một
tỷ lệ đầu vào trong sản xuất của các dự án có vốn đầu t nớc ngoài, nhằm đảm bảophát triển sản xuất của địa phơng, đa các ngành công nghiệp dần dần thay thếnhập khẩu Mặc dù WTO cho phép áp dụng biện pháp này nhng chỉ ở mức độnhất định nhằm hạn việc các nớc nhận đầu t quá lạm dụng biện pháp này làm cảntrở thơng mại quốc tế
II Sự cần thiết của hoạt động nhập khẩu ô tô cũ và đặc
điểm một số thị trờng xe cũ trên thế giới
1 Đặc điểm mặt hàng ô tô cũ
Có thể nói, ô tô cũ là một loại hàng hóa đặc biệt, vậy nên để quyết địnhcho nhập hay không loại hàng hóa này, Nhà nớc ta đã phải cân nhắc kỹ lỡng vềnhững mặt tích cực cũng nh hạn chế của nó
Trang 7Cùng là ô tô, nhng với ô tô mới, việc kiểm tra xuất xứ của chiếc xe khôngmấy khó khăn, còn với ô tô cũ thì ngợc lại, rất khó xác định xuất xứ bởi việc xác
định một chiếc xe đợc sản xuất tại một nớc nhng lu hành qua nhiều nớc khácnhau trớc khi nhập nớc ta là chuyện thông thờng Vì vậy, việc kiểm tra xuất xứcủa một chiếc ô tô cũ là không đơn giản
Về chất lợng, với xe mới có thể căn cứ vào loại xe, hãng sản xuất thì cóthể biết đợc chất lợng xe, còn với xe cũ, chất lợng của xe còn lại bao nhiêu cho
đến thời điểm kiểm tra là vấn đề khó xác định Việc đa ra định lợng % để nói vềchất lợng của xe cũ cũng chỉ là cách tính tơng đối Khái niệm tuổi thọ ở xe cũ nóilên thời gian đã qua sử dụng của xe, nhng cũng khó có thể dùng khái niệm này
để ám chỉ chất lợng của xe cũ, vì một chiếc xe có tuổi thọ cao, ít đợc sử dụng và
sử dụng đúng cách vẫn có thể có chất lợng tốt hơn những xe có tuổi thọ thấp,không đợc giữ gìn cẩn thận, mức độ sử dụng cao Và còn một hạn chế của việcmua xe cũ nhập khẩu là có những đời xe đợc gọi là xe thời vụ, chỉ đợc sản xuấttrong một thời gian ngắn nên những linh kiện, phụ tùng khan hiếm trên thị tr ờng.Vì vậy, những loại xe này khi cần thay thế phụ tùng, linh kiện sẽ rất khó tìm nênthờng phải tìm linh kiện của các loại xe tơng tự để thay thế vào Linh kiện khôngtơng thích sẽ khiến cho độ bền của xe không bảo đảm
Giá cả là một yếu tố đặc biệt của xe đã qua sử dụng Thông th ờng giá cácloại xe cũ đều thấp hơn xe mới cùng loại, trừ những loại xe “độc”, số lợng ít, đápứng đợc sở thích của dân chơi xe cổ Giá xe mới đợc quy định bởi nhà sản xuấtcòn giá xe cũ không bị ràng buộc bởi quy định nào, vì thế đã có trờng hợp cùngmột loại xe nhng chênh lệch về giá là rất lớn Việc xác định giá cả của xe cũcũng gặp khó khăn
2 Sự cần thiết của hoạt động nhập khẩu ô tô cũ trong phát triển kinh xã hội
tế-* Do nhu cầu sử dụng ô tô tăng cao
Trớc năm 1975, nguồn cung cho thị trờng ô tô trong nớc hoàn toàn dựavào việc nhập khẩu từ nớc ngoài, mà chủ yếu là xe đã qua sử dụng Cho đến năm
1991, ngành công nghiệp ô tô bắt đầu khởi sắc và góp phần vào giải quyết phầnnào nhu cầu sử dụng ô tô, nhng vẫn không thể nào thay thế hoàn toàn việc nhậpkhẩu xe đã qua sử dụng
Trang 8Có thể thấy nhu cầu sử dụng ô tô của nớc ta khá cao và tăng nhanh trongnhững năm gần đây Lý do chính là do sự tăng trởng kinh tế nhanh, ổn định của
đất nớc Kể từ khi luật doanh nghiệp có hiệu lực (01/01/2000), thành phần kinh tế
t nhân phát triển mạnh tạo ra lợng cầu lớn đối với vận tải hàng hóa đồng thời nhucầu sử dụng ô tô con của các doanh nghiệp cũng rất lớn Quá trình chuyển dịchcơ cấu kinh tế diễn ra nhanh dẫn tới sự gia tăng của các sản phẩm công nghiệp
Đây cũng là một yếu tố làm tăng lợng cầu vận tải hàng hóa bằng đờng bộ Việcsản xuất tập trung theo từng vùng, vậy nên việc phân phối các sản phẩm nônglâm ng nghiệp cho thị trờng trong và ngoài nớc cũng đòi hỏi sự hỗ trợ đắc lực củavận tải đờng bộ Hơn nữa, những năm gần đây chính phủ đầu t mạnh vào pháttriển cơ sở hạ tầng của giao thông đờng bộ (chủ yếu là nâng cấp các tuyến đờngcũ), thêm vào đó là mức sống trung bình của ngời dân dần đợc cải thiện Nhữngnguyên nhân trên càng kích thích sự gia tăng số lợng ô tô Để đáp ứng yêu cầu
đó, chính phủ một mặt khuyến khích sản xuất, lắp ráp xe trong nớc, một mặt cócơ chế định hớng việc nhập khẩu các chủng loại ô tô, trong đó phải kể đến ô tô
đã qua sử dụng
* Giúp phát huy nguồn lực trong n ớc một cách hiệu quả
Vốn là một nguồn lực rất quan trọng trong phát triển kinh tế, để tích lũy
đ-ợc nhiều vốn đã khó, để sử dụng vốn có hiệu quả còn khó hơn Tạo vốn và sửdụng vốn có hiệu quả trở thành yếu tố có tác động mạnh mẽ tới quá trình tăng tr-ởng kinh tế ở những nớc có nền kinh tế chuyển đổi nh nớc ta hiện nay Nhậpkhẩu ô tô nguyên chiếc mà chủ yếu là ô tô đã qua sử dụng, giá sẽ rẻ hơn so với
xe mới Việc nhập khẩu có chọn lọc ô tô đã qua sử dụng cả về chủng loại và thịtrờng đã góp phần không nhỏ vào việc sử dụng nguồn vốn nhập khẩu một cáchhiệu quả
* Cải biến cơ cấu kinh tế theo h ớng công nghiệp hóa
Đối với nớc ta, phát triển công nghệ là mục tiêu quan trọng của ngoại
th-ơng Đây vừa là mục tiêu trớc mắt vừa là mục tiêu lâu dài của quá trình côngnghiệp hóa Trong điều kiện hiện nay, nền công nghiệp trong nớc còn yếu, trình
độ thấp, chúng ta không có cách nào tốt hơn là cần thực hiện một quá trìnhchuyển giao công nghệ từ ngoài vào, qua con đờng ngoại thơng để tranh thủ côngnghệ mới của nớc ngoài, áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể nớc ta
Nhìn lại chặng đờng khôi phục, xây dựng và phát triển kinh tế trong mấythập niên vừa qua chúng ta thấy rõ đợc vai trò của khoa học kỹ thuật đối với sựphát triển kinh tế Sau chiến tranh, cơ sở vật chất kỹ thuật hết sức thiếu thốn,nghèo nàn, chỉ có một số nhà máy lớn đầu ngành là có máy móc sản xuất công
Trang 9nghiệp Năng suất lao động thấp, không khai thác đợc tiềm năng của con ngời và
tự nhiên, cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Đặc biệt
là ngành công nghiệp sản xuất ô tô hầu nh không có Nguồn cung duy nhất củathị trờng trong nớc là các nhà sản xuất nớc ngoài Đứng trớc tình hình đó, ta chủtrơng nhập khẩu một số loại ô tô mà phần lớn là ô tô đã qua sử dụng, linh kiệnphụ tùng sản xuất ô tô để phục vụ cho công cuộc cải tiến nền sản xuất trong nớctheo hớng công nghiệp hóa Việc nhập khẩu nhằm hai mục tiêu:
Thứ nhất: nhập khẩu ô tô, linh kiện phụ tùng sản xuất ô tô phục vụ cho sảnxuất hàng hóa đảm bảo yêu cầu giảm thiểu chi phí sản xuất, chi phí vận chuyển
và nâng cao chất lợng phục vụ ngành vận tải, và các ngành có liên quan
Thứ hai: Nhập khẩu ô tô, linh kiện phụ tùng sản xuất ô tô đặc biệt là cácloại xe chuyên dùng để phát triển ngành cơ khí, ngành giao thông vận tải từ đó,sản xuất, vận chuyển các công cụ, dụng cụ, máy móc phục vụ cho quá trình cơgiới hóa nông nghiệp nông thôn
Có thể nói, việc nhập khẩu các loại xe chuyên dụng (mà chủ yếu là xe đãqua sử dụng) đã làm cho năng suất và chất lợng sản xuất của một số ngành tănglên đáng kể nh ngành xây dựng, kiến trúc, xây dựng cơ sở hạ tầng, nông nghiệpnông thôn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng tăng năng suất lao
động và nâng cao hiệu quả kinh tế Nhìn chung, tác động của nhập khẩu ô tô tớiquá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hớng công nghiệp hóa-hiện đại hóamang tính chất xâu chuỗi, sự phát triển của lĩnh vực này kéo theo sự phát triểncủa lĩnh vực khác
Nhờ nhập khẩu ô tô có chọn lọc về chất lợng và giá cả đã nâng cao đợcchất lợng của những loại xe cung cấp trên thị trờng, từ đó tiết kiệm đợc thời gian
và chi phí vận chuyển Điều này góp phần tích cực vào việc làm cho hàng hóa
đ-ợc bày bán trên thị trờng đđ-ợc phong phú, đa dạng, giá cả phải chăng tạo điều kiệncho các tầng lớp nhân dân có thể mua hàng hóa phù hợp với túi tiền của mình đểphục vụ cho nhu cầu cuộc sống
* Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với các n ớc, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế
Chiến lợc “mở cửa kinh tế” là một trong những chiến lợc kinh tế đối ngoạicủa nớc ta, thực chất là mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại Chúng ta thấy rõrằng ngoại thơng và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác có tác động quan hệ phụthuộc qua lại lẫn nhau Hoạt động nhập khẩu thúc đẩy các hoạt động ngoại th ơngcũng nh các hoạt động kinh tế đối ngoại khác phát triển Chẳng hạn nhập khẩuthúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu t, mở rộng quan hệ vận tải quốc tế mặt khác các
Trang 10quan hệ này lại tạo tiền đề cho việc mở rộng sản xuất trong nớc Ô tô đã qua sửdụng cũng là một trong những mặt hàng đợc phép nhập khẩu ở nớc ta hiện nay,vì thế hoạt động nhập khẩu mặt hàng này cũng đóng góp không nhỏ vào thúc đẩycác hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.
Việt Nam cũng nh bao nớc khác không thể nằm ngoài xu hớng hội nhậpkinh tế quốc tế Vì thế việc thực hiện lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu ô tô, cũng
nh việc cho phép nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng là những việc làm cần thiết, phùhợp với các cam kết trong APTA, AICO và WTO
* Thể hiện một t duy mới trong việc điều hành nền kinh tế của chính phủ
Đã là thị trờng thì có mới, có cũ, có ta, có tây mới phản ánh tính đa dạngcủa nhu cầu, đa dạng của nguồn cung cấp và đa dạng của giá cả
Trớc đây, sau khi tham khảo ý kiến các nhà quản lý và các doanh nghiệp,
đặc biệt là Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô VAMA, chính phủ đã ban hành quyết
định số 242/1999/QĐ-TTg ngày 30/12/1999 về điều hành xuất nhập khẩu hànghóa năm 2000, trong đó quy định cấm nhập khẩu “xe ô tô dới 16 chỗ đã qua sửdụng” Biện minh cho quyết định này, các chuyên gia cho rằng: thứ nhất, hạ tầnggiao thông của Việt Nam còn yếu kém, cần phải có biện pháp để hạn chế phơngtiện giao thông; thứ hai, các nhà sản xuất ô tô trong nớc còn non trẻ, cần phải tạo
điều kiện cho ngành công nghiệp chủ lực này lớn mạnh; thứ ba, xe ô tô đã qua sửdụng dễ gây ô nhiễm môi trờng Tuy nhiên, thực tiễn đã cho thấy, việc cấm nhậpkhẩu xe cũ không làm giảm tai nạn giao thông, lại cũng không làm cho “đứa concng” công nghiệp ô tô lớn mạnh nh mong muốn Một mình một thị trờng, cácliên doanh sản xuất ô tô không chịu tăng tốc trong việc nội địa hóa, cũng khôngchịu đầu t mở rộng sản xuất, hớng ra xuất khẩu nh chiến lợc phát triển ngànhcông nghiệp ô tô đã định Ngợc lại, họ vẫn đủng đỉnh vì ngay việc khai thác thịtrờng nội địa, “nắn túi” ngời tiêu dùng Việt Nam cũng đã vô cùng hấp dẫn Tómlại, chính sách bảo hộ không những không thực thi đợc ý đồ ban đầu mà còn gópphần khuyến khích sự ỷ lại của những doanh nghiệp sản xuất ô tô trong n ớc
Đứng trớc mỗi thách thức, doanh nghiệp, doanh nhân đều phải hoàn thiện mình
để thích ứng với cuộc cạnh tranh Nếu không có thách thức, không có sóng gió sẽkhông có sự lớn mạnh, đó là quy luật của dòng chảy hội nhập Sự sợ hãi chỉ làmcho lộ trình hội nhập chậm lại, nền kinh tế yếu đi, mà còn là một tiền lệ xấu, nuôidỡng bao cấp và h hỏng
Việt Nam là một nớc nghèo, nhng giá bán lẻ xe ô tô lại thuộc vào hàngcao nhất nhì thế giới Khi nền kinh tế đợc cải thiện, ô tô không còn là một phơngtiện tiêu dùng xa xỉ mà đã trở thành một công cụ sản xuất, đáp ứng nhu cầu đi lại
Trang 11của dân chúng Việc cho nhập xe đã qua sử dụng (theo Nghị định 12/2006
NĐ-CP của chính phủ về cơ chế điều hành xuất nhập khẩu), không chỉ là việc làmcần thiết của lộ trình hội nhập mà còn thể hiện một t duy mới trong việc điềuhành nền kinh tế của Chính phủ
3 Đặc điểm một số thị trờng xe cũ trên thế giới
3.1 Thị trờng xe cũ tại Trung Quốc
Có thể nói xe cũ tại Trung Quốc đợc coi là một thị trờng tiềm năng Saugần 4 năm hình thành và hơn 1 năm mở cửa, thị trờng xe cũ Trung Quốc đangphát triển nhanh chóng Năm 2006 đã có 1,9 triệu xe cũ đợc mua bán, tăng31,5% so với năm 2005 Năm 2006 là năm thứ 3 liên tiếp, tốc độ tăng trởng củathị trờng xe cũ vợt tốc độ tăng trởng của xe mới Theo dự tính, số xe cũ trao đổitrên thị trờng hàng năm sẽ đạt 5,3 triệu chiếc vào năm 2008 và cân bằng với sốdoanh số xe mới Tại đây, một chiếc xe cũ nhập khẩu chịu mức thuế 50-60% sovới giá CIF.[11]
Thời gian gần đây, số lợng ô tô đã qua sử dụng tại Trung Quốc đợc raobán đột ngột tăng nhanh Theo Văn phòng thông kê Bắc Kinh, trong 10 tháng
đầu năm 2006, số ô tô đợc bán tại thủ đô là 570.000 chiếc, trong đó có đến250.000 chiếc là ô tô cũ (tăng 64,2% so với năm 2005) Hiệp hội buôn bán ô tônớc này cho biết, chỉ tính trong tháng 10/2006 số xe cũ đợc rao bán đã tăng vọt
Từ năm 1998, khi Trung Quốc đa ra những quy định đầu tiên về xe đã qua
sử dụng và thực thi vào năm 2003, thị trờng xe cũ có tốc độ phát triển nhanhchóng với mức tăng hàng năm 25% Hiện tại, tổng số xe cũ bằng hơn một phần
ba số xe mới Đây là con số vẫn còn khiêm tốn bởi tại các nớc phát triển, lợng xe
cũ giao dịch luôn gấp 2-3 lần xe mới và các nhà kinh tế dự báo, Trung Quốc sẽ làthị trờng xe cũ tiềm năng.[11]
Theo số liệu của Bộ Thơng mại Trung Quốc, Bắc Kinh và Thợng Hải làhai thị trờng xe cũ lớn nhất, chiếm khoảng 20% lợng xe cũ đã qua sử dụng của cảnớc Hiệp hội Thị trờng Bắc Kinh cho biết, tổng số xe cũ tại thành phố này vào
Trang 12khoảng 150.000 xe, với doanh số 15.000 xe/tháng Tuy nhiên, Trung Quốc hiện
đang phải đối mặt với vấn đề môi trờng vì thế chính phủ đã đa ra những quy địnhmới về việc hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trờng từ ô tô, kéo theo việcnâng tiêu chuẩn lu hành với xe cũ cao lên Bên cạnh đó, các thành phố quản lýnghiêm ngặt các xe không đạt tiêu chuẩn môi trờng Theo đó, chỉ những xe đạttiêu chuẩn Euro I mới nhận đợc “thẻ xanh” để đi trong thành phố từ 7h sáng đến8h tối Tính đến cuối năm 2005, Trung Quốc có khoảng 350.000 xe không đạttiêu chuẩn Euro I
Truớc tháng 10/2005, thị trờng xe cũ vẫn hoạt động theo nguyên tắc “kín”,nghĩa là chỉ thực hiện giao dịch tại nhng nơi đợc Chính phủ chỉ định và cấm cánhân tham gia Chính quyền Trung Quốc đa ra quy định trên nhằm ngăn chặnnhững chiếc xe ăn cắp hay sản xuất chui Theo đánh giá, quy định đó làm chậm
sự phát triển bởi ngời bán bắt buộc phải đa xe tới các chợ theo quy định, đồngthời phải trả phí giao dịch cao hơn cho ngời môi giới Trên thực tế, dù có quy
định trên thị trờng xe cũ vẫn sôi động
Từ năm 2006, theo hiệp định thơng mại với WTO, Trung Quốc mở cửa thịtrờng xe hơi Các đại lý có thể mua xe cũ và bán xe ngay từ kho của mình Bêncạnh đó, quy định mới cũng cho phép các nhà sản xuất đợc quyền kinh doanh xe
cũ Tuy nhiên, không nhiều hãng mặn mà với chính sách trên bởi nhập xe cũ sẽtạo nên sức ép lớn cho xe mới của chính họ
Theo quy định, cho đến cuối năm 2006, đối với các cá nhân nhập xe cũ về
sử dụng, một chiếc xe có giá CIF (bao gồm giá gốc và giá vận chuyển, bốc dỡ)40.000 USD, Trung Quốc áp thuế nh sau:
Bảng 3: Giá xe cũ nhập khẩu dạng nguyên chiếc tại Trung Quốc năm 2006
Thuế nhập khẩu (30%) 40.000x30%=12.000 USD
Thuế giá trị gia tăng (17%) (40.000 + 12.000)x 17%= 8.840 USD
Nguồn: www.vnexpress.com
3.2 Thị trờng xe cũ tại Mỹ
Thời gian gần đây, thị trờng xe cũ ở Mỹ đợc coi là sôi động hơn xe mới.Riêng trong năm 2004, doanh thu từ xe cũ bán trên mạng của Mỹ đạt 164 tỷUSD New York là một trong những thị trờng xe cũ lớn bởi có tỷ lệ dân nhập ccao Xe của các nhà sản xuất Nhật Bản, Hàn Quốc đợc a chuộng nhất.[11]
Trang 13Khái niệm xe cũ “used car” mang ý nghĩa rộng, nó bao gồm xe đã qua sửdụng (second hand), xe hết hạn, xe nghĩa địa (xe quá cũ phải cho vào bãi rác- ở
Mỹ và một số nớc Châu Âu còn có cả những bãi rác ô tô cũ) Chuyện đi lại bằng
xe đã qua sử dụng ở Mỹ rất phổ biến bởi không phải ai cũng có điều kiện mua xemới và xe cũ cũng có nhiều lựa chọn hơn Năm 2000, số lợng xe cũ bán ra là41,7 triệu chiếc trong khi xe đăng ký mới là 17,4 triệu xe Năm 2005, số đăng kýmới là 16 triệu, doanh số xe cũ là 17 triệu xe Những ngời chọn mua xe cũ thờng
là các sinh viên du học, dân nhập c, ngời có thu nhập thấp hoặc thất nghiệp Tuynhiên, khi mua xe cũ, ngời dùng phải chịu nhiều rủi ro nh gặp phải xe hết hạn
đăng kiểm, xe tai nạn nên chính họ cũng chỉ sử dụng một thời gian rồi bán lại,hay xe bị chỉnh lại đồng hồ công-tơ-mét, thay đổi số VIN (VehiculeIndentìication Number, bao gồm 17 ký tự và đợc đánh số theo nhiều cách khácnhau) do là xe ăn trộm
Về giá cả, xe cũ có thời gian sử dụng dới 5 năm (đáp ứng đợc quy địnhcho nhập xe cũ của Việt Nam) đợc các đại lý rao bán không thấp hơn 10.000USD, ngoại trừ dòng xe hạng nhỏ (mini) Nếu thấp hơn ngỡng 10.000 USD, xe cóthể bị tai nạn, gặp bão, ngập nớc, xe quá cũ hoặc xe của cá nhân Trong những tr-ờng hợp trên, xe gặp tai nạn là mặt hàng béo bở nhất của giới buôn xe cũ Mỹ Dokhông đủ tiêu chuẩn lu hành về an toàn và khí thải, loại xe này thờng đợc chủnhân nhờ đầu nậu bán, đa tới các chợ tự do hoặc rao trên mạng Về tổng thể,chúng vẫn còn mới, thiết kế hiện đại nên hầu hết ngời tiêu dùng khi nghe tới giáthấp “bất ngờ” đều sẵn sàng mua mà không phân vân Xếp sau xe tai nạn lànhững chiếc bị ngập nớc trong hai trận bão Katrina và Rita năm 2005 Hãng dịch
vụ mua bán xe cũ Auto Trader đã khuyến cáo khách hàng nên cảnh giác đểkhông mua phải những chiếc xe trên vì khi bị ngập nớc mặn, xe thờng bị hỏnghóc nặng và khó phục hồi Tuy nhiên, chúng vẫn đợc nhiều đại lý chỉnh sửa lại vàtung ra thị trờng Năm 2006, có khoảng 600.000 xe bị liệt vào danh sách
Xe có thời hạn sử dụng dới 5 năm mà các đại lý chào bán không thể thấphơn 10.000 USD nhng ở đời xa (sản xuất từ 1980-1990), chúng lại rất rẻ Mặc dùchất lợng còn tốt nhng loại xe này chỉ có giá khoảng 4.000-5.000 USD, thậm chínhững xe năm 1990 chỉ có giá khoảng 1.000-2.000 USD [11] Đây cũng là mộttrong những nỗi lo của các nớc nhập khẩu xe Mỹ bởi hiện tợng “cà” lai số VIN,tua lại đồng hồ công-tơ-mét Những xe second hand thờng có chất lợng tốt, lýlịch “trong sáng” Nguồn cung của các loại xe này có thể từ các hãng theo kiểuthuê xe (trả góp) Khi xe còn mới, khách hàng chỉ phải trả 2.000-3.000 USD, sau
đó trả dần vào từng tháng Khi hết hợp đồng, xe đợc hãng thu lại và đa vào thị
Trang 14tr-ờng xe cũ Nói chung, xe đã qua sử dụng có giá thấp hơn khoảng 20-30% so với
xe mới (cùng đời) sau 2-3 năm sử dụng
Xe cũ đợc yêu thích nhất tại Mỹ thuộc về các hãng xe Nhật Bản và HànQuốc, lý do là vì xe Châu á có độ bền cao, ít tiêu hao nhiên liệu, không hỏngvặt Hỏng hóc xe ở Mỹ là một vấn đề lớn bởi phụ tùng xe rất đắt (thậm chí còncao hơn giá trị một chiếc xe) Trong khi đó, xe của GM, Ford, Chrysler tốn nhiềuxăng (ngay cả khi còn mới) Theo điều tra của Consumer Reports, mẫu xe cũ đ ợc
a chuộng nhất tại Mỹ năm 2005 là dòng xe dẫn động 4 bánh Nissan Pathfinder
đời 1999, có giá gần 10.000 USD Pathfinder đợc yêu thích bởi có độ bền cao, ổn
định trên mọi địa hình và hợp với “gu” đi xe thể thao đa dụng của ngời Mỹ Danhsách đều thuộc các nhà sản xuất Nhật Bản và “tình trạng” này đã kéo dài nhiềunăm nay
Do thời tiết ít lạnh nên xe ở miền nam nớc Mỹ thờng đợc chuộng hơn xemiền bắc Xe miền nam tốt, bền, trong khi xe miền bắc do phải tiếp xúc với muốinhiều (ngời ta rắc muối để tan băng) nên nhanh chóng hỏng, đặc biệt ở khunggầm, phanh, máy những nơi thờng bị nớc bám Nớc muối gây ăn mòn hóa học rấtnhanh, phá hủy các bộ phận làm từ hợp kim nên xuất hiện tình trạng, có nhiều xesau 10 năm sử dụng bị mất luôn cả số VIN trên khung, trên máy Ngay tại Mỹ,giới buôn xe vẫn thờng mang hàng từ miền nam lên miền bắc bán và xuất sangCanada
III Tổng quan về ngành sản xuất ô tô Việt Nam
1 Giới thiệu về ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam ra đời vào năm 1991 và đã đi sau cácnớc trong khu vực Đông á từ 40-50 năm, do đó, ngành này đang đợc hởng nhữngchính sách hỗ trợ về đầu t, tín dụng, thuế, thị trờng, khoa học công nghệ, nhânlực… đối với mặt hàng ô tô gây bức để hình thành và phát triển thành một ngành công nghiệp ô tô đích thực.Tuy nhiên, để từng bớc phù hợp với cam kết hội nhập quốc tế mà Việt Nam đã kýkết nh: theo lộ trình cắt giảm thuế để gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA), Việt Nam cam kết từ năm 2007 sẽ bắt đầu giảm thuế nhập khẩu xenguyên chiếc Đến năm 2010, thuế nhập khẩu ô tô sẽ chỉ còn 0-5% Mặt khác,khi gia nhập WTO, Việt Nam phải mở cửa hơn nữa thị trờng ô tô, không phânbiệt đối xử giữa hàng nhập khẩu với hàng sản xuất trong nớc Những vấn đề hộinhập kinh tế và mở cửa thị trờng đang đặt ngành công nghiệp ô tô trớc thách thứclớn phải phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu để nâng cao sức cạnhtranh ngay tại Việt Nam và trên thế giới
Trang 15Hiện nay, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam bao gồm 11 doanh nghiệp cóvốn đầu t nớc ngoài (một doanh nghiệp vừa mới giải thể-Công ty VietindoDaihatsu-VINDANCO) và trên 200 doanh nghiệp trong nớc sản xuất, lắp ráp, sửachữa ô tô và chế tạo phụ tùng, trong đó có khoảng 60 cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô,gần 20 cơ sở sản xuất thân xe và rơ moóc và hơn 60 cơ sở tham gia chế tạo phụtùng cho ô tô Nhìn chung, sản lợng của các doanh nghiệp trong nớc rất thấp
Hầu hết các nhà đầu t nớc ngoài đã lựa chọn hai vùng kinh tế trọng điểm ởViệt Nam để thành lập cơ sở sản xuất của mình, đó là:
- khu vực đồng bằng sông Hồng trong đó có vùng kinh tế trọng điểmBắc Bộ, với các doanh nghiệp FDI là:
1 Công ty Toyota Việt Nam-TMV
2 Công ty trách nhiệm Ford Việt Nam
3 Công ty liên doanh Hino Motors Việt Nam
4 Công ty ô tô GM Daewoo Việt Nam-VIDAMCO
5 Công ty liên doanh sản xuất ô tô Hòa Bình-VMC
6 Công ty Honda Việt Nam-HVC
7 Công ty Việt Nam Suzuki-VISUCO
- thứ hai là miền Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam:
1 Công ty ô tô Isuzu Việt Nam
2 Công ty ô tô Mêkông
3 Công ty liên doanh Mercedes-Benz Việt Nam
4 Công ty liên doanh sản xuất ô tô Ngôi sao-Vina StarNền tảng của các doanh nghiệp ô tô trong nớc là những doanh nghiệp cơkhí lớn trớc đây làm công việc sửa chữa đại tu xe, nay đợc nâng cao năng lực sảnxuất và có thêm chức năng sản xuất, lắp ráp xe ô tô Các doanh nghiệp này hầuhết đợc tổ chức theo hớng chuyên môn hóa sản xuất, lắp ráp một số chủng loại xe
nh xe tải, xe khách, xe chuyên dùng với dây chuyền sản xuất đơn giản là gò, hàn,sơn và lắp ráp Bao gồm:
- Các doanh nghiệp Nhà Nớc với những lợi thế về cơ sở vật chất sẵn có,nguồn nhân lực dồi dào, kinh nghiệm và đặc biệt nhận đợc sự hỗ trợ, đầu t pháttriển từ Chính phủ phải kể đến nòng cốt là 4 tổng công ty:
1 Tổng công ty công nghiệp ô tô Việt Nam-Vinamotors
2 Tông công ty than
3 Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp-VEAM
4 Tổng công ty cơ khí giao thông vận tải Sài Gòn
Trang 16- Các doanh nghiệp t nhân: kể từ khi cánh cửa bớc vào ngành công nghiệp
ô tô đợc mở rộng với tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh
tế, hiện đã có hơn 41 doanh nghiệp trong nớc đầu t sản xuất, lắp ráp ô tô nhngphát triển mạnh và gia tăng đợc hàm lợng sản xuất trong nớc nhiều nhất mới chỉ
có 2 đơn vị t nhân là xí nghiệp T doanh Xuân Kiên (Vinaxuki) và công ty ô tôChu Lai-Trờng Hải (Thaco)
Ngoài ra còn phải kể đến Hiệp hội ô tô Việt Nam (VAMA), tổ chức lớnnhất ngành công nghiệp ô tô Việt Nam với 16 thành viên bao gồm: 11 doanhnghiệp FDI (không tính công ty Honda), công ty ô tô Trờng Hải, công ty t nhânXuân Kiên, tổng công ty cơ khí giao thông vận tải Sài Gòn, tổng công ty than vàtổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam
2 Đặc điểm của ngành sản xuất ô tô Việt Nam
ở Việt Nam, ngành công nghiệp ô tô là một ngành mới Nhiều ngời chorằng Việt Nam có ngành công nghiệp ô tô bắt đầu vào năm 1991 với sự xuất hiệncủa hai công ty liên doanh là Mêkông và VMC Nhng sau hơn 10 năm hình thành
và phát triển, công nghiệp ô tô ở Việt Nam thực chất chỉ là công nghệ lắp rápgiản đơn
* Kích cỡ thị tr ờng
Đặc điểm lớn nhất của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là thị tr ờng nội
địa nhỏ bé Nếu năm 2004, tính cả số lợng xe nhập khẩu thì quy mô thị trờng ô tôViệt Nam mới đạt 73.642 xe/năm và năm 2005 là 75.370 xe/năm Tính trungbình thì nhu cầu ô tô ở thị trờng Việt Nam chỉ khoảng 60.000 xe/năm, đây là con
số quá khiêm tốn so với quy mô kinh tế của ngành công nghiệp ô tô đích thực.Trong khi đó ASEAN là 2,1 triệu xe/năm; Trung Quốc 5,2 triệu xe/năm, NhậtBản 5,9 triệu xe/năm [7] Kích cỡ thị trờng ô tô Việt Nam nhỏ bé nh vậy là do:thứ nhất, mức sống của ngời dân Việt Nam tuy đã dần đợc cải thiện nhng vẫn cònthấp (Năm 2006 đợc coi là thành công của nền kinh tế Việt Nam với mức tăng tr-ởng GDP đạt mức 8,5%, tuy nhiên GDP bình quân đầu ngời thì vẫn ở mức khiêmtốn, chỉ khoảng 600 USD/ngời Do đó cha tạo sức mua lớn về ô tô đợc coi là mặthàng xa xỉ với mức giá bán trung bình hàng nghìn USD đối với đại bộ phận ngờidân); thứ hai, hạ tầng cơ sở còn yếu kém, hệ thống giao thông cha phát triển vàquy hoạch đô thị cha phù hợp
Những năm gần đây, tuy là sản lợng của các doanh nghiệp sản xuất trongnớc có chiều hớng gia tăng nhng vẫn chỉ là những con số khiêm tốn
Trang 17Bảng 4: Sản lợng ô tô của các liên doanh sản xuất, lắp ráp ô tô
tại Việt Nam từ năm 1996-2004
Đơn vị: chiếc
Công ty 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 TMV 201 1.277 1.836 2.179 4.600 5.759 7.335 11.714 9.150 Vidamco 1.014 689 465 1.097 1.750 2.906 3.719 5.131 5.334 Ford 11 362 325 1.195 1.915 3.685 5.049 5.589 Mercedes 71 359 252 183 547 1.874 2.822 3.115 2.824 VMC 2.090 1.341 950 1.250 2.222 1.800 2358 4.238 3.336 Vinastar 482 622 702 650 858 1.612 2.440 4.618 5.416 Visuco 161 489 386 320 948 1.508 2.122 2.886 4.107 Mekong 964 527 417 281 414 866 907 1.295 634 Isuzu 57 148 200 483 744 870 1.936 2934 Vindaco 555 556 345 434 779 469 492 958 823 Hino 12 64 44 81 103 156 206 394 Tổng số 5.538 5.940 5.927 6.963 13.955 19.556 26.706 41.146 40.541
Nguồn: Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam-VAMANăm 2005, mức tiêu thụ ô tô lắp ráp trong nớc đạt 39.876 xe (trong khi tr-
ớc đó, theo dự báo của một số tập đoàn nớc ngoài, Việt Nam đạt mức tiêu thụ105.000 xe vào năm này), năm 2006 là 40.853 xe Từ đầu năm đến nay, lợng tiêuthụ xe của VAMA đã tăng hơn 80% so cùng kỳ năm 2006, 6 tháng đầu năm lợngtiêu thụ đạt 28.524 xe, riêng tháng 8/2007 lợng bán lên đến 6.559 xe Với đà tăngtrởng nh hiện nay, dự kiến mức tiêu thụ ô tô lắp ráp trong nớc đến cuối năm 2007
có thể đạt xấp xỉ 60.000 xe [9] Nhu cầu tăng cao, các nhà sản xuất phải chạy hếtcông suất mà vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu bởi các hãng xe thờng căn cứ vào l-ợng đặt hàng của đại lý để định ra kế hoạch sản xuất và nhập khẩu linh kiện, kếhoạch này đợc tính trớc cả năm nên những thay đổi bất thờng nh hiện nay làkhông thể lờng trớc đợc
* Trình độ công nghệ
Có thể tạm chia các mảng sản xuất và lắp ráp ô tô tại Việt Nam ra làm 4phân đoạn xe con (xe du lịch, thể thao đa dụng SUV, crossover, pick-up), xebuýt-xe thơng mại, xe tải và xe chuyên dùng Các sản phẩm chính của các công
ty sản xuất, lắp ráp ô tô trong nớc chủ yếu tập trung vào các loại xe ô tô du lịch,
xe ô tô chở khách cỡ nhỏ, còn các loại xe chở khách cỡ trung bình trở lên, ô tô tảitrung bình và nặng đợc sản xuất rất ít do cha đợc đầu t nhiều và sản xuất với giáthành rất cao
Về mặt công nghệ, các doanh nghiệp chủ yếu đợc chuyển giao từ các hãng
ô tô lớn nh Toyota, Mazda, Suzuki, Hino, Ford, Kia, BMW công suất mỗi nhàmáy khoảng từ 5.000-20.000 xe/năm Thực chất, các công nghệ này không phải
là công nghệ cao của ngành chế tạo ô tô, nguyên nhân ở chỗ chúng ta không cócông nghiệp chế tạo phát triển để tiếp nhận việc chế tạo các linh kiện cao cấp cho
Trang 18ô tô Các liên doanh thành lập muộn hơn các nớc trong khu vực và thị trờng ô tôkhông đủ lớn để các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào việc chế tạo các linh kiện caocấp trong nớc Các hãng ô tô này chỉ dừng ở mức dây chuyền công nghệ lắp ráp ôtô dạng CKD1, CKD2 và đầu t dây chuyền gần giống nhau ở các công đoạn hàn,lắp khung xe, tẩy rửa sơn (trong đó chỉ có một số dây chuyền sơn tĩnh điện nh :Toyota, Ford, Mitsubishi còn lại các doanh nghiệp khác phải thuê hoặc không
sử dụng sơn tĩnh điện)
Tỷ lệ nội địa hóa của phần lớn các doanh nghiệp cao nhất không quá 20%
và thấp nhất là 2% (cha kể phần giá trị hàn, sơn, lắp ráp), hiện nay duy chỉ cóhàm lợng sản xuất trong nớc của một số model xe tải của Vinaxuki đạt đợc 40%[12] Tỷ lệ sử dụng phụ tùng linh kiện trong nớc cha đợc bao nhiêu so với camkết theo dự án ban đầu của các liên doanh, chỉ mới sử dụng một số ít chi tiết đợcsản xuất trong nớc, giá trị còn thấp nh ắc quy, săm lốp, ghế ngồi, dây điện, ăngten còn lại hầu hết các phụ tùng ô tô đều nhập khẩu từ công ty Mẹ hoặc bạnhàng của công ty Mẹ Ngay cả một số nguyên vật liệu để chế tạo phụ tùng nội
địa hóa (thép tấm, thép lá, cao su tổng hợp ) đều phải nhập khẩu, vì trong n ớccha sản xuất đợc Chúng ta lại càng cha có nhà máy nào đầu t hoàn chỉnh chế tạocác bộ phận quan trọng của xe nh động cơ, hộp số, hệ thống truyền động Nóitóm lại, công nghiệp phụ trợ chỉ là con số không Có quá ít nhà sản xuất, cungcấp linh kiện, phụ tùng (trên 60 doanh nghiệp, trong khi con số đó ở Malaysia là
385, ở Thái Lan là 1.000) so với số nhà lắp ráp, sản xuất xe hoàn chỉnh Để lắpráp đợc một chiếc ô tô hoàn chỉnh phải cần từ 20.000 đến 30.000 linh kiện cácloại từ đơn giản đến phức tạp, vì thế một doanh nghiệp sản xuất không thể tự đápứng đợc, mỗi nhà sản xuất cần tối thiểu 20 nhà cung cấp linh kiện, nhng trên thực
tế ở Việt Nam nhiều doanh nghiệp lắp ráp chỉ có khoảng 2-3 nhà cung cấp linhkiện trong nớc, vì thế phải phụ thuộc vào nguồn linh kiện nhập khẩu từ nớcngoài Ngay nh Toyota, năm 2005 nhập khẩu linh kiện trị giá 460 triệu USD nh-
ng giá trị linh kiện sản xuất trong nớc chỉ đạt 2,3 triệu USD [12]
Trong khi đó năng lực sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất trong nớcthì quá thấp, đầu t manh mún, quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm chủ yếu là linhkiện đơn giản, ít bí quyết công nghệ, giá trị thấp trong cơ cấu nội địa hóa, côngnghệ thì lạc hậu hầu nh không đáp ứng đợc yêu cầu của các liên doanh FDI Vìthế, khi cha có hệ thống các nhà cung cấp nguyên vật liệu, sản xuất linh kiệnhùng hậu thì công nghiệp ô tô khó tránh khỏi cảnh lắp ráp giản đơn
Điều đáng suy nghĩ là khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất,lắp ráp ô tô trong nớc với các sản phẩm mang thơng hiệu Việt Nam so với các
Trang 19liên doanh Trong khi các doanh nghiệp có vốn FDI đợc sự hỗ trợ rất lớn từ công
ty Mẹ, là các tập đoàn sản xuất ô tô có lịch sử phát triển hàng trăm năm, từ vốn
đến công nghệ và đặc biệt họ lại nắm trong tay các công nghệ nguồn, các mốiquan hệ lâu đời, do vậy việc họ hoàn toàn có thể chủ động trong việc sản xuất,thậm chí là điều tiết thị trờng Việt Nam Ngợc lại với khối này, phần lớn cácdoanh nghiệp Việt Nam đang phải loay hoay với các bài toán từ vốn, công nghệ,kinh nghiệm tới thị trờng Sự đầu t thiếu bài bản, quy mô nhỏ, các doanhnghiệp không biết liên kết với nhau nhằm tạo nên một thể thống nhất, thậm chí
có trờng hợp các doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh đó là những mốinguy rất lớn
* Chính sách u đãi về thuế
Với mục tiêu bảo vệ các doanh nghiệp ô tô non trẻ trong nớc trớc sự cạnhtranh của đối thủ bên ngoài, Việt Nam đã dựng lên hàng rào bảo hộ bằng thuếquan rất cao
- Trớc 1/1/2004:
1) Thuế nhập khẩu
Để thúc đẩy ngành công nghiệp sản xuất ô tô, Nhà nớc đã quy địnhmức thuế suất thấp đối với bộ linh kiện nhập khẩu và mức thuế suất caovới ô tô nguyên chiếc Ví dụ: Thuế nhập khẩu với loại xe nguyên chiếc
5 chỗ ngồi trở xuống là 100%, trong khi với bộ linh kiện dạng rờiCKD2 là 20%
Từ 1/9/2003, Bộ Tài chính ban hành Biểu thuế nhập khẩu u đãi mới: bỏquy định thuế suất thuế nhập khẩu đối với bộ kinh kiện CKD1, gộpthuế suất thuế nhập khẩu hai dạng CKD2 thành một mức thuế suất chomột dạng linh kiện CKD chung, điều chỉnh tăng khoảng 3%-5% so vớimức thuế suất cũ
2) Thuế giá trị gia tăng (GTGT)
Đối với những loại xe đã chịu thuế TTĐB thì không phải chịu thuếGTGT
3) Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)
Thuế TTĐB áp dụng cho ô tô sản xuất trong nớc đợc giảm 95% so với
ô tô nhập khẩu cùng loại Ví dụ: Thuế TTĐB với xe nguyên chiếc dới 5chỗ ngồi nhập khẩu là 100%, trong khi với xe sản xuất trong nớc là5% Sau đó, Chính phủ cũng điều chỉnh thuế TTĐB với xe nhập khẩu
là 80%, với xe trong nớc là 40%
Trang 20- Từ ngày 1/1/2004, theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Luật thuế TTĐB ban hành ngày 17/6/2003 và có hiệu lực từ 1/1/2004:
đánh theo từng linh kiện một, nhng cộng tất cả lại thì cũng chỉ ở mức 25% Cáinào ta cha sản xuất đợc thì để 0%, cái gì trong nớc sản xuất đợc thì để 30%, cáitrong nớc sản xuất đợc nhng cha đảm bảo đợc thì để 15% Nh thế, doanh nghiệp
có thể lựa chọn sản xuất cái nào, nhập khẩu cái nào với số lợng bao nhiêu saocho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Theo đánh giá của ngành tài chính, quyết địnhnày sẽ tạo nên những thay đổi trong vấn đề nội địa hóa của ngành công nghiệp ôtô
* Giá xe ô tô
Giá xe ở Việt Nam hiện nay đắt hơn rất nhiều so với mặt bằng giá xe trênthị trờng thế giới Ngành sản xuất ô tô đợc bảo hộ cao nên ngay cả khi cha tăngthuế, giá bán đã cao vì các doanh nghiệp có xu hớng đa ra giá gần bằng thuếnhập khẩu xe nguyên chiếc cộng các khoản thuế phải nộp để thu lãi cao màkhông nỗ lực điều chỉnh giảm chi phí Thực chất, các hãng xe đã tìm cáchchuyển giá từ nớc ngoài, ví dụ nh linh kiện này chỉ khoảng 20 USD nhng họ khailên 200 USD rồi nhập về để làm sao khi vào trong nớc, giá xe lắp ráp tơng đơng
xe nguyên chiếc nhập khẩu Họ tính lợi nhuận trên sản phẩm đã chuyển giá nên
bề ngoài thì lợi nhuận này không nhng thật ra là khổng lồ và công ty Mẹ cungcấp linh kiện sẽ lãnh trọn Trong khi hàng rào thuế quan với ô tô nguyên chiếcnhập khẩu quá cao càng tạo ra sự chênh lệch giữa giá xe CKD và CBU Có thể
Trang 21nói, sự u đãi đó, đã tạo ra siêu lợi nhuận đối với các thành viên của VAMA Rồi
cứ mỗi lần Bộ Tài chính điều chỉnh thuế TTĐB đối với ô tô sản xuất trong nớccho bằng với mức đánh vào ô tô nhập khẩu nguyên chiếc là các đại lý lại lợi dụng
để tăng giá xe, bắt chẹt ngời tiêu dùng.[6]
Thực tế cho thấy, giá bán xe ô tô tại thị trờng Việt Nam trong những nămqua cao gấp gần 2 lần sản phẩm cùng loại đợc sản xuất và tiêu thụ tại các nớccông nghiệp nh Mỹ, Nhật, Đức Chẳng hạn: giá bán 1 xe Toyota ở Việt Nam caogấp 1,85 lần so với ở Mỹ, BMW cao gấp 1,4-1,7 lần so với ở Đức, Mazda gấp1,53 lần so với ở Nhật [7] Theo ông Quách Đức Pháp-Vụ trởng Vụ Chính sáchthuế “ngay cả khi đã tính tất cả: thuế, giá CIEP (giá giao tận kho ngời nhận), giábán, ô tô lắp ráp trong nớc của Việt Nam cũng không thể cao thế đợc” Điều này
đợc giải thích bởi tác động của chính sách thuế ở hai khía cạnh:
Thứ nhất, do hàm lợng giá trị nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tô để lắp rápsản xuất xe thành phẩm tại Việt Nam chiếm phần lớn trong giá thành sản xuất,khoảng 50%-60% Hơn nữa, mức thuế suất thuế nhập khẩu bộ linh kiện dạngCKD và những phụ tùng trong nớc đã sản xuất đợc tăng lên từ 3%-5% Theo ýkiến của các nhà hoạch định chính sách thì việc tăng thuế này nhằm giảm dầnmức bảo hộ đối với ngành công nghiệp ô tô theo đúng lộ trình tự do hóa th ơngmại mà Việt Nam đã ký kết Điều này đồng nghĩa với việc ngời tiêu dùng phảitrả thêm một khoản tiền khoảng 2%-5% so với mức giá đã là quá cao so với thunhập của mình
Thứ hai, chính sách thuế nhằm bảo hộ ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
đợc coi là hàng rào bảo hộ khắc nghiệt, chống lại ô tô nhập khẩu, ở mức 300%
tr-ớc thời điểm 1/1/2004 và hiện nay là 130% đối với sản phẩm ô tô nguyên chiếccha qua sử dụng nhập khẩu (thuế nhập khẩu 70%, TTĐB 50%, GTGT 10%), còn
đối với ô tô đã qua sử dụng thì áp một mức thuế tuyết đối còn khắc nghiệt hơn
Khi Chính phủ đã quyết định giảm thuế cho ô tô mới nhập khẩu (từ 100%xuống 90% rồi 80% và đến nay là 70%) và giảm thuế tuyệt đối với ô tô đã qua sửdụng với mong muốn tạo một sự cạnh tranh với các nhà sản xuất trong n ớc thìgiá xe trong nớc vẫn không giảm Thậm chí, khi Bộ Tài chính buộc phải làm
“căng” với VAMA, yêu cầu giảm giá thì họ vẫn nói “không” với rất nhiều lý dongụy biện, nhng có lẽ nguyên nhân chính là do vào thời điểm này nhu cầu tăngcao, xe không đủ bán là cản trở lớn nhất với việc giảm giá xe của các doanhnghiệp FDI.[4]
Trang 22Hiện nay, vấn đề về giá ô tô sản xuất trong nớc không chỉ còn là sự thiệtthòi của ngời tiêu dùng trong nớc mà đã trở thành vấn đề nghị sự và đợc Quốchội quan tâm đặc biệt
* Nguồn nhân lực và nguồn đầu t
Với tổng số dân trên 80 triệu ngời, Việt Nam là nớc có độ tuổi dân số trẻ,
có nguồn lao động dồi dào Tuy nhiên, để đáp ứng đợc yêu cầu nhân lực kỹ thuậtcho ngành công nghiệp ô tô thì lại là một bài toán hóc búa Lao động Việt Namlàm việc trong ngành chủ yếu là ở các khâu lắp ráp các bộ phận phần khung,sơn còn những khâu quan trọng thì chủ yếu là các chuyên gia nớc ngoài đảmnhận Do công nghiệp ô tô Việt Nam chỉ là công nghệ lắp ráp, nên việc học hỏikinh nghiệm, tay nghề của các công nhân và kỹ s tại các liên doanh cũng rất khókhăn Hàng năm, Chính phủ vẫn dành một khoản ngân sách nhất định để cấp họcbổng cho sinh viên Việt Nam đi du học nớc ngoài (với các ngành, nghề nằmtrong định hớng phát triển của đất nớc) Song thực tế cho thấy rất nhiều sinh viên
đợc đào tạo có tay nghề cao đã ở lại làm thuê cho các công ty n ớc ngoài Nh vậy,chúng ta bỏ tiền của ra đào tạo, để sau đó các nớc khác “hớt ngọn” Đây là mộtbài toán nan giải đối với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
Ngành công nghiệp ô tô đợc Nhà nớc u tiên đầu t và bảo hộ rất mạnh mẽ.Bên cạnh việc đầu t cho các doanh nghiệp Nhà nớc với số vốn hàng ngàn tỷ đồngthì việc mở cửa cho nớc ngoài đầu t vào ngành cũng đợc triển khai mạnh mẽ, chủyếu các nhà đầu t nớc ngoài có năng lực tài chính vững mạnh tồn tại dới dạng cáccông ty liên doanh (đầu t FDI đã đăng ký trong năm 2006 vợt quá 6,5 tỷ USD,trong vòng 5 năm tới, con số vốn đăng ký mới có thể đạt 24-25 tỷ USD).[14]
Khi các nhà sản xuất ô tô đợc cấp phép hoạt động tại Việt Nam từ năm
1996, giấy phép đã ghi rõ, sản phẩm của họ chủ yếu là xuất khẩu, trong 10 nămphải nội địa hóa là 30%-40% Song sự bao bọc quá kỹ của Nhà nớc trong suốtnhiều năm đối với các liên doanh ô tô đa đến một kết quả đáng buồn Động cơcủa họ là khai thác thị trờng nội địa chứ không phải xuất khẩu hay thúc đẩy đầu
t nâng cao hàm lợng công nghệ trong sản phẩm của mình Họ đã không thực hiện
đúng cam kết tỷ lệ nội địa hóa nh trong giấy phép đầu t, cũng nh không có ý địnhnghiêm chỉnh thực hiện trong thời gian tới Trớc đây, trong suốt một thời gian dàihoạt động của các liên doanh này chỉ ở mức 10-30% công suất Theo nh đánh giácủa các nhà phân tích thì mục tiêu chính của các nhà đầu t nớc ngoài không phải
là xây dựng một ngành công nghiệp Việt Nam vững mạnh nh cam kết mà là theochiến lợc đầu t dài hạn, trong đó hình thức tận dụng chi phí rẻ của nguồn nhânlực và lợi dụng chính sách bảo hộ của Nhà nớc để tối đa hóa lợi nhuận là mục
Trang 23tiêu trớc tiên Đây có lẽ là sự sai lầm trong việc chọn hớng đi khi mà quan điểmphát triển công nghiệp ô tô Việt Nam là muốn tự sản xuất gần nh tất cả nhng lạikhông đủ lực để thực hiện Đó là cha kể đến việc, sau khi gia nhập WTO, ViệtNam phải bãi bỏ các biện pháp đầu t liên quan đến thơng mại Sẽ không cònchuyện các doanh nghiệp ô tô nớc ngoài bị yêu cầu phải liên doanh với cácdoanh nghiệp nội địa nếu muốn sản xuất ô tô ở Việt Nam Từ tháng 10/2006, quy
định về tỷ lệ nội địa hóa cũng đợc bãi bỏ, hàng rào thuế quan bị hạ thấp để tạotính cạnh tranh trên thị trờng ô tô trong nớc Khi mà sự bình đẳng giữa tất cả cácsản phẩm ô tô đợc thực hiện thì ngành sản xuất lắp ráp ô tô trong nớc sẽ ra sao?[5]
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã đi sau các nớc trong khu vực hàng chụcnăm do đó đang đợc hởng các chính sách u đãi, cơ chế bảo hộ cao từ phía Nhà nớc
để hình thành và phát triển thành một ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nớc Tuyvậy ngành công nghiệp ô tô Việt Nam hiện có rất nhiều vấn đề bất cập Đó là thị tr-ờng quá nhỏ, giá xe quá cao và hệ thống thuế cha ổn định Làm thế nào để thoátkhỏi cái vòng luẩn quẩn ấy? Khi mà thị trờng nhỏ bé cộng với thuế cao dẫn đến hiệuquả thấp và chi phí cao, từ đó làm cho thị trờng tiếp tục nhỏ bé Vì thế, chúng ta cần
có những định hớng quy hoạch, chính sách, và chơng trình hành động phù hợp vớitiến trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực
Từ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đến những năm cuối thập niên 80 thế kỷ
XX, nớc ta phải nhập khẩu hoàn toàn các loại ô tô, mà chủ yếu là ô tô đã qua sửdụng Giai đoạn này, mối quan hệ kinh tế giữa nớc ta với các nớc t bản hoàn toàn
bị cắt đứt, do vậy không hề có các loại xe của các nớc Tây Âu mà chỉ có các loại
xe từ các nớc trong khối Xã hội chủ nghĩa, nhập khẩu qua đờng viện trợ hoặc đổihàng nh: Liên Xô cũ, Đức, Tiệp Khắc, Trung Quốc… đối với mặt hàng ô tô gây bức Các loại xe nhập chủ yếu
là xe tải nhằm vận chuyển lơng thực, vũ khí đạn dợc, phục vụ chủ yếu cho chiếntranh Do điều kiện kinh tế của nớc ta còn hạn hẹp nên ô tô nhập khẩu giai đoạnnày đến nay vẫn đang lu hành Hầu hết các loại xe này đã xuống cấp, nhiều xe đã
Trang 24hết tuổi khai thác, do đó hiệu quả kinh tế khi sử dụng các loại xe này thấp vì chiphí sửa chữa, đại tu hàng năm cao, tiêu hao nhiên liệu lớn, tốc độ trung bình thấp.Tính đến thời điểm hiện tại, có khoảng hơn 63.000 xe tải đang hoạt động (có tuổiphơng tiện trên 20 năm) và khoảng 60.000 xe khách đang hoạt động (có tuổi ph-
ơng tiện trên 17 năm) [9] Đây là một trong nguyên nhân gây ra sự mất an toàngiao thông hiện nay
Trớc năm 1986, việc nhập khẩu ô tô vẫn đợc thực hiện bằng cách kế hoạchhóa tập trung: Uỷ ban kế hoạch nhà nớc tập trung nhu cầu của tất cả các bộ,ngành, địa phơng trong toàn quốc trình Chính phủ sau đó, thay mặt Chính phủ kýhiệp định 5 năm Bộ Ngoại thơng (nay là Bộ Công thơng) thay mặt Chính phủ kýcác Nghị định th hàng năm với các nớc Rồi Bộ Ngoại thơng lại giao cho Tổngcông ty xuất nhập khẩu máy (Machinoimport) đợc phép ký hợp đồng với các tổchức nớc ngoài Tổ chức thực hiện hợp đồng đã ký, đa hàng về bán cho hơn 200
đầu mối theo kế hoạch của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nớc, theo giá bán buôn hàngnhập khẩu của Ban Vật giá Chính phủ quy định
* Giai đoạn 1986 - 1991
Từ những năm 1986, để phục vụ đờng lối đổi mới nhằm phát triển kinh tế,văn hóa, chính trị, xã hội của Đảng và Nhà nớc, hoạt động nhập khẩu ô tônguyên chiếc đợc mở rộng cả về thị trờng ngoài nớc lẫn thành phần tham giatrong nớc Đây là thời kỳ khối các nớc XHCN có hiện tợng sa sút và đi đến tan rãnên việc nhập khẩu ô tô từ các nớc này rất khó khăn Hoạt động ngoại thơng củacác nớc này rất phức tạp vì hệ thống chính trị có biến động lớn, hoàn cảnh trên đãdẫn đến việc phải ngừng nhập khẩu ô tô từ các nớc này
Với các chính sách đổi mới, nền kinh tế nớc ta chuyển dần từ cơ chế kếhoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà n-
ớc Xóa bỏ bao cấp và bù lỗ cho kinh doanh xuất nhập khẩu; mở rộng quyền kinhdoanh xuất nhập khẩu trực tiếp cho các cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh
tế… đối với mặt hàng ô tô gây bứcSự độc quyền trong kinh doanh xuất nhập khẩu nh trớc đã đợc xóa bỏ Có cơchế mới nh đợc khai thông bế tắc, các doanh nghiệp, cơ sở có quan hệ với nớcngoài đua nhau nhập khẩu ô tô Các thơng gia Việt Nam nhậy bén đã tìm ra thịtrờng ô tô hợp lý và hiệu quả nh Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Canada… đối với mặt hàng ô tô gây bứcLợng xe đã qua sử dụng ở các thị trờng này rất nhiều, chất lợng phần lớn còn tốt,giá rẻ nên rất phù hợp với túi tiền của ngời tiêu dùng Việt Nam Loại xe nhập chủyếu là xe phục vụ cho sản xuất Đây là thời kỳ sơ khai của hoạt động của hoạt
động nhập khẩu ô tô của nớc ta nên cả doanh nghiệp lẫn các cơ quan quản lý Nhànớc đều gặp những khó khăn Nghiệp vụ ngoại thơng của các doanh nghiệp còn
Trang 25yếu kém, hiểu biết về các loại ô tô còn hạn chế nên không ít tr ờng hợp bị trắngtay Về phía các cơ quan Nhà nớc, nhiều bộ phận bị lúng túng do các quy địnhcha chặt chẽ và không đồng bộ dẫn đến không ít khó khăn khi thực hiện Tuynhiên, đây là bớc đột phá cho việc cải thiện chất lợng và chủng loại phơng tiệngiao thông.
Từ năm 1986, mọi chủng loại ô tô đều đợc phép nhập khẩu (ô tô đã qua sửdụng, ô tô tay lái nghịch-tay lái bên phải… đối với mặt hàng ô tô gây bức) Thơng nhân nhập về từ ô tô con, ôtô khách, ô tô tải, ô tô chuyên dùng, hầu hết các loại xe này đều là xe bãi (xe đãhết hạn sử dụng ở nớc ngoài để ở bãi xe cũ chờ hủy hoặc tái chế), chiếm khoảng90% tổng số ô tô nhập khẩu [9] Lý do để Chính phủ cho phép nhập khẩu cácloại ô tô đã qua sử dụng vì giá bán của loại xe này thấp, phù hợp với điều kiệnkinh tế nớc ta Mặt khác ô tô mới ở nớc ngoài giá rất cao, khi nhập về Việt Namcũng khó tiêu thụ Hơn nữa, phần lớn ô tô nhập khẩu dạng đã qua sử dụng đềuvẫn dùng tốt, mặc dù có những xe h hỏng nhỏ nhng vẫn khắc phục đợc, còn cónhững xe nhập về chỉ để lấy phụ tùng thay thế Ô tô đã qua sử dụng đợc nhậpkhẩu từ các thị trờng Nhật Bản, Singapore đều là xe tay lái nghịch, trớc khi đavào lu hành đều phải qua công đoạn chuyển đổi tay lái Nhìn chung, đây lànhững bớc thử nghiệm đầu tiên nên hoạt động nhập khẩu ô tô vẫn tồn tại một sốvấn đề, ngoài việc nhập khẩu ô tô sử dụng đợc còn bị nhập khẩu ô tô ở dạng ráccông nghiệp Đây là một thực tế phải chấp nhận bởi chúng ta còn quá ít kinhnghiệm về lĩnh vực này, hơn nữa phía đối tác cung cấp hàng ô tô bãi này phầnlớn đều cho các thơng nhân Việt Nam nợ tiền hàng cho đến khi nào bán đợc hàngmới phải trả Giai đoạn này ô tô nhập khẩu vẫn là nguồn bổ sung ph ơng tiện duynhất cho vận tải đờng bộ
hệ thống giao thông bên phải bắt đầu chiếm u thế nh Hàn Quốc, Mỹ, Đài Loan,
Đức Những năm 1992 đến 1997, tuy chúng ta đã lắp ráp đợc ô tô trong nớc nhng
số lợng và chủng loại còn rất hạn chế nên cũng vẫn phải dựa vào nhập khẩu làchính
Trang 26Cuối năm 1997, các liên doanh sản xuất ô tô trong nớc đều đi vào hoạt
động ổn định và có hiệu quả hơn Số lợng ô tô con, ô tô khách loại nhỏ đủ để đápứng nhu cầu trong nớc Trên cơ sở đó, Chính phủ đã xem xét và quyết định cấmnhập khẩu các loại ô tô từ 16 chỗ ngồi trở xuống Điều đó đã tạo ra hai thị tr ờng
ô tô gần nh riêng biệt trong cùng một nớc, đó là thị trờng ô tô sản xuất, lắp ráptrong nớc do các doanh nghiệp trong nớc làm chủ bao gồm các loại ô tô con, ô tôkhách 16 chỗ ngồi trở xuống và thị trờng thứ hai là các loại ô tô khách, ô tô tải cỡtrung bình trở lên và các loại ô tô chuyên dùng dành cho các doanh nghiệp nhậpkhẩu Việc cấm nhập khẩu ô tô từ 16 chỗ ngồi trở xuống làm cho các doanhnghiệp nhập khẩu mất đi khoảng hơn 15% đến 20% thị phần thị tr ờng ô tô ViệtNam Ngợc lại, thị phần còn lại của họ là ô tô tải và ô tô khách lớn, vẫn bị cácliên doanh giành giật Tuy nhiên, tỷ lệ mà các liên doanh giành đợc ở mảng nàycha nhiều, do giá sản xuất cao hơn nhiều so với các loại ô tô nhập khẩu Riêng cócác loại ô tô tải nhỏ, có trọng tải từ 1 tấn trở xuống, các liên doanh cũng kháthành công
Từ năm 2000, Chính phủ chính thức áp dụng hàng rào kỹ thuật một cáchnghiêm túc đối với ô tô nhập khẩu Trong cơ chế điều hành xuất nhập khẩu củaChính phủ không chỉ hạn chế về chủng loại nh trớc mà còn hạn chế tuổi của phơngtiện nhập khẩu, ô tô khách và ô tô tải dới 5 tấn đã qua sử dụng phải có tuổi phơngtiện không quá 5 năm tính đến thời điểm nhập khẩu Bộ giao thông vận tải là cơquan chuyên ngành quản lý Nhà nớc về chất lợng các loại xe cơ giới nhập khẩutrong đó có ô tô nhập khẩu Nghĩa là tất cả ô tô nhập khẩu vào Việt Nam với mục
đích kinh doanh đều phải kiểm tra chất lợng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trờngtheo tiêu chuẩn của Việt Nam Trờng hợp ô tô không thỏa mãn các quy định hiệnhành thì doanh nghiệp phải làm thủ tục tái xuất khẩu
* Từ năm 2006 đến nay
Đến năm 2006, sau một thời gian dài bị cấm, việc nhập khẩu xe ô tô dới
16 chỗ ngồi đã qua sử dụng lại đợc cho phép, theo Nghị định 12/2006/CP củaChính phủ, ban hành ngày 23/1/2006 về cơ chế quản lý và điều hành hoạt độngxuất nhập khẩu cho giai đoạn sau 2005, có hiệu lực từ 1/5/2006 Việc Chính phủcho phép nhập khẩu ô tô cũ nhằm 2 mục tiêu quan trọng đó là: thứ nhất, thể hiệnrằng Việt Nam nghiêm túc thực hiện các cam kết mở cửa thị trờng khi gia nhậpWTO; thứ hai, tạo ra một thị trờng ô tô cạnh tranh, ép các nhà sản xuất trong nớcphải hạ giá, mang lại lợi ích cho ngời tiêu dùng
2 Quy mô, tốc độ
Từ khi ngành sản xuất, lắp ráp ô tô ra đời, Việt Nam vẫn nhập khẩu để bù
đắp lợng ô tô thiếu do trong nớc cha sản xuất đợc và một phần để bù đắp lợng xe
Trang 27bị h hỏng hoặc hết hạn sử dụng Tuy nhiên, lợng xe nhập khẩu (mà chủ yếu là xe
đã qua sử dụng, chiếm đến trên 90% tổng số xe nhập) đã không ngừng tăng,
nh-ng tốc độ tănh-ng khônh-ng đồnh-ng đều qua các năm
Bảng 5: Số lợng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam giai đoạn 1991-2005
Đơn vị: chiếcNăm Số lợng ô tô
nhập khẩu Tăng, giảm so vớinăm trớc Tỷ lệ tăng, giảm sovới năm trớc (%)
Trang 28Mỹ cấm vận về kinh tế Trong giai đoạn này, trung bình mỗi năm nớc ta nhậpkhẩu khoảng trên 6.000 xe cũ nguyên chiếc Năm 1991, lợng xe nhập khá khiêmtốn là do lúc này Liên Xô và hệ thống các nớc xã hội chủ nghĩa tan rã, Việt Nam
đã mất đi thị trờng nhập khẩu lớn nhất Đến năm 1992-1994, lợng ô tô nhập khẩutăng trở lại Nguyên nhân là do nhu cầu sử dụng của đất nớc, việc xây dựng cáccông trình trọng điểm của Nhà nớc mà phơng tiện vận tải phục vụ cho các côngtrình này không đủ đáp ứng, đòi hỏi nhu cầu phải nhập lẻ các ph ơng tiện vận tải
để bổ sung cho nhu cầu của sản xuất Mặt khác Nhà nớc còn cấp ngân sách chocác chơng trình y tế, giáo dục, dân số kế hoạch hóa gia đình để tuyên truyền,chữa bệnh đến các cơ sở y tế huyện do đó nhu cầu nhập xe ngày càng tăng Cóthể thấy, tình hình nhập khẩu giai đoạn này đã phản ánh sự phụ thuộc quá lớncủa nhập khẩu Việt Nam vào các nớc Xã hội chủ nghĩa Chúng ta không có đợcmột thị trờng nhập khẩu rộng rãi do đó không thể ứng phó linh hoạt khi có diễnbiến xảy ra Đó chính là bài học kinh nghiệm mà chúng ta có đợc sau nhiều năm
mõ mẫm không chỉ với nhập khẩu ô tô mà còn với các mặt hàng khác
Số lợng ô tô cũ nhập khẩu từ năm 1995 đến năm 2005 cũng biến động thấtthờng, không đồng đều qua các năm Năm 1995, nhập một số lợng tơng đối lớn
so với năm trớc (khoảng 18.000 chiếc) do trong năm này, nớc ta đợc Mỹ xóa bỏlệnh cấm vận và gia nhập khối ASEAN nên đã mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội
Trang 29giao thơng với các nớc trên thế giới Đến năm 1996, số lợng ô tô cũ nhập khẩutăng (gần 18% so với năm trớc), song đến năm 1997, lợng này lại giảm đáng kể(41% so với năm trớc) Điều này đợc lý giải bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ ở Châu á, hầu hết các nớc trong khu vực đều bị ảnh hởng ít nhiều sau biến cốnày Tuy không chịu ảnh huởng nghiêm trọng, nhng Việt Nam cũng đã mất đimột số bạn hàng lớn để nhập khẩu ở Nhật Bản, Hàn Quốc và nền kinh tế cũng vìthế không giữ đợc tốc độ phát triển cao nh những năm trớc Sang đến năm 1999,
số lợng xe nhập khẩu giảm mạnh (tơng đơng giảm 35% so với năm trớc) Tổngkim ngạch nhập khẩu ô tô cũ chỉ đạt gần 97 triệu USD Nguyên nhân chính là dothời điểm này, các liên doanh sản xuất ô tô trong nớc dần đi vào hoạt động ổn
định, sản lợng ô tô sản xuất đã phần nào đáp ứng đợc nhiều hơn nhu cầu trong ớc
* Giai đoạn từ 2006 đến nay
Năm 2006, lợng xe cũ nhập về tiếp tục giảm (đạt gần 11.000 chiếc- tơngứng giảm 28% so với năm 2005) Nguyên nhân chính là do từ ngày 1/5/2006,quy định nhập khẩu xe đã qua sử dụng đã thay đổi (theo quy định tr ớc đây, chỉ
có xe tải nhẹ dới 5 tấn và xe khách đã qua sử dụng phải có niên hạn sử dụng dới
5 năm, nay theo Nghị định 12, tất cả các loại xe cũ nhập khẩu đều phải đáp ứng
điều kiện này), khiến giá xe tăng tới 50%, doanh nghiệp vận tải không dám mởrộng đầu t vì giá xe quá cao, nên số lợng nhập về ít dần Thông thờng, họ chỉnhập các loại xe có niên hạn sử dụng khoảng 10 năm, chất lợng còn tốt, giá cả lạiphù hợp với khả năng tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam Tại n ớc ngoài,các loại xe tải dới 5 năm tuổi giá cao gần bằng xe mới (600-700 triệu đồng) nêndoanh nghiệp không dám nhập về sợ không bán đợc Điều đáng chú ý nữa là chỉmới xâm nhập thị trờng Việt Nam cách đây 3, 4 năm nhng số lợng các loại xe tải,
xe khách và xe bus từ Trung Quốc hiện đã chiếm lĩnh thị phần cao tại Việt Nam.Những năm trớc ngời tiêu dùng chủ yếu mua các loại xe tải, xe khách đã qua sửdụng nhập khẩu từ các nớc nh Hàn Quốc thì nay bắt đầu chuyển sang mua xe
Trang 30nhập khẩu mới từ Trung Quốc Điều này cũng góp phần lý giải tại sao số l ợng xe
cũ nhập khẩu vào Việt Nam ngày càng giảm Các bãi xe cũ hiện không còn hoạt
động mạnh nh thời gian trớc, giảm hơn 2/3 số lợng các bãi xe cũng nh số lợngxe.[13]
Mặc dù trong năm này đánh dấu một sự kiện quan trọng, đó là việc chophép nhập khẩu ô tô từ 16 chỗ ngồi trở xuống theo Nghị định 12/2006/CP củachính phủ nhng số lợng xe cũ đợc nhập khẩu cũng không vì thế mà tăng lên Bảytháng sau khi doanh nghiệp đợc phép nhập khẩu ô tô cũ dới 16 chỗ, tổng số xe d-
ới 16 chỗ đã qua sử dụng đợc thông quan trong cả nớc là 849 chiếc (trong đó cógần 220 chiếc đợc nhập về cảng TP.HCM, nhng chỉ 10% doanh nghiệp khai báogiá đúng, còn lại đều phải tham vấn giá) Hầu hết xe cũ nhập khẩu đều có kháchhàng đặt mua trớc khi về đến cảng Việt Nam Theo cơ quan quản lý, TP.HCM là
địa phơng đầu tiên nhập khẩu ô tô cũ vào ngày 16/5/2006 với 4 chiếc ô tô gồm 2chiếc Lexus, 2 chiếc BMW, đơn vị nhập khẩu là công ty Tradoco Chỉ những đầumối nhập khẩu có kinh nghiệm hoạt động mới dám lấy thêm hàng, song cũngcầm chừng vì hàng về không bán đợc Nhiều đơn vị không chịu nổi đã chuyển h-ớng kinh doanh, còn một số doanh nghiệp kiên trì bám trụ với kế hoạch nhậpkhẩu xe cũng lâm vào tình trạng hàng về khó bán hoặc nhập khẩu cầm chừng đểchờ phản ứng của thị trờng Đơn cử nh công ty TNHH Vĩnh Hoàng-Hải Phòng,một trong những đơn vị đầu tiên mạnh dạn nhập khẩu xe cũ, nhng mỗi tháng chỉnhập khẩu một vài chiếc nhằm duy trì mối quan hệ với đối tác n ớc ngoài và chờcơ hội thuế nhập khẩu xe cũ giảm Khách hàng chủ yếu vẫn là lái buôn và nhữngngời có quan hệ thân thiết thực sự có nhu cầu
Bớc sang năm 2007, lợng xe cũ nhập khẩu lại tăng đáng kể, 7 tháng đầunăm 2007 đạt gần 8.500 chiếc, tăng 34 % số lợng cùng kỳ năm ngoái Riêng xehơi cũ nhập khẩu trong 2 tháng đầu năm lại giảm, số xe hơi cũ nhập khẩu quacác cửa khẩu tp.HCM giảm tới 80% so với những tháng trớc đó (đạt 56 xe), việcngừng nhập khẩu xe hơi cũ cũng diễn ra ở hầu hết các doanh nghiệp nhập khẩutrong cả nớc [10] Giải thích cho sự việc này là do các nhà nhập khẩu lo ngạichính sách thuế thay đổi từ ngày 11/1/2007 nên họ đều gấp rút thanh lý hợp đồng
cũ, hạn chế nhập khẩu hàng mới Trong khi nhu cầu của ngời tiêu dùng tăng cao,dẫn đến tình trạng khan hàng Theo giới kinh doanh, nhu cầu xe hơi cũ tăng caobắt nguồn từ nhiều yếu tố, trớc hết ngời tiêu dùng không còn tâm lý chờ đợi nhnăm ngoái về việc mua xe cũ giá rẻ bởi điều đó là không tởng nên quyết địnhmua xe vì thực sự có nhu cầu Thứ hai, thị trờng chứng khoán phát triển dẫn đến
số ngời đủ điều kiện mua xe nhiều lên đáng kể Một yếu tố quan trọng nữa là
Trang 31ng-ời tiêu dùng ngày càng có quan niệm thoáng hơn về ô tô, họ không còn coi đó làtài sản lớn nữa mà đơn giản chỉ là phơng tiện đi lại Hơn nữa, hàng loạt các mẫu
xe trong nớc ngừng sản xuất nên khách hàng đành tập trung về một số sản phẩm
nh Chevrolet Captiva, Honda Civic, Toyota Camry hay Vios Trớc nhu cầu tănglên chóng mặt cộng với việc sản xuất của các liên doanh không đáp ứng kịp,không ít khách hàng đã chuyến hớng tìm mua ô tô cũ bằng cách đặt hàng với các
đại lý nhập khẩu xe cũ Cung không đáp ứng đủ cầu đã tạo ra tình trạng khanhàng với cả xe sản xuất trong nớc và cả xe cũ nhập khẩu Nhu cầu gia tăng khiếngiá cả đội lên khoảng 10% Chẳng hạn nh chiếc Morning SLX đời 2005 nhậpkhẩu, vài tháng trớc có giá 16.000 USD thì nay nâng lên thành 17.000-18.000USD
Những tháng gần đây, thị trờng nhập khẩu lại sôi động trở lại sau khi đã
có quyết định giảm thuế nhập khẩu tuyệt đối Những dòng xe cao cấp hạng sang
đợc nhập về ngày càng nhiều Theo Tổng cục Hải quan, sau một năm cho phépnhập khẩu xe cũ dới 16 chỗ, 1.421 xe đã đợc thông quan Và từ sau khi Bộ Tàichính công bố mức giảm thuế, ớc tính đã có hơn 700 xe đợc nhập về từ thị trờngChâu Âu và Mỹ Cũng phải nói thêm rằng thông tin tháng 12 tới sẽ bắt buộc ng -
ời tham gia giao thông phải đội mũ bảo hiểm cũng ảnh hởng một phần đến sự giatăng này Cha bao giờ thị trờng ô tô nhập khẩu nguyên chiếc lại sôi động nh hiệnnay.[7]
Theo một số chuyên gia kỳ cựu trong ngành ô tô, tuy trên giấy tờ ViệtNam hiện có tới 40 doanh nghiệp nhập khẩu ô tô cũ song thực chất chỉ có vài đạigia thâu tóm Trong số những ông trùm này, doanh nghiệp Nhà nớc có, t nhâncũng có, họ không muốn lộ diện quá nhiều nên thờng mợn tên hoặc thuê doanhnghiệp khác đứng ra nhập hộ
3 Cơ cấu nhập khẩu
Trớc quyết định 242 của chính phủ năm 2000, ô tô cũ đợc nhập khẩu vềvẫn nhiều, song chủ yếu là các loại xe vận tải cỡ lớn phụ vụ cho sản xuất, xe chởkhách trên 16 chỗ (trong nớc cha sản xuất đợc) Xe du lịch dới 16 chỗ thuộc diệnnhập khẩu theo giấy phép nhập khẩu nên trên lý thuyết gần nh không thể vào nớc
ta khi mặt hàng này thuộc nhóm hạn chế nhập khẩu Nếu có thì chỉ là một số rất
ít thông qua con đờng Nghị định th ký kết giữa chính phủ nớc ta với các nớckhác
Tính tới thời điểm trớc năm 2006, ô tô cũ nhập khẩu chỉ có ba mảng chínhcủa thị trờng trong nớc do các nhà sản xuất trong nớc bỏ lại là: dòng ô tô khách
từ 17 chỗ trở lên, dòng ô tô tải và các loại xe chuyên dùng khác nh: ô tô dầu kéo,
Trang 32ô tô cần cẩu, ô tô cứu hộ, ô tô hút chất thải, ô tô thi công đ ờng Tuổi phơng tiện
đối với xe cũ cụ thể là: nhóm xe khách từ 17 chỗ trở lên, và ô tô tải có trọng tấndới 5 tấn, tuổi phơng tiện là 5 năm trở xuống tính đến thời điểm nhập khẩu;nhóm ô tô có trọng tải từ 5 tấn trở lên và các loại ô tô chuyên dùng thì không bịgiới hạn, thông thờng tuổi phơng tiện xấp xỉ 12 tuổi và nhỏ hơn
Bảng 6 : Cơ cấu nhập khẩu theo từng loại giai đoạn 2000-2003
14,39% 13,61% 11,66% 21,32% 14,84%Tổng số cả năm 15.740 28.266 29.355 20.825 93.937
ợc nhập khẩu về phục vụ cho vận chuyển hành khách đờng dài hoặc theo cáctuyến nhất định Hình thức vận tải này có nhiều đối tợng tham gia, từ các công tyvận tải Nhà nớc,các liên doanh đến các thành phần t nhân
Nhóm ô tô tải có trọng tải dới 5 tấn có tỷ lệ khá cao so với tổng số xe cũnhập khẩu (34,36%), so với lợng xe sản xuất trong nớc loại này giai đoạn 2000-
2003, thì gấp 1,3 lần Loại ô tô tải này có nhu cầu rất cao ở thị tr ờng Việt Nam,
đặc biệt ở những thành phố lớn Do sự tăng trởng số lợng phơng tiện giao thônglàm cho hệ thống giao thông của các thành phố lớn và các khu đô thị bị quá tải
Để giảm bớt hiện tợng này, chính quyền các thành phố lớn nh Hà Nội, tp.HCM
có các biện pháp nh: cấm xe tải cỡ trung bình và lớn đi trong thành phố, cho phép
xe tải nhỏ đi trong thành phố ngoài giờ cao điểm Các biện pháp đó tạo điềukiện cho ô tô tải nhỏ có một thị trờng vận tải riêng mà ô tô tải trung bình và lớnkhông xâm phạm đợc, nên số lợng ô tô tải nhỏ nhập khẩu và sản xuất trong nớc
đều tiêu thụ mạnh Dịch vụ vận tải này chủ yếu do t nhân đảm nhận, nó phục vụ
Trang 33toàn bộ nhu cầu vận tải lơng thực, thực phẩm, các loại hàng hóa tiêu dùng, phânphối sản phẩm
Nhóm ô tô tải có trọng tấn từ 5 tấn trở lên chiếm 44,44% trên tổng số ô tô
cũ nhập khẩu, tỷ lệ cao nhất Số lợng nhập khẩu trong 4 năm qua là khoảng41.000 chiếc, gấp hơn 45 lần số lợng ô tô cùng loại đợc sản xuất trong nớc cùnggiai đoạn Nhóm này là nhóm các xe ô tô có ảnh hởng lớn nhất đến quá trìnhphát triển kinh tế-xã hội Nhập khẩu ô tô loại này đã bổ sung kịp thời cho lực l -ợng phơng tiện giao thông đờng bộ đã xuống cấp, chạy trên các tuyến đờng dài,chuyên chở các mặt hàng có số lợng lớn Ô tô cũ của các nớc xã hội chủ nghĩa cóvận tốc trung bình thấp nếu chạy đờng dài chỉ đạt khoảng 30km/h, các xe nhậpkhẩu tuy cũng là dạng đã qua sử dụng nhng đợc nhập từ các thị trờng khác nên
có độ an toàn cao hơn, vận tốc trung bình đạt 40-45km/h, có thể rút ngắn đ ợckhoảng 1/3 đến 1/4 thời gian vận chuyển Hình thức vận tải hàng hóa đờng dàinày có cả doanh nghiệp quốc doanh, liên doanh, t nhân tham gia
Một nhóm nữa là các loại ô tô có chức năng đặc biệt hoặc đợc chế tạo ít đểphục một mục đích nhất định nh ô tô xi-tec chở xăng dầu, hóa chất ; ô tô đầukéo chuyên dùng để chuyên chở hàng công ten nơ Nhóm ô tô này trong nớc hầu
nh cha sản xuất đợc nên phải nhập khẩu duới dạng đã qua sử dụng,số lợng chiếm
tỷ lệ khoảng hơn 12% tổng số ô tô cũ nhập khẩu Giá thành của các loại xe nàykhá cao, tuy đã qua sử dụng, vì hệ thống chuyên dùng lắp trên xe có các thiết bị
đắt tiền, khó chế tạo Công cuộc công nghiệp hóa đất nớc rất cần có các loại xechuyên dùng này, bởi mỗi ngành sản xuất đòi hỏi có loại phơng tiện vận tải cóchức năng chuyên dùng phù hợp riêng với nó
Sang đến năm 2006, với sự xuất hiện thêm của loại xe từ 16 chỗ trở xuống
đã làm cho chủng loại ô tô cũ đợc nhập về Việt Nam phong phú hơn nhiều Loại
xe cũ nhập khẩu dới 16 chỗ đợc a chuộng nhất trên thị trờng là xe BMW Mẫu xe
đợc nhập về nhiều nhất là loại Kia Morning nhập khẩu từ Hàn Quốc Đứng thứ 2
là loại xe đa dụng 7 chỗ Toyota Sienna Dòng xe hạng sang, xe đa dụng chiếm tỷ
lệ 60% trong tổng số xe cũ đợc nhập, 30% thuộc về loại xe nhỏ có dung tích xilanh dới 1,0 lít Sở dĩ, những chiếc xe hạng sang đợc chuộng hơn bởi lẽ nếu cộngtất cả các khoản thuế (thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT) nếu doanhnghiệp nhập xe hạng trung sẽ rất khó bán ra thị trờng vì giá cao
Từ tháng 1/2007 đến tháng 5/2007, trong tổng số hơn 572 xe (với đủ cácchủng loại chủ yếu là xe mini có giá 15.000-25.000 USD và xe độc với giá vàitrăm USD) đợc thông quan, dòng xe dung tích máy nhỏ, xe hạng thấp là KiaMorning dẫn đầu về số lợng nhập khẩu với hơn 170 chiếc, Lexus 87 chiếc,
Trang 34Mercedes 69 chiếc, BMW 60 chiếc, Toyota Sienna XLE 41 chiếc, số còn lại làcác dòng xe Smart Forfour, Volkswagen New Beatle… đối với mặt hàng ô tô gây bứccó 11 chiếc xe thuộc loại
độc gồm chiếc Hummer H3 loại 5 chỗ đời 2005, 4 chiếc Cadillac Escalade đời
2006, 6 chiếc Audi Q7 đời 2006 Thời gian gần đây, những xe siêu sang có mặttại Việt Nam ngày càng tăng, bắt đầu từ chiếc Maybach 62, rồi đến Bently, AstonMartin, Infiniti, Lamborghini, Ferrari, Rolls Royce hay Audi R8 [9] Có thểnói, hiện nay ở Việt Nam đã có gần nh đầy đủ các thơng hiệu xe siêu sang vàsiêu xe trên thế giới
4 Cơ cấu thị trờng
Giai đoạn trớc năm 1995, chủ yếu nớc ta nhập khẩu ô tô cũ từ các nớc Xãhội chủ nghĩa nh Liên Xô (chiếm 27,6%), Đức (72,1%-tơng đơng với 2687chiếc) Năm 1991, thị trờng nhập khẩu của Việt Nam có sự góp mặt của NhậtBản (175 chiếc) mà phần lớn là các loại xe cũ phục vụ cho các công trình xâydựng Năm 1992, số lợng nhập khẩu ô tô cũ từ Nhật tăng vọt (1698 xe-tơng đơng48,5%), dẫn đầu các nớc về số xe cũ nhập khẩu vào Việt Nam Đứng thứ 2 làHồng Kông (18,6%) Các nớc Liên Xô cũ chiếm tỷ trọng thấp (9,5%) Các bạnhàng của ta phần lớn là các nớc Châu á Đến năm 1993, chúng ta mở rộng thêmthị trờng nhập khẩu sang Trung Quốc với các loại xe tải nhẹ nh Sanxing, KimMã, Lờng Châu [9] Nói tóm lại, từ sau năm 1991, lợng xe nhập khẩu đã qua sửdụng từ Nhật Bản ngày càng tăng, số xe nhập khẩu từ Liên Xô và các nớc Đông
Âu cũ giảm do sự gia tăng nhu cầu sử dụng các thiết bị hiện đại cho các côngtrình lớn với yêu cầu kỹ thuật khắt khe và có lắp thêm các thiết bị chuyên dùng.Trong khi đó, các xe của các nớc này lại không đáp ứng đợc yêu cầu đó Tuynhiên chúng ta vẫn có nhu cầu nhập khẩu các loại xe do các nớc này sản xuất vìkhả năng hoạt động của các loại xe này tốt, bền, giá thành rẻ hơn các xe cùngloại của Nhật và ngời Việt Nam đã quen dùng các loại xe này trong một thời giandài
Giai đoạn sau 1995, sau khi đã gia nhập vào nhiều tổ chức quốc tế và ký kếtnhiều hiệp định song phơng, đa phơng với nhiều quốc gia trên thế giới, cơ cấu thị tr-ờng nhập khẩu ô tô của Việt Nam cũng đợc mở rộng và thay đổi đáng kể
Bảng 7: Thị trờng nhập khẩu ô tô của Việt Nam
Trang 350 5000
Châu Á
Nguồn: Bộ thơng mại
Ô tô đợc nhập khẩu từ nhiều nớc khác nhau nhng phần lớn là các nớc đến
từ Châu á, trong đó số lợng lớn nhất đợc nhập khẩu từ Hàn Quốc và Nhật Bản
Số ô tô cũ nhập khẩu từ Hàn Quốc chiếm khoảng trên 60% tổng số ô tô nhậpkhẩu vào Việt Nam trong những năm qua Các tổ chức, cá nhân nhập khẩu nhiều
xe từ thị trờng ô tô bãi của Hàn Quốc vì rất nhiều lý do Đây là nớc có vị trí địa
lý gần với Việt Nam, phong tục tập quán có nhiều điểm tơng đồng Hơn nữa,công nghiệp ô tô của Hàn Quốc rất phát triển Giá bán ô tô của các hãng rẻ hơnnhiều so với các hãng của Nhật, Mỹ và các nớc Châu Âu
Các loại xe tải, xe chuyên dùng ngoài nhập khẩu từ Nhật Bản và HànQuốc chúng ta còn nhập chủ yếu từ các nớc Châu Âu, các nớc này có ngành côngnghiệp ô tô đã rất phát triển nên họ có công nghệ rất hiện đại để sản xuất nhữngloại xe đòi hỏi kỹ thuật sản xuất phức tạp Có thể kể đến đó là Pháp, Đan Mạch,
Đức, Nga, Anh, Ucraina hay một số nớc Châu Mỹ nh Canada, Mỹ Mỹ là nớc
có số lợng ô tô cũ nhập khẩu vào Việt Nam sau Hàn Quốc Loại xe chủ yếu nhập
từ thị trờng này là ô tô tải, ô tô đầu kéo Chất lợng xe từ thị trờng này còn rất cao
Trang 36nhng do phải vận chuyển xa nên giá thành cũng cha hợp lý, mặt khác phụ tùngthay thế khó mua tạo tâm lý không tốt cho ngời tiêu dùng Đặc biệt, những nămgần đây nớc ta đã nhập khẩu mặt hàng xe ô tô công cộng, phục vụ cho giao thôngvận tải công cộng nh xe buýt các loại Thị trờng nhập khẩu của ta chủ yếu vẫn làHàn Quốc, Nhật Bản Bên cạnh đó còn có một số nớc khác nh Trunng Quốc,
Đức, Thổ Nhĩ Kỹ, Anh
Từ tháng 5 năm 2006, thị trờng ô tô cũ của Việt Nam nổi lên với sự xuấthiện của loại ô tô đã qua sử dụng dới 16 chỗ Nguồn hàng của loại xe này chủyếu là từ Mỹ, Đức, Austalia do những nớc này có hệ thống đờng xá tốt, xe đợcbảo dỡng định kỳ nên những model từ 5 năm trở lại đây còn rất tốt Xe từ Mỹchiếm u thế, vì Luật đờng bộ của Mỹ đi bên phải, giống Luật đờng bộ của ViệtNam Có một sự phân hóa rõ khi dòng xe đa dụng nh Honda Odyssey, ToyotaSienna chủ yếu xuất từ Mỹ còn dòng xe hạng sang nh Mercedes, BMW lại cóxuất xứ ở Đức Thị trờng Nhật là nơi cung cấp chính xe Lexus (chiếm 80%) vàHàn Quốc dành cho xe hạng nhỏ nh Kia Morning, Daewoo Martiz, KiaVisto Xe Trung Quốc do chất lợng không đạt độ tin cậy của ngời tiêu dùng nên
đợc nhập với số lợng ít hơn Các nhà nhập khẩu cho biết phải có mối thu gomthân thiết từ trớc bởi loại hàng này nhiều đầu mối nhập khẩu ở các nớc nh Czech,
Ba Lan, Philippin, Indonexia cũng săn lùng Một chiếc xe từ nớc ngoài về ViệtNam đến tay ngời tiêu dùng Việt Nam phải qua rất nhiều khâu trung gian với chiphí không nhỏ Nếu đợc nhập xe cũ, các doanh nghiệp có thể thiết lập cả nhữngcửa hàng sửa chữa để thu hút khách, do không đợc nhập thiết bị cũ nên họ thờngchọn những model Nhật khá quen thuộc với ngời tiêu dùng và cánh thợ xe ViệtNam Có hai phơng thức để huy động nguồn ô tô cũ tại Mỹ cũng nh ở các nớckhác nh ở Hàn Quốc, EU, Nhật Bản một là đi thu gom lẻ, thứ hai là đấu thầutừng lô Với cách thứ hai thì có thể mua đợc xe số lợng lớn, giá rẻ Nguồn hàngcòn có thể từ các nhà sản xuất, lắp ráp ô tô vốn luôn tồn khi một số l ợng xe lỗimốt, lỗi kỹ thuật, các công ty bảo hiểm cũng là một nguồn cung cấp đáng kể
II Chính sách của Nhà nớc đối với hoạt động nhập khẩu
Trang 37Năm 1995, do nhu cầu thị hiếu của ngời tiêu dùng trong nớc, Thủ tớngchính phủ đã cho phép nhập khẩu ô tô du lịch đã qua sử dụng và giao cho Bộ Th-
ơng mại chịu trách nhiệm điều hành Việc nhập khẩu này lại đợc giao cho một sốdoanh nghiệp Nhà nớc có đủ năng lực với yêu cầu chất lợng xe nhập có thể từ50% trở lên Số lợng nhập do Bộ Thơng mại quyết định Nhng việc nhập xe diễn
ra ồ ạt vì nhiều tổ chức không có kinh doanh cũng xin đợc giấy phép nhập xe
Tr-ớc tình hình đó Chính phủ ra công văn số 1920/KTTH yêu cầu doanh nghiệp nàotrong năm 1996 không lắp ráp mà chuyển giao hạn ngạch thì không cho phépthực hiện
Năm 1998, Thủ tớng ra Quyết định 11/1998/QĐ-TTg bãi bỏ việc cung cấphạn ngạch nhập khẩu Đối với ô tô nguyên chiếc các loại (trừ ô tô 12 chỗ trởxuống) trong đó có ô tô cũ, các doanh nghiệp có giấy phép nhập khẩu đợc nhậpkhẩu theo nhu cầu sản xuất kinh doanh
Giai đoạn 2000-2003 chúng ta có 2 lần thay đổi cơ chế điều hành xuấtnhập khẩu Năm 1999, Thủ tớng Chính phủ ra quyết định số 242/1999/QĐ-TTgngày 30/12/1999 về điều hành xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2000 Theo Quyết
định này, Chính phủ đã cấm một số loại ô tô đã qua sử dụng Để hớng dẫn thựchiện quyết định này của Thủ tớng Chính phủ, Bộ Thơng mại ra thông t số05/2000/TT-BTM ngày 21/2/2000 Hai tháng sau, Bộ Thơng mại có công văn số1548/TM-XNK ngày 17/4/2000 về việc thay thế điểm 9, Phần II, Phụ lục 1A,Thông t số 05/2000/TT-BTM, mục 1 công văn (trích một phần) này có nêu:
Năm 2001, Thủ tớng Chính phủ ra quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày4/4/2001 về việc quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2001-2005, kèm theo
đó là Thông t số 11/2001/TT-BTM ngày 18/4/2001 hớng dẫn thực hiện Quyết
định này Theo Phụ lục 1A của Thông t 11/2001/TT-BTM (trích một phần):
Trang 38Hàng cấm nhập khẩu:
- Phơng tiện vận tải tay lái nghịch (kể cả dạng tháo rời và dạng đã đợcchuyển đổi tay lái trớc khi nhập khẩu về Việt Nam), trừ các loại phơng tiệnchuyên dùng, hoạt động trong phạm vi hẹp
- Vật t, phơng tiện đã qua sử dụng bao gồm:
+ Ô tô cứu thơng đã qua sử dụng+ Ô tô vận chuyển hành khách từ 16 chỗ trở xuống loại đã qua sửdụng
+ Ô tô vận chuyển hành khách trên 16 chỗ ngồi, loại đã qua sửdụng mà thời gian từ năm sản xuất đến năm nhập khẩu vợt quá 5 năm
+ Ô tô vận chuyển hàng hóa có sức chở dới 5 tấn loại đã qua sửdụng mà thời gian từ năm sản xuất đến năm nhập khẩu vợt quá 5 năm
Với cơ chế điều hành nhập khẩu này, các doanh nghiệp trong nớc đã đợchởng rất nhiều u đãi Nhiều loại ô tô không đợc nhập khẩu đã đảm bảo một thị tr-ờng tốt cho các nhà sản xuất trong nớc
Năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày23/1/2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2006, quy định chi tiết thi hành Luậtthơng mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động đại lý mua, bán, giacông và qua cảnh hàng hóa với nớc ngoài, kèm theo thông t số 03/2006 TTLT-BTM-BGTVT-BTC-BCA ngày 31/3/2006 hớng dẫn việc nhập khẩu ô tô chở ngờidới 16 chỗ đã qua sử dụng theo Nghị định 12/2006/NĐ-CP Theo điều 10, khoản
3 của Nghị định, ô tô các loại đã qua sử dụng đợc nhập khẩu phải đảm bảo loại
đã qua sử dụng không quá 5 năm tính từ năm sản xuất đến năm nhập khẩu TheoThông t số 03/2006, ô tô đã qua sử dụng chỉ đợc nhập khẩu qua 4 cửa khẩu đăngkiểm quốc tế là: Cái Lân, Hải Phòng, Đà Nẵng và Tp.HCM Ô tô đã qua sử dụng
đợc đăng ký với thời gian tối thiểu là 6 tháng trớc ngày đăng ký mở Tờ khai Hảiquan nhập khẩu và đã chạy đợc một quãng đờng tối thiểu là 10.000km tính tớithời điểm ô tô về đến cảng Có thể nói, việc chính phủ cho phép nhập khẩu ô tô
đã qua sử dụng là việc làm cần thiết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiệnnay, thể hiện việc sẵn sàng thực hiện đúng các cam kết khi trở thành thành viêncủa tổ chức thơng mại thế giới WTO, đồng thời tạo ra môi trờng cạnh tranh vớicác doanh nghiệp sản xuất trong nớc
2 Hàng rào thuế quan
Do Nhà nớc rất chú trọng đến sản xuất trong nớc nên mức thuế suất của ôtô nhập khẩu nói chung và ô tô cũ nói riêng rất cao so với thuế suất nhập khẩu bộlinh kiện ô tô để sản xuất trong nớc (thông thờng cao gấp 4 lần) Và theo nguyên
Trang 39tắc đợc quy định tại Luật thuế xuất nhập khẩu, ô tô đã qua sử dụng phải đ ợc ápmức thuế nhập khẩu 150% so với hàng mới cùng loại để khuyến khích doanhnghiệp nhập khẩu hàng có chất lợng cao Tính cho tới nay, ô tô cũ nhập khẩuchịu ba loại thuế: thuế nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT Tuy nhiên, thuếTTĐB chỉ áp dụng đối với xe chở ngời, không liên quan đến xe tải và xe khách(xe thơng mại)
Đối với hệ thống thuế của nớc ta hiện nay, có hai căn cứ để tính thuế, thứnhất là giá hàng hóa, thứ hai là mức thuế suất Giá tính thuế là một chỉ tiêu rấtquan trọng đối với việc tính thuế, giá tính thuế còn làm tăng hiệu quả của công
cụ quản lý bằng chính sách thuế, nếu giá tính thuế quá thấp thì việc thay đổi mứcthuế suất gần nh không còn ý nghĩa để định hớng, điều tiết thị trờng trong nớc.Với mặt hàng ô tô cũ, Hải quan sẽ căn cứ vào giá trị khai báo của doanh nghiệp
để tính thuế Trong trờng hợp có nghi ngờ về giá trị chiếc xe do ngời nhập khẩukhai báo, phía Hải quan sẽ tổ chức tham vấn giá để xác định lại giá tính thuế
Ngày 22/12/2005, Bộ Tài chính đã công bố chính sách thuế nhập khẩumới đối với ô tô, trong đó đã tạo ra một dòng thuế cho xe ô tô cũ các loại TheoQuyết định 98/2005/QĐ-BTC ngày 22/12/2005 của Bộ Tài chính, thuế nhập khẩu
xe cũ nguyên chiếc đối với dòng xe chở ngời trên 16 chỗ và xe tải nhẹ có tổngtrọng tải dới 5 tấn bằng 150% so với xe mới
Sang đến năm 2006, Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg ngày 28/3/2006 quy định áp mức thuế tuyệt đối cho ô tô cũ nhập khẩu (chỉ
69/2006/QĐ-áp với xe con-PV) Chẳng hạn, với dòng xe từ 5 chỗ ngồi trở xuống, kể cả lái xe,
có dung tích xi lanh động cơ từ 1.000cc đến dới 1.500cc 8703/chiếc, mức thuếtuyệt đối là 7.000 USD Theo yêu cầu của Thủ tớng, Bộ Tài chính sẽ căn cứ vàotình hình thực tế từng giai đoạn cụ thể để điều chỉnh tăng hoặc giảm 20% so vớimức thuế tuyệt đối ban hành lần đầu theo Quyết định 69/2006 nhằm kiểm soát và
điều tiết thị trờng tiêu dùng trong nớc, ngăn chặn các hiện tợng gian lận thơngmại và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nớc Tuy nhiên, theo biểu thuếnày, mức thuế tuyệt đối áp cho dòng xe cũ nhập khẩu quá cao, vì thế cả ngời kinhdoanh xe và ngời tiêu dùng đang có mong muốn sở hữu ô tô đều bị hụt hẫng trớcbiểu thuế này Ngợc lại, các liên doanh sản xuất, lắp ráp trong nớc lại vui mừngvì nh thế đồng nghĩa với việc xe sản xuất lắp ráp trong nớc vẫn giữ vị trí chiếmlĩnh thị trờng Đối với các nhà quan sát, việc đa ra mức thuế tuyệt đối này củaChính phủ là hành vi tái xác nhận việc bảo hộ của mình đối với các doanh nghiệp
ô tô trong nớc
Trang 40Để thực hiện những cam kết về hội nhập quốc tế đồng thời tạo điều kiệncho việc hiện đại hóa quy trình thủ tục hải quan và góp phần nâng cao khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp, ngày 28/7/ 2006, Bộ Tài chính ban hành Quyết
định số 39/2006/QĐ-BTC về Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu u đãi Theo đó thuếnhập khẩu với xe cũ từ 16 chỗ trở lên là 150%, cộng với thuế TTĐB 15% và thuếGTGT 10%
Ngày 15/1/2007 Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 05/2007/QĐ-BTC
có hiệu lực từ 15/2, về việc sửa đổi mức thuế một số dòng xe cũ, lúc này mứcthuế tuyệt đối với dòng xe từ 5 chỗ ngồi trở xuống có dung tích xi lanh động cơ
từ 1.000cc đến dới 1.500cc 8703/chiếc là 6.300 USD (giảm 10% so với trớc), cácdòng xe khác cũng đợc giảm từ 10-20%, ngoại trừ xe có dung tích xi lanh từ 5.0trở lên lại tăng 5% so với mức hiện hành
Bảng 8: Bảng so sánh giá xe trớc và sau khi điều chỉnh thuế
Mặt hàng Thuế suất hiện hành(USD/chiếc)Thuế mới(USD/chiếc) Mức giảm(%)
Mức giảm giỏ sau thuế (USD/chiếc)
Xe từ 5 chỗ ngồi trở xuống, kể cả lỏi xe, cú dung tớch xi-lanh động cơ:
Trờn 5.0 25.000 26.250 (tăng 5%) 2.062,5 (tăng)
Xe từ 6 đến 9 chỗ, kể cả lỏi xe, cú dung tớch xi-lanh động cơ:
sử dụng ở mức trung bình 5% và tập trung giảm mạnh vào các dòng xe hạng